Những quy định về hình thức của hợp đồng dân sự trongmột thời gian dài thực hiện đã xuất hiện nhiều điểm còn hạn chế, chưa rõ ràng, chưaphù hợp, chưa tương thích với thực tiễn cũng như c
Trang 1MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 2
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 3
I, KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ: 3
1, KHÁI NIỆM: 3
2, PHÂN LOẠI: 3
3, NỘI DUNG CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ: 4
4, ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU: 5
5, THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ: 7
II, HÌNH THỨC CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005: 8
1, KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI: 8
2, Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH HÌNH THỨC CỦA HỢP ĐỒNG TRONG GIAO LƯU DÂN SỰ: 10
3, VỤ VIỆC CÓ THẬT LIÊN QUAN ĐẾN HÌNH THỨC CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ: 10
III,ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005 VỀ HÌNH THỨC CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ: 15
1- Về điều kiện hình thức của hợp đồng dân sự: 15
2 - Về thời hạn yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức: 17
3 - Trong việc giải quyết, xử lý hợp đồng dân sự vi phạm hình thức luật định: 18 4 - Về hậu quả pháp lý khi tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu về mặt hình thức: 19
IV MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HÌNH THỨC CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ: 19
KẾT THÚC 20
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Ra đời thay thế Bộ luật dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 đã pháthuy vai trò to lớn, đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới của đất nước, phù hợpvới điều kiện của Việt Nam cũng như phục vụ hội nhập quốc tế; Bộ luật Dân sự
2005 đã cụ thể hóa các quy định trong Hiến pháp 1992, nhằm hoàn thiện hệ thốngpháp luật của nhà nước ta trên tinh thần quán triệt các Nghị quyết của Đảng trongthời kỳ đổi mới đất nước Các quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005 nhằm điềuchỉnh chung các quan hệ xã hội trên cơ sở của nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tựthỏa thuận và tự chịu trách nhiệm giữa các chủ thể, hạn chế tối đa sự can thiệp hànhchính của nhà nước vào quan hệ dân sự, tôn trọng và phát huy sự tự thỏa thuận, tựquyết định của các chủ thể Đặc biệt BLDS nước ta đã quy định cụ thể, chi tiết, chặtchẽ và tương đối hoàn thiện về vấn đề hình thức của hợp đồng dân sự
Tuy nhiên, xã hội ngày càng phát triển kéo theo đó là sự thay đổi khôngngừng của các quan hệ xã hội đặc biệt là quan hệ pháp luật dân sự, các nhà làm luậtkhó có thể nắm bắt, đón đầu được toàn bộ sự thay đổi đó nên không thể tránh khỏinhững thiếu sót, bất cập Những quy định về hình thức của hợp đồng dân sự trongmột thời gian dài thực hiện đã xuất hiện nhiều điểm còn hạn chế, chưa rõ ràng, chưaphù hợp, chưa tương thích với thực tiễn cũng như chưa phù hợp với tiến trình hộinhập hóa, toàn cầu hóa quan hệ quốc tế cần được sửa đổi, điều chỉnh để hệ thốngpháp luật ngày một hoàn thiện hơn, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới hiện nay.Nhằm tìm hiểu rõ hơn về vấn đề hình thức của hợp đồng dân sự và đưa ra những
đánh giá thực tế, em đã lựa chọn đề tài: “Đánh giá quy định của Bộ luật dân sự
2005 về hình thức của hợp đồng dân sự” để nghiên cứu” Với vốn kiến thức hạn
hẹp của mình, bài làm của em không thể tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định
về nội dung cũng như hình thức, kính mong thầy cô có thể góp ý để em có thể hoànthiện hơn nữa bài làm cũng như bổ sung thêm kiến thức cho bản thân
Trang 3Khái niệm hợp đồng dân sự được đề cập tại Điều 388, BLDS 2005, theo đó có thể
hiểu hợp đồng dân sự là: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc
xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Qua khái niệm hợp đồng dân sự có thể thấy để hình thành hợp đồng dân sự phải cónhững yếu tố cơ bản sau:
- Hợp đồng dân sự phải có sự tham gia của các bên: Hợp đồng là sự thỏa thuận của
các chủ thể liên quan đến xác lập các quyền, nghĩa vụ nhằm đem lại lợi ích cho mìnhhoặc đem lại lợi ích cho người khác Nếu như hành vi pháp lý đơn phương chỉ là sựtuyên bó ý chí công khai của một phía chủ thể thì khi tham gia quan hệ hợp đồng, ítnhất phải có hai chủ thể đứng về hai phía của hợp đồng Ngoài ra, trong một sốtrường hợp, việc tham gia quan hệ hợp đồng có thể có sự xuất hiện của bên thứba(hợp đồng vì lợi ích của bên thứ ba)
- Hợp đồng dân sự được hình thành dựa trên cơ sở thỏa thuận và thống nhất ý chí giữa các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng đó: Thỏa thuận và thống nhất ý chí là
yếu tố cốt lõi để hình thành quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể, thiếu sự thỏa thuậnnày thì hợp đồng sẽ không có hiệu lực
- Hậu quả pháp lý của sự thay đổi giữa các bên trong quan hệ hợp đồng là nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự.
- Sự thỏa thuận giữa các bên không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như giả tạo, nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa,…
2, PHÂN LOẠI:
Để phân loại hợp đồng ta căn cứ vào các tiêu chí sau:
Trang 4Căn cứ vào sự phụ thuộc lẫn nhau về hiệu lực pháp lý của hợp đồng, hợp đồngđươc chia thành: Hợp đồng chính và hợp đồng phụ.
Căn cứ vào hình thức của hợp đồng thì hợp đồng dân sự được chia thành hợpđồng có hình thức lời nói, hình thức văn bản va hình thức hành vi
Căn cứ vào sự có đi, có lại về lợi ích vật chất giữa các chủ thể trong quan hệ hợpđồng, hợp đồng được chia thành: Hợp đồng có đền bù và hợp đồng không có đền bù Căn cứ vào sự tác động qua lại về quyền và nghĩa vụ của các bên thì hợp đồngdân sự được chia thành: Hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ
Căn cứ vào thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thì hợp đồng dân sự được chiathanh: Hợp đồng dân sự có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết và hợp đồng dân sự cóhiệu lực kể từ thời điểm khác
Ngoài ra hợp đồng còn có thể bao gồm các loại sau: Hợp đồng dân sự vì lợi ích củangười thứ ba, hợp đồng dân sự có điều kiện, hợp đồng dân sự hỗn hợp, hợp đồng dân
sự theo mẫu,…
3, NỘI DUNG CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ:
Nội dung của hợp đồng dân sự là tổng hợp các điều khoản mà các chủ thể tham giagiao kết hợp đồng đã thỏa thuận Các điều khoản đó xác định những quyền và nghĩa
vụ dân sự cụ thể của các bên trong hợp đồng
Tại Điều 402 BLDS 2005 quy định:
Tuỳ theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thoả thuận về những nội dung sau đây:
- Ðối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không
được làm;
- Số lượng, chất lượng;
- Giá, phương thức thanh toán;
- Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;
- Quyền, nghĩa vụ của các bên;
- Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;
- Phạt vi phạm hợp đồng;
- Các nội dung khác.
Trang 5Trong tất cả các điều khoản nói trên , có những điều khoản mà ở hợp đồng này cácbên không cần thỏa thuận nhưng ở một hợp đồng khác, các bên lại buộc phải thỏathuận, thì hợp đồng mới được coi là giao kết Mặt khác ngoài những nội dung cụ thểnày, các bên còn có thể thỏa thuận để xác định với nhau thêm một số nội dung khác.
Vì vậy, có thể phân chia các điều khoản trong nội dung của hợp đồng thành 3 loại:
- Điều khoản cơ bản: Là cáckhông thể thiếu được đối với từng loại hợp đồngnhằm xác định những nội dung chủ yếu của hợp đồng và nếu không thỏa thuận cácđiều khoản này thì hợp đồng không thể giao kết được Điều khoản cơ bản có thể dotính chất của hợp đồng quy định hoặc do pháp luật quy định, tùy theo từng loại hợpđồng mà điều khoản cơ bản có thể là đối tượng, giá cả, địa điểm,…
- Điều khoản thông thường: Là những điều khoản được pháp luật quy địnhtrước Nếu khi giao kết hợp đồng, các bên không thỏa thuận những điều khoản này,thì vẫn coi như hai bên đã mặc nhiên thỏa thuận và được thực hiện như pháp luậtquy định, ví dụ: Địa điểm giao tài sản động sản( đối tượng của hợp đồng mua bán) làtại nới cư trú của người mua nếu người mua đã trả tiền và trong hợp đồng các bênkhông thỏa thuận về địa điểm giao tài sản Khác với điều khoản cơ bản các điềukhoản thông thường không làm ảnh hưởng tới quá trình giao kết hợp đồng
- Điều khoản tùy nghi: Khi giao kết hợp đồng ngoài những điều khoản phảithỏa thuận vì tính chất của hợp đồng và những điều khoản mà pháp luật đã quy địnhthì khi giao kết hợp đồng các bên có thể thỏa thuận để xác địnht hêm một số điềukhoản khác nhằm làm cho nội dung của hợp đồng được cụ thể hoặc tạo điều kiệnthuận lợi cho các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng Như vậy, điều khoản tùynghi là những điều khoản mà các bên tham gia giao kết hợp đồng tự ý lựa chọn vàthỏa thuận với nhau để xác định quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên Ví dụ: Địađiểm trong hợp đồng mua bán sẽ là điều khoản tùy nghi nếu các bên đã thỏa thuậncho phép bên có nghĩa vụ được lựa chọn một trong nhiều nơi để thực hiện nghĩa vụgiao vật
4, ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU:
Hợp đồng dân sự là phương tiện pháp lý quan trọng để thỏa quyền và lợi ích hợppháp giữa các chủ thể tham gia quan hệ hơp đồng Ngoài ra, hợp đồng dân sự còn làcăn cứ để tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác giải quyết tranh chấp phát
Trang 6sinh Tuy nhiên, để hợp đồng dân sự có hiệu lực pháp lý thì hợp đồng đó phải thỏamãn đầy đủ các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định
Như vậy, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự chính là điều kiện có hiệu lựccủa giao dịch dân sự Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được xác định tạiĐiều 122, BLDS 2005:
“Ðiều 122 Ðiều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;
b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;
c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.
Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.”
Hợp đồng dân sự không tuân thủ đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân
sự thì được xác định là vô hiệu, tuy nhiên cần căn cứ vào từng trường hợp cụ thể đểxem xét và giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu Khi xem xéthợp đồng vô hiệu cần lưu ý là trên nguyên tắc hợp đồng phụ là hợp đồng mà hiệulực phụ thuộc vào hợp đồng chính nên sự vô hiệu của hợp đồng chính làm chấm dứthợp đồng ohuj trừ trường hợp có thỏa thuận hợp đồng phụ được thay thế hợp đồngchính Quy định hợp đồng chính vô hiệu thì hợp đồng phụ cũng vô hiệu không được
áp dụng đối với các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, điều đó có nghĩa
là hợp đồng chính vô hiệu nhưng các biện pháp bảo đảm vẫn có giá trị thi hành, điều
15 của Nghị định 163/NĐ – CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảođảm quy đinh:
“Điều 15.
Quan hệ giữa giao dịch bảo đảm và hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm
1 Hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm bị vô hiệu mà các bên chưa thực hiện hợp đồng đó thì giao dịch bảo đảm chấm dứt; nếu đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ
Trang 7hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm thì giao dịch bảo đảm không chấm dứt, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
2 Giao dịch bảo đảm vô hiệu không làm chấm dứt hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
3 Hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm bị huỷ bỏ hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện mà các bên chưa thực hiện hợp đồng đó thì giao dịch bảo đảm chấm dứt; nếu đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm thì giao dịch bảo đảm không chấm dứt, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
4 Giao dịch bảo đảm bị huỷ bỏ hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện không làm chấm dứt hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
5 Trong trường hợp giao dịch bảo đảm không chấm dứt theo quy định tại khoản
1 và khoản 3 Điều này thì bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm để thanh toán nghĩa vụ hoàn trả của bên có nghĩa vụ đối với mình.”
5, THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ:
Hợp đồng hợp pháp có hiệu lực pháp lý đối với các bên tham gia quan hệ hợp đồng.Nếu bên nào vi phạm phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi trước chủ thể phía bênkia Pháp luật luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia quan
hệ hợp đồng Tuy nhiên, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đó chỉ được thựchiện trong một khoảng thời gian nhất định – đó chính là thời hiệu khởi kiện về hợpđồng dân sự Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự được quy định tại Điều 427BLDS 2005:
“Ðiều 427 Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự:
Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm.”
Khi xác định thời hiệu khởi kiện để yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồngdân sự cần lưu ý:
- Đối với hợp đồng dân sự mà các bên có thỏa thuận thời hạn thực hiện nghĩa
vụ theo hợp đồng nếu hết thời hạn đó mà bên có nghĩa vụ không thực hiện thì ngàyhết hạn thực hiện nghĩa vụ là ngày xảy ra vi phạm;
Trang 8- Đối với hợp đồng dân sự mà các bên không thỏa thuận thời hạn thực hiệnnghĩa vụ hoặc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo chonhau biết trước một thời gian hợp lý, nếu hết thời hạn đã được thông báo bên cónghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ, thì ngày hết thời hạn đã được thông báo là ngàyxảy ra vi phạm;
- Trong trường hợp khi hết thời hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự, các bên có thỏathuận kéo dài thời hạn thực hiện nghĩa vụ đó, thì việc xác định ngày vi phạm căn cứvào ngày chấm dứt thỏa thuận của các bên;
- Trong quá trình thực hiện hợp đồng mà có vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồngthì ngày vi phạm nghĩa vụ là ngày xảy ra vi phạm, trừ trường hợp các bên có thỏathuận khác Nếu một bên đơn phương đình chỉ hợp đồng thì ngày đơn phương đìnhchỉ hợp đồng là ngày vi phạm
II, HÌNH THỨC CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005:
1, KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI:
Những điều khoản mà các bên đã cam kết thỏa thuận phải được thể hiện ra bên
ngoài bằng một hình thức nhất định Hay nói cách khác, hình thức của hợp đồng là
phương tiện để ghi nhận nội dung mà các chủ thể đã xác định Tùy thuộc vào nội
dung, tính chất của từng hợp đồng cũng như tùy thuộc vào độ tin tưởng lẫn nhau màcác bên có thể lựa chọn một hình thức nhất định trong việc giao kết hợp đồng chophù hợp với từng trường hợp cụ thể Tại điều 401 BLDS đã quy định:
“Ðiều 401 Hình thức hợp đồng dân sự
Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành
vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.
Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản
có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó.
Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”
Trang 9Hình thức của hợp đồng dân sự tương đối đa dạng tạo điều kiện cho các chủ thể kýkết thuận tiện Đối với những hợp đồng dân sự mà pháp luật qu định buộc phải giaokết theo một hình thức nhất định, thì các bên phải tuân thoe hình thức đó Ngoài ra,đối với những hợp đồng khác, các bên có thể chọn một trong những hình thức sauđây để giao kết:
- Hình thức miệng(bằng lời nói): Thông qua hình thức này, các bên giao kếthợp đồng chỉ cần thỏa thuận miệng với nhau về nội dung cơ bản của hợp đồng hoặcmặc nhiên thực hiện những hành vi nhất định đối với nhau Hình thức này thườngđược áp dụng trong những trường hợp các bên đã có độ tin tưởng lẫn nhau(bạn bècho nhau vay tiền) hoặc đối với những hợp đồng mà ngay sau khi giao kết sẽ đượcthực hiện và và chấm dứt
- Hình thức viết(bằng văn bản): Nhằm nâng cao độ xác thực về nội dung đãcam kết,các bên có thể ghi nhận nội dung giao kế hợp đồng bằng một văn bản.Trong văn bản đó, các bên phải ghi đầy đủ những nội dung cơ bản của hợp đồng vàcùng ký tên xác nhận vào văn bản Khi có tranh chấp, hợp đồng được giao kết bằnghình thức văn bản tạo ra chứng cứ pháp lý chắc chắn hơn so với hình thức miệng.Căn cứ vào văn bản của hợp đồng, các bên dễ dàng thực hiện quyền yêu cầu củamình đối với bên kia Vì vậy, đối với những hợp đồng mà việc thực hiện không cùnglúc với việc giao kết thì các bên thường lựa chọn hình thức này Thông thường hợpđồng được lập thành nhiều bản và mỗi bên giữ một bản, coi như đã có trong tay mộtbằng chứng, chứng minh quyền dân sự của mình
- Hợp đồng được thể hiện bằng văn bả có công chứng, chứng thực, đăng kýhoặc xin phép: Hình thức này thường được áp dụng đối với các hợp đồng dân sự màđối tượng có giá trị lớn, đối tượng của hợp đồng mà pháp luật quy định cần phảiđược kiểm soát chặt chẽ rong lưu thông dân sự, đối tượng của hợp đồng có ý nghĩađối với đời sống kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, Nếu pháp luật có quy địnhhợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phảiđăng ký hoặc xin phép thì các bên trong quan hệ hợp đồng phải tuân theo các quyđịnh đó
- Hợp đồng có hình thức bằng hành vi cụ thể: Hợp đồng không có sự thỏa thuậngiữa các bên mà mặc nhiên coi là có sự thỏa thuận khi một bên bằng hành vi củamình chấp nhận giao kết hợp đồng thông qua sự ấn định trước quyền và nghĩa vụcủa bên kia Hình thức này cũng phổ biến trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt khi côngnghẹ ngày càng phát triển với sự tự động hóa áp dụng ở nhiều nơi, đặc biệt là các
Trang 10thành phố, thị xã như bán hàng qua máy tự động, rút tiền ở các máy do ngân hàngđặt ở những vị trí khác nhau…
2, Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH HÌNH THỨC CỦA HỢP ĐỒNG TRONG GIAO LƯU DÂN SỰ:
Hình thức của hợp đồng là cách thức thể hiện ý chí ra bên ngoài dưới hình thức nhấtđịnh của các chủ thể hợp đồng Thông qua cách thức thể hiện này, người ta có thểbiết được nôi dung của hợp đồng đã được xác lập Pháp luật quy định về điều kiện
về hình thức của hợp đồng để các chủ thể tham gia giao dịch và đồng thời quy địnhbiện pháp biện pháp chế tài nếu các bên tham gia không tuân theo các điều kiện đểhợp đồng dân sự có giá trị pháp lý Việc quy định này nhằm bảo vệ trật tự công, tạohành lang pháp lý an toàn cho các chủ thể tham gia hợp đồng Việc xác định hìnhthức bắt buộc đối với’ một số loại hợp đồng và nhằm đảm bảo tính rõ ràng của việctồn tại các hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể trong hợp đồng
Hình thức của hợp đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tố tụng Bởi đó làchứng cứ xác nhận các quan hệ hợp đồng đã và đang tồn tại giữa các bên, từ đó xácđịnh trách nhiệm của mỗi bên khi có vi phạm xảy ra Những cam kết thỏa thuận củacác chủ thể tham gia hợp đồng được thể hiện dưới mỗi hình thức nhất định Điều nàygóp phần giúp các cơ quan chức năng kiểm tra các hợp đồng trên cơ sở các văn bản
là hình thức thể hiện hợp đồng
3, VỤ VIỆC CÓ THẬT LIÊN QUAN ĐẾN HÌNH THỨC CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ:
- Vụ việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản:
Phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 61/TLST/DS ngày09/02/2006 về việc “tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án raxét xử số 230/2006/QĐST-DS ngày 05/8/2006 tại Tóa Án nhân dân Quận 8, TP.HồChí Minh
Nguyên đơn: bà Lê Kim Ánh, sinh năm 1943
Bị đơn: bà Lê Thị Ngọc Thắm, sinh năm 1983
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Sáu, sinh năm 1948
Nội dung vụ án