1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI TẬP NHÓM SỐ 1 MÔN LUẬT DÂN SỰ

15 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 61,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI TẬP NHÓM SỐ 1 MÔN: LUẬT DÂN SỰ HỌC PHẦN 2 hãy sưu tầm hoặc xây dựng một tình huống có tranh chấp về địa điểm, thời điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự. qua đó, hãy phân tích làm rõ: 1. Căn cứ xác định địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự? xác định địa điểm thực hiện nghĩa vụ trong tình huống trên? 2. Căn cứ xác định thời điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự? xác định thời điểm thực hiện nghĩa vụ trong tình huống trên? 3. Bình luận về phán quyết của tòa án nhân dân có thẩm quyền vàhoặc đưa ra cách giải quyết của nhóm đối với tình huống trên

Trang 1

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI

BÀI TẬP NHÓM SỐ 1

MÔN: LUẬT DÂN SỰ HỌC PHẦN 2

Đề số 12: hãy sưu tầm hoặc xây dựng một tình huống có tranh chấp về địa điểm,

thời điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự qua đó, hãy phân tích làm rõ:

1 Căn cứ xác định địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự? xác định địa điểm thực hiện nghĩa vụ trong tình huống trên?

2 Căn cứ xác định thời điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự? xác định thời điểm thực hiện nghĩa vụ trong tình huống trên?

3 Bình luận về phán quyết của tòa án nhân dân có thẩm quyền và/hoặc đưa

ra cách giải quyết của nhóm đối với tình huống trên

Nhóm thực hiện: nhóm 3

Lớp: K2B

Hà nội -2016

Trang 2

MỞ ĐẦU

Nghĩa vụ dân sự phát sinh phổ biến hàng ngày trong đời sống xã hội một đặc trưng cơ bản của nghĩa vụ dân sự đó là tính chất đối lập nhau về quyền và nghĩa vụ giữa các bên Quyền lợi của bên này chỉ đạt được khi bên kia thực hiện đúng các hành vi mang tính nghĩa vụ đã được hai bên xác định hoặc pháp luật quy định trong nội dung của quan hệ nghĩa vụ ấy Khi làm trái với những nội dung đó, tất yếu sẽ xảy ra tranh chấp Những tranh chấp trong thực hiện nghĩa vụ dân sự diễn ra rất phong phú trong thực tiễn và đời sống Bài viết sau đây của nhóm em sẽ làm rõ sự đa dạng, phong phú đó thông qua tìm hiểu 2 ví dụ tranh chấp về thời điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự và tranh chấp về địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự, từ đó nắm bắt được hướng giải quyết các tranh chấp và tính hoàn thiện của những quy định của pháp luật trong việc bảo vệ lợi ích của người

có quyền

NỘI DUNG

I – cơ sở lí luận

Thực hiện nghĩa vụ dân sự: là việc người có nghĩa vụ phải làm hoặc

không được làm một công việc theo một thời hạn nhất định đã được xác định trong nội dung của quan hệ nghĩa vụ dân sự, qua đó thỏa mãn quyền dân sự tương ứng của bên kia

 Thực hiện đúng địa điểm:

Điều 284 BLDS 2005 quy định về địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự như sau:

“1 Địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự do các bên thoả thuận.

2 Trong trường hợp không có thoả thuận thì địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự được xác định như sau:

a Nơi có bất động sản, nếu đối tượng của nghĩa vụ dân sự là bất động sản;

b Nơi cư trú hoặc trụ sở của bên có quyền, nếu đối tượng của nghĩa vụ dân

sự không phải là bất động sản.

Trang 3

Khi bên có quyền thay đổi nơi cư trú hoặc trụ sở thì phải báo cho bên có nghĩa

vụ và phải chịu chi phí tăng lên do việc thay đổi nơi cư trú hoặc trụ sở, trừ trường hợp có thoả thuận khác.”

So với BLDS 2005, BLDS 2015 vẫn giữ nguyên nội dung này và được quy định cụ thể tại Điều 277

Địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự là nơi mà tại đó người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình Các bên căn cứ vào hoàn cảnh, điều kiện mà thỏa thuận địa điểm thực hiện nghĩa vụ là nơi ở của bên này hay bên kia hoặc tại một nơi bất kỳ nào đó Người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ dân

sự đúng nơi mà hai bên đã xác định

Trong những trường hợp các bên không thỏa thuận về địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự thì địa điểm thực hiện nghĩa vụ sẽ được lựa chọn dựa theo quy định của pháp luật

Việc xác định địa điểm thực hiện nghĩa vụ quan trọng với các bên, vì nó là

cơ sở để xác định ai là người chịu chi phí vận chuyển cũng như ai phải chịu những chi phí phát sinh do việc thay đổi nơi cư tru hoặc trụ sở của bên có quyền trong quá trình thực hiện nghĩa vụ

Thực hiện nghĩa vụ dân sự đúng thời hạn:

Thời hạn thực hiện nghĩa vụ được quy định tại điều 285 BLDS 2005:

“1 Thời hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự do các bên thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ dân sự đúng thời hạn; chỉ được thực hiện nghĩa vụ dân sự trước thời hạn khi có sự đồng ý của bên có quyền; nếu bên có nghĩa vụ đã tự ý thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn và bên có quyền đã chấp nhận việc thực hiện nghĩa vụ thì nghĩa vụ được coi là đã hoàn thành đúng thời hạn.

Trang 4

2 Trong trường hợp các bên không thoả thuận và pháp luật không quy định về thời hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự thì các bên có thể thực hiện nghĩa vụ hoặc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải thông báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý.”

BLDS 2015 quy định về nội dung này tại điều 278 nhìn chung không có

sự thay đổi, trong đó khoản 1 bổ sung thêm thẩm quyền của các cơ quan trong

việc quyết định thời hạn thực hiện nghĩa vụ:“1 Thời hạn thực hiện nghĩa vụ do

các bên thoả thuận, theo quy định của pháp luật hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.” và bổ sung thêm trường hợp ngoại lệ ở khoản 2: “2 Bên

có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.”

Thời hạn thực hiện nghĩa vụ là một thời điểm hay một khoảng thời gian nhất định mà trong thời điểm hoặc khoản thời gian đó người có nghĩa vụ phải hoàn thành nghĩa vụ của mình nhằm thỏa mãn lợi ích của bên có quyền

Tùy thuộc theo tính chất, nội dung của quan hệ nghĩa vụ cũng như điều kiện, hoàn cảnh của mình mà các bên có thể thỏa thuận về thời hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự Khi thời hạn được xác định theo thỏa thuận thì các bên phải thực hiện nghĩa vụ dân sự đúng thời hạn đó

Trong trường hợp các bên không xác định về thời hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự thì nghĩa vụ dân sự sẽ được thực hiện vào bất kì lúc nào mà khi một trong hai bên có yêu cầu Để tạo điều kiện thuận lợi cho các bên thực hiện nghĩa vụ của mình, thì khi yêu cầu thực hiện nghĩa vụ, các bên phải thông báo cho nhau biết trước trong một thời gian hợp lí Trong trường hợp này, khoảng thời gian hợp lí đó sẽ được coi là thời hạn thực hiện nghĩa vụ

Nếu người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn đã được xác định

mà người có quyền đồng ý và đã tiếp nhận sự thực hiện, thì nghĩa vụ dân sự được xem như đã thực hiện đúng thời hạn Mặt khác, khi bên có nghĩa vụ không thể thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, các bên có thể thỏa thuận để hoãn việc

Trang 5

thực hiện nghĩa vụ (kéo dài thời hạn), thì nghĩa vụ dân sự được hoàn thành trong thời hạn kéo dài đó cũng được coi là thực hiện đúng thời hạn

Ngoài ra, nếu các bên thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định về việc thực hiện nghĩa vụ theo định kỳ thì bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo đúng định kỳ đó Việc chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo từng kỳ cũng bị coi là chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự

 Chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự:

Chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự là nghĩa vụ dân sự vẫn chưa được thực hiện hoặc chỉ được thực hiện một phần thì thời hạn thực hiện nghĩa vụ đã hết Trong trường hợp này, bên chậm thực hiện nghĩa vụ phải thông báo ngay cho bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ dân sự không đúng thời hạn và đi đến thỏa thuận về hoãn thực hiện nghĩa vụ dân sự (Điều 286 BLDS 2005 và Điều

353 BLDS 2015 quy định tương tự) Tuy nhiên, nếu sau thời gian gia hạn mà bên có nghĩa vụ vẫn không thực hiện được nghĩa vụ thì bên có nghĩa vụ sẽ phải

gánh chịu hậu quả pháp lí Điều 305 BLDS 2005 quy định:

“1 Khi nghĩa vụ dân sự chậm được thực hiện thì bên có quyền có thể gia hạn để bên có nghĩa vụ hoàn thành nghĩa vụ, nếu quá thời hạn này mà nghĩa vụ vẫn chưa được hoàn thành thì theo yêu cầu của bên có quyền, bên có nghĩa vụ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ và bồi thường thiệt hại; nếu thực hiện nghĩa vụ không còn cần thiết đối với bên có quyền thì bên này có quyền từ chối tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ và yêu cầu bồi thường thiệt hại

2 Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do NHNN công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”

Trang 6

II - Tình huống số 1: tranh chấp về thời điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự

1 Chủ thể.

Nguyên đơn: Ông Đỗ Ngọc Trí – Chủ Cơ sở Long Trí

Bị đơn: Công ty TNHH Cơ khí khuôn mẫu số 1

2 Nội dung vụ việc.

Vào ngày 15/06/2013 Ông Đỗ Ngọc Trí – Chủ Cơ sở Long Trí (Địa chỉ:

367 Lê văn Lương, Quận Thanh Xuân, Hà Nội) và : Công ty TNHH Cơ khí khuôn mẫu số 1 (Địa chỉ : số 244 Lê Duẩn, Quận Đống Đa, Hà Nội - Đại diện trước pháp luật : Ông Vũ Quang Dũng – Giám đốc) ký hợp đồng kinh tế không

số về việc thiết kế, chế tạo khuôn quạt, tổng giá trị thanh toán là 200.000.000 đồng với thời gian thực hiện là 03 tháng, cộng trừ 15 ngày Quá trình thực hiện hợp đồng, Ông Đỗ Ngọc Trí đã giao cho Công ty TNHH Cơ khí khuôn mẫu số 1 nhận 60.000.000 đồng, tuy nhiên, phía Công ty TNHH Cơ khí khuôn mẫu số 1 không thực hiện đúng thỏa thuận trong hợp đồng vì đã không giao hàng đúng hạn Sau đó, Công ty TNHH Cơ khí khuôn mẫu số 1 yêu cầu kéo dài thời hạn hợp đồng thêm 15 ngày nữa và nếu không thực hiện được thì sẽ bồi thường 60.000.000 đồng, tiếp theo đó, Công ty TNHH Cơ khí khuôn mẫu số 1 thường xuyên yêu cầu gia hạn hợp đồng nên Ông Đỗ Ngọc Trí đã có đơn yêu cầu UBND Quận Đống Đa, kết quả giải quyết nguyên đơn đồng ý cho gia hạn hợp đồng đến 30/12/2013, tuy nhiên, đến nay Công ty TNHH Cơ khí khuôn mẫu số 1 vẫn không thực hiện đúng thỏa thuận trong hợp đồng Nay do Công ty TNHH

Cơ khí khuôn mẫu số 1 vi phạm nghĩa vụ không giao hàng, gây thiệt hại đến quyền lợi của Ông Đỗ Ngọc Trí nên yêu cầu Tòa buộc bị đơn hoàn trả số tiền cọc đã giao là 50.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 01/10/2013 đến nay

Trang 7

3 Toà án giải quyết tranh chấp.

Nội dung giải quyết của Tòa án:

Ngày 26 tháng 10 năm 2015 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 509/2014/TLST-KDTM ngày 01 tháng 08 năm 2014 tranh chấp kinh doanh thương mại về “ hợp đồng gia công “ theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số /2007/QĐST-KDTM ngày 11 tháng 09 năm 20015

nhận thấy như sau :

Căn cứ vào điều 4 của hợp đồng giữa hai bên thể hiện phương thức thanh toán được thỏa thuận như sau :

+Bên A ứng trước (đợt 1) 30 % giá trị hợp đồng = 60.000.000 đồng bằng tiền mặt cho bên B ngay sau khi ký hợp đồng

+ Sau khi thử khuôn lần đầu tiên (lần thứ nhất) Bên A ứng (đợt 2) 20 % giá trị hợp đồng (40.000.000 đồng)…

Như vậy, điều kiện để nguyên đơn giao tiếp số tiền đợt 2 là sau khi thử khuôn lần đầu tiên, tuy nhiên, phía bị đơn không chứng minh được đã thực hiện công việc này vì vậy nguyên đơn không thể giao tiếp số tiền đợt 2, do đó, ý kiến của bị đơn cho rằng bên A chưa giao đủ tiền là không có cơ sở

Về yêu cầu đòi bị đơn phải chịu tiền lãi chậm trả của số tiền trên phía nguyên đơn đồng ý rút lại không yêu cầu, vì vậy nên ghi nhận

Về yêu cầu phản tố của bị đơn trong việc buộc nguyên đơn phải nhận toàn

bộ các sản phẩm đã thực hiện xong gồm: ống nhún, vòng tròn lớn, vòng tròn nhỏ, mặt nạ PS, vành xi măng, yếm thân, jiont PVC chữ thập, vành tròn 4 rãnh trượt và thanh toán giá trị các sản phẩm trên là 85.000.000 đồng là không có cơ

sở và không có trong hợp đồng.Vì theo điều 1 của hợp đồng quy định về các

Trang 8

công việc bị đơn đồng ý thực hiện cho nguyên đơn ngoài những sản phẩm trên còn co các sản phẩm khác như thân, đế tròn đen, ống tròn, đế trên, mặt thảo, phích cắm và nút kéo, với giá trị là 115.000.000 đồng mà bị đơn phải thực hiện trong hợp đồng và vật trong hợp đồng là vật đồng bộ không thể tách rời

4 Kết luận của Tòa án.

Căn cứ điều 210 Bộ Luật tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 01 năm 2005; Khoản 2 điều 15, khoản 1 điều 19 Nghị định 70/CP của Chính phủ quy định về án phí, lệ phí của Tòa án ngày 12 tháng 06 năm 1997; Khỏan 1 phần III thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19 tháng 6 năm 1997 của TANDTC – VKSNDTC- BTP- BTC hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản, tuyên xử :

- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn : Công ty TNHH Cơ khí khuôn mẫu

số 1 có trách nhiệm hoàn trả cho Ông Đỗ Ngọc Trí – Chủ Cơ sở Long Trí số tiền tạm ứng đợt 1 phát sinh từ hợp đồng kinh tế không số ngày 15/6/2013 là 60.000.000 đồng

- Bác yêu cầu phản tố của Công ty TNHH Cơ khí khuôn mẫu số về việc buộc Ông Đỗ Ngọc Trí – Chủ Cơ sở Long Trí phải nhận các sản phẩm đã thực hiện xong và thanh toán số tiền 85.000.000 đồng

- Thi hành ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật tại cơ quan Thi hành án Dân sự thành phố Hà Nội

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành chưa thi hành xong khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án

+Về án phí kinh tế sơ thẩm : Công ty TNHH Cơ khí khuôn mẫu số 1 phải chịu là 2.500.000 đồng nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Hà nội, được khấu trừ vào Biên lai tạm nộp án phí số 1189 số tiền là 1.025.000 đồng,

Trang 9

còn phải nộp là 1.475.000 đồng Ông Đỗ Ngọc Trí – Chủ Cơ sở Long Trí không phải chịu án phí kinh tế sơ thẩm, được nhận lại số tiền tạm nộp là 2.689.000 đồng theo BL số 002625 của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội

5 Bình luận của nhóm về việc áp dụng pháp luật và quyết định của Tòa án.

Nhóm chúng tôi cho rằng việc áp dụng pháp luật và quyệt định của tòa án

là rất hợp lý và theo đúng quy định của pháp luật.

Điều 286 BLSD 2005 Chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự :

“1 Chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự là nghĩa vụ vẫn chưa được thực hiện hoặc chỉ được thực hiện một phần khi thời hạn thực hiện nghĩa vụ đã hết.

2 Bên chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự phải thông báo ngay cho bên có quyền về việc không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn.”

Như vậy trong trường hợp trên Thời gian thực hiện hợp đồng hai bên thỏa thuận trong 3 tháng, cộng trừ 15 ngày Như vậy nếu trong thời gian này mà Công

ty TNHH Cơ khí khuôn mẫu số 1 không giao hàng tức là đã chậm thực hiện hợp đồng do đó Công ty TNHH Cơ khí khuôn mẫu số 1 phải báo cho ông Trí về việc chậm thực hiện này Công ty số 1 Muốn gia hạn hợp đồng và được ông Trí đồng

ý và trên thực tế thì đã được gia hạn thời gian thực hiện hợp đồng nhiều lần nhưng Công ty số 1 vẫn không thực hiện nghĩa vụ của mình là vi phạm hợp đồng

về thời gian giao hàng việc này đã gây thiệt hại đến quyền lợi của ông Trí và việc bà yêu cầu Công ty TNHH Cơ khí khuôn mẫu số 1 phải trả lại tiền đặt cọc

và bồi thường thiệt hại là hoàn toàn hợp pháp, theo đúng quy định tại Điều 305 BLDS 2005

Về phía Công ty TNHH Cơ khí khuôn mẫu số 1, công ty đã yêu cầu kéo dài thời hạn hợp đồng thêm 15 ngày nữa và khẳng định rằng nếu không thực hiện được thì sẽ bồi thường 60.000.000 đồng Nhưng sau đó công ty này vần không thực hiện được đúng thời hạn và không giao hàng Phía công ty lấy lý do

là bà Nhàn thường hay thay đổi mẫu thiết kế khiến cho việc giao hàng muộn nhưng lại không chứng minh được sự thay đổi thiết kế và không có trong hợp

Trang 10

đồng thay đổi mẫu nào do vậy không có sức thuyết phục Lí do thứ 2 công ty đưa

ra là do ông Trí không thực hiện đúng theo hợp đồng, đó là không ứng thêm tiên cho công ty nên công ty không giao hàng và không lắp rắp mà chỉ sản suất linh kiện Nhưng theo hợp đồng thì Công ty số 1 phải giao hàng đợt 1 thì ông Trí mới phải ứng thêm tiền nhưng trên thực tế thì Công ty chưa hề giao hàng do vậy lí do này cũng không có căn cứ Vậy rõ ràng Công ty số 1 đã vi phạm hợp đồng

Việc Công ty TNHH Cơ khí khuôn mẫu số 1yêu cầu ông Trí nhận toàn bộ các sản phẩm đã ra làm ra trong hợp đồng với trị giá là 85.000.000 đồng là không có căn cứ vì điều khoản này không thỏa thuận trong hợp đồng Hợp đồng

ký kết giừa hai bên là “khuôn quạt máy” chứ không phải là các linh kiện cho việc lắp ráp khuôn quạt như ống nhún, vòng tròn lớn, vòng tròn nhỏ, mặt nạ PS, vành xi măng, thỏa thuận trong hợp đồng các sản phẩm được giao nhận không thể tách rời từng bộ phận, việc thực hiện không đầy đủ và đúng thời hạn hợp đồng là do lỗi của bị đơn, sản phẩm chưa được nghiệm thu, chưa hoàn chỉnh đồng bộ theo thỏa thuận của hợp đồng, vì vậy, không có cơ sở để Tòa án chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn

II - Tình huống số 2: tranh chấp về địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự

1 Chủ thể

Nguyên đơn: Công ty TNHH Minh Long – Đại diện trước pháp luật: Ông Nguyễn minh Long – giám đốc

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Tâm – Chủ Cơ sở Bình An

2 Nội dung vụ việc

Bà Nguyễn Thị Tâm – Chủ Cơ sở Bình An (Địa chỉ: 306 Nguyễn Trãi, P8 Quận

5, TP.HCM) và Công ty TNHH Minh Long (Địa chỉ: 504 Cách Mạng Tháng 8, P

11, Quận 3, TP.HCM) có xảy ra tranh chấp về địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân

sự Hai bên có ký kết hợp đồng kinh tế không số về việc xây dựng mẫu, chế tạo

Ngày đăng: 20/10/2020, 15:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w