1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI TẬP NHÓM MÔN PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG TRANH CHẤP QUYỀN TÁC GIẢ

16 167 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 33,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quyền tác giả là một nội dung quan trọng không chỉ đối với luật sở hữu trí tuệ Việt Nam mà còn đối với pháp luật của các nước trên thế giới. Trong đó, quyền sử dụng tác phẩm của người khác là một nội dung đặc biệt nhằm để tránh sự lạm dụng độc quyền của chủ sở hữu tác phẩm và nhằm đảm bảo cho công chúng được quyền sử dụng khai thác tác phẩm vì mục đích phát triển khoa học, văn học và mục đích giáo dục, pháp luật trong thời hạn bảo hộ tác phẩm. Pháp luật các nước đều quy định các trường hợp được sử dụng tác phẩm mà không cần xin phép, không cần trả tiền bản quyền. Ở Việt Nam cũng có quy định theo hướng như vậy trong Luật sở hữu trí tuệ năm 2005. Tuy nhiên, ranh giới giữa những hành vi sử dụng tác phẩm của người khác được coi là cho phép và không được coi là được cho phép còn quá mỏng manh dẫn đến nhiều tranh chấp thường xuyên xảy ra. Vụ việc mà nhóm tìm hiểu dưới đây là một ví dụ điển hình minh họa cho vấn đề này

Trang 1

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI

BÀI TẬP NHÓM

MÔN: PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Tình huống số 1

Nhóm 3 – K2B

Hà Nội – 2016

Trang 2

MỞ ĐẦU

Quyền tác giả là một nội dung quan trọng không chỉ đối với luật sở hữu trí tuệ Việt Nam mà còn đối với pháp luật của các nước trên thế giới Trong đó, quyền

sử dụng tác phẩm của người khác là một nội dung đặc biệt nhằm để tránh sự lạm dụng độc quyền của chủ sở hữu tác phẩm và nhằm đảm bảo cho công chúng được quyền sử dụng khai thác tác phẩm vì mục đích phát triển khoa học, văn học và mục đích giáo dục, pháp luật trong thời hạn bảo hộ tác phẩm Pháp luật các nước đều quy định các trường hợp được sử dụng tác phẩm mà không cần xin phép, không cần trả tiền bản quyền Ở Việt Nam cũng có quy định theo hướng như vậy trong Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 Tuy nhiên, ranh giới giữa những hành vi sử dụng tác phẩm của người khác được coi là cho phép và không được coi là được cho phép còn quá mỏng manh dẫn đến nhiều tranh chấp thường xuyên xảy ra Vụ việc mà nhóm tìm hiểu dưới đây là một ví dụ điển hình minh họa cho vấn đề này

NỘI DUNG Tình huống 1:

Năm 2010 và năm 2011 ông Tôn đã in và tái bản quyển “Văn bản Truyện Kiều

– Nghiên cứu và Thảo luận” do ông Tôn đứng tên tác giả Trong quyển này ông

Tôn đã hợp tuyển 10 bài trong phần 2 (phần Thảo luận) có in 4 bài của ông Tuân gồm:

 Bài “Một vài nhận xét về nghiên cứu Truyện Kiều” của học giả Hoàng Xuân Hãn

 Bài “Hãy trở lại đúng vấn đề nhận xét việc nghiên cứu Truyện Kiều”

 Bài “Về bài Hoàng Xuân Hãn và việc khôi phục nguyên tác Truyện Kiều”

 Bài trả lời ông Tôn về bài “Nhân một bài nhận xét về việc nghiên cứu Truyện Kiều”

Trang 3

Do ông Tôn khi đưa in 4 bài nêu trên của ông Tuân vào trong tác phẩm nghiên

cứu của mình là “Văn bản Truyện Kiều – Nghiên cứu và thảo luận”, ông Tôn đã

không xin phép ông Tuân, nên ông Tuân đã làm đơn khởi kiện ông Tôn về xâm phạm quyền tác giả, đồng thời đòi ông Tôn bồi thường thiệt hại về tổn thất tinh thần Còn phía ông Tôn thừa nhận có việc ông đưa in 4 bài của ông Tuân nhưng ông không phải xin phép ông Tuân bởi lẽ các bài này của ông Tuân đã được in trên báo chí, đã được công bố Mục đích ông đưa 4 bài của ông Tuân vào tác phẩm của mình nhằm dựng lại trung thành cuộc tranh luận, mang tính nghiên cứu khoa học chứ không nhằm mục đích thương mại và được pháp luật cho phép

1 Hãy nêu các hành vi xâm phạm quyền tác giả?

Theo khoản 2 điều 4 Luật SHTT 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009): “Quyền tác

giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu” Như vậy, quyền tác giả phát sinh từ sự sáng tạo hoặc tính sở hữu của một

chủ thể nào đó đối với một tác phẩm bất kì

Quyền tác giả được hiêu là quan hệ pháp luật dân sự Nên quyền tác giả được xác định gồm 3 yếu tố chủ thể, khách thể, và nội dung

a Chủ thể của quyền tác giả

Bao gồm tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả

Tác giả là người trực tiếp lao động sáng tạo trong lĩnh vực văn học nghệ thuật,

khoa học để tạo ra toàn bộ hoặc một phần tác phẩm thuộc 1 trong các lĩnh vực đó

Chủ sở hữu quyền tác giả là cá nhân, tổ chức nắm giữ một số hoặc toàn bộ các

quyền tác giả liên quan đến tác phẩm được được thừa nhận dù họ trực tiếp hoặc không trực tiếp tạo ra tác phẩm đó hay không

b Khách thể của quyền tác giả

Khách thể của quyền tác giả là các tác phẩm văn học nghệ thuật, công trình khoa học do tác giả sáng tạo ra bằng lao động trí tuệ

Trang 4

Theo khoản 7 điều 4 Luật SHTT: “Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh

vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kì phương tiện hay hình thức nghệ thuật nào”

c Nội dung quyền tác giả

Quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm do mình sáng tạo

Quyền nhân thân gồm các quyền: Đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc

bút danh trên tác phẩm, nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; công bố, phổ biến hoặc cho người khác công bố, phổ biến tác phẩm của mình; bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho phép người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh

dự và uy tín của tác giả

Quyền tài sản bao gồm các quyền: Làm tác phẩm phái sinh; biểu diễn tác

phẩm trước công chúng; sao chép tác phẩm; phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác; cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính

Xét trên ba yếu tố chủ thể, khách thể và nội dung quyền tác giả có thể thấy rằng các hành vi xâm phạm quyền tác giả là những hành vi xâm phạm tới quyền tác giả cũng như quyền nhân thân của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả

Để xem xét có bị coi là hành vi xâm phạm quyền SHTT thì phải có đủ các căn

cứ sau đây: đối tượng bị xem xét thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ quyền SHTT, có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét, người thực hiện hành vi bị xem xét không phải là chủ thể quyền SHTT và không phải là người được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép theo quy định của luật SHTT và hành vi bị xem xét xảy ra tại Việt Nam

Trang 5

Theo quy định tại Điều 28 Luật SHTT năm 2005 sửa đổi bổ sung 2009 các hành

vi sau được coi là những hành vi xâm phạm quyền quyền tác giả:

1 Chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học

2 Mạo danh tác giả

3 Công bố, phân phối tác phẩm mà không được phép của tác giả

4 Công bố, phân phối tác phẩm có đồng tác giả mà không được phép của đồng tác giả đó

5 Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả

6 Sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, trừ trường hợp tự sao chép 01 bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân và sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu

7 Làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh, trừ trường hợp chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị

8 Sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 25 quy định về các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao của Luật này

9 Cho thuê tác phẩm mà không trả tiền nhuận bút, thù lao và quyền lợi vật chất khác cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả

10 Nhân bản, sản xuất bản sao, phân phối, trưng bày hoặc truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua mạng truyền thông và các phương tiện kỹ thuật số mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả

11 Xuất bản tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả

Trang 6

12 Cố ý huỷ bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình

13 Cố ý xoá, thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử có trong tác phẩm

14 Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị đó làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật

do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình

15 Làm và bán tác phẩm mà chữ ký của tác giả bị giả mạo

16 Xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối bản sao tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả

2 Hãy xác định hành vi của ông Tôn có phải là hành vi xâm phạm quyền tác giả của ông Tuân không?

Trong vụ việc trên, ông Tôn khi in 4 bài của ông Tuân vào trong tác phẩm

nghiên cứu của mình là “Văn bản Truyện Kiều – Nghiên cứu và thảo luận”, ông

Tôn đã không xin phép ông Tuân, nên ông Tuân đã làm đơn khởi kiện ông Tôn về xâm phạm quyền tác giả

Để có thể xác định hành vi trên của ông Tôn có phải là hành vi xâm phạm quyền tác giả của ông Tuân hay không cần làm rõ những nội dung sau:

Thứ nhất, về việc áp dụng pháp luật

Trước tiên ta cần xem xét đến văn bản pháp luật có hiệu lực để giải quyết vụ việc Đối tượng của vụ án là cuốn sách được in và tái bản vào năm 2010 và năm

2011 tức là hành vi của ông Tôn được tiến hành vào năm 2010 và năm 2011 là thời điểm bộ luật dân sự 2005 và luật sở hữu trí tuệ 2005 đang có hiệu lực Như vậy, vụ

việc này sẽ được điều chỉnh bởi những quy định của Bộ luật dân sự 2005, Luật sở

hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi bổ sung 2009) và Nghị định 100/2006/NĐ-CP ngày

Trang 7

21-9-2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan.

Thứ hai, cần xác định hành vi của ông Tôn có thuộc các trường hợp xâm phạm quyền tác giả quy định tại Điều 28 Luật SHTT 2005 hay không?

“Điều 28 Hành vi xâm phạm quyền tác giả

1 Chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.

2 Mạo danh tác giả.

3 Công bố, phân phối tác phẩm mà không được phép của tác giả.

4 Công bố, phân phối tác phẩm có đồng tác giả mà không được phép của đồng tác giả đó.

5 Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

6 Sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm đ khoản 1 Điều 25 của Luật này.

7 Làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh, trừ trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 25 của Luật này.

8 Sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 25 của Luật này.

9 Cho thuê tác phẩm mà không trả tiền nhuận bút, thù lao và quyền lợi vật chất khác cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả.

10.Nhân bản, sản xuất bản sao, phân phối, trưng bày hoặc truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua mạng truyền thông và các phương tiện kỹ thuật số mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.

11 Xuất bản tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.

Trang 8

12.Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình.

13.Cố ý xóa, thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử có trong tác phẩm.

14.Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị đó làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình.

15.Làm và bán tác phẩm mà chữ ký của tác giả bị giả mạo.

16.Xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối bản sao tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.”

Dựa vào danh sách các hành vi được nêu ra trong Điều 28 cùng với căn cứ khởi kiện của ông Tuân đưa ra, có thể đánh giá hành vi của ông Tôn đã vi phạm vào

khoản 8 Điều 28, cụ thể: “Sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu

quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật”

Tuy nhiên, cũng trong nội dung khoản 8, Điều 28 luật sở hữu trí tuệ còn đưa ra

trường hợp ngoại lệ “trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 25 của Luật này”.

Điều 25 Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi bổ sung 2009) đề cập đến nhiều hành vi

sử dụng tác phẩm của người khác đã công bố mà không cần xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao Như vậy, để có thể khẳng định hành vi của ông Tôn có

vi phạm quyền tác giả hay không thì mục tiêu đưa ra lúc này đó là phải chứng minh hành vi của ông Tôn có phải là hành vi sử dụng tác phẩm của người khác đã công

bố mà không cần xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao hay không Để được coi là hành vi không cần xin phép và không phải trả thù lao cho tác giả, hành

vi của ông Tôn phải thỏa mãn một số điều kiện:

Trang 9

Hành vi sử dụng phải thuộc một trong những hành vi được liệt kê tại khoản

1 Điều 25 Cụ thể hành vi trích dẫn không cần xin phép và trả thù lao cho tác giả là

hành vi liên quan trực tiếp đến vụ kiện này được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều

25 Luật SHTT 2005: “Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để

bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình” Tuy nhiên liệu hành vi của

ông Tôn đưa in 4 bài của ông Tuân vào tác phẩm của mình có được coi là trích dẫn hay không?

Theo từ điển tiếng Việt, trích dẫn được hiểu là “dẫn nguyên văn một câu hay

một đoạn văn nào đó” Hay theo tác giả Lê Nết: “trích dẫn là việc sử dụng một tác phẩm (không đáng kể) của người khác để nêu bật ý tác giả” Như vậy, nhìn chung,

“trích dẫn” không thể là sử dụng “toàn bộ” tác phẩm của người khác Tuy nhiên để

có một nhận định đầy đủ, cụ thể liên quan đến nội dung vụ án này, cần phải hiểu trích dẫn trong văn chương là thế nào? Đây là một nội dung đặc biệt mà cần có sự linh hoạt trong đánh giá thực tế Theo nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, ông đưa ra các hình thức trích dẫn trong văn chương như sau:

- Thứ nhất một bài thơ bài văn (tác phẩm), khi được nghiên cứu hay bình luận, hay phát biểu, người ta có thể trích dẫn một câu, một đoạn, và phải nói

rõ xuất xứ của nó (tác giả, tên tác phẩm, nguồn)

- Thứ hai, dẫn ý của tác phẩm, và ghi chú nguồn (ví dụ: xem tác phẩm gì, của

ai, ở đâu)

- Thứ ba, dẫn nguyên văn tác phẩm để bình luận, nghiên cứu, tranh luận…

Như vậy, hình thức thứ ba dẫn nguyên văn tác phẩm cũng được coi là một hình thức trích dẫn Để hiểu rõ hơn về hình thức này, Cũng theo nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, ông khẳng định rằng từ trước đến nay các nhà bình thơ vẫn thường dẫn nguyên văn bài thơ ra để bình Trong khi bình, họ có thể trích từng câu, đoạn để minh họa cho lời bình Việc này vẫn thường xuyên xuất hiện trên sách báo nước ta

Ông cho rằng: “Mục đích dẫn nguyên tác phẩm nhằm có lợi cho người đọc nếu họ

Trang 10

không có, hoặc chưa đọc tác phẩm ấy Nhưng điều quan trọng hơn là khi xem (hay nghe) tác phẩm một cách trực tiếp nguyên văn, người ta mới hình dung được tổng thể nội dung và hình thức của tác phẩm Ví dụ một bài thơ cấu trúc hình thoi mà chỉ trích đoạn thì không thể hiệu quả bằng dẫn nguyên tác phẩm.”

Thực tế trong tranh luận văn học, người được trích dẫn (câu, đoạn của tác phẩm)

ra để phê bình thường phản đối người phê bình là trích dẫn bị cắt xén, bóp méo nội dung để phê bình Vì thế mà người nghiên cứu, phê bình có khi cần dẫn nguyên tác phẩm để tác giả và bạn đọc cùng có cách nhìn khách quan, trung thực, công bằng hơn cũng là một nhu cầu dễ hiểu

Một ví dụ tiêu biểu về Tác phẩm “Từ điển Truyện Kiều” của học giả Đào Duy

Anh tồn tại đến hôm nay và còn lâu dài là bởi nó dẫn ra toàn bộ Truyện Kiều của Nguyễn Du để đối chứng nội dung, văn cảnh, khiến người đọc dễ hiểu việc này không chỉ làm tăng giá trị tác phẩm mà còn tạo điều kiện để các nhà nghiên cứu nghiên cứu khoa học một cách dễ dàng, chân thực nhất

Nhìn vào hành vi của ông Tôn thì có thể thấy hình thức thứ ba là hình thức mà ông Tôn đã sử dụng Bốn bài của ông Tuân mà ông Tôn hợp tuyển trong tác phẩm của mình thì ở các bài này đều phản ánh rất rõ đây đều là những bài tranh luận về phương pháp nghiên cứu văn học Truyện Kiều Khi nghiên cứu 4 bài của ông Tuân,

để dựng lại trung thực, khách quan toàn bộ cuộc tranh luận nhằm mục đích nghiên cứu, phổ biến thông tin và bình luận thì ông Tôn phải in trọn 4 bài của ông Tuân một cách đầy đủ để người đọc mới hiểu hết được những nội dung cần tranh luận

Và tuy hình thức là “in toàn văn” nhưng thực chất ông Tôn trích dẫn Như vậy, xét

về tổng thể có thể coi đây là một tác phẩm nghiên cứu khoa học có tính sáng tạo của ông Tôn nên không thể coi đây là in nguyên tác phẩm của ông Tuân được mà chỉ có thể hiểu là dẫn ra để nghiên cứu và phê bình

Ngày đăng: 09/01/2021, 16:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w