1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

pháp luật việt nam về hợp đồng đại lý

145 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3 Ngoài các sách chuyên khảo, ở phạm vi và mức độ khác nhau có một số bài viết, công trình nghiên cứu của các nhà luật học bàn về một vài khía cạnh pháp luật liên quan trong đó đề cập đạ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy

và trung thực Kết quả nghiên cứu của luận văn không có sự trùng lặp với bất

kỳ công trình nào đã công bố

NGƯỜI CAM ĐOAN

Tạ Thị Phương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả cảm ơn Tiến sĩ Võ Sỹ Mạnh đã gợi ý đề tài và tận tình hướng dẫn tác giả trong quá trình thực hiện Luận văn này

Tác giả xin cảm ơn các thầy cô trường Đại học Ngoại thương tham gia giảng dạy chương trình Cao học Luật Kinh tế mà tác giả được theo học và trong khuôn khổ đó thực hiện Luận văn này về các kiến thức mới mẻ và cập nhật mà tác giả đã lĩnh hội được

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 5

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN

Tên luận văn: Pháp luật Việt Nam về hợp đồng đại lý

Luận văn đã đạt được các kết quả chính sau:

- Hệ thống các quy định của pháp luật về đại lý nói chung và hợp đồng đại lý nói riêng, nghiên cứu một cách toàn diện về các quy định của pháp luật

- Phân tích làm rõ các khía cạnh pháp lý của hợp đồng đại lý

- Đánh giá thực trạng áp dụng các quy định pháp luật hợp động đại lý trong thực tiễn

- Phân tích những bất cập trong các quy định pháp luật về hợp đồng đại

lý, từ đó đề ra các giải pháp hoàn thiện chế định pháp luật về hợp đồng đại lý

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4

4.1 Đối tượng nghiên cứu 4

4.2 Phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Dự kiến đóng góp của luận văn 6

7 Kết cấu của Luận văn 7

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẠI LÝ, HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ 8

1.1 Đại lý, hợp đồng đại lý 8

1.1.1 Đại lý 8

1.1.1.1 Khái niệm đại lý 8

1.1.1.2 Đặc điểm của đại lý 9

1.1.1.3 Phân loại đại lý 13

1.1.1.4 Vai trò của đại lý 16

1.1.2 Hợp đồng đại lý 18

1.1.2.1 Khái niệm hợp đồng đại lý 18

1.1.2.2 Đặc điểm của hợp đồng đại lý 19

1.2 Nội dung điều chỉnh của pháp luật về hợp đồng đại lý 22

1.2.1 Quyền và nghĩa vụ của các bên hợp đồng đại lý 22

1.2.2 Giao kết hợp đồng đại lý 23

Trang 7

1.2.2.1 Nguyên tắc giao kết 23

1.2.2.2 Hình thức, trình tự giao kết 24

1.2.3 Sửa đổi, bổ sung, chấm dứt hợp đồng đại lý 25

1.2.4 Vi phạm, xử lý vi phạm hợp đồng đại lý và giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng đại lý 27

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ 31

2.1 Quy định và thực tiễn áp dụng quy định về hợp đồng đại lý 31

2.1.1 Về điều kiện hiệu lực của hợp đồng đại lý 31

2.1.2 Về giao kết hợp đồng đại lý 36

2.1.3 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng đại lý 40

2.1.3.1 Quyền và nghĩa vụ của bên giao đại lý 41

2.1.3.2 Quyền và nghĩa vụ của bên đại lý 46

2.1.4 Thực hiện, sửa đổi, bổ sung và chấm dứt hợp đồng đại lý 51

2.1.4.1 Thực hiện hợp đồng đại lý 51

2.1.4.2 Sửa đổi, bổ sung, chấm dứt hợp đồng đại lý 55

2.1.5 Vi phạm, xử lý vi phạm hợp đồng đại lý và giải quyết tranh chấp về hợp đồng đại lý 57

2.2 Một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng quy định về hợp đồng đại lý 65

2.2.1 Về điều kiện hiệu lực của hợp đồng đại lý 66

2.2.2 Về giao kết hợp đồng đại lý 68

2.2.3 Về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng đại lý 69

2.2.4 Về thực hiện, sửa đổi, bổ sung và chấm dứt hợp đồng đại lý 74

2.2.5 Vi phạm, xử lý vi phạm hợp đồng đại lý và giải quyết tranh chấp về hợp đồng đại lý 79

Trang 8

Tiêu kết chương 2 82

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ VÀ GIẢI PHÁP THỰC THI 83

3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về hợp đồng đại lý 83

3.1.1 Hoàn thiện pháp luật về h ợ p đ ồ n g đại lý phải phù hợp với chính sách phát triển thương mại của nước ta 83

3.1.2 Hoàn thiện pháp luật về đại lý phải đặt trong tổng thể chung của việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật thương mại, đảm bảo tính minh bạch, đồng bộ, thống nhất và khả thi của pháp luật 83

3.1.3 Hoàn thiện pháp luật về đại lý phải đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế 84

3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng đại lý 85

3.2.1 Hoàn thiện quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng đại lý 85

3.2.2 Hoàn thiện quy định về thực hiện, sửa đổi, bổ sung, chấm dứt hợp đồng đại lý 88

3.2.3 Hoàn thiện các quy định pháp luật về vi phạm, xử lý vi phạm hợp đồng đại lý và giải quyết tranh chấp về hợp đồng đại lý 93

3.3 Một số giải pháp thực thi 95

3.3.1 Về phía Nhà nước 95

3.3.2 Về phía các thương nhân tham gia hợp đồng đại lý 96

Tiểu kết chương 3 97

KẾT LUẬN 98

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… ………. 100

PHỤ LỤC 1 ……….……… ……… 104

PHỤ LỤC 2 ……… ……… 107

Trang 9

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong cơ chế kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển mạnh

mẽ của các ngành thương mại dịch vụ đã thúc đẩy các doanh nghiệp đi vào tập trung chuyên môn hóa cao Doanh nghiệp sản xuất chủ yếu tập trung toàn lực cho sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm Chính vì vậy, vấn đề tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ các doanh nghiệp có nhu cầu tìm cho mình sự trợ giúp của các nhà trung gian chuyên nghiệp và một trong số đó là các đại lý thương mại Đại lý thương mại là một phương thức kinh doanh xuất hiện từ rất sớm và ngày càng được các doanh nghiệp ưa chuộng Phương thức này được thực hiện thông qua hợp đồng đại lý, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, dịch vụ cũng như đối với nền kinh tế quốc dân với các ưu điểm như: giúp doanh nghiệp phân phối sản phẩm tới tận tay người tiêu dùng trên một phạm vi rộng lớn, tiết kiệm chi phí giao dịch và đem lại hiệu quả kinh doanh cao

Đại lý là một trong những hoạt động thương mại khá phổ biến trên thị trường Việt Nam và hợp đồng đại lý là công cụ pháp lý cần thiết để các thương nhân thực hiện hoạt động này Ở Việt Nam hoạt động đại lý phát triển ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau như bảo hiểm, hàng hải, xăng dầu,… Nếu chỉ xét trong lĩnh vực xăng dầu, 11 doanh nghiệp đầu mối của Việt Nam đã có khoảng 3.800 đại lý trực thuộc và 240 tổng đại lý, trong đó các tổng đại lý lại có rất nhiều đại lý trực thuộc khác1,…

Mặc dù hoạt động đại lý thương mại đang rất phát triển nhưng pháp luật về đại

lý mới chỉ được quy định chủ yếu tại Luật thương mại 2005; một số văn bản pháp luật chuyên ngành khác như: Bộ luật Hàng hải, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật du lịch, Luật hải quan, Luật quản lý thuế 2và các văn bản dưới luật như: Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 03 tháng 09 năm 2014 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu; Nghị định số 19/2016/NĐ-CP ngày 22 tháng 03 năm 2016 của Chính phủ về

1 Báo cáo hỗ trợ Bộ Công thương xây dựng Nghị định về Đại lý thương mại trong lĩnh vực phân phối của dự

án EU–ViệtNam Mutrap III Dự án hỗ trợ thương mại đa biên (2011).

2 Nguyễn Mai Chi, Pháp luật Việt Nam về hợp đồng đại lý , Luận văn thạc sĩ, năm 2012, tr.4

Trang 10

2

kinh doanh khí Tuy nhiên, chưa có quy định của Nhà nước về hệ thống đại lý và pháp luật điều chỉnh về hợp đồng đại lý còn nhiều bất cập Các văn bản pháp luật còn nhiều mâu thuẫn, chồng chéo và chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế Một số quy định còn thiếu tính cụ thể, chưa bám sát với thực tiễn thi hành hoặc chưa phù hợp với thông lệ quốc tế Do vậy khi các bên đi vào kí kết, thực hiện hợp đồng đại

lý đã phát sinh nhiều vướng mắc, bất cập, sai sót, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên

Như vậy, sau một thời gian áp dụng, cùng với việc một số văn bản quy phạm pháp luật khác được ban hành, pháp luật Việt Nam về hợp đồng đại lý đã bộc lộ một

số điểm hạn chế, cần được sửa đổi, bổ sung

Trước yêu cầu phát triển của nền kinh tế và trước thực trạng pháp luật cho thấy việc tham gia đại lý thương mại thông qua hợp đồng đại lý ở Việt Nam cần

được bổ sung, hoàn thiện Đó là lý do em lựa chọn đề tài “Pháp luật Việt Nam về hợp đồng đại lý” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong khoa học pháp lý, pháp luật điều chỉnh hợp đồng đại lý là một lĩnh vực pháp luật thương mại nhận được sự quan tâm đáng kể của các nhà khoa học Một số sách nghiên cứu về các chế định trung gian thương mại, đặc biệt về đại diện và ủy quyền thương mại như:

- Giáo trình Luật thương mại của một số cơ sở đào tạo Luật (Trường đại học Luật Hà Nội, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội v.v…) nghiên cứu chung về đại lý thương mại dưới hình thức là một loại hình trung gian thương mại trong lĩnh vực mua bán hàng hoá

- Sách “Pháp luật thương mại dịch vụ Việt Nam và Hội nhập kinh tế quốc tế”

của PGS.TS Nguyễn Như Phát và TS Phan Thảo Nguyên nghiên cứu khái quát về hoạt động đại lý thương mại dịch vụ và thực tiễn áp dụng trong xu thế hội nhập

- Sách “Chuyên khảo Luật kinh tế” của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa nghiên cứu khái quát về đại lý thương mại trong sự phát triển chung của nền kinh tế

Trang 11

3

Ngoài các sách chuyên khảo, ở phạm vi và mức độ khác nhau có một số bài viết, công trình nghiên cứu của các nhà luật học bàn về một vài khía cạnh pháp luật liên quan (trong đó đề cập đại lý thương mại với tính chất là một loại hình trung gian thương mại và chủ yếu trong lĩnh vực mua bán hàng hóa) được công bố qua các tài liệu, báo cáo và tạp chí chuyên ngành như3:

- “Chế định đại diện thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam, nhìn

từ góc độ luật so sánh” của TS.Ngô Huy Cương – Tạp chí nhà nước và pháp luật

(2009) nghiên cứu về đại diện thương mại theo pháp luật Việt Nam trong sự tương quan, so sánh với một số hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới

- “Tìm hiểu khái niệm đại lý thương mại” của Nguyễn Thị Vân Anh – Tạp chí

Luật Học (2006) nghiên cứu về khái niệm đại lý thương mại theo quy định của Luật thương mại

- “Báo cáo hỗ trợ Bộ Công thương xây dựng Nghị định về Đại lý thương mại trong lĩnh vực phân phối” của dự án EU–ViệtNam Mutrap III Dự án hỗ trợ thương

mại đa biên (2011)

- Luận án tiến sĩ “Pháp luật điều chỉnh hoạt động trung gian thương mại ở Việt Nam” của Nguyễn Thị Vân Anh (2007)

- Luận án tiến sĩ luật học của Hồ Ngọc Hiển “Đại diện cho thương nhân theo pháp luật thương mại Việt Nam hiện nay” (2012)…,

- Luận văn thạc sĩ của Vũ Hồng Nam “Hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá theo pháp luật thương mại Việt Nam”(2017),…

Những tài liệu này chủ yếu nghiên cứu và đề cập về hoạt động đại lý trong lĩnh vực thương mại dưới hình thức trung gian thương mại Hoạt động đại lý thương mại và hợp đồng đại lý được các tác giả nghiên cứu và trình bày khái quát trên cơ

sở các quy định của pháp luật thương mại trong mối liên hệ với thương mại quốc tế Nhìn chung, các tài liệu mới chỉ nghiên cứu chung về hoạt động đại lý còn hợp

3 Nguyễn Mai Chi, Pháp luật Việt Nam về hợp đồng đại lý , Luận văn thạc sĩ, năm 2012, tr.5

Trang 12

4 đồng đại lý chưa được nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện, nhất là các vấn đề đã phát sinh trong thực tiễn ký kết, thực hiện loại hợp đồng này

Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về đại lý, hợp đồng đại lý với nhiều cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học chuyên sâu và toàn diện nào nghiên cứu hợp đồng đại lý thương mại ở bình diện lý luận cơ bản cũng như thực trạng ban hành và thực thi pháp luật về hợp đồng đại lý ở Việt Nam Những tài liệu này là nguồn tham khảo quý báu cho tác giả khi nghiên cứu pháp luật về hợp đồng đại lý ở Việt Nam

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu đề tài là nhằm hoàn thiện chế định pháp luật về hợp đồng đại lý của Việt Nam trên cơ sở phân tích, làm rõ quy định và thực tiễn vận dụng quy định pháp luật Việt Nam về hợp đồng đại lý Việc nghiên cứu pháp luật Việt Nam về hợp đồng đại lý nhằm tìm ra được các điểm hạn chế từ chính các quy định pháp luật và từ quá trình áp dụng, giải quyết tranh chấp của cơ quan tài phán ở Việt Nam để từ đó đưa ra các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật hợp đồng đại lý

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu đề tài là các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam điều chỉnh hợp đồng đại lý, bản án của tòa án nhân dân giải quyết tranh chấp về hợp đồng đại lý

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung: Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về hợp đồng đại lý và pháp luật điều chỉnh loại hợp đồng này Nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam về hợp đồng đại lý trong tương quan so sánh với pháp luật một số nước điều chỉnh về vấn

đề hợp đồng trung gian thương mại, từ đó đánh giá những ưu nhược điểm và những vấn đề còn tồn tại của pháp luật hiện hành Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật điều chỉnh hợp đồng đại lý, đưa ra một số đề xuất cụ thể để hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng đại lý ở Việt Nam

Trang 13

5

- Về thời gian: Đề tài lựa chọn nghiên cứu quy định pháp luật, bản án từ năm

2005 - năm ban hành Luật Thương mại

- Về không gian: Đề tài chỉ nghiên cứu pháp luật hợp đồng đại lý và thực tiễn

áp dụng của các Toà án tại Việt Nam Đề tài nghiên cứu thực tiễn áp dụng của các Toà án huyện, quận, tỉnh, thành phố của Việt Nam trải dài từ Bắc vào Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong khi nghiên cứu, tác giả đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp như: Phương pháp tổng hợp và phân tích; phương pháp so sánh luật học; phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên; phương pháp thống kê Cụ thể như sau:

- Phương pháp tổng hợp và phân tích:

Đây là phương pháp được sử dụng trong toàn bộ các chương của luận văn Phương pháp này được sử dụng chủ yếu trong Chương 1 và Chương 2 của đề tài Trong Chương 1, tác giả phân tích các vấn đề chung của pháp luật về đại lý trên cơ

sở đó tổng hợp lại để rút ra những vấn đề cơ bản về hợp đồng đại lý Đối với Chương 2, tác giả chủ yếu phân tích các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam Từ đó, tác giả tổng hợp các vấn đề còn tồn tại trong pháp luật cũng như trong thực tiễn về hợp đồng đại lý Trên cơ sở Chương 1 và Chương 2, tác giả tổng hợp những khuyến nghị tại Chương 3

- Phương pháp so sánh luật học:

Phương pháp này sử dụng trong Chương 2 của luận văn Trong Chương 2, tác giả so sánh các quy định của các văn bản pháp luật; so sánh luật chung và luật chuyên ngành; so sánh văn bản pháp luật hiện hành với các văn bản pháp luật đã hết hiệu lực

- Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên:

Tác giả sử dụng phương án chọn mẫu ngẫu nhiên Tác giả chọn ngẫu nhiên các bản án có liên quan trên trang congbobanan.toaan.gov.vn và caselaw

Trang congbobanan.toaan.gov.vn là trang thông tin điện tử công bố bản án, quyết định của Toà án được thực hiện theo Nghị quyết số 03/2017/NQ-HĐTP ngày

Trang 14

6

16/3/2017 và có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2017 và công văn số: 44/TANDTC-PC hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 03 Trang web caselaw là sản phẩm của Công ty TNHH Caselaw Việt Nam, là website được cấp phép hoạt động tại Việt Nam – cơ

sở dữ liệu trực tuyến về tra cứu bản án tại Việt Nam

Đối với các bản án trên trang congbobanan.toaan.gov.vn, trước hết tác giả thu thập tất cả các bản án kinh doanh thương mại có liên quan đến tranh chấp hợp đồng đại lý trên các tỉnh, thành phố trải dài từ miền Bắc vào miền Nam Tác giả ưu tiên chọn bản án có thời gian xét xử gần với thời điểm viết luận văn Đối với bản án trên caselaw tác giả lựa chọn ngẫu nhiên các bản án liên quan đến hợp đồng đại lý theo thứ tự xuất hiện trên trang caselaw

- Phương pháp phân tích tình huống:

Đây là phương pháp sử dụng chủ yếu trong Chương 2 của luận văn Phương pháp này sẽ giúp tác giả phân tích được các tình huống khác nhau trong các bản án khác nhau để đánh giá thực tiễn xét xử cũng như rút ra vấn đề đang tồn tại trong thực tiễn

- Phương pháp thống kê:

Phương pháp này được sử dụng trong Chương 2 của luận văn Sau khi nghiên cứu các bản án của Toà án các cấp, tác giả sẽ dùng phương pháp thống kê để xác định tỷ lệ các Toà án có cùng một cách áp dụng pháp luật về hợp đồng đại lý Mục đích của việc thống kê nhằm cho thấy xu hướng chung, chủ yếu của Toà án và doanh nghiệp trong thực tiễn

6 Dự kiến đóng góp của luận văn

- Luận văn đã phần nào làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động đại

lý và hợp đồng đại lý

- Luận văn đã chỉ ra được một số bất cập, tồn tại trong pháp luật Việt Nam về hợp đồng đại lý như: khái niệm đại lý trong các luật chuyên ngành được hiểu khác với khái niệm đại lý trong Luật Thương mại; các quy định về hình thức của hợp đồng, quyền hưởng thù lao của bên đại lý cũng như các quy định về sở hữu hàng hóa, hạn chế cạnh tranh, chấm dứt hợp đồng phát sinh trong hoạt động đại lý còn

Trang 15

xu thế hội nhập của thị trường

- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo giúp cho việc sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện chế định pháp luật về hợp đồng đại lý ở Việt Nam Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy và học tập trong ngành luật

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 Chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về đại lý, hợp đồng đại lý

Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về hợp đồng đại lý

Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng đại lý và giải pháp thực thi

Trang 16

1.1.1.1 Khái niệm đại lý

“Đại lý” được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Theo từ điển Hán - Việt “đại lý” là từ Hán - Việt có nguồn gốc là từ tiếng Hán Trong tiếng Hán “đại” có nghĩa là

“thay thế”; “lý” có nghĩa là quản lý, thu xếp, xử lý Từ điển tiếng Việt giải thích các hoạt động trong đó một người thay mặt người khác để làm một việc được gọi là đại

lý, do đó theo nghĩa này, từ đại lý và đại diện có cùng nghĩa Theo từ điển bách khoa Việt Nam, đại lý được hiểu là quan hệ pháp lý, trong đó một bên cho bên kia thay mình thực hiện việc quản lý một số công việc thường dùng trong hoạt động mua bán, giao dịch hoặc xử lý các công việc theo sự uỷ thác của đơn vị sản xuất, thương nghiệp So với “đại diện”, “đại lý” có nhiều nét giống nhưng cũng có những điểm khác4

Dưới phương diện kinh tế, “đại lý”là phương thức kinh doanh, một cách thức

tổ chức mạng lưới kinh doanh, mạng lưới phân phối (tiêu thụ) hàng hoá, dịch vụ của các cơ sở kinh doanh Trong phương thức kinh doanh đại lý, người bán và mua không trực tiếp quan hệ mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ với nhau mà phải thông qua người trung gian (bên đại lý) Bên đại lý là cầu nối để phân phối các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng (người thứ ba) Đây là phương thức kinh doanh mà người thực hiện dịch vụ (bên đại lý) mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại trên cơ sở uỷ quyền của người khác

Dưới giác độ pháp lý, “đại lý” là việc thương nhân nhận ủy quyền của bên giao đại lý để tiến hành các hoạt động mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ vì lợi ích của bên giao đại lý theo quy định pháp luật và nhận thù lao từ bên giao đại lý

4Viện Ngôn ngữ học (1997), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr.34

Trang 17

9

Như vậy, “đại lý” là hoạt động trung gian thương mại, theo đó bên giao đại lý

và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao Điều này cũng có nghĩa bên giao đại lý là chủ sở hữu đối với hàng hoá đã giao cho bên đại lý Bên đại lý chỉ là trung gian thay thế bên giao đại lý để đưa hàng hoá, dịch vụ đến với khách hàng và nhận thù lao, hoa hồng hoặc triết khấu phần trăm trên giá trị của hàng hoá, dịch vụ

Đại lý là hoạt động trung gian thương mại, là cầu nối để đưa hàng hoá, dịch vụ giữa bên sở hữu hàng hoá, dịch vụ đến với khách hàng nhằm mục đích sinh lời Hoạt động này thúc đẩy thương mại hàng hoá, dịch vụ phát triển và là cánh tay đắc lực của các thương nhân trong việc đưa hàng hoá mình sản xuất ra và dịch vụ mình cung ứng đến với người tiêu dùng

1.1.1.2 Đặc điểm của đại lý

a) Đại lý có đặc điểm là trung gian thương mại

Từ khái niệm của đại lý là trung gian thương mại thực hiện mua, bán hàng hoá, dịch vụ từ bên giao đại lý đến với khách hàng nên trong hoạt động đại lý có sự tham gia của ba bên: bên giao đại lý, bên đại lý và bên thứ ba Theo đó, bên đại lý

có nhiệm vụ thực hiện giao dịch với bên thứ ba thay cho bên giao đại lý Ở đây tồn tại song song hai nhóm quan hệ: (i) quan hệ giữa bên giao đại lý và bên đại lý; (ii) quan hệ giữa bên bên giao đại lý, bên đại lý với bên thứ ba Các quan hệ này phát sinh trên cơ sở hợp đồng đại lý Để thực hiện hoạt động đại lý, bên đại lý được quyền tự do lựa chọn bên thứ ba để giao kết hợp đồng mua, bán hàng hóa hoặc hợp đồng cung ứng dịch vụ theo những quy định cụ thể trong hợp đồng đại lý

Trong quan hệ đại lý, chủ thể của quan hệ là bên giao đại lý và bên đại lý, cả hai đều phải là thương nhân Bên giao đại lý giao hàng hóa cho đại lý bán hoặc giao tiền mua hàng cho đại lý mua hoặc ủy quyền thực hiện dịch vụ cho đại lý cung ứng dịch vụ cho bên thứ ba Ngược lại, bên đại lý nhận hàng hóa để làm đại lý bán, nhận tiền mua hàng để làm đại lý mua, hoặc là bên nhận ủy quyền để cung ứng dịch vụ

Trang 18

10 Nội dung của hoạt động đại lý bao gồm việc giao kết, thực hiện hợp đồng đại

lý giữa bên giao đại lý và bên đại lý, thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ giữa bên đại lý và bên thứ ba theo yêu cầu của bên giao đại lý Quan hệ đại lý thực chất là một quan hệ ủy quyền - ủy quyền mua, bán hàng hóa hoặc ủy quyền cung ứng dịch vụ Trong quan hệ đại lý, các bên thỏa thuận một quan hệ ủy quyền thường xuyên để thực hiện mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ cho bên uỷ quyền nhằm mục đích nhận thù lao

Như vậy, đại lý chính là một loại hình trung gian thương mại, là cầu nối để đưa hàng hoá, dịch vụ từ nhà sản xuất, chủ sở hữu đến với người tiêu dùng Trong quan hệ đại lý, bên giao đại lý chỉ giao hàng hoá cho bên đại lý (bên giao đại lý chỉ chuyển quyền chiếm hữu hàng hoá cho bên đại lý) Khi bên đại lý giao kết, thực hiện hợp đồng đại lý với khách hàng, quyền sở hữu hàng hoá sẽ được chuyển từ bên giao đại lý sang cho khách hàng Bên đại lý chỉ có vai trò của một người làm dịch

vụ trung gian, nối liền sự liên kết của bên giao đại lý với khách hàng Với tư cách là chủ sở hữu của hàng hoá, bên giao đại lý được toàn quyền quyết định đối với hàng hoá của mình cũng như phải chịu mọi rủi ro đối với hàng hoá và gánh chịu mọi trách nhiệm với khách hàng về chất lượng của hàng hoá (trừ trường hợp hàng hoá

hư hỏng do lỗi của bên đại lý)

Bên đại lý: Bên đại lý là thương nhân nhận hàng hoá để làm đại lý bán hoặc nhận tiền mua hàng để làm đại lý mua hoặc là bên nhận uỷ quyền cung ứng dịch vụ Bên đại lý nhân danh chính mình giao dịch với bên thứ ba để mua bán hàng hoá hay cung ứng dịch vụ thương mại cho bên giao đại lý Tuy nhiên, với đại lý bảo hiểm,

Trang 19

11 bên đại lý nhân danh doanh nghiệp bảo hiểm chứ không nhân danh chính mình (theo Luật Kinh doanh bảo hiểm)

Thương nhân trong quan hệ đại lý bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh Bên giao đại lý là bên có nhu cầu mua bán hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ nhưng không trực tiếp thực hiện những công việc này mà uỷ quyền cho bên đại lý thay mặt mình mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ

Bên thứ ba: Bên thứ ba trong quan hệ đại lý là khách hàng tiêu dùng hàng hoá hoặc sử dụng dịch vụ do bên đại lý cung ứng Bên thứ ba bao gồm: tổ chức, cá nhân, pháp nhân

c) Đặc điểm về phạm vi hoạt động: Phạm vi hoạt động đại lý bao gồm: mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý Cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý

d) Đặc điểm về chuyển giao hàng hoá

Đối với đại lý mua: Hàng hoá được chuyển giao từ bên thứ ba sang bên đại lý

và tới bên giao đại lý

Đối với đại lý bán: Hàng hoá được chuyển giao từ bên giao đại lý tới bên đại

lý và tới tay của bên thứ ba

Như vậy, bên đại lý nhận hàng hóa từ bên giao đại lý để giao cho người mua trong trường hợp đại lý bán, hoặc nhận tiền từ bên giao đại lý để thanh toán cho khách hàng; nhận hàng từ khách hàng để giao cho bên đại lý trong trường hợp đại lý mua hàng

đ) Đặc điểm về quyền sở hữu hàng hoá: Hàng hoá đại lý thuộc quyền sở hữu của bên giao đại lý hoặc bên thứ ba, bên đại lý chỉ làm nhiệm vụ trung chuyển Đối với đại lý mua: Khi hàng hoá được chuyển giao từ bên đại lý sang bên giao đại lý mới thuộc sở hữu của bên giao đại lý

Đối với đại lý bán: Khi hàng hoá được chuyển giao từ bên đại lý sang bên thứ

ba mới không còn thuộc sở hữu của bên giao đại lý

Trang 20

12

Trong hoạt động đại lý thương mại thì bên giao đại lý là chủ sở hữu đối với hàng hoá hoặc tiền giao cho bên đại lý Khi thực hiện hoạt động đại lý, bên đại lý không phải là người mua hàng của bên giao đại lý mà chỉ là người nhận hàng để rồi tiếp tục bán cho bên thứ ba Chỉ khi hàng hóa được bán, quyền sở hữu hàng hóa mới chuyển từ bên giao đại lý cho bên thứ ba

Theo quy định này thì mặc dù hàng hóa được chuyển giao cho bên đại lý, nhưng bên giao đại lý vẫn là bên chịu rủi ro đối với hàng hóa Nhưng trong nhiều trường hợp, bên đại lý phải liên đới chịu trách nhiệm về các thiệt hại xảy ra

Trong quan hệ đại lý mua bán hàng hóa, bên đại lý chỉ giao hàng hóa cho bên đại lý bán hàng mà không chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên đại lý (bên giao đại lý chỉ chuyển quyền chiếm hữu hàng hóa cho bên đại lý) Khi bên đại lý giao kết, thực hiện hợp đồng với khách hàng, quyền sở hữu hàng hóa sẽ được chuyển từ bên giao đại lý sang cho khách hàng Bên đại lý chỉ có vai trò của một người làm dịch vụ trung gian nối liền sự liên kết của bên giao đại lý với khách hàng Với tư cách là chủ sở hữu của hàng hóa, bên giao đại lý được toàn quyền định đoạt đối với hàng hóa của mình cũng như phải chịu rủi ro đối với hàng hóa cũng như gánh chiu mọi trách nhiệm với khách hàng về chất lượng của hàng hóa (trừ trường hợp hàng hóa hư hỏng do lỗi của bên đại lý)

e) Đặc điểm về quan hệ xác lập đại lý thương mại

Quan hệ đại lý thương mại xác lập trên quan hệ hợp đồng Điều 168 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Hợp đồng đại lý phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương” Các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật

Pháp luật không quy định các điều khoản bắt buộc trong hợp đồng đại lý, nhưng khi giao kết các bên có thể thỏa thuận và ghi vào trong hợp đồng các điều khoản sau: hàng hóa hoặc dịch vụ đại lý; hình thức đại lý, thù lao đại lý, thời hạn của hợp đồng đại lý, quyền và nghĩa vụ của các bên, phương thức giải quyết tranh chấp,…

Trang 21

13

1.1.1.3 Phân loại đại lý

Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại các dạng đại lý mà mỗi một dạng có những đặc thù và tác dụng nhất định đối với các bên khi tham gia hoạt động trung gian thương mại này

Các nước theo truyền thống thông luật (common law) không có sự phân biệt

rõ rệt từng loại người trung gian trong hoạt động thương mại Ở các nước này khái niệm “Agency” dịch ra tiếng Việt là “đại lý” hoặc “đại diện” như đã phân tích ở phần trên Nếu căn cứ vào phạm vi ủy quyền thì đại lý theo đó được chia làm ba loại:

- Đại lý toàn quyền (universal agent) là người được phép thay mặt người chủ

ủy làm mọi công việc mà người chủ ủy có thể làm

- Tổng đại lý (general) là người được ủy quyền làm một phần việc nhất định

của người được đại diện

- Đại lý đặc biệt (special agent) là người được ủy quyền chỉ làm một việc cụ

thể, như mua một loại hàng hóa cụ thể với giá cả xác định

Nếu căn cứ vào nội dung quan hệ giữa người đại lý và người chủ ủy, luật những nước này chia làm ba loại:

- Đại lý thụ ủy (mandatory) là người được chỉ định để hành động thay người

chủ ủy với danh nghĩa và chi phí của người thụ ủy Thù lao của người đại lý này có thể là một khoản tiền hoặc một phần trăm tính trên giá trị công việc

- Đại lý hoa hồng (commission agent) là người được ủy nhiệm tiến hành trên

danh nghĩa của mình nhưng với chi phí của người chủ ủy, thù lao của người đại lý hoa hồng là một khoản tiền hoa hồng do người đại lý và người chủ ủy thỏa thuận tùy theo khối lượng và tính chất công việc

- Đại lý kinh tiêu (Merchant agent) là người đại lý hoạt động với danh nghĩa

và chi phí của mình, thù lao của người này là khoản chênh lệch giữa giá bán và giá mua Ngoài ra, ở những nước theo truyền thống commonlaw còn có nhiều loại đại

lý khác như đại lý gửi bán (consignee hoặc agent carrying stock), đại lý đảm bảo

Trang 22

- Đại lý bao tiêu: là hình thức đại lý mà bên đại lý thực hiện việc mua, bán

trọn vẹn một khối lượng hàng hóa hoặc cung ứng đầy đủ một dịch vụ cho bên giao đại lý Trong hình thức đại lý này, bên giao đại lý ấn định giá giao đại lý, bên đại lý quyết định giá bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho khách hàng, do đó, thù lao mà bên đại lý được hưởng là mức chênh lệch giá giữa giá mua, giá bán thực tế so với giá mua, giá bán do bên giao đại lý quy định Hình thức đại lý này thích hợp với những hợp đồng ngắn hạn, những hoạt động theo mùa vụ như thu mua nông sản ở thời điểm vụ thu hoạch

- Đại lý độc quyền: là hình thức đại lý mà tại một khu vực địa lý nhất định bên

giao đại lý chỉ giao cho một đại lý mua bán một hoặc một số mặt hàng hoặc cung ứng một hoặc một số dịch vụ nhất định Hình thức đại lý này tạo cho bên đại lý không gian hoạt động mà không bị đại lý khác cùng bên giao đại lý cạnh tranh

- Tổng đại lý mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ: là hình thức đại lý mà bên

đại lý tổ chức một hệ thống đại lý trực thuộc để thực hiện việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho bên giao đại lý Tổng đại lý là đối tác trực tiếp của bên giao đại lý, làm đại diện cho hệ thống đại lý trực thuộc Các đại lý trực thuộc hoạt động dưới sự quản lý của tổng đại lý và với danh nghĩa của tổng đại lý Hình thức này giúp cho bên giao đại lý giảm số đầu mối phải quản lý xuống song vẫn có thể mở rộng được mạng lưới bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ của mình với một số lượng lớn, trên phạm vi rộng

Các hình thức đại lý khác mà các bên có thể thỏa thuận: các bên tham gia

quan hệ đại lý có thể thỏa thuận các hình thức đại lý khác Trên thực tế xuất hiện các hình thức đại lý khác với quy định của Luật thương mại, ví dụ như:

5 Nguyễn Thị Vân Anh, Khái niệm, bản chất pháp lý của hoạt động trung gian thương mại, Tạp chí luật học

số 1, năm 2006, tr.5-6

Trang 23

15

Căn cứ vào cách chi trả thù lao đại lý có thể có hình thức đại lý hoa hồng Đây

là hình thức đại lý mà bên đại lý thực hiện việc mua, bán hàng theo giá mua, giá bán

do bên giao đại lý ấn định để được hưởng hoa hồng Mức hoa hồng được tính theo

tỷ lệ phần trăm do các bên thỏa thuận trên giá mua, giá bán hàng hóa

Trên thực tế hiện nay còn tồn tại dạng đại lý cấp 1 và đại lý cấp 2, theo đó đại

lý cấp 1 giống như dạng đại lý độc quyền của một doanh nghiệp nhập hàng trực tiếp

từ doanh nghiệp sản xuất còn đại lý cấp 2 là đại lý cấp dưới của đại lý cấp 1, nhập hàng của doanh nghiệp thông qua đại lý cấp 1 và có thể nhập nhiều loại hàng từ các doanh nghiệp khác nhau Đại lý cấp 1 vì là độc quyền trong Tỉnh nên phải đạt chỉ tiêu doanh số bán hàng mỗi tháng rất cao, bù lại họ hưởng hoa hồng cao nhất trong

hệ thống tiêu thụ sản phẩm và được ưu tiên về số lượng khi mặt hàng đang khan hiếm trên thị trường Đại lý cấp 2 được phân phối sản phẩm từ đại lý cấp 1 và tất nhiên đã qua chiết khấu Đại lý cấp 2 mạnh hay yếu tùy thuộc vào số lượng tiêu thụ hàng tháng cao hay thấp mà được sự ưu ái giao sản phẩm khi mặt hàng khan hiếm trên thị trường Chính vì cơ chế tiêu thụ sản phẩm này mà thị trường Việt Nam hay

bị đầu cơ ghìm hàng tạo cơn sốt giả tạo khi các đại lý cấp 1 bắt tay thông đồng với nhau, điển hình thời gian trước là sắt thép hay xi măng

Trong một số lĩnh vực còn tồn tại hình thức đại lý thu mua nông sản, phế

liệu Đại lý thu mua nói chung có quan hệ lâu dài với những người mua của mình

và thu mua cho họ những mặt hàng cần thiết, tiếp nhận, kiểm tra, nhập kho rồi chuyển đến cho người mua Một trong những hình thức của đại lý thu mua là những người thu mua địa phương, tìm kiếm những mặt hàng thích hợp mà những người bán lẻ, nhỏ có thể kinh doanh Họ hiểu biết và cung cấp cho khách hàng của mình những thông tin bổ ích về thị trường cũng như tìm kiếm cho họ những nguồn hàng tốt với giá hời.6

Như vậy, trong thực tiễn có rất nhiều cách phân loại khác nhau với các loại hình đại lý đa dạng, phong phú áp dụng trong nhiều loại hình mua bán hàng hoá,

6 Nguyễn Thị Vân Anh, “Một số ý kiến về đại lý thương mại”,Tạp chí Luật học số 5, năm 2006, tr.8-9.

Trang 24

16

dịch vụ với những quy mô và phân cấp khác nhau Qua đó, chúng ta có thể dễ dàng phân biệt được các loại đại lý căn cứ vào đặc điểm riêng và tên gọi khác nhau của mỗi loại đại lý

1.1.1.4 Vai trò của đại lý

Trong nền kinh tế thị trường, tự do kinh doanh và tự do cạnh tranh được bảo đảm khiến các thương nhân phải không ngừng tìm kiếm một phương thức linh hoạt

và ưu việt để tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh thu về nguồn lợi nhuận tối đa Tham gia vào quan hệ đại lý là một phương thức kinh doanh được nhiều thương nhân ưa chuộng, góp phần phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế Vai trò của hoạt động đại lý trong nền kinh tế thị trường thể hiện ở những khía cạnh sau:

Thứ nhất, đại lý góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hoá và từ đó thúc

đẩy kinh tế phát triển nói chung và ngành thương mại dịch vụ nói riêng

Hoạt động đại lý phát triển, làm cho khối lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường tăng lên, giao lưu kinh tế giữa các vùng trong nước cũng như các nước trong khu vực và trên thế giới được đẩy mạnh Thông qua các đại lý mà nhà sản xuất có thể thiết lập một hệ thống phân phối hàng hoá đa dạng và rộng lớn Các đại lý giúp thương nhân nắm bắt những thông tin cần thiết về thị trường một cách kịp thời Từ

đó, phân tích nhu cầu thị trường và hàng hoá để tiến hành các hoạt động sản xuất sản phẩm, phân khúc thị trường, phân bổ sản phẩm một cách hiệu quả cho thị trường cần thiết Trên cơ sở đó, mà mở rộng sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và sức cạnh tranh của doanh nghiệp

Thành tựu mà đại lý góp phần tăng các chỉ số của ngành dịch vụ khẳng định vai trò vĩ mô này Trong cả thời kỳ 1991-2009, có thể nói dịch vụ là ngành có tốc

độ tăng trưởng biến động khá lớn theo chu kì kinh tế Giá trị sản xuất của ngành tăng bình quân 12%/năm (1991-1995) và ổn định từ 7,7%/năm (2006-2009) Giai đoạn 2011-2015, tốc độ tăng trưởng bình quân dịch vụ đạt 6,31%/năm, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP tăng từ 79,42% năm 2010 lên 82,5% năm 2015;

Trang 25

17 năm 2016 GDP ước tính tăng 6,21% so với năm 2015, trong đó khu vực dịch vụ tiếp tục giữ được đà tăng trưởng với 6,98%.7

Thứ hai, hoạt động đại lý mang lại hiệu quả lớn cho thương nhân trong quá

trình phân phối, tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ ở thị trường trong nước, mở rộng ở thị trường nước ngoài

Khi gia nhập thị trường mới, thương nhân luôn gặp nhiều khó khăn do sự khác biệt về văn hoá dẫn đến nhu cầu của khách hàng ở mỗi vùng, miền là khác nhau Đại lý giúp thương nhân khắc phục được khó khăn này, bới:

- Bên Đại lý thường có mạng lưới phân phối trên thị trường Với mạng lưới khách hàng quen thuộc, bên đại lý rất dễ dàng trong việc tiếp thị, mua bán hàng hoá

- Bên Đại lý thường có đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp với nhiều kinh nghiệm, am hiểu thị trường nên dễ dàng nắm được điểm mạnh, điểm yếu của sản phẩm mà thương nhân giao đại lý cung cấp để giúp thương nhân nâng cao chất lượng sản phẩm, phù hợp nhu cầu thị trường Nhờ đó, tăng khả năng thu hút khách hàng, đảm bảo lợi nhuận kinh doanh cho thương nhân giao đại lý

- Thông qua bên đại lý, thương nhân tiết kiệm thời gian, công sức, tiền bạc cho việc tìm hiểu thị trường mới Khi gia nhập thị trường mới, thương nhân thường mất rất nhiều chi phí cho việc xây dựng cơ sở vật chất, thuê mướn lao động, quảng cáo, tiếp thị sản phẩm,… Nhờ có đại lý, chi phí mà thương nhân phải bỏ ra sẽ giảm rất nhiều do bên đại lý là thương nhân đã có cơ sở vật chất lẫn lao động trên thị trường Nếu hoạt động mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ do thương nhân cung cấp không đạt hiệu quả như mong muốn, thương nhân cũng có thể nhanh chóng thanh lý đại lý và rút khỏi thị trường mà không mất thời gian, chi phí cho việc thanh lý tài sản, giải quyết quyền lợi cho người lao động…

7Nguyễn Thị Xuân, Phạm Thùy Dương,“Phát triển ngành dịch vụ trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng”, ngày cập nhật: 01/10/2018

mo-hinh-tang-truong-111785.html

Trang 26

http://tapchitaichinh.vn/kinh-te-vi-mo/kinh-te-dau-tu/phat-trien-nganh-dich-vu-trong-qua-trinh-chuyen-doi-18

- Nếu thực hiện hoạt động mua bán hàng hoá qua đại lý, thay vì phải xây dựng mạng lưới phân phối, thương nhân có điều kiện tập trung thực hiện sản xuất, kinh doanh Nhờ đó sẽ tăng chất lượng sản phẩm, nâng cao uy tín của thương nhân trên thị trường

- Hạn chế rủi ro cho thương nhân khi gia nhập thị trường nước ngoài Trong

xu thế toàn cầu hoá hiện nay, việc mua bán hàng hoá quốc tế đang ngày càng phát triển nhưng việc thâm nhập thị trường của một quốc gia khác của thương nhân gặp rất nhiều khó khăn do sự khác biệt về ngôn ngữ, pháp luật và các yếu tố văn hoá Đại lý rất được các thương nhân ưa chuộng khi gia nhập thị trường nước ngoài vì sự

am hiểu thị trường và pháp luật nước sở tại của bên đại lý giúp cho các thương nhân hạn chế được nhiều rủi ro và giúp hàng hoá của họ dễ dàng tiếp cận, thích ứng với khách hàng địa phương

Thứ ba, hoạt động đại lý tạo điều kiện thuận lợi cho người tiêu dùng, nhất là

người tiêu dùng ở những nơi có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn tiếp cận được với hàng hoá và dịch vụ một cách tốt nhất

Trước khi đại lý ra đời, khách hàng muốn mua hàng hoá chính hãng phải đến đúng địa điểm kinh doanh của thương nhân nên chi phí phải bỏ ra cho hàng hoá tăng cao Từ khi đại lý xuất hiện, khách hàng có thể dễ dàng tiếp cận với hàng hoá chính hãng qua mạng lưới đại lý ở tỉnh, ở địa phương của mình Khách hàng có cơ hội được sử dụng hàng hoá, dịch vụ chất lượng chính hãng với giá cả và hậu mãi tốt

từ các đại lý.8

1.1.2 Hợp đồng đại lý

1.1.2.1 Khái niệm hợp đồng đại lý

Giống với các hoạt động trung gian thương mại khác, bản chất đại lý là một quan hệ hợp đồng, đó là sự xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền, nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia quan hệ hợp đồng Luật thương mại 2005 không đưa

ra định nghĩa chính xác về hợp đồng đại lý, tuy nhiên quan hệ đại lý thương mại

8Nguyễn Thị Vân Anh,“Khái niệm, bản chất pháp lý của hoạt động trung gian thương mại”,Tạp chí Luật học

số1, năm 2006, tr.4, 5,6

Trang 27

19

giữa thương nhân giao đại lý và thương nhân làm đại lý được xác lập trên cơ sở hợp đồng là sự thỏa thuận giữa bên giao đại lý và bên đại lý về việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hóa cho bên đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao

Hợp đồng đại lý là hợp đồng thương mại Theo đó hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc thực hiện công việc đại lý nhằm mục đích sinh lời

Như đã trình bày ở trên, hoạt động đại lý là hoạt động đại diện cho thương nhân cung ứng hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng để hưởng thù lao Đại lý mua bán hàng hóa, dịch vụ được thực hiện thông qua hợp đồng đại lý Luật thương mại 2005 không đưa ra khái niệm hợp đồng đại lý mà chỉ quy định khái niệm đại lý thương

mại nói chung tại Điều 166: “Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao”

Từ các khái niệm trên, có thể khẳng định “Hợp đồng đại lý” là sự thỏa thuận giữa các bên, trong đó một bên (bên đại lý) nhân danh chính mình để thực hiện việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho bên kia (bên giao đại lý) để hưởng thù lao

1.1.2.2 Đặc điểm của hợp đồng đại lý

Hợp đồng đại lý là công cụ pháp lý để thực hiện hoạt động mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ Bởi vậy, hợp đồng đại lý có những đặc điểm sau:

Trang 28

20 đức xã hội Cụ thể ở đây, đó là việc bên đại lý nhận sự ủy quyền của bên giao đại lý trong việc định đoạt hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ vì lợi ích của bên giao đại lý Hợp đồng đại lý được xác lập trên cơ sở có đề nghị giao kết và có chấp nhận đề nghị giao kết hay thỏa thuận được tạo ra và xác định bởi nghĩa vụ về công việc mua, bán hàng hóa có điều kiện giữa bên giao đại lý và bên đại lý Đối tượng, công việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho bên thứ ba, cùng các thỏa thuận về thời hạn, thù lao…đối với bên đại lý là các điều khoản chủ yếu trong hợp đồng dịch vụ Tuy mang đặc điểm của hợp đồng dịch vụ trong dân sự (hợp đồng dịch vụ dân

sự trong thương mại) nhưng về bản chất hợp đồng đại lý có những dấu hiệu của hợp đồng ủy quyền Bên đại lý, thực thể cung ứng dịch vụ trung gian thương mại chuyên nghiệp được thuê thực hiện công việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ nhân danh chính mình cho bên thuê và được trả thù lao theo thỏa thuận Yếu tố ủy quyền thể hiện ở nghĩa vụ thực hiện công việc của bên đại lý (người thụ ủy) trong phạm vi được ủy quyền và được nhận thù lao theo thỏa thuận Mặc dù vậy, ủy quyền trong dân sự là hành vi giao cho người khác sử dụng một số quyền mà pháp luật đã trao cho mình trong khi đại lý thương mại là hành vi giao cho người khác làm thay công việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ của mình Do đó, về tư cách chủ thể khi thực hiện hành vi, bên được ủy quyền hay bên nhận đại diện thực hiện công việc được ủy quyền nhân danh bên chủ ủy, bên giao đại diện; bên đại lý thực hiện công việc được giao nhân danh chính mình Về phạm vi, bên được ủy quyền có thể được ủy quyền thực hiện một hoặc một số hành vi trong khi đại lý thương mại thu hẹp trong lĩnh vực mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Về năng lực pháp lý, bên được ủy quyền trong hợp đồng ủy quyền có thể là cá nhân, thương nhân hay tổ chức tùy thuộc vào hành vi được ủy quyền Trong khi đó, các chủ thể tham gia hợp đồng đại lý gồm bên giao đại lý và bên đại lý đều phải là thương nhân Như vậy, về cơ bản Hợp đồng đại lý mang bản chất của hợp đồng dịch vụ, mang tính chất song vụ, ưng thuận và có đền bù

Thứ hai, chủ thể của hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa phải là các thương nhân Điều 167, Luật thương mại 2005 quy định: “Bên giao đại lý là thương nhân giao hàng hoá cho đại lý bán hoặc giao tiền mua hàng cho đại lý mua Bên

Trang 29

Đề thực hiện hoạt động dịch vụ trung gian thương mại, bên trung gian phải có những điều kiện nhất định để có thể được bên thuê dịch vụ tin tưởng ủy nhiệm thực hiện công việc vì lợi ích của họ Điều 6, Luật Thương mại 2005 đã quy định bên trung gian phải là thương nhân Theo điều này, thương nhân phải là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng kí kinh doanh9

Thứ ba, bên đại lý phải dùng chính danh nghĩa của mình để thực hiện việc

mua bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng Đây

là một đặc điểm quan trọng của hợp đồng đại lý cho phép phân biệt hợp đồng đại lý với hợp đồng đại diện cho thương nhân Bên đại lý tham gia vào quan hệ mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ có quyền tự do lựa chọn bên thứ ba để giao kết hợp đồng nhưng không vì lợi ích bản thân mình mà vì lợi ích của bên giao đại lý Mục đích mà họ nhằm tới là khoản thù lao họ nhận được từ bên thuê dịch

vụ khi họ hoàn tất công việc của mình Nghĩa vụ trả thù lao của bên thuê dịch vụ

và quyền được hưởng thù lao của bên thực hiện dịch vụ là một trong những đặc trưng cơ bản của hoạt động đại lý so với giao dịch dân sự và các giao dịch thương mại khác

Thứ tư, trong quan hệ hợp đồng đại lý, bên đại lý không phải là chủ sở hữu đối với hàng hóa, dịch vụ mà là nhận ủy nhiệm quyền mua, bán hàng hóa của bên giao đại lý Bên giao đại lý hoàn toàn không chuyển quyền sở hữu hàng hóa (trong trường hợp đại lý bán) hoặc tiền (trong trường hợp đại lý mua) Cơ sở để bên đại lý bán hoặc mua hàng hóa cho bên giao đại lý là sự ủy nhiệm quyền mua, bán hàng

9 Điều 6 Luật Thương mại 2005

Trang 30

22

hóa của bên giao đại lý Đặc điểm này làm cho hợp đồng đại lý hoàn toàn khác với hợp đồng mua bán hàng hóa, đặc biệt là các hợp đồng “mua sỉ bán lẻ” Đặc trưng nổi bật của hợp đồng mua bán hàng hóa là có sự chuyển quyền sở hữu hàng hóa từ người bán cho người mua và kể từ thời điểm chuyển giao quyền sở hữu thì rủi ro xảy ra đối với hàng hóa cũng được chuyển giao từ người bán sang cho người mua, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.Với hợp đồng đại lý bên giao đại lý được toàn quyền định đoạt với hàng hóa của mình và phải chịu rủi ro đối với hàng hóa cũng như chịu trách nhiệm với khách hàng về chất lượng của hàng hóa

Thứ năm, để thực hiện hoạt động đại lý, bên đại lý vừa phải thực hiện các

hành vi pháp lý (giao kết hợp đồng với khách hàng), vừa phải thực hiện các hành vi thực tế (nhận hàng hóa từ bên giao đại lý để giao cho người mua trong trường hợp đại lý bán, hoặc nhận tiền từ bên giao đại lý để thanh toán cho khách hàng; nhận hàng từ khách hàng để giao cho bên đại lý trong trường hợp đại lý mua hàng) Đặc điểm này giúp phân biệt hợp đồng đại lý với hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, trong đó bên được ủy thác chủ yếu thực hiện các hành vi pháp lý (bên được ủy thác chỉ sử dụng danh nghĩa của mình ký hợp đồng với khách hàng; còn việc giao hàng, thanh toán có thể được thực hiện trực tiếp giữa bên ủy thác với khách hàng)

1.2 Nội dung điều chỉnh của pháp luật về hợp đồng đại lý

Hợp đồng đại lý được điều chỉnh bởi Luật Thương mại 2005 và các văn bản pháp luật chuyên ngành Nội dung điều chỉnh của pháp luật về hợp đồng đại lý bao gồm như sau:

1.2.1 Quyền và nghĩa vụ của các bên hợp đồng đại lý

Quyền và nghĩa vụ của các bên hợp đồng là nội dung quan trọng trong quan hệ hợp đồng nói chung và hợp đồng đại lý nói riêng Quyền là những nội dung các chủ thể tham gia hợp đồng đại lý được làm, có thể làm đối với nhau Nghĩa vụ là các nội dung mà các chủ thể tham gia hợp đồng đại lý bắt buộc phải thực hiện đối với nhau Đây là những quy định được các bên tham gia hợp đồng đại lý thoả thuận trên cơ sở các quy định của pháp luật đại lý Quy định về quyền và nghĩa vụ của bên đại lý, bên giao đại lý là những quy phạm chiếm số lượng lớn trong nội dung hợp đồng đại lý Hầu hết, pháp luật các nước quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên

Trang 31

23

trong quan hệ đại lý vì tính chất hợp đồng song vụ, quyền lợi và nghĩa vụ của bên này là quyền lợi và nghĩa vụ của bên kia trong hợp đồng Quyền và nghĩa vụ luôn gắn liền song song với nhau Theo đó, bên đại lý có quyền và có nghĩa vụ với bên giao đại lý và ngược lại

Việc quy định các nội dung về quyền và nghĩa vụ của các bên nhằm đảm bảo việc thực hiện hợp đồng đại lý và bảo vệ lợi ích của các bên khi tham gia thực hiện loại hợp đồng này trong thực tiễn

Giao kết hợp đồng đại lý được thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc sau:

- Nguyên tắc tự nguyện: Nội dung chính của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ: Việc giao kết hợp đồng phải dựa trên cơ sở tự do ý chí của các bên trong quan hệ hợp đồng, bất kỳ cơ quan, tổ chức hay cá nhân đều không được áp đặt ý chí của mình cho bên tham gia quan hệ hợp đồng Khi xác lập quan hệ hợp đồng các chủ thể có quyền tự do lựa chọn bạn hàng, thời điểm giao kết, bàn bạc, thoả thuận nội dung của hợp đồng

- Nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi: Trong quan hệ đại lý thì lợi ích là động lực thúc đẩy hành động của các chủ thể Theo nguyên tắc này thì nội dung của hợp đồng đảm bảo được lợi ích kinh tế của các bên cũng như sự tương ứng về quyền và nghĩa vụ đối với bất cứ tổ chức, cá nhân thuộc thành phần kinh tế nào Tính bình đẳng này không phụ thuộc vào quan hệ sở hữu và quan hệ quản lý của chủ thể

- Nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản: Các bên tham gia quan hệ hợp đồng đại lý phải tự mình gánh vác trách nhiệm tài sản, gồm phạt vi phạm hợp đồng

Trang 32

24

và bồi thường thiệt hại khi có hành vi vi phạm hợp đồng đã giao kết Các cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế khác không thể đứng ra chịu trách nhiệm tài sản thay cho bên vi phạm

- Nguyên tắc không trái với pháp luật đòi hỏi việc giao kết và thực hiện hợp đồng phải hợp pháp: Điều này có nghĩa là mọi thoả thuận trong hợp đồng phải hoàn toàn không trái với những quy định của pháp luật, không được lợi dụng giao kết hợp đồng để hoạt động trái pháp luật Vấn đề này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ trật tự, kỷ cương trong lĩnh vực hợp đồng kinh tế, cũng như hợp đồng thương mại

1.2.2.2 Hình thức, trình tự giao kết

* Hình thức giao kết hợp đồng đại lý

Hình thức giao kết hợp đồng đại lý là cách thức mà các bên thể hiện ý chí của mình trong quá trình giao kết hợp đồng, là phương tiện để ghi nhận nội dung mà các bên chủ thể đã thoả thuận Theo Bộ luật Dân sự thì hình thức của hợp đồng có thể là văn bản, lời nói, hành vi hoặc các hình thức khác Khi pháp luật quy định hình thức của hợp đồng được thực hiện theo một hình thức nhất định thì hợp đồng phải được giao kết theo hình thức đó mới có hiệu lực pháp luật Theo quy định tại Điều 168 Luật Thương mại 2005, thì Hợp đồng đại lý phải được lập thành văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương Như vậy, hình thức của hợp đồng đại

lý là văn bản và các loại tài liệu giao dịch khác có giá trị pháp lý tương đương văn bản như điện báo, telex, fax và các hình thức khác theo quy định của pháp luật

* Trình tự giao kết hợp đồng đại lý

Bất cứ loại hợp đồng nào cũng phải được giao kết theo một trình tự, thủ tục nhất định, đó là các cách thức, các bước mà các bên phải tiến hành nhằm xác lập một quan hệ hợp đồng có giá trị pháp lý Trong hoạt động đại lý tồn tại hai hình thức giao kết hợp đồng, giao kết trực tiếp và giao kết gián tiếp

- Giao kết trực tiếp: là trường hợp đại diện của các bên trực tiếp gặp gỡ nhau

và cùng trao đổi với nhau về các điều khoản trong hợp đồng Sau khi trao đổi bàn bạc kỹ lưỡng các bên đi đến thống nhất các nội dung và tiến hành ký kết hợp đồng

Trang 33

25

Hiện nay hình thức này là hình thức giao kết nhanh chóng và hiệu quả nhất Trong hoạt động thương mại, những hợp đồng quan trọng các bên thường trực tiếp gặp gỡ nhau rồi tiến hành đàm phán đi đến giao kết

- Giao kết gián tiếp: là phương thức giao kết mà theo đó các bên gửi cho nhau

văn bản, tài liệu giao dịch (công văn, điện báo, đơn chào hàng, đơn đặt hàng) chứa đựng các nội dung giao dịch Quá trình giao kết gián tiếp thường trải qua hai giai đoạn

+ Giai đoạn một: Một bên đề nghị hợp đồng thông báo ý định giao kết cho bên mời giao kết Trong đề nghị đưa ra phải đưa ra đầy đủ các nội dung định giao dịch Lời đề nghị này phải rõ ràng chính xác tránh gây hiểu lầm cho bên kia

+ Giai đoạn hai: Bên được đề nghị sau khi nhận được văn bản tài liệu giao dịch tiến hành xem xét kiểm tra các nội dung nghi trong tài liệu Sau khi tìm hiểu kĩ các nội dung sẽ trả lời cho bên đề nghị biết có đồng ý hay không đồng ý với những nội dung trong tài liệu Nếu đồng ý một số nội dung và bổ xung thêm nội dung mới thì coi như một đề nghị giao kết mới

Hợp đồng giao kết bằng hình thức gián tiếp được coi là hình thành và có giá trị pháp lý từ khi các bên nhận dược tài iệu giao dịch thể hiện sự thoả thuận về tất cả các điều khoản trong nội dung của hợp đồng Căn cứ xác định sự giao kết hợp đồng

là bên nhận được tài liệu giao dịch thể hiện sự đồng ý

Bộ luật dân sự và Luật thương mại quy định về giao kết hợp đồng, thời hạn trả lời giao kết hợp đồng, điều kiện thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng khá chi tiết và đầy đủ

1.2.3 Sửa đổi, bổ sung, chấm dứt hợp đồng đại lý

Luật thương mại không quy định các trường hợp sửa đổi, chấm dứt, thanh lý hợp đồng đại lý Nhưng trong Bộ luật Dân sự có quy định khá cụ thể và chi tiết về các trường hợp này

* Sửa đổi hợp đồng đại lý:

Trang 34

26

Xuất phát từ nguyên tắc tự do ý chí trong việc giao kết hợp đồng, các bên có thể tự do sửa đổi hợp đồng, nếu như hợp đồng chưa thực hiện hoặc chỉ mới thực hiện được một phần

Sửa đổi hợp đồng là việc các bên đã tham gia giao kết hợp đồng bằng ý chí tự nguyện của mình thỏa thuận với nhau để thay đổi một số điều khoản trong nội dung của hợp đồng đã giao kết

Hợp đồng giao kết theo hình thức nào, thì khi sửa đổi tuân theo hình thức đó Thực tế của việc sửa đổi hợp đồng là việc thay thế hợp đồng này bằng hợp đồng khác Do đó, nó đòi hỏi các bên phải tuân thủ mọi điều kiện của giao kết hợp đồng Đối với các hợp đồng do các bên thỏa thuận về hình thức giao kết hợp đồng thì khi sửa đổi hợp đồng cũng tuân theo hình thức đã thỏa thuận Đối với loại hợp đồng mà pháp luật quy định bắt buộc phải có công chứng, chứng thực, đăng ký hoặc cho phép thì hợp đồng sau khi được sửa đổi cũng phải được công chứng, chứng thực, đăng ký hoặc cho phép mới có hiệu lực thi hành Nếu không thực hiện đúng quy định này, trong trường hợp có tranh chấp Tòa án sẽ căn cứ và bản hợp đồng đã được công chứng, chứng thực, đăng ký hoặc cho phép

Sau khi hợp đồng đã được sửa đổi có hiệu lực, các bên thực hiện hợp đồng theo những nội dung của hợp đồng không bị sửa đổi và những nội dung sửa đổi mới, và cũng nhau giải quyết những hậu quả khác của việc sửa đổi hợp đồng

Hợp đồng đại lý là loại hợp đồng được soạn thảo bằng văn bản và các loại hình khác có giá trị pháp lý tương đương Hơn nữa hợp đồng đại lý được giao kết bằng hình thức giao kết trực tiếp Chính vì lẽ đó khi có sửa đổi hợp đồng đại lý các bên nhất thiết phải găp gỡ trao đổi các điều khoản cần sửa đổi, sau đó đi đến thống nhất các điều khoản cần sửa đổi Sau khi sửa đổi xong các bên sẽ chính thức coi các điều khoản đó là các điều khoản trong nội dung của hợp đồng mới

Trang 35

* Huỷ bỏ hợp đồng đại lý

Huỷ bỏ hợp đồng là việc một bên vi phạm những thoả thuận được nêu trong hợp đồng và đó là căn cứ để chấm dứt thực hiện nghĩa vụ giữa các bên hoặc do pháp luật quy định Theo đó, các bên cùng thống nhất huỷ bỏ việc thực hiện nghĩa

vụ giữa các bên trong trường hợp việc thực hiện này không còn phù hợp với lợi ích của các bên Trong một số trường hợp khác, huỷ bỏ hợp đồng được thực hiện theo ý chí của một bên khi có những hành vi vi phạm hợp đồng

Các bên có quyền huỷ bỏ hợp đồng đại lý trong các trường hợp sau: nếu một bên đơn phương huỷ bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện huỷ bỏ mà các bên đã thoả thuận hoặc pháp luật có quy định Bên huỷ bỏ hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc huỷ bỏ, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại

1.2.4 Vi phạm, xử lý vi phạm hợp đồng đại lý và giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng đại lý

Vi phạm hợp đồng đại lý là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo quy định của pháp luật Các vi phạm hợp đồng đại lý phổ biến như: vi phạm về chủ thể giao kết, vi phạm về quyền và nghĩa vụ của các bên đã thoả thuận trong hợp đồng

Theo đó, trường hợp có thiệt hại do vi phạm hợp đồng gây ra thì bên vi phạm

sẽ phải chịu trách nhiệm về các hành vi vi phạm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác Khi các bên vi phạm hợp đồng đại lý thì sẽ bị xử phạt vi

Trang 36

28

phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại căn cứ theo các quy định đã thoả thuận trong hợp đồng

Xử lý vi phạm hợp đồng đại lý:

* Buộc thực hiện đúng hợp đồng: là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm

thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện

và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh Trường hợp bên vi phạm giao thiếu hàng hoặc cung ứng dịch vụ không đúng hợp đồng thì phải giao đủ hàng hoặc cung ứng dịch vụ theo đúng thoả thuận trong hợp đồng Trường hợp bên vi phạm giao hàng hoá, cung ứng dịch vụ kém chất lượng thì phải loại trừ khuyết tật của hàng hoá, thiếu sót của dịch vụ hoặc giao hàng hoá khác thay thế, cung ứng dịch vụ theo đúng hợp đồng Bên vi phạm không được dùng tiền hoặc hàng hoá khác chủng loại, dịch vụ khác để thay thế nếu không được sự chấp thuận của bên bị vi phạm

* Phạt vi phạm : là trường hợp bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một

khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thảo thuận Mức phạt tối đa đối với điều vi phạm hợp đồng do các bên thoả thuận nhưng không được quá 8% phần giá trị hợp đồng bị vi phạm

* Bồi thường thiệt hại : là trường hợp bên vi phạm bồi thường những tổn thất

do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm Giá trị bồi thường gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại là có hành vi vi phạm hợp đồng, có thiệt hại thực tế và hành vi vi pham hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây

ra thiệt hại

* Tạm ngừng thực hiện hợp đồng : là việc một bên tạm thời không thực hiện

nghĩa vụ hợp đồng Tạm ngừng trong những trường hợp sau đây: xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã đề thoả thuận là điều kiện để tạm ngừng thực hiện hợp đồng hoặc một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng

* Đình chỉ thực hiện hợp đồng : là việc một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ

hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau đây: xảy ra hành vi vi phạm mà các

Trang 37

29 bên đã thoả thuận là điều kiện để đinh chỉ hợp đồng hoặc một bên vi phạm cơ bản những nghĩa vụ hợp đồng

* Huỷ bỏ hợp đồng bao gồm hai trường hợp: huỷ bỏ toàn bộ nội dung hợp

đồng và huỷ bỏ một phần nội dung hợp đồng Huỷ bỏ toàn bộ nội dung hợp đồng là việc loại bỏ hoàn toàn tất cả các nghĩa vụ hợp đồng đối với toàn bội hợp đồng Huỷ

bỏ một phần nội dung hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợp đồng, các phần còn lại vẫn có hiệu lực Huỷ bỏ hợp đồng trong trường hợp giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ từng phần, nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc giao hàng, cung ứng dịch vụ và việc này cấu thành một hành vi vi phạm cơ bản đối với lần giao hàng, cung ừng dịch vụ đó thì bên có quyền tuyên bố huỷ bỏ hợp đồng đối với lần giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ đó

Giải quyết tranh chấp do vi phạm hợp đồng đại lý: Khi phát sinh tranh chấp do

vi phạm hợp đồng, các bên sẽ giải quyết bằng thương lượng, hoà giải Theo đó, các bên tham gia hợp đồng đại lý gặp gỡ, trao đổi, bàn cách tháo gỡ, giải quyết những vấn đề phát sinh và thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra Nếu các bên không giải quyết được bằng thương lượng, hoà giải thì sẽ đưa ra giải quyết tại Toà

án có thẩm quyền hoặc giải quyết bằng Trọng tài thương mại Việc áp dụng hình thức giải quyết tranh chấp do các bên hợp đồng đại lý thoả thuận theo quy định pháp luật

Tiểu kết chương 1

Đại lý là một loại hình hoạt động trung gian thương mại quy định đặc thù trong pháp luật Việt Nam Đại lý mang những đặc điểm riêng và đa dạng với nhiều loại hình đại lý khác nhau được quy định và áp dụng trong thực tiễn

Do vậy Hợp đồng đại lý cũng là một loại hợp đồng thương mại Hợp đồng đại

lý mang bản chất của hợp đồng dịch vụ, có tính chất song vụ, ưng thuận và đền bù Pháp luật quy định cụ thể về hợp đồng đại lý ở nhiều khía cạnh khác nhau như: đặc điểm; quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng; nguyên tắc giao kết; trình

tự, thủ tục giao kết hợp đồng; sửa đổi bổ sung, chấm dứt hợp đồng đại lý và xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp hợp đồng đại lý

Trang 38

30

Những vấn đề nền tảng lý luận về đặc điểm của đại lý và hợp đồng đại lý là cơ

sở khoa học cho việc nghiên cứu khung pháp lý chuyên sâu về hợp đồng đại lý và thực tiễn áp dụng theo quy định của pháp luật Việt Nam và từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chế định

Trang 39

2.1 Quy định và thực tiễn áp dụng quy định về hợp đồng đại lý

2.1.1 Về điều kiện hiệu lực của hợp đồng đại lý

Hợp đồng đại lý là sự thỏa thuận làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý ràng buộc bên giao đại lý và bên đại lý khi tham gia quan hệ đại lý mua bán hàng hóa Tuy nhiên, để sự thỏa thuận của các bên có thể hình thành một quan hệ hợp đồng thì thỏa thuận đó phải phù hợp với các quy định của pháp luật

về các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng Luật Thương mại 2005 không quy định các điều kiện để một hợp đồng được giao kết giữa bên đại lý và bên giao đại lý có hiệu lực trên thực tế Do đó, để xem xét điều kiện có hiệu lực của hợp đồng đại

lý, phải áp dụng các quy định trong Bộ luật Dân sự 2015 Theo đó, điều kiện hiệu lực của hợp đồng đại lý được quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

- Chủ thể của hợp đồng đại lý có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch được xác lập Trong quan hệ hợp đồng đại lý, chủ thể tham gia hợp đồng phải là các thương nhân Hơn thế, như phần trên đã trình bày, bên giao đại lý phải là thương nhân có đăng ký doanh nghiệp để thực hiện hoạt động mua bán loại hàng hóa các bên thỏa thuận trong hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa, còn bên đại lý phải là thương nhân có đăng ký doanh nghiệp để thực hiện hoạt động đại lý mua bán hàng hóa Nếu các bên ký kết hợp đồng thông qua người đại diện, thì đại diện của các bên ký kết hợp đồng phải là người đại diện có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Bên cạnh đó, cá nhân người đại diện cũng phải

có năng lực hành vi dân sự đầy đủ

- Chủ thể tham gia hợp đồng đại lý hoàn toàn tự nguyện Tự nguyện bao gồm các yếu tố cấu thành là tự do ý chí và bày tỏ ý chí Không có tự do ý chí và bày tỏ

ý chí không thể có tự nguyện, nếu một trong hai yếu tố này không có hoặc

Trang 40

xã hội thừa nhận, tôn trọng Với quy định này của Bộ luật Dân sự 2015 nghĩa là

tổ chức, cá nhân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm và hợp đồng chỉ

bị coi là vô hiệu toàn bộ nếu chứng minh được pháp luật có quy định cấm mà các bên vẫn thỏa thuận vi phạm

Ngoài ra, hình thức của hợp đồng đại lý cũng phải thoả mãn quy định của pháp luật Đối với hợp đồng đại lý bắt buộc phải lập thành văn bản, trường hợp khác các bên có thể thỏa thuận hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương mà không bị coi là vô hiệu

Quy định của pháp luật Việt Nam có sự tương đồng với quy định của các nước theo truyền thống luật châu Âu lục địa Ví dụ: Điều 1108 Bộ luật Dân sự của Pháp quy định: “Hợp đồng chỉ có hiệu lực khi thỏa mãn bốn điều kiện chủ yếu sau đây: các bên giao kết hoàn toàn tự nguyện; các bên giao kết có năng lực giao kết hợp đồng; đối tượng của hợp đồng phải xác định, căn cứ của hợp đồng phải hợp pháp”11 Về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, pháp luật của các nước theo truyền thống luật Anh-Mỹ có sự khác biệt so với pháp luật Việt Nam Ví dụ: theo quy của pháp luật Singapore, để hợp đồng thực sự có hiệu lực, cần có các điều kiện sau: (i) Hợp đồng phải có đủ điều khoản thỏa thuận, hoặc chí ít có những điều khoản cơ bản của thỏa thuận để theo đó, thẩm phán có thể đưa ra phỏng đoán về

sự tồn tại của thỏa thuận dựa trên việc xem xét hành vi của các bên, cách thức

10 Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, tập 1, Nxb Công an nhân dân,

Hà Nội, tr.146

11 Bộ Tư pháp Việt Nam và Tổ chức hợp tác quốc tế, Viện nghiên cứu luật tổng hợp Bộ Tư pháp, Trung tâm

Luật Dân sự, Thương mại quốc tế của Nhật Bản (1999), Tài liệu hội thảo về Luật Dân sự và thương mại Việt Nam – Nhật Bản, tr.699

Ngày đăng: 18/09/2020, 08:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w