1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

đề cương quyền con người

16 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 33,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp luật quốc tế Quyền này đầu tiên được ghi nhận trong Điều 21 UDHR với nội dung cụ thể như sau: Sau đó, Điều 25 ICCPR tái khẳng định và cụ thể hóa quy định trong Điều 21 UDHR, trong đ

Trang 1

CÂU 1,2: KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, TÍNH CHẤT, THUỘC TÍNH CỦA QUYỀN CON NGƯỜI (Tuyên ngôn thể giới về quyền con người UDHR)

*Khái niệm quyền con người

Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc, nhân quyền là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những

sự được phép và tự do cơ bản của con người

Quyền con người được định nghĩa là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.

Đồng thời, cần nhận thức được quyền con người vừa mang tính tự nhiên vừa mang tính pháp lý Bởi thứ nhất quyền con người là những đặc quyền tự nhiên, vốn

có, không ai có quyền tước đoạt, cũng không ai có quyền ban phát Tuy nhiên, bản thân quyền tự nhiên, vốn có chưa chắc đã là quyền Để đạt tới cái gọi là quyền thì cần yếu tố thứ hai là tính pháp lý để quyền tự nhiên đó trở thành đối tượng điều chỉnh của pháp luật, được pháp luật thừa nhận, bảo vệ, bảo đảm và thực hiện Nguyên nhân của việc các quyền đó cần mang tính pháp lý vì mỗi quốc gia có những hoàn cảnh lịch sử khác nhau, nền kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau, cơ chế pháp luật khác nhau,… nên không thể như nhau về hệ thống pháp luật Do đó, không thể có một khái niệm thống nhất về quyền con người trên toàn thế giới mà khái niệm quyền con người phải là phải là sự thống nhất giữa cái khách quan và chủ quan của quyền con người được ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật của mỗi quốc gia và các công ước quốc tế về nhân quyền

- Quyền con người có tính tự nhiên

Trang 2

+ Tính tự nhiên là thuộc tính vốn có của quyền con người Bắt nguồn từ việc coi con người là một thực thể tự nhiên nên quyền con người phải là quyền bẩm sinh, là quyền vốn có của con người mà nếu không được hưởng thì chúng ta sẽ không thể sống như một con người

+ Quyền con người có tự nhiên, do đó nó không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của bất cứ cá nhân, tổ chức nào, và càng không phải do nhà nước ban phát hay tước bỏ mà ở đây, nhà nước chỉ có thể công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm

- Tính pháp lý

+ Đầu tiên, phải khẳng định QCN vẫn là thuộc tính vốn có của quyền con người nhưng mang tính pháp lý ở đây nó được nhà nước công nhận bằng cách quy định cụ thể bằng pháp luật

+ Nói cách khác, quyền con người có thể bị giới hạn bởi các quy định của pháp luật, có phạm vi phụ thuộc vào một không gian và thời gian nhất định cũng như các yếu tố về điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội

+ Có thể nói, quyền con người cũng là một quy phạm pháp luật, đòi hỏi tất

cả mọi thành viên của xã hội phải tôn trọng Pháp luật là phương tiện đảm bảo giá trị thực tế của các quyền con người vì chỉ khi được quy định trong pháp luật, việc tuân thủ và thực hiện các quyền con người mới mang tính bắt buộc với mọi chủ thể trong xã hội

Thứ hai, quyền con người có tính không thể tước bỏ

+ Các quyền con người không thể bị tước đoạt hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả nhà nước

+ Tuy nhiên, ở đây khía cạnh “tùy tiện”, không phải lúc nào quyền con người cũng không thể bị tước bỏ Trong một số trường hợp nhất định được pháp

Trang 3

luật quy định thì chỉ có những chủ thể đặc biệt mới có thể bị hạn chế quyền con người như khi một người phạm tội, vi phạm pháp luật thì có thể bị tước tự do theo pháp luật, thậm chí bị tước quyền sống Hiến pháp năm 2013 tại khoản 2 Điều 14

CÂU 3 QUYỀN ĐƯỢC THAM GIA VÀO ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI

(Bình luận chung số 25)

1. Pháp luật quốc tế

Quyền này đầu tiên được ghi nhận trong Điều 21 UDHR với nội dung cụ thể như sau:

Sau đó, Điều 25 ICCPR tái khẳng định và cụ thể hóa quy định trong Điều 21 UDHR, trong đó nêu rõ:

Liên quan đến Điều 25, Bình luận chung số 25 đã thông qua những điều kiện quan trọng:

+Thứ nhất, ghi nhận và bảo vệ quyền của mọi công dân được tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước, quyền bầu cử, ứng cử và quyền được tham gia các cơ quan công quyền

+Thứ hai, không được có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào vì bất kỳ lý do gì giữa các công dân trong việc thực hiện những quyền này

+Thứ ba, các quyền nêu ở Điều 25 có thể bị hạn chế nhưng mọi hạn chế phải hợp lý và khách quan Ví dụ, một trong những hạn chế được cho là hợp lý là quy định cần phải đạt đến một độ tuổi nhất định mới được quyền bầu cử, ứng cử

+Thứ tư, quyền bỏ phiếu tại các cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý phải được quy định bởi pháp luật và chỉ phải chịu những hạn chế hợp lý, ví dụ như: quy định

về độ tuổi tối thiểu được quyền bầu cử

Trang 4

+Thứ năm, quyền tự do biểu đạt, hội họp và lập hội là những điều kiện quan trọng cho việc thực hiện có hiệu quả quyền bầu cử, do đó, cần được các quốc gia thành viên bảo đảm đầy đủ

+Thứ sáu, cần thành lập một cơ quan độc lập để giám sát quá trình bầu cử và bảo đảm rằng, việc bầu cử được tiến hành một cách bình đẳng, không thiên vị, phù hợp với pháp luật quốc gia và với Công ước

Pháp luật quốc gia

Liên hệ với thực tiễn Việt Nam hiện hành, Đảng và Nhà nước ta đã xem quyền được tham gia vào đời sống chính trị, xã hội là một quyền cơ bản của công dân, đồng thời cũng ngày càng coi trọng và nâng cao quyền này như một quyền tự nhiên, vốn có mà công dân của quốc gia ai cũng xứng đáng có được Tuy nhiên, vì việc thực hiện quyền này mang tầm ảnh hưởng đến chế độ chính trị, sự hòa bình quốc gia, ổn định xã hội nên pháp luật Việt Nam cũng quy định kèm theo những điều kiện nhất định Cụ thể:

Một là, Hiến pháp 2013 HP 2013 không quy định một cách trực tiếp rằng

công dân có quyền tham gia vào đời sống chính trị xã hội nhưng thông qua một số quy định của HP 2013, ta dễ dàng nhận thấy sự tương thích của pháp luật VN với pháp luật quốc tế về quyền được tham gia vào đời sống chính trị, xã hội Chẳng hạn như, Điều 28 Hiến pháp 2013 quy định về quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân như:

Hay HP 2013 cũng quy định về quyền bầu cử, ứng cử của công dân tại Điều

27 như sau:

Chưa hết, để thể hiện sự tương thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế, HP 2013 quy định hàng loạt các quyền liên quan đến việc tham gia vào đời

Trang 5

sống chính trị, xã hội của công dân như quyền tự do ngôn luận (đ 25), quyền biểu quyết (đ 29), quyền khiếu nại, tố cáo (đ 30)…

Hai là, Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 Đây là bộ luật quy định

về các tội phạm cũng như hình phạt đối với các tội phạm ở Việt Nam Bộ luật hình

sự hiện hành của nước ta thể hiện sự tương thích với pháp luật quốc tế bằng cách quy định hàng loạt các tội phạm và hình phạt đối với các hành vi xâm phạm đến quyền được tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân Chẳng hạn như, Bộ luật hình sự quy định tội phạm và các hình phạt nghiêm khắc đối với các tội danh như Tội xâm phạm quyền của công dân về bầu cử, ứng cử hoặc biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân; Tội làm sai lệch kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân; tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân; Tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo;… Chưa hết, vì tính chất của quyền này ảnh hưởng đến những vấn đề mang tầm quốc gia như chế độ chính trị, nền hòa bình, sự ổn định xã hội,… nên bên cạnh những quy định xử phạt các hành vi xâm hại quyền tham gia đời sống chính trị xã hội của con người, Bộ luật hình sự của nước ta còn có hàng loạt các quy định về những hành vi lợi dụng các quyền ấy mà gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội, chế độ chính trị quốc gia như: Tội phản bội tổ quốc; Tội gián điệp; Tội bạo loạn; Tội phá rối an ninh; Tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự;…

Bên cạnh hai văn bản pháp luật trên, hệ thống pháp luật Việt Nam cũng có nhiều văn bản pháp luật khác để bảo vệ quyền được tham gia vào đời sống chính trị

xã hội như: Bộ luật tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017; Luật xử lý vi phạm hành chính 2012; Luật tổ chức Quốc hội 2014; Luật cán bộ công chức 2008;…

Như vậy, các quy định về pháp luật việt Nam hoàn toàn tương thích với pháp luật quốc tế khi quy định về quyền được tham gia vào đời sống chính trị, xã hội Đồng thời, dựa trên cơ sở hoàn cảnh lịch sử, tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội mà Việt Nam đã có những quy định cụ thể hơn, phù hợp với thực tế hơn, không

Trang 6

tạo nên những bất cập hay hạn chế khi liên hệ pháp luật quốc tế vào pháp luật Việt Nam và áp dụng vào thực tiễn

CÂU 4: PHÂN TÍCH QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ, KHÔNG BỊ TRA TẤN, ĐỐI

XỬ HOẶC TRỪNG PHẠT TÀN BẠO, VÔ NHÂN ĐẠO

(Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm 1984 (CAT)

1 Pháp luật quốc tế

Quyền được bảo vệ, không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn baoh, vô nhân đạo là một quyền cơ bản không thể thiếu của con người Quyền này đầu tiên

được đề cập trong Điều 5 UDHR, trong đó nêu rằng, “không ai bị tra tấn hay bị đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm”

Điều 7 ICCPR cụ thể hóa nội dung Điều 5 UDHR, trong đó nêu rõ, “không

ai có thể bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm; không ai có thể bị sử dụng để làm thí nghiệm y học hoặc khoa học mà không có sự đồng ý tự nguyện của người đó”

Bên cạnh các quy định trên của UDHR và ICCPR, vấn đề chống tra tấn còn được đề cập trong một số điều ước quốc tế khác về quyền con người, đặc biệt là Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm năm 1984 (CAT) Tuy nhiên, chúng ta phải hiểu là chống tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục được coi là một quy phạm tập quán quốc tế về quyền con người, bởi vậy, tất cả các quốc gia trên thế giới đều có nghĩa vụ phải tuân thủ dù quốc gia đó có là thành viên của các tổ chức nào hay không

Trang 7

Đồng thời, xét về nội dung, mặc dù UDHR và ICCPR đều không đưa ra định nghĩa về hành động tra tấn, song định nghĩa này đã được nêu ở Điều 1 của CAT,

theo đó: “(Tra tấn) là bất kỳ hành động nào tạo ra sự đau đớn nặng nề hoặc đau khổ - dù thể xác hay tâm thần - do cố ý gây ra cho một người nhằm các mục đích

là đạt được thông tin hay một lời thú nhận từ anh ta hoặc một người thứ ba, trừng phạt anh ta vì một hành động mà anh ta hoặc người thứ ba đã phạm hoặc bị nghi

là đã phạm, hoặc đe dọa, ép buộc anh ta hoặc một người thứ ba, hoặc đối với bất

kỳ lý do nào dựa trên sự phân biệt đối xử bất kỳ loại nào, khi nỗi đau đớn hay đau khổ như vậy gây ra bởi - hoặc theo sự xúi giục - hoặc với sự đồng ý - hoặc chấp thuận - của một quan chức hoặc người khác hành động trên cương vị chính quyền.

Nó không bao gồm sự đau đớn hoặc đau khổ ngẫu nhiên hoặc vốn có khi bị các hình phạt đúng theo luật” Định nghĩa về tra tấn trong Điều 1 CAT hiện được sử

dụng như một quy định tham chiếu chung trong luật nhân quyền quốc tế và luật hình sự quốc

Bên cạnh đó, ngoài những nội dung trên, bình luận chung số 12 của Ủy ban quyền con Người Liên hợp quốc đã cụ thể hóa Điều 7 ICCPR về quyền được bảo

vệ, không bị tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo, câng lưu ý một số nội dung như sau:

+ Mục đích của Điều 7 ICCPR là để bảo vệ cả phẩm giá và sự bất khả xâm phạm về thể chất và tinh thần của các cá nhân

+ Việc cấm tra tấn và cấm áp dụng các hình thức đối xử, trừng phạt tàn bạo,

vô nhân đạo và hạ nhục phải được duy trì trong mọi tình huống, kể cả trong hoàn cảnh khẩn cấp của quốc gia

+Sự phân biệt giữa các hành động tra tấn và hành động đối x ử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục phụ thuộc vào bản chất, mục đích và tính chất nghiêm trọng của hành vi

+Về dấu hiệu khách quan, hành vi tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục không chỉ là những hành động gây ra những đau đớn về thể xác, mà còn bao gồm những hành động gây đau khổ về tinh thần với nạn nhân

Trang 8

Pháp luật Việt Nam

Đối với pháp luật Việt Nam, quyền được bảo vệ, không bị tra tấn, đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc làm nhục được xem là một quyền cơ bản, không thể thiếu của con người Nó được quy định trong nhiều văn bản pháp luật của Việt Nam như:

Thứ nhất, trong Hiến pháp 2013, quyền này lần đầu tiên đã được ghi nhận tại Điều 20 Hiến pháp 2013, cụ thể như sau:

“1 Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo

hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.

2 Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt, giam, giữ người do luật định.

3 Mọi người có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác theo quy định của luật Việc thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất kỳ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải có sự đồng ý của người được thử nghiệm”

Quy định trên đã hoàn toàn tương thích với pháp luật quốc tế, trở thành một

cơ sở cho các pháp luật chuyên ngành khác, đảm bảo cho quyền này đucợ thực hiện một cách tuyệt đối dù về mặt lý luận hay thực tiễn

Thứ hai, Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 Bộ luật hình sự hiện

hành của nước ta bảo vệ quyền được bảo vệ, không bị tra tấn, đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc làm nhục người khác bằng hình thức quy định các hình phạt nghiêm khắc đối với các trường hợp xâm phạm hoặc gây ảnh hưởng đến thân thể, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người như: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; Tội vô ý gây thương tích hoặc gây

Trang 9

tổn hại cho sức khỏe của người khác; Tội hành hạ người khác; Tội hiếp dâm; Tội cưỡng dâm; Tội làm nhục người khác; Tội vu khống,…

Thứ ba, Luật trẻ em 2016 Luật trẻ em 2016 đã phần nào hoàn thiện các chế

định về bảo vệ trẻ em, đặc biệt là bảo vệ về sức khỏe, thân thể, danh dự, nhân phẩm của trẻ em, đảm bảo cho trẻ em có được bảo vệ một cách hoàn thiện để sinh sống và phát triển Cụ thể, Luật trẻ em 2016 đã có những chế định đảm bảo cho quyền được bảo vệ, không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục trẻ em như: Quyền được chăm sóc sức khỏe; Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng; Quyền được bảo vệ để không bị xâm hại tình dục; Quyền được bảo vệ

để không bị bóc lột sức lao động; Quyền được bảo vệ để không bị bạo lực, bỏ rơi,

bỏ mặc; Quyền được bảo vệ khỏi chất ma túy,…

Bên cạnh những lĩnh vực pháp luật nêu trên, pháp luật Việt Nam còn có những lĩnh vực khác cũng có những quy định đảm bảo quyền được bảo vệ, không

bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo như luật tố tụng hình sự

2015, sửa đổi, bổ sung 2017; Luật lao động 2012;…

Như vậy, các quy định về pháp luật việt Nam hoàn toàn tương thích với pháp luật quốc tế khi quy định về quyền được bảo vệ, không bị tra tấn, đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo và hạ nhục Chúng ta có những quy định về bảo vệ tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm của con người, đồng thời, theo quy định của pháp luật Viêt Nam hiện hành, không ai có quyền xâm phạm đến quyền được bảo vệ, không bị tra tấn, đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo và hạ nhục Đồng thời, ta có thể khẳng định, quyền này là một trong số ít những quyền tuyệt đối của con người trong mọi trường hợp, không ai được đưa ra bất kỳ lý do nào để hạn chế quyền này dù với những mục đích tốt đẹp là giáo dục, cải tạo con người

Trang 10

CÂU 6: QUYỀN SỐNG (Công ước quốc tế về các Quyền dân sự, chính trị (ICCPR) trừ Điều 25, Điều 21 ko chèn; Bình luận chung số 6)

I Pháp luật quốc tê

Quyền sống là một quyền cơ bản, quan trọng mà con người không thể thiếu Quyền sống lần đầu tiên chính thức được đề cập tại Điều 3 Tuyên ngôn thế giới về

quyền con người (UDHR): “Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn

cá nhân”

Khoản 1 Điều 6 Công ước quốc tế về các Quyền dân sự, chính trị (ICCPR)

cụ thể hóa Điều 3 UDHR, trong đó nêu rằng: “Mọi người đều có quyền cố hữu là được sống Quyền này phải được pháp luật bảo vệ Không ai có thể bị tước mạng sống một cách tuỳ tiện”

Bên cạnh ICCPR, một số công ước quốc tế khác về quyền con người cũng

đề cập đến quyền sống, trong đó bao gồm Công ước về Quyền trẻ em, Công ước về Ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng, Công ước về Trấn áp và trừng trị tội ác a-pác-thai…

Ngoài ra, Bình luận chung số 6 năm 1982 đã bổ sung một số khía cạnh về nội hàm của quyền sống

- Quyền sống là “một quyền tối cao của con người mà trong bất cứ hoàn cảnh nào, kể cả trong tình trạng khẩn cấp của quốc gia, cũng không thể bị tạm đình chỉ việc thực hiện…” (đoạn 1)

- Quyền sống không chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là sự toàn vẹn về tính mạng, mà còn bao gồm việc bảo đảm sự tồn tại của con người (đoạn 2)

- Mặc dù ICPPR không bắt buộc các quốc gia thành viên phải xóa bỏ hình phạt tử hình, song các quốc gia có nghĩa vụ giới hạn áp dụng hình phạt này chỉ với

“những tội ác nghiêm trọng nhất”, ngoài ra còn phải bảo đảm mọi thủ tục tố tụng công bằng trong các vụ án tử hình (đoạn 6)

Ngày đăng: 02/10/2020, 09:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w