Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án đã tập trung thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau đây: - Nghiên cứu những nền tảng lý luận và hệ thống lý luận về cho thuê tài chính theo
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGễ THANH HƯƠNG
Pháp luật Việt Nam
về cho thuê tài chính theo hình thức
hợp đồng bán và thuê lại
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGÔ THANH HƯƠNG
Ph¸p luËt ViÖt Nam
vÒ cho thuª tµi chÝnh theo h×nh thøc
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận
án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Ngô Thanh Hương
Trang 4MỤC LỤC
Trang
1.1 Tiền đề của việc đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 6
1.4 Những thành tựu nghiên cứu mà luận án kế thừa và những vấn
đề cần nghiên cứu phát triển trong khuôn khổ luận án
23
1.6 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 25
HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG BÁN VÀ THUÊ LẠI
30
2.1 Những vấn đề lý luận tổng quát về cho thuê tài chính 30 2.2 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng bán và thuê lại 54
2.6 Các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng bán và thuê lại 78
Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHO THUÊ
TÀI CHÍNH THEO HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG BÁN VÀ THUÊ LẠI
82
3.1 Tổng quan pháp luật Việt Nam về cho thuê tài chính theo hình
thức hợp đồng bán và thuê lại
82
Trang 53.2 Các quy định pháp luật hiện hành về hợp đồng bán và thuê lại 86 3.3 Áp dụng pháp luật Việt Nam hiện hành về cho thuê tài chính
theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại
101
3.4 Các bất cập chủ yếu và nguyên nhân của các bất cập chủ yếu
của pháp luật Việt Nam hiện hành về cho thuê tài chính theo
hình thức hợp đồng bán và thuê lại
112
Chương 4: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHO THUÊ
TÀI CHÍNH THEO HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG BÁN VÀ THUÊ LẠI
124
4.1 Sự cần thiết và cơ sở kinh tế, xã hội của việc hoàn thiện pháp
luật Việt Nam về cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng
bán và thuê lại
124
4.2 Các kiến nghị về định hướng giải pháp hoàn thiện pháp luật
Việt Nam về cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và
thuê lại
134
Kiến nghị về các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về
cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại
136
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌ C ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
151
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài
Bên cạnh các yếu tố công nghệ và nhân lực thì vốn được xem là yếu tố tiên quyết cho sự ra đời, sinh tồn và phát triển của doanh nghiệp Chính vì thế, hầu hết các tổ chức, cá nhân khi tham gia kinh doanh, thương mại đều cần vốn, cần huy động vốn từ ngân hàng và thường gặp khó khăn nhất định trong việc huy động vốn và vay vốn Từ hoàn cảnh đó, "cho thuê tài chính" hay
"thuê tài chính" ra đời và hiện đang phát triển rất mạnh mẽ Hoạt động này bản chất là một hành vi thương mại (cụ thể là hợp đồng) có tính chất tín dụng nhưng khác với hợp đồng tín dụng thông thường, thay vì Bên cho thuê cấp cho Bên thuê một khoản tiền thì cấp cho Bên đi thuê một khoản tín dụng bằng tài sản
Lịch sử hình thành và phát triển ngành cho thuê tài chính cho thấy, song song với việc phát triển chiều rộng, sự phát triển về chiều sâu cũng diễn
ra rất sôi động [86, tr.1] với sự ra đời của đa dạng các loại hình cho thuê tài chính Trong số đó, "bán và thuê lại" là một hình thức khá phổ biến và giúp ích rất nhiều cho các thương nhân trong việc vượt qua các khó khăn về vốn Hình thức thuê này, cụ thể hơn, đã đem lại những lợi ích thiết thực về kinh tế:
Thứ nhất, cho phép Bên bán và thuê lại thiết bị huy động được số vốn tối đa
tương đương với giá trị mua bán tài sản; thứ hai, tăng tính lưu động cho tài sản cố định và không có sự ngắt quãng trong quá trình sử dụng tài sản; thứ ba,
cho phép các bên có thể tiến hành trình tự và thủ tục giao dịch đơn giản, thuận lợi hơn so với các cách thức huy động vốn khác từ ngân hàng
Ở Việt Nam, theo số liệu tổng điều tra kinh tế năm 2017 của Tổng cục thống kê cho thấy, số lượng doanh nghiệp lớn chỉ chiếm 1,9% tổng số doanh nghiệp, còn lại là các doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp siêu nhỏ [129] Như vậy, tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay chiếm
Trang 7khoảng 98% tổng số doanh nghiệp cả nước Đặc thù của các doanh nghiệp này là không có nhiều vốn tự có, hệ số tín nhiệm thanh khoản chưa cao, mạng lưới quan hệ với các ngân hàng không nhiều Do vậy, thực tiễn luôn xảy ra hiện tượng "thiếu vốn" khi chỉ có 30% doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận được nguồn vốn vay ngân hàng với số vốn khá khiêm tốn, chỉ chiếm 3% tổng
số vốn ngân hàng cho vay trong nền kinh tế [125]
Trước thực trạng này, cho thuê tài chính theo hình thức bán và thuê lại luôn được quan tâm phát triển nhằm giải quyết bài toán khó cho thị trường xuất phát từ đặc tính phù hợp với các doanh nghiệp nhỏ và vừa Tuy nhiên, kể
từ thời điểm chính thức được ghi nhận trong hệ thống pháp luật Việt Nam vào năm 2001 cho đến nay, cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại chưa được sử dụng rộng rãi, số lượng doanh nghiệp cho thuê tài chính không đáng kể và đa số ở trong tình trạng thua lỗ kéo dài
Để bất kỳ hoạt động kinh doanh, thương mại nào phát triển cũng xuất hiện nhu cầu điều chỉnh của pháp luật một cách cụ thể, chi tiết và chính xác Cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại cũng không phải
là một trường hợp ngoại lệ Đặc biệt, so với lịch sử lâu đời của ngành cho thuê tài chính thế giới thì thị trường cho thuê tài chính nói chung, cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại ở Việt Nam nói riêng còn non trẻ, thiếu kinh nghiệm, tiềm ẩn nhiều rủi ro và phát triển khá chậm chạp
Không thể phủ nhận có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng trên nhưng cũng có thể khẳng định một trong những nguyên nhân chủ yếu là
do hệ thống pháp luật Việt Nam về cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại còn nhiều vướng mắc, bất cập Vì vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện cả lý luận và thực tiễn pháp luật cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại có tính cấp thiết và có giá trị ứng dụng cao nhằm góp phần hoàn thiện môi trường pháp lý kinh doanh ở Việt Nam hiện
Trang 8nay, xây dựng nền kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
nhập quốc tế
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận án
Mục đích nghiên cứu của đề tài luận án là xây dựng mô hình lý luận
bao quát, hệ thống và chuyên sâu về thuê hay cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại để từ đó làm sáng tỏ những vấn đề thực hiện pháp luật liên quan, đồng thời đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án đã tập trung thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Nghiên cứu những nền tảng lý luận và hệ thống lý luận về cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và đánh giá thực tiễn thực hiện và áp dụng pháp luật về cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán
và thuê lại trên cơ sở mô hình lý luận đã được nghiên cứu ở trên;
- Qua các vấn đề lý luận và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật,
đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại ở Việt Nam
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận pháp luật, các qui tắc
pháp lý xuất phát từ các nguồn của pháp luật như văn bản qui phạm pháp luật, tập quán pháp, tiền lệ pháp, các học thuyết pháp lý…; thực tiễn thi hành pháp luật thông qua các hợp đồng, bản án, quyết định giải quyết tranh chấp liên quan đến hoạt động cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại
Luận án nghiên cứu các đối tượng nêu trên trong khuôn khổ pháp lý
và chỉ đề cập tới các vấn đề kinh tế, tài chính và kế toán trong chừng mực để làm rõ các vấn đề pháp lý về loại hợp đồng bán và thuê lại nói riêng cũng như các vấn đề pháp lý chung về cho thuê tài chính Luận án chủ yếu nghiên cứu
Trang 9các đối tượng này trong phạm vi pháp luật Việt Nam hiện nay và một phạm vi vừa đủ cho các kết luận khoa học từ kinh nghiệm ở một số nước theo truyền thống Civil Law và Common Law
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung của khoa học xã hội và các phương pháp nghiên cứu đặc thù của luật học để nghiên cứu đề tài Các phương pháp chủ yếu bao gồm: phương pháp mô tả, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp phân loại và hệ thống hóa, phương pháp trừu tượng hóa, phương pháp phân tích lịch sử, phương pháp giả thuyết, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh pháp luật… Việc sử dụng từng phương pháp nêu trên nhằm tới từng mục đích cụ thể sẽ được trình bày kỹ tại Chương 1 của luận án này
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án
Với tính cấp thiết của đề tài và các kết quả nghiên cứu đạt được, luận
án sẽ góp phần xây dựng lý luận chuyên sâu, toàn diện và hệ thống về cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại Do đó, luận án có thể trở thành tài liệu tham khảo có giá trị cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật; phục vụ cho nghiên cứu, giảng dạy và hoạt động thực tiễn
Từ các kết quả nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật về cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại, mà qua đó đánh giá, bình luận về những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn, luận án có thể sẽ có ích đối với các luật gia, nhà nghiên cứu lập pháp, các chủ thể thực hiện chức năng tư pháp, hoặc đối với các cá nhân, tổ chức tham gia hoặc có liên quan đến cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại…
6 Tính mới của luận án
Trên cơ sở kế thừa các thành tựu nghiên cứu trong nước và nước ngoài, luận án có những tính mới sau đây:
Trang 10Về tổng quát: Luận án là một công trình nghiên cứu chuyên sâu đã
xây dựng được mô hình lý luận khá toàn diện và có hệ thống về cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại ở Việt Nam hiện nay; phân tích
và đánh giá thực trạng áp dụng, thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này để từ
đó tìm hiểu những vướng mắc và nguyên nhân của những vướng mắc đó nhằm kiến nghị các giải pháp giúp loại hình "cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại" phát triển phù hợp với điều kiện kinh tế - văn hóa -
xã hội và hội nhập quốc tế của Việt Nam
Về chi tiết: Luận án có một số điểm mới nổi bật sau: Thứ nhất, hệ
thống hóa các lý thuyết về cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại (bao gồm những vấn đề: khái niệm, đặc điểm, pháp luật điều chỉnh, giao
kết và thực hiện hợp đồng bán và thuê lại…) Thứ hai, xây dựng cơ sở lý thuyết
của việc mở rộng chủ thể và đối tượng cho thuê tài chính theo hình thức hợp
đồng bán và thuê lại Thứ ba, luận giải về giá trị pháp lý và hậu quả pháp lý của việc đăng ký hợp đồng bán và thuê lại Thứ tư, lý luận về thu hồi, xử lý tài
sản cho thuê trong trường hợp tài sản cho thuê là vật chứng của vụ án hình sự
hoặc trong trường hợp Bên cho thuê bị phá sản Thứ năm, luận giải về việc áp
dụng các biện pháp bảo đảm đối với giao dịch cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại Cụ thể, làm sáng tỏ vai trò, ý nghĩa của các biện pháp bảo đảm trong giao dịch cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán
và thuê lại Từ đó chứng minh sự bất cập của quy định pháp luật Việt Nam
hiện hành Thứ sáu, đưa ra cơ sở khoa học cho việc luật hóa các quy định về cho
thuê tài chính (bao gồm cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê
lại) trong một đạo luật riêng Thứ bảy, đánh giá tổng quát việc áp dụng pháp luật
Việt Nam hiện hành về cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại bằng việc phân tích, bình luận các bản án, phán quyết trọng tài cũng
như hoạt động áp dụng pháp luật của các chủ thể tham gia Thứ tám, kiến nghị
các giải pháp đồng bộ (nhóm giải pháp lập pháp và tổ chức thực hiện pháp luật) nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về cho thuê tài chính theo hình
Trang 11thức hợp đồng bán và thuê lại Chẳng hạn, đưa ra các giải pháp nhằm đảm bảo khả năng thu hồi, xử lý tài sản của Bên mua (Bên cho thuê tài chính); các biện pháp tăng cường năng lực của đội ngũ lập pháp, tư pháp cũng như nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật của người dân; các giải pháp bổ sung cho "lỗ hổng" của pháp luật…
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Chương 2: Lý luận pháp luật về cho thuê tài chính theo hình thức hợp
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1 Tiền đề của việc đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài "Pháp luật Việt Nam về cho
thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại" xuất phát từ những
tiền đề sau: Thứ nhất, cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê
lại là một hành vi pháp lý có liên quan đến rất nhiều môn khoa học khác nhau
như: pháp lý, tài chính, và kế toán Thứ hai, nhìn từ góc độ tài chính, thì cho
thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại là một phương thức tài trợ hay là một hình thức tín dụng; tuy nhiên nhìn từ góc độ pháp lý, thì cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại là một hành vi thương
mại (hợp đồng thương mại) Thứ ba, pháp luật về hợp đồng của các quốc gia
có những khác biệt nhất định trong việc điều chỉnh hợp đồng nói chung và
hợp đồng bán và thuê lại nói riêng
Từ ba tiền đề trên, các hệ quả sau cần được lưu ý khi đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài:
Một là, không thể tách bạch hoàn toàn khi nghiên cứu khoa học pháp
lý về cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại với các môn khoa học khác có cùng đối tượng nghiên cứu Vì vậy, khi đánh giá tổng quan tình nghiên cứu đề tài không thể không nhắc tới các công trình nghiên cứu thuộc các môn khoa học có liên quan đến lĩnh vực này Tuy nhiên, luận án chỉ đánh giá ở mức độ nhất định các công trình nghiên cứu liên quan đó trong chừng mực mà kết quả nghiên cứu của chúng góp phần làm sáng tỏ những vấn đề pháp lý của cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại
Hai là, xuất phát từ bản chất pháp lý của bán và thuê lại là một hợp
đồng thương mại, việc đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu cần xem xét trong một phạm vi thích hợp các công trình nghiên cứu về hợp đồng nói chung liên quan tới đề tài luận án
Trang 13Ba là, việc đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu không dàn trải tới
các công trình nghiên cứu pháp luật của các quốc gia trên thế giới về cho thuê tài chính nói chung và hình thức hợp đồng bán và thuê lại nói riêng, mà chủ yếu tập trung vào những công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan trực tiếp tới hoặc làm nền tảng cho nghiên cứu về cho thuê tài chính nói chung và hợp đồng bán và thuê lại nói riêng theo pháp luật Việt Nam
1.2 Phân loại nội dung nghiên cứu của luận án
Nhằm mục đích đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài luận
án, nội dung nghiên cứu của luận án phải được phân chia thành các vấn đề nghiên cứu chủ yếu như sau:
Thứ nhất: Nhóm vấn đề nghiên cứu chung về thuê tài chính bao gồm:
(i) khái niệm, bản chất, đặc điểm, vai trò và ý nghĩa của cho thuê tài chính, (ii) vị trí của chế định cho thuê tài chính trong hệ thống pháp luật, (iii) phân loại cho thuê tài chính; (iv) kết cấu căn bản của một giao dịch cho thuê tài chính; (v) điều chỉnh pháp luật đối với cho thuê tài chính nói chung; và (vi) thực trạng của pháp luật Việt Nam về cho thuê tài chính, cũng như các kiến nghị liên quan;
Thứ hai: Nhóm vấn đề lý luận chung về bán và thuê lại bao gồm: (i) khái
niệm, bản chất, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của bán và thuê lại; (ii) chủ thể của hợp đồng bán và thuê lại; (iii) giao kết hợp đồng bán và thuê lại; (iv) hiệu lực của hợp đồng bán và thuê lại; (v) điều chỉnh pháp luật đối với hợp đồng cho thuê tài chính; và (vi) tranh chấp và giải quyết tranh chấp hợp đồng bán và thuê lại
Thứ ba: Nhóm vấn đề nghiên cứu thực trạng của pháp luật Việt Nam
về bán và thuê lại bao gồm: (i) phân tích các quy định của pháp luật thực định liên quan; (ii) áp dụng các quy định của pháp luật vào giải quyết các tranh chấp
cụ thể; (iii) đánh giá những ưu và khuyết điểm của pháp luật về bán và thuê lại;
và (iv) tìm hiểu nguyên nhân những bất cập của pháp luật về bán và thuê lại
Thứ tư: Nhóm kiến nghị liên quan tới hợp đồng bán và thuê lại bao gồm:
Trang 14về lập pháp; (iii) những kiến nghị về tổ chức thi hành và áp dụng pháp luật; và (iv) những kiến nghị nâng cao nhận thức pháp luật về bán và thuê lại
Trên căn bản của việc phân loại này, luận án đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, đúc rút những thành tựu luận án kế thừa
và tìm ra những vấn đề cần nghiên cứu tiếp Từ đó, luận án tiến hành xác định
cơ sở lý thuyết, xây dựng câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu, xác định phương pháp nghiên cứu, xây dựng bố cục của luận án, tìm ra những điểm mới
mà luận án có khả năng đóng góp cho khoa học pháp lý và thực tiễn pháp lý
1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.3.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước
1.3.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu lý luận chung ở trong nước
về cho thuê tài chính
Thực tế, ở Việt Nam cho thuê tài chính lần đầu tiên được pháp luật ghi nhận và điều chỉnh dưới tên gọi "tín dụng thuê mua" Văn bản pháp luật ghi nhận đầu tiên là Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty cho thuê tài chính năm 1990 [32] cũng như văn bản pháp luật đầu tiên điều chỉnh cụ thể hoạt động này là Quyết định số 149/QĐ-NH5 [44] sử dụng thuật ngữ "tín dụng thuê mua" Sau đó, ngày 9/10/1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 64/CP [7] đã chính thức sử dụng thuật ngữ "cho thuê tài chính" thay cho thuật ngữ "tín dụng thuê mua" Về bản chất, đây chỉ là việc sử dụng các thuật ngữ khác nhau khi đề cập đến cùng một hiện tượng vì định nghĩa "tín dụng thuê mua" có nội dung giống như định nghĩa "cho thuê tài chính" sau đó
Liên quan đến khái niệm, đặc điểm, vai trò và ý nghĩa của cho thuê tài chính
Các công trình nghiên cứu trong nước về cho thuê tài chính đều đưa ra khái niệm cho thuê tài chính Phổ biến có hai cách thức xây dựng khái niệm
cho thuê tài chính: Thứ nhất, xây dựng khái niệm bằng việc chỉ ra các đặc tính hoạt động của cho thuê tài chính Chẳng hạn, công trình "Vận dụng tín
dụng thuê mua trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam" của Hồ Diệu (Luận án
Trang 15tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh năm 1995) [16] với định nghĩa tín dụng thuê mua (cho thuê tài chính) là cho thuê trong đó có các nội dung cơ bản sau: (i) người cho thuê chuyển giao tài sản cho người đi thuê
sử dụng; (ii) bên thuê có trách nhiệm thanh toán tiền thuê và được các quyền: hoặc được quyền sở hữu tài sản sau khi kết thúc hợp đồng thuê; hoặc được quyền mua tài sản bất cứ lúc nào cho đến khi kết thúc hợp đồng thuê; hoặc
được quyền thuê tiếp tài sản Thứ hai, xây dựng khái niệm cho thuê tài chính
theo cách thức tiếp cận bản chất của hoạt động này Cụ thể, Nguyễn Thị Ánh
Vân trong cuốn "Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam" của Trường Đại học
Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 2014 [84] đưa ra định nghĩa cho thuê tài chính là việc cấp một khoản tín dụng trung hoặc dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị và các động sản khác [84, tr 280] Nhìn chung, hai cách thức xây dựng khái niệm này đều có những ưu điểm và nhược điểm Bởi lẽ, cách tiếp cận bằng việc chỉ ra những đặc tính hoạt động cho thuê tài chính giúp chúng ta dễ dàng xác định giao dịch cho thuê tài chính nhưng lại có hạn chế là không bao quát và đầy đủ mọi trường hợp của cho thuê tài chính như cách định nghĩa thông qua việc chỉ ra bản chất của hoạt động này và ngược lại Ngoài ra, theo Nguyễn Mạnh Bách trong sách chuyên
khảo về: "Luật dân sự lược giải các hợp đồng dân sự thông dụng" của Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 1997 [2] thì cho thuê tài chính bản chất là việc cho thuê kèm theo một lời hứa bán khi kết thúc thời hạn thuê
Các đặc điểm của cho thuê tài chính cũng đã được nghiên cứu trong
công trình "Vận dụng tín dụng thuê mua trong điều kiện nền kinh tế Việt
Nam" tác giả Hồ Diệu (Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ
Chí Minh, năm 1995) [16] với việc chỉ ra đặc điểm tín dụng (trung và dài hạn) của thuê mua từ phương diện kinh tế học Tác giả cho rằng về mặt bản chất sự vận động của tín dụng và sự vận động của thuê mua là giống nhau, giữa hai loại hợp đồng này chỉ có một điểm khác nhau cơ bản, cụ thể: tín
Trang 16thể, bao gồm những quan hệ được biểu hiện dưới hình thái tiền và hiện vật, còn thuê mua chỉ là một quan hệ cụ thể chứa đựng đầy đủ các đặc điểm của tín dụng Ngoài ra, tác giả cho rằng cho thuê tài chính là hình thức tín dụng trung và dài hạn Điều này xuất phát từ hiệu quả của việc quản lý tài sản và chi phí quản lý tài chính cho việc quản lý tài sản thuê của Bên cho thuê Đây
là một lập luận đúng đắn nhưng chưa đầy đủ vì không chỉ có lý do kinh tế nói trên mà còn bởi những lý do về mặt kỹ thuật lập pháp, tài chính và kế toán sẽ
được phân tích cụ thể ở Chương 2 của luận án Trong bài viết "Pháp luật về
cho thuê tài chính - Một số vấn đề cần hoàn thiện", đăng tải trên Tạp chí Luật
học, số 02/2007 của Trần Vũ Hải [25] nhấn mạnh đến hai đặc điểm quan trọng của cho thuê tài chính: tính chất trung và dài hạn; chuyển giao hầu hết quyền năng của chủ sở hữu cho Bên thuê Có thể thấy, mặc dù có phân tích những đặc điểm của cho thuê tài chính nhưng các công trình khoa học nói trên chưa bao quát đầy đủ tất cả các đặc trưng của hoạt động này
Sự cần thiết, vai trò và ý nghĩa kinh tế của cho thuê tài chính được đề cập khá đầy đủ trong các công trình nghiên cứu trong nước Tiếp cận từ giác
độ lợi ích của bên đi thuê, Nguyễn Minh Kiều trong ấn phẩm "Tài chính
doanh nghiệp căn bản", Nhà xuất bản Lao động xã hội năm 2011 [39] đã
phân tích những lợi ích của việc thuê tài sản đối với bên đi thuê như tránh được những rủi ro do sở hữu tài sản, tính linh hoạt, lợi ích về thuế, tính kịp thời Tuy nhiên, ở công trình này tác giả mới chỉ phân tích những lợi ích chung của việc thuê tài sản mà theo sự phân loại của tác giả bao gồm thuê
hoạt động và thuê tài chính Ngược lại, trong công trình "Tín dụng và thẩm
định tín dụng ngân hàng", Nhà xuất bản Lao động xã hội năm 2011 [40],
Nguyễn Minh Kiều đã tập trung giải thích khá chi tiết các lý do để lựa chọn thuê tài chính qua đó làm rõ nét một số ý nghĩa của hoạt động này từ phương
diện người đi thuê Công trình "Thị trường tài chính & các định chế tài
chính" của Lê Văn Tề và Huỳnh Thị Hương Thảo, do Nhà xuất bản Phương
Đông ấn hành [69] đã chỉ ra một số ảnh hưởng của cho thuê tài chính đối với
Trang 17thị trường tài chính và nền kinh tế từ đó cho thấy vai trò ý nghĩa của hoạt động này Mặt khác, với việc nghiên cứu vai trò của cho thuê tài chính theo cách tiếp cận từ giác độ người đi thuê, người cho thuê, lợi ích đối với nền
kinh tế, Võ Thành Tống trong công trình "Thúc đẩy cho thuê tài chính nhằm
hỗ trợ phát triển doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Cần Thơ đến năm 2020", Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí
Minh năm 2009 [78] đã khái quát đầy đủ ý nghĩa của hoạt động cho thuê tài chính Có thể khẳng định, các kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học này có giá trị rất lớn đối với luận án
Liên quan đến vấn đề vị trí của chế định cho thuê tài chính trong hệ thống pháp luật
Một số công trình trong nước có đề cập đến vấn đề vị trí của chế định cho thuê tài chính trong hệ thống pháp luật nhưng ở phạm vi và mức độ hạn chế Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ năm 2002 do Nguyễn Văn Dũng làm
chủ nhiệm với tên gọi "Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về hợp đồng tín
dụng, hợp đồng bảo hiểm tại Tòa án nhân dân Những tồn tại, vướng mắc và kiến nghị" [17] có nhắc tới cho thuê tài chính thuộc lĩnh vực điều chỉnh của
pháp luật ngân hàng Nội dung nghiên cứu của đề tài cho rằng cho thuê tài chính là một loại hình tín dụng và thực tế hiện nay ở Việt Nam chế định cho thuê tài chính nằm trong Luật các tổ chức tín dụng Điều này có thể được giải thích bởi các nhà lập pháp Việt Nam thường cho rằng cho thuê tài chính là hoạt động đặc thù của công ty cho thuê tài chính và công ty tài chính (tổ chức
tín dụng phi ngân hàng) Tuy nhiên, trong công trình "Tìm hiểu và sử dụng tín
dụng thuê mua" xuất bản bởi Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh năm
1996, hai tác giả Trần Tô Tử và Nguyễn Hải Sản [86] đã cho thấy có sự không thống nhất giữa pháp luật các nước trên thế giới quy định về vị trí của chế định cho thuê tài chính Chẳng hạn, cho thuê tài chính có thể được điều chỉnh bởi một đạo luật riêng hoặc nằm trong luật thương mại, luật thuế, luật
Trang 18tế học nên công trình không có bất kỳ sự lý giải hay bình luận về kỹ thuật pháp luật cho sự phân loại đó
Đối với cách phân loại cho thuê tài chính và kết cấu căn bản của một giao dịch cho thuê tài chính
Công trình "Tìm hiểu và sử dụng tín dụng thuê mua" của Trần Tô Tử
và Nguyễn Hải Sản do Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 1996 [86] đã đưa ra cách thức phân loại cho thuê tài chính dựa trên hai tiêu chí cơ bản: tổng số tiền thuê và tính chất của giao dịch thuê mua trong thời
hạn thuê cơ bản Và sau này, công trình "Những vấn đề pháp lý về hợp đồng
thuê mua ở Việt Nam" (Luận án tiến sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc
gia Hà Nội năm 2006) của Doãn Hồng Nhung [53] có đưa thêm cách phân loại khác dựa trên tiêu chí về: chủ thể, sự tham gia của các bên và các điều kiện ưu đãi, bảo đảm giá trị tài sản trong thuê mua Những cách phân loại này sẽ được luận án kế thừa trong phần phân loại hợp đồng cho thuê tài chính
Đối với vấn đề kết cấu căn bản của một giao dịch cho thuê tài chính
đã được Ngô Huy Cương, giảng viên Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội đề cập trong tập bài giảng về Thuê (Leasing) [14] Tác giả cho rằng một giao dịch cho thuê tài chính phải được thực hiện qua ba công đoạn: (1) người thuê thỏa thuận với người cung cấp tài sản; (2) người thuê thỏa thuận với công ty cho thuê tài chính; (3) công ty cho thuê tài chính trả tiền cho người cung cấp tài sản thuê và tài sản được chuyển giao thẳng cho người thuê
Về nguyên tắc, giao dịch cho thuê tài chính có kết cấu như trên Tuy nhiên, tùy thuộc đặc thù của từng loại hình cho thuê tài chính mà có thể có ít hoặc nhiều công đoạn hơn Chẳng hạn, trong cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại thì chỉ có công đoạn (2), (3) mà không có công đoạn (1) bởi lẽ trong quan hệ này tài sản thuê vốn đã thuộc sở hữu của người thuê nhưng do người thuê vừa muốn có tài sản để sử dụng, vừa muốn có vốn hoạt động nên phải bán đi tài sản thuộc sở hữu của mình và thuê lại chính tài sản
đó theo phương thức cho thuê tài chính
Trang 191.3.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu lý luận chung ở trong nước
về hợp đồng bán và thuê lại
Ngoài những công trình nghiên cứu dưới giác độ khoa học pháp lý về hợp đồng bán và thuê lại thì tổng quan tình hình nghiên cứu lý luận chung về hợp đồng bán và thuê lại cần phải nhắc tới các công trình nghiên cứu về bán
và thuê lại theo các giác độ khoa học khác nhau Đồng thời, còn bao gồm cả những công trình tiêu biểu về hợp đồng nói chung, hợp đồng cho thuê tài chính nói riêng Những thành tựu của các công trình nghiên cứu đó làm sáng
tỏ nền tảng lý luận pháp luật về hợp đồng bán và thuê lại
Về khái niệm, đặc điểm, vai trò và ý nghĩa của bán và thuê lại
Khái niệm, đặc điểm, vai trò ý nghĩa của bán và thuê lại được đề cập
trong một số công trình tiêu biểu: công trình "Đẩy mạnh huy động vốn trên thị
trường cho thuê tài chính đối với các doanh nghiệp Việt Nam" của Trần Đức
Trung, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, năm 2014 [81]; Giáo trình
"Tín dụng ngân hàng" của Học viện Ngân hàng, Nhà xuất bản Lao động xã
hội, năm 2014 [30] Các công trình khoa học này đã xây dựng khái niệm bán
và thuê lại (hay còn gọi là "bán và tái thuê") bằng việc mô tả lại các nghiệp vụ của hoạt động này và khẳng định về mặt kinh tế thì bán và thuê lại là một phương thức tài trợ tín dụng Bên cạnh những công trình khoa học kinh tế kể trên, còn có một số công trình khoa học pháp lý nghiên cứu về những đặc
điểm của bán và thuê lại như: "Về bản chất pháp lý của hợp đồng thuê mua ở
Việt Nam" của Doãn Hồng Nhung, đăng tải trên Tạp chí Nhà nước và pháp
luật, số 7(255), năm 2009 [54]; "Cẩm nang hợp đồng thương mại", chủ biên
phòng Thương mại và Công nghiệp (VCCI), do Nhà xuất bản Lao động ấn hành năm 2010 [57]… Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa các công trình nghiên cứu dưới giác độ kinh tế và pháp luật Cụ thể, những công trình nghiên cứu từ phương diện kinh tế học chủ yếu nhấn mạnh đến các đặc điểm của nghiệp vụ bán và thuê lại có liên quan tới: (1) tư cách chủ thể; (2) đối tượng của giao
Trang 20Ngược lại, về mặt pháp lý thì bán và thuê lại là một hợp đồng cho thuê tài chính nên các công trình khoa học pháp lý chủ yếu tập trung vào việc làm sáng tỏ đặc điểm của hợp đồng cho thuê tài chính (trong đó có hợp đồng bán
và thuê lại)
Về vai trò, ý nghĩa của hoạt động bán và thuê lại Tác giả Trần Tô Tử
và Nguyễn Hải Sản trong công trình "Tìm hiểu tín dụng thuê mua" [86] phân
tích lợi ích của phương thức này trong việc giải quyết nhu cầu vốn lưu động
và giải quyết nợ quá hạn của ngân hàng Ngoài ra, tác giả chỉ ra thuê mua còn tạo ra lợi nhuận ghi sổ (lợi nhuận tính thuế) và được dùng để giảm chi phí huy động vốn nếu hình thức này có mức lãi suất thấp hơn các chi phí sử dụng vốn khác Thêm vào đó, công trình còn phân tích rất cụ thể vai trò của thuê mua
đối với nền kinh tế Ngược lại, tại Phần thứ hai, ấn phẩm "Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay" (sách chuyên
khảo, chủ biên PGS.TS Nguyễn Như Phát và TS Lê Thị Thu Thủy, Nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2003) [56] tác giả Doãn Hồng Nhung chỉ phân tích những rủi ro đối với Bên thuê và Bên cho thuê khi giao kết hợp đồng thuê mua nói chung (trong đó bao gồm hợp đồng bán và thuê lại)
Liên quan đến chủ thể, giao kết và thực hiện, giải quyết tranh chấp của hợp đồng bán và thuê lại
Công trình "Luật hợp đồng - Phần chung" của Ngô Huy Cương (Giáo
trình dùng cho đào tạo sau đại học, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2013) [12] đã phân tích một cách toàn diện, sâu sắc, đầy đủ các vấn đề lý thuyết cốt lõi của hợp đồng Đây là những nền tảng lý luận quan trọng cho việc nghiên cứu đặc thù của hợp đồng bán và thuê lại
Sách chuyên khảo "Pháp luật về hợp đồng thuê mua ở Việt Nam" của
Doãn Hồng Nhung do Nhà xuất bản Lao động - Xã hội ấn hành năm 2009
[55] và giáo trình "Luật ngân hàng Việt Nam" của Trường Đại học Luật Hà
Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2014 [84] đề cập đến chủ thể của hợp đồng cho thuê tài chính Cả hai công trình này đã tìm ra điểm mấu chốt
Trang 21trong đặc điểm về chủ thể: Bên cho thuê là các tổ chức có tư cách pháp nhân, còn Bên thuê có thể bao gồm cả cá nhân, tổ chức Tuy nhiên, các công trình này chưa đưa ra sự giải thích về đặc điểm này
Về giao kết, thực hiện hợp đồng, có hai hướng nghiên cứu, cụ thể: (1) bao trùm hết tất cả các vấn đề liên quan đến giao kết, thực hiện hợp đồng hoặc (2) làm rõ một số vấn đề trong giao kết, thực hiện hợp đồng (chẳng hạn: quy trình thủ tục, đăng ký giao dịch, nội dung giao dịch…) Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu theo hướng thứ hai bởi giao kết, thực hiện hợp đồng có nội dung nghiên cứu rất rộng Liên quan đến đăng ký giao dịch bán
và thuê lại đã được nghiên cứu trong một số bài viết Bài viết "Về đăng ký tài
sản cho thuê tài chính ở nước ta" (đăng tải trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật,
số 6/2002) của Doãn Hồng Nhung [52] đã nêu ra một số vấn đề lý luận về
đăng ký tài sản cho thuê tài chính Bên cạnh đó, trong bài viết "Pháp luật hiện
hành về đăng ký hợp đồng cho thuê tài chính tại Việt Nam hiện nay và một số vấn đề cần nghiên cứu, hoàn thiện" (đăng tải tại phần Hỏi đáp-Nghiên cứu
trao đổi, Trang Thông tin đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm, Bộ Tư pháp, năm 2015) [20], tác giả Phùng Bá Đáng làm rõ thêm thực trạng pháp luật về đăng ký hợp đồng cho thuê tài chính Tác giả nhận định việc đăng ký hợp đồng cho thuê tài chính không phải là điều kiện hình thức của giao dịch (không làm phát sinh hiệu lực của hợp đồng) và chỉ ra những bất cập trong quy định của pháp luật Tuy nhiên, tác giả chưa đánh giá về bất cập liên quan tới chủ thể thực hiện đăng ký; hậu quả pháp lý do vi phạm nghĩa vụ đăng ký cũng như bản chất của việc đăng ký giao dịch cho thuê tài chính
Mặc dù không trực tiếp nghiên cứu về đăng ký hợp đồng cho thuê tài chính nhưng một số công trình trong nước có giá trị tham khảo cho việc
nghiên cứu của luận án Công trình "Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi
ro trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ở Việt Nam và một số nước trên thế giới" do Lê Thị Thu Thủy chủ biên, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
Trang 22giao dịch bảo đảm, từ đó tạo cơ sở cho những lập luận, kiến nghị của luận án
Công trình "Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam"
(Luận án tiến sĩ, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010) của tác giả
Lê Minh Hùng [33] và "Hợp đồng kinh tế vô hiệu" của Lê Bích Thọ (sách
tham khảo, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 2004) [73] là tiền đề quan trọng làm sáng tỏ những luận cứ của luận án về mối quan hệ pháp lý của đăng
ký giao dịch bán và thuê lại với hiệu lực của nó Về quy trình thủ tục giao kết, thực hiện hợp đồng bán và thuê lại được đề cập ở một số công trình: giáo
trình "Tài chính doanh nghiệp" của Học viện Tài chính, xuất bản năm 2012 bởi Nhà xuất bản Tài chính [31]; giáo trình "Nghiệp vụ cho thuê tài chính và
bao thanh toán" của Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ, xuất bản
năm 2012 [82]… Tuy nhiên, các công trình này đều có một điểm hạn chế cơ
bản là chỉ mô tả lại các bước nghiệp vụ bán và thuê lại mà không phân tích, bình luận
Trong số các công trình tiêu biểu về phương thức giải quyết tranh
chấp thương mại phải kể đến: "Thủ tục giải quyết tranh chấp trong hoạt động
kinh doanh, thương mại" của Toàn Thắng, do Nhà xuất bản Lao động ấn hành
năm 2008 [70] Công trình đã phân tích khá toàn diện trình tự, thủ tục của các
phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại Công trình "Giải
quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" do Nguyễn Trung Tín (chủ biên), ấn hành bởi Nhà xuất bản Khoa
học xã hội năm 2009 [77] cũng là một công trình có giá trị tham khảo cao trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài Bên cạnh đó, tác giả Phan Thị Thanh Thủy đã trình bày chi tiết, đầy đủ về khái niệm, bản chất, các học thuyết của phương thức giải quyết tranh chấp bằng phương pháp thay thế trong giải quyết tranh chấp tư của các nước trong bài
viết "Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp thương mại bằng biện
pháp thay thế", Tạp chí Khoa học Kiểm sát, số 08 - 2015 [74] Thông thường
khi tìm hiểu những vấn đề lý luận về hợp đồng thì không thể không nghiên
Trang 23cứu các công trình nghiên cứu về giải quyết tranh chấp Tuy nhiên, về cơ bản
lý luận về các phương thức giải quyết tranh chấp của hợp đồng bán và thuê lại không có sự khác biệt Do đó, mặc dù đề cập ở tổng quan tình hình nghiên cứu nhưng nội dung luận án không đi vào nghiên cứu các thủ tục giải quyết tranh chấp đối với hợp đồng bán và thuê lại
1.3.1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu thực trạng của pháp luật Việt Nam về bán và thuê lại
Vấn đề bất cập của pháp luật bán và thuê lại Tác giả Đoàn Thanh Hà
trong luận án tiến sĩ kinh tế "Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động cho thuê tài
chính ở Việt Nam" [22] nhận định việc ngân hàng được phép thực hiện cho
thuê tài chính (trong đó có hình thức hợp đồng bán và thuê lại) sẽ giúp tận dụng triệt để mọi ưu thế về vốn, kỹ thuật, trình độ quản lý, mạng lưới khách hàng từ đó thúc đẩy phát triển ngành cho thuê tài chính Theo đó, tác giả cho rằng pháp luật không cho phép ngân hàng trực tiếp thực hiện nghiệp vụ cho thuê tài chính là một hạn chế Đây là vấn đề sẽ được đề cập trong luận án
Công trình "Giải pháp phát triển thị trường cho thuê tài chính ở Việt Nam
trong quá trình hội nhập tài chính, tiền tệ quốc tế" (luận án tiến sĩ kinh tế Học
viện Ngân hàng, năm 2006) của Tống Thiện Phước [58] nhận định pháp luật còn thiếu quy định liên quan đến việc thu hồi tài sản (như quy trình, thủ tục thu hồi, trách nhiệm của các cơ quan liên quan) Luận án còn chỉ ra sự bất cập trong việc xác định giá bán tài sản, đặc biệt nếu tài sản đó thuộc sở hữu của doanh nghiệp nhà nước Từ đó, đặt ra vấn đề luận án cần nghiên cứu: sự phù hợp của quy định pháp luật về giá bán tài sản Với tính chất là một công trình
nghiên cứu về pháp lý, bài viết "Pháp luật về cho thuê tài chính - Một số vấn
đề cần hoàn thiện", của Trần Vũ Hải [25] đã phân tích cụ thể bất cập của
pháp luật về phương thức xử lý tài sản thuê khi hợp đồng chấm dứt trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ thanh toán Tuy nhiên, những vướng mắc trong quy định về trình tự, thủ tục thu hồi, xử lý tài sản đặc biệt trong trường hợp tài sản
Trang 24Ngoài những công trình là luận án, sách chuyên khảo còn có một số lượng lớn bài viết đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật cho thuê tài chính
Đặng Văn Dân với bài viết "Bàn về giải pháp phát triển thị trường cho thuê
tài chính Việt Nam", Tạp chí Tài chính, kỳ I, tháng 3/2016 [15] đã làm sáng tỏ
những khó khăn trong việc quản lý tài sản cho thuê tài chính trong quá trình cho thuê, cũng như việc huy động vốn của doanh nghiệp cung cấp nghiệp vụ
cho thuê tài chính Trong bài viết "Thuê tài chính - Một giải pháp tài trợ vốn
hiệu quả cho doanh nghiệp vừa và nhỏ" đăng trên Tạp chí Doanh nghiệp và
Thương mại điện tử, ngày 2/5/2013, của Phạm Thị Vân Huyền [37] đề cập đến thực trạng đối tượng cho thuê tài chính còn quá đơn điệu (máy móc thiết
bị, dây chuyền và một số động sản khác), giá cho thuê còn quá cao là một trong những nguyên nhân khiến ngành cho thuê tài chính không phát triển Mặt khác, vấn đề thực tiễn áp dụng pháp luật cũng được đề cập trong bài viết
"Bàn thêm về khung pháp lý và chính sách quản lý thị trường cho thuê tài chính tại Việt Nam", của Đào Thị Hồ Hương, Tạp chí Ngân hàng, số 24/2014
[36] Có thể thấy, công trình này chưa đánh giá một cách có hệ thống, toàn diện các vấn đề liên quan đến thực tiễn áp dụng pháp luật cho thuê tài chính ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, các thành tựu nghiên cứu của những công trình khoa học nói trên là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị, từ đó giúp luận
án định hướng hoàn thiện pháp luật về cho thuê tài chính theo hình thức hợp
đồng bán và thuê lại
Về nguyên nhân bất cập trong việc áp dụng pháp luật cũng được đề cập trong một số công trình Theo tác giả Doãn Hồng Nhung trong cuốn sách
"Pháp luật về hợp đồng thuê mua ở Việt Nam" [55] thì việc áp dụng quy định
pháp luật trong giải quyết tranh chấp còn chưa thỏa đáng bởi nhận thức chưa
đúng đắn của cơ quan tiến hành tố tụng Công trình "Đẩy mạnh huy động vốn
trên thị trường cho thuê tài chính đối với các doanh nghiệp Việt Nam" của
Trần Đức Trung, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Tài chính năm 2014 [81] cho rằng hành lang pháp lý của cho thuê tài chính nói chung (trong đó có bán
Trang 25và thuê lại) chưa đầy đủ, thiếu chặt chẽ; chủ yếu các văn bản pháp luật chỉ quy định nhiều về một bên chủ thể của hợp đồng (tức là bên cho thuê) mà chưa có nhiều nội dung hỗ trợ bên đi thuê như: giới hạn về quy mô vốn, đăng
ký lưu hành các phương tiện giao thông, chế tài chưa đủ sức mạnh
1.3.1.4 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề xuất kiến nghị liên quan tới hợp đồng bán và thuê lại
Sự cần thiết của việc xây dựng khung pháp lý điều chỉnh hoạt động cho thuê tài chính cũng được nghiên cứu trong một số công trình: Luận án
tiến sĩ kinh tế "Vận dụng tín dụng thuê mua trong điều kiện kinh tế Việt Nam"
của Hồ Diệu [16] có phân tích sự tác động qua lại giữa kinh tế và pháp luật về tín dụng thuê mua tại Việt Nam Trên cơ sở đó tác giả đưa ra một số quan điểm về hướng xây dựng và vận hành hoạt động thuê mua, về tổ chức thực hiện nghiệp vụ thuê tài chính, về lựa chọn mô hình lập pháp điều chỉnh hoạt động tín dụng thuê mua Ngoài ra, tác giả Doãn Hồng Nhung trong cuốn sách
chuyên khảo "Pháp luật về hợp đồng thuê mua ở Việt Nam" [55] còn phân
tích những yêu cầu cấp thiết của hoàn thiện pháp luật về thuê mua tài chính bao gồm nhu cầu của nền kinh tế, của quá trình hội nhập Đặc biệt, công
trình "Giải pháp phát triển thị trường cho thuê tài chính ở Việt Nam trong
quá trình hội nhập tài chính, tiền tệ quốc tế" của Tống Thiện Phước (Luận án
tiến sĩ kinh tế, Học viện Ngân hàng năm 2006) [58] đã phân tích về những nhân tố nội sinh và ngoại lai trong điều kiện kinh tế hội nhập tác động đến hoạt động cho thuê tài chính ở Việt Nam Tác giả cho rằng định hướng hoàn thiện pháp luật phải theo hướng tạo môi trường pháp lý minh bạch cho thị trường cho thuê tài chính phát triển, sử dụng đồng bộ các công cụ thị trường để tận dụng tối đa các nguồn lực tài chính trong và ngoài nước cho phát triển kinh tế - xã hội Cũng nói đến định hướng hoàn thiện pháp luật, hai tác giả Ngô Thị Thu
Hà và Phan Đăng Hải trong bài viết "Các yếu tố chi phối đến nội dung pháp
luật cho thuê tài chính" đăng tải trên Tạp chí Tài chính, Kỳ I, tháng 6/2015
Trang 26[24] tập trung phân tích tác động của hội nhập kinh tế và hoàn thiện pháp luật
cho thuê tài chính
Các giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật về cho thuê tài chính được
đề cập trong một số công trình: Luận án tiến sĩ kinh tế "Một số giải pháp thúc
đẩy hoạt động cho thuê tài chính ở Việt Nam" năm 2003 của Đoàn Thanh Hà,
Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh [22] cho rằng cần phải mở rộng chủ thể bên cho thuê bằng việc cho phép các ngân hàng được trực tiếp cung cấp dịch
vụ này để phát triển hoạt động cho thuê tài chính nhằm tận dụng triệt để mọi ưu thế về vốn, kỹ thuật, trình độ quản lý, mạng lưới khách hàng của ngân hàng và
đa dạng hóa các loại hàng hóa cho thuê tài chính Hoàng Thị Thanh Hằng
trong công trình "Phát triển hoạt động cho thuê tài chính của một số nước và
bài học kinh nghiệm cho Việt Nam", Tạp chí Phát triển và hội nhập, số 5 (15),
tháng 7-8/2012 [29] đã phân tích kinh nghiệm phát triển hoạt động cho thuê tài chính ở một số nước trên thế giới và trong khu vực (ví dụ: Trung Quốc, Hàn Quốc, Indonesia, Malaysia) từ đó đưa ra một số giải pháp liên quan đến hoạt động lập pháp cho Việt Nam như việc bổ sung các quy định ưu đãi về thuế, hoạt động nhập khẩu, đa dạng hóa các loại hình công ty cho thuê tài chính Có thể khẳng định, những giải pháp được đề cập trong các công trình nghiên cứu khoa học này có giá trị tham khảo lớn, giúp luận án đưa ra những giải pháp cụ thể, phù hợp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về cho thuê tài chính theo hình
thức hợp đồng bán và thuê lại
1.3.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
1.3.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài về cho thuê tài chính
Điển hình cho những công trình nghiên cứu đặt nền móng cho hệ thống
lý luận về cho thuê tài chính là ấn phẩm "Leasing" của tác giả David Wainman
ấn hành bởi London Sweet and Maxwell Publisher vào năm 1995 [91] Công trình bao trùm hết tất cả các vấn đề cơ bản về cho thuê nói chung, cho thuê tài
chính nói riêng Ngoài ra, không thể không kể đến tác phẩm "Leasing in
Development - Guideline for emerging economics" của nhóm tác giả Matthew
Trang 27Fletcher, Rachel Freeman, Murat Sultanov, và Umedjan Umarov do International Finance Corporation (World Bank Group) phát hành năm 2005 [99] Đây được coi là một nguồn tham khảo quan trọng hướng dẫn về hoạt động cho thuê ở các nền kinh tế mới nổi như ở Việt Nam Công trình này tập trung vào việc hướng dẫn các tiêu chí lập pháp đối với hoạt động "leasing" ở các quốc gia mới phát triển Công trình đã đưa ra khái niệm về cho thuê, phân biệt cho thuê tài chính và các hình thức cho thuê tài sản khác Điểm đặc biệt của công trình là đã đưa đến một cách nhìn hoàn toàn khác lạ so với Việt Nam về vấn đề xử lý hợp đồng cho thuê tài chính khi bên cho thuê bị phá sản Theo
đó, hợp đồng cho thuê tài chính không thể bị chấm dứt trong trường hợp này [99, tr 24] Mặt khác, về bản chất và đặc điểm của cho thuê tài chính
được phân tích khá kỹ lưỡng trong công trình "Hướng dẫn về luật hợp đồng
thuê mới nhất-Kiến thức pháp luật thực tiễn cần biết dành cho doanh nhân"
xuất bản bởi Trung tâm thông tin pháp luật dân sự Nhật Bản, tiếng Nhật,
『ビジネスマンのための必須法務知識最新リース法務ガイド1989』,リース取 引法務委員会編1989年8月18日 初版第一刷発行, 社団法人民事法情報センター] [124] Trong đó đã đưa một số luận giải về tính chất không hủy ngang, không gánh chịu rủi ro của Bên cho thuê hoặc nghĩa vụ bảo đảm duy trì tài sản của Bên thuê
Với mục đích chỉ dẫn về hoạt động cho thuê tài chính, cuốn sổ tay
"Lease Financing" của Cơ quan kiểm soát tiền tệ ("Office of the comptroller
of the currency") xuất bản vào tháng 8 năm 2014 [77] đã phân tích khá toàn diện những vấn đề pháp lý theo pháp luật Hoa Kỳ về cho thuê tài chính Đây
là tài liệu có giá trị tham khảo cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật của Việt Nam
Trong ấn phẩm "Commercial Law", Second Edition, Penguin Books,
England của tác giả Roy Goode (1995) [104] có chỉ ra vị trí của chế định cho thuê tài chính trong hệ thống pháp luật Anh Từ đó làm cơ sở cho việc nghiên cứu của luận án về lý luận pháp luật điều chỉnh cho thuê tài chính nói chung
Trang 28Ngoài ra, còn một số lượng lớn các công trình là các luận văn, bài viết có
liên quan đến cho thuê tài chính, trong đó tiêu biểu: Luận án "Finance leasing in
International trade" của Guojin Liu, luận án tiến sĩ luật, đại học Birmingham,
tháng 5 năm 2010 [93] Công trình này đã phân tích sâu sắc về bản chất, các nguyên tắc pháp luật và bình luận một số án lệ của Anh Quốc về các tranh
chấp cho thuê tài chính Luận văn "Xu hướng trong vài năm tới và những vấn
đề xung quanh giao dịch cho thuê tài chính" của Kinoshita Masatoshi, đăng
tải trong tuyển tập luận văn khoa sau đại học, trường Đại học Luật Hiroshima, năm 2014, 『ファイナンス・リース取引を巡る近年の動きと課題』, tiếng Nhật [121]
đã đưa ra những lập luận của Toà án Nhật Bản về bản chất, hậu quả khi chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính, hướng xử lý đối với từng trường hợp phá sản của các bên trong giao dịch cho thuê tài chính Đồng thời, công trình cũng chỉ
ra khuynh hướng phát triển thị trường cho thuê tài chính và một số những thay đổi của pháp luật liên quan đến hoạt động cho thuê tài chính
1.3.2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài về hợp đồng bán và thuê lại
Công trình "The handbook of equipment Leasing" của hai tác giả
Shawn D Hallayday và Sudhir P Amembal, do Publishers Press ấn hành năm
1995 [106] đã đưa ra khái niệm về "bán và thuê lại" bằng việc chỉ ra các bước nghiệp vụ bán và thuê lại, đồng thời phân tích một số lý do mà Bên bán - thuê lại lựa chọn hình thức này (lợi ích về thuế, tài chính, kinh tế)
Công trình "Sale-leasbacks Economics, Tax Aspects and Lease Terms"
chủ biên bởi Lewis R Kaster do Practing Law Institue ấn hành năm 1979 [98]
là một cuốn cẩm nang cho các nhà thực hành nghề luật về bán và thuê lại Tác phẩm là tập hợp các ý kiến thảo luận của các chuyên gia tại thành phố New York, trong đó tập trung làm sáng tỏ vấn đề: tại sao nên quyết định sử dụng bán và thuê lại hơn hình thức vay thế chấp, nội dung thỏa thuận bán và thuê lại, kỹ thuật kế toán
Trang 29Có thể thấy, mỗi nền tài phán trên thế giới đều có những đặc thù riêng nên dẫn đến sự khác nhau trong việc xây dựng pháp luật Thực tế, không thể có một mô hình pháp luật chung áp dụng cho tất cả các quốc gia trên thế giới Tuy
nhiên, trong ấn phẩm "Legislative guide on secured transactions" của Ủy ban
Liên hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế (Uncitral) xuất bản năm 2006 [112]
có phân loại bán và thuê lại vào các giao dịch bảo đảm để điểu chỉnh bằng các quy định liên quan đến giao dịch bảo đảm Điều này xuất phát từ quan điểm giao dịch bảo đảm là giao dịch trong đó có chứa "lợi ích bảo đảm" Tài liệu này sẽ là một nguồn tham khảo có giá trị, tuy nhiên khó có thể được chấp nhận ở Việt Nam vì sự khác biệt trong tư duy pháp lý về giao dịch bảo đảm Bởi nhà làm luật Việt Nam quan điểm rằng giao dịch bảo đảm là giao dịch có chứa một hoặc nhiều biện pháp bảo đảm được quy định trong luật
Bên cạnh những công trình là sách chuyên khảo, còn có một số lượng
lớn các bài viết tiêu biểu về bán và thuê lại Bài viết "Sale-leaseback: A
search for economic substance" của tác giả Stphan L Hodge đăng tải trên
Indian Law Journal, Vol.6 [107] đã đưa ra cách thức định nghĩa bán và thuê lại bằng việc mô tả kết cấu của giao dịch Tác giả W.S Miller, Jr trong bài
viết "Problems in the Sale and Lease-Back" của đăng tải trên Arkansas
Law Review, số 4 (1949-1950), trang 328-332 [119] tập trung phân tích những lợi ích và hạn chế của hình thức bán và thuê lại từ phương diện người
bán - thuê lại Công trình "Nghiên cứu những vụ việc cụ thể liên quan đến
giao dịch bán và cho thuê lại" của nhóm tác giả Kanda Tomohiro, Ishiyama
Ryoko, Kanada Ikue, Hashimoto Eri, Bannai Rie, YoshidaTomomi,
『セール・アンド・リースバック取引に関する事例研究』神田智弘・石山綾子・ 金田育恵・橋本絵里・坂内理恵・吉田朋美 , tiếng Nhật [122] cũng chỉ ra một cách chi tiết, cụ thể về những lợi ích của bán và thuê lại
Nhìn chung những thành tựu của các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có giá trị tham khảo cho Việt Nam, nhưng không mang tính áp đặt đối
Trang 30với Việt Nam về việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại
1.4 Những thành tựu nghiên cứu mà luận án kế thừa và những vấn đề cần nghiên cứu phát triển trong khuôn khổ luận án
1.4.1 Những thành tựu nghiên cứu mà luận án kế thừa
Từ tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy những thành tựu mà các công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước đã đạt được mà luận án kế thừa bao gồm:
(1) Khái niệm, bản chất, đặc điểm, vai trò và ý nghĩa của thuê hay cho thuê tài chính nói chung, cũng như của hợp đồng bán và thuê lại nói riêng; và kết cấu căn bản của một giao dịch cho thuê tài chính
(2) Những vấn đề lý luận chung về hợp đồng cho thuê tài chính bao gồm: phân loại hợp đồng cho thuê tài chính; chủ thể, đối tượng và những nội dung pháp lý của hợp đồng cho thuê tài chính
(3) Quy trình, thủ tục về bán và thuê lại
(4) Lý thuyết chung về các phương thức giải quyết tranh chấp
(5) Thực trạng thị trường cho thuê tài chính ở Việt Nam và sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật cho thuê tài chính
(6) Một số giải pháp liên quan đến tổ chức thi hành và áp dụng pháp luật; nâng cao nhận thức pháp luật cho thuê tài chính nói chung, hợp đồng bán
và thuê lại nói riêng…
1.4.2 Những vấn đề cần nghiên cứu phát triển trong khuôn khổ luận án
Trên cơ sở những thành tựu của các công trình nghiên cứu trong nước
và nước ngoài mà luận án kế thừa như đã phân tích ở trên, luận án tiếp tục nghiên cứu phát triển những vấn đề chủ yếu sau:
(1) Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng bán và thuê lại, giao kết, và hiệu lực của hợp đồng bán và thuê lại theo pháp luật Việt Nam
Trang 31(2) Vị trí chế định cho thuê tài chính (bao gồm cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại) trong hệ thống pháp luật
(3) Luận giải về việc áp dụng các biện pháp bảo đảm trong giao dịch cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại
(4) Cơ sở lý thuyết của đăng ký giao dịch bán và thuê lại, giá trị pháp
lý và hậu quả pháp lý của đăng ký giao dịch bán và thuê lại
(5) Lý luận về xử lý tài sản thuê trong các trường hợp: Bên cho thuê
bị phá sản; tài sản thuê là vật chứng trong vụ án hình sự
(6) Lý luận về việc mở rộng chủ thể và đối tượng của hợp đồng cho thuê tài chính
(7) Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam về thuê hay cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại
(8) Kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại ở Việt Nam hiện nay
1.5 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu đề tài luận án
Để tiến hành nghiên cứu nội dung đề tài này, luận án dựa trên các cơ
sở lý thuyết như sau: (1) học thuyết về tự do ý chí; (2) lý thuyết về hợp đồng; (3) lý thuyết về hành vi thương mại; (4) lý thuyết về tín dụng; (5) lý thuyết về cho thuê; (6) lý thuyết về tài trợ doanh nghiệp; (7) lý thuyết về biện pháp bảo đảm; (8) lý thuyết về quản lý rủi ro và bảo đảm an toàn của hệ thống tài chính tiền tệ quốc gia
Bán và thuê lại là một hợp đồng hay một hành vi thương mại thuộc lĩnh vực luật tư, do đó phải dựa trên các lý thuyết về tự do ý chí, hợp đồng Tuy nhiên, chế định cho thuê tài chính nói chung, bán và thuê lại nói riêng là những chế định nhằm cung cấp cho doanh nghiệp một khoản tín dụng bằng thiết bị và là một phương thức tài trợ vốn cho doanh nghiệp hoạt động do đó nghiên cứu đề tài này không thể bỏ qua các lý thuyết về hành vi thương mại, tín dụng, cho thuê tài sản, tài trợ doanh nghiệp, biện pháp bảo đảm và quản lý
Trang 321.6 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Luận án đã xác định các câu hỏi nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu tập trung vào ba nội dung lớn mà đề tài luận án cần nghiên cứu - đó là lý luận, thực trạng và kiến nghị liên quan tới vấn đề pháp luật về cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại ở Việt Nam
- Câu hỏi nghiên cứu chung: Ở Việt Nam hiện nay đã xây dựng được
một nền tảng lý luận về thuê hay cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại chưa? Những vấn đề lý luận tạo lập nên nền tảng đó là những
gì, và chúng như thế nào? Pháp luật về thuê hay cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại ở Việt Nam hiện nay có xuất phát từ các nguyên lý khách quan hay nền tảng lý luận thực sự hay không, có đáp ứng được nhu cầu của xã hội không, có những ưu điểm và hạn chế gì, và nguyên nhân của những hạn chế đó là những gì? Các định hướng và giải pháp nào có thể giúp hoàn thiện pháp luật về thuê hay cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại phù hợp với các nguyên lý khách quan hay nền tảng
lý luận và đáp ứng các nhu cầu thực tiễn của xã hội?
- Giả thuyết nghiên cứu chung: Ở Việt Nam vẫn chưa xây dựng được nền tảng lý luận hoàn chỉnh về thuê hay cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại Do đó, pháp luật điều chỉnh về vấn đề này có nhiều bất cập, không đáp ứng được đầy đủ và tốt nhất cho các nhu cầu của thực tiễn xã hội Tuy nhiên hiện vẫn chưa có các định hướng và giải pháp thích hợp để hoàn thiện pháp luật về thuê hay cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại nhằm đáp ứng đầy đủ và tốt nhất các nhu cầu thực tiễn của xã hội
Để trả lời các câu hỏi nghiên cứu chung và làm rõ giả thuyết nghiên cứu chung, Luận án phải trả lời các câu hỏi nghiên cứu cụ thể và làm rõ các giả thuyết nghiên cứu cụ thể trong các nội dung nghiên cứu cụ thể như sau:
+ Câu hỏi nghiên cứu cụ thể về lý luận: Nền tảng lý luận của hợp
đồng bán và thuê lại bao gồm những bộ phận cấu thành như thế nào? Nội
Trang 33dung chủ yếu của các bộ phận cấu thành nên nền tảng lý luận đó là những gì? Tính logic, tính hệ thống của những vấn đề lý luận trong đó được thể hiện như thế nào và xuất phát điểm của nó từ đâu?
Giả thuyết nghiên cứu cụ thể về lý luận: Hiện ở Việt Nam các nhà
nghiên cứu chưa nhìn nhận đầy đủ về các thành tố của nền tảng lý luận về hợp đồng bán và thuê lại, chưa làm rõ được các nội dung chủ yếu của các bộ phận cấu thành nên nền tảng lý luận đó, và chưa thấy rõ tính logic, tính hệ thống của những vấn đề lý luận này và chưa chỉ rõ xuất phát điểm của hệ thống
+ Câu hỏi nghiên cứu cụ thể về thực trạng pháp luật Việt Nam: Môi
trường pháp lý hiện tại có đảm bảo cho sự phát triển của loại hình thuê hay cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại hay không? Những khó khăn, vướng mắc hoặc bất cập của pháp luật và việc áp dụng pháp luật về thuê hay cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng cho thuê tài chính là gì
và bởi nguyên nhân gì?
Giả thuyết nghiên cứu cụ thể về thực trạng pháp luật Việt Nam: Môi
trường pháp lý của Việt Nam hiện nay vẫn chưa thực sự phù hợp đối với việc
sử dụng và phát triển hợp đồng bán và thuê lại Nguyên nhân những bất cập của các qui định pháp luật trong lĩnh vực này bao gồm cả nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan, nhưng chủ yếu là do chưa có một nền tảng
lý luận pháp luật vững chắc về cho thuê tài chính nói chung và hợp đồng bán
và thuê lại nói riêng
+ Câu hỏi nghiên cứu cụ thể về định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp
luật Việt Nam hiện nay: Tại sao cần thiết hoàn thiện chế định pháp luật hợp đồng
bán và thuê lại? Việc hoàn thiện chế định pháp luật này phải theo các định hướng nào để phù hợp với các nguyên lý khách quan và đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thực tiễn xã hội? Các giải pháp để hoàn thiện chế định này là những gì?
Giả thuyết nghiên cứu cụ thể về định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam hiện nay: Việc hoàn thiện chế định pháp luật hợp đồng
Trang 34nghiệp trong nền kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Các định hướng và giải pháp hoàn thiện phải phù hợp với các nguyên lý khách quan, đồng bộ với các chế định pháp luật khác trong hệ thống pháp luật và phù hợp với thực tiễn xã hội Việt Nam
1.7 Việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu
Từ việc xác định những câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu chung và cụ thể tại tiểu mục trên, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu để tiến hành nghiên cứu các vấn đề cụ thể như sau:
(1) Phương pháp mô tả
Phương pháp này được sử dụng chủ yếu để mô tả lại các quy định của pháp luật và các vụ việc, tranh chấp có liên quan, thông qua đó tái hiện lại thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam liên quan tới hoạt động bán và thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính, từ đó tìm ra các bất cập và nguyên nhân của những bất cập đó
(2) Phương pháp phân tích và tổng hợp
Phương pháp này được sử dụng để xử lý các số liệu thực tiễn Các kết quả phân tích sẽ được luận án sẽ tổng hợp lại nhằm tìm ra cái phổ biến và cái đặc thù liên quan tới đề tài luận án nhằm mô hình hóa quan hệ thực tiễn về thuê hay cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại
(3) Phương pháp phân loại và hệ thống hóa
Phương pháp này được sử dụng để nhóm họp các vấn đề lý luận hay thực tiễn liên quan tới hợp đồng bán và thuê lại thành những nhóm vấn đề cùng tính chất hay đặc điểm, và sắp xếp chúng trong một hệ thống dưới giác
độ lý luận để có cái nhìn toàn diện và bao quát về chúng
(4) Phương pháp trừu tượng hóa
Phương pháp này dùng để tìm kiếm bản chất hay cái chung của những hiện tượng thực tế và từ đó rút ra những vấn đề lý luận
(5) Phương pháp phân tích lịch sử
Trang 35Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển của thuê hay cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán
và thuê lại ở Việt Nam và trên thế giới, đồng thời rút ra các kinh nghiệm lịch
sử cần thiết
(6) Phương pháp giả thuyết
Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở Chương 1 và Chương 3 của luận án nhằm đưa ra các quan điểm cá nhân về thuê hay cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại để chứng minh cho các quan điểm đó nhằm làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn của loại hợp đồng này
(7) Phương pháp thống kê
Phương pháp này được sử dụng để sắp xếp các dữ liệu thực tiễn và đưa ra những bình luận liên quan đến nhu cầu sử dụng phương thức thuê hay cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại, từ đó đánh giá cơ
sở kinh tế, xã hội cho việc hoàn thiện pháp luật về cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại
(8) Phương pháp so sánh pháp luật
Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu những kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài về thuê tài chính nói chung và bán và thuê lại nói riêng Thông qua đó luận án tìm ra những giải pháp của pháp luật nước ngoài phù hợp với Việt Nam hiện nay góp phần cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam trên bình diện lập pháp và thực tiễn thi hành và áp dụng pháp luật
Kết luận Chương 1
Chương 1 đã đánh giá tình hình nghiên cứu ở trong nước và ở nước ngoài theo từng nhóm vấn đề nghiên cứu của đề tài, từ nhóm vấn đề lý luận chung về cho thuê tài chính, về hợp đồng bán và thuê lại tới nhóm vấn đề thực trạng pháp luật Việt Nam về hợp đồng bán và thuê lại và cuối cùng là nhóm kiến nghị liên quan đến hợp đồng bán và thuê lại Qua việc đánh giá này cho thấy, chưa có một công trình trong nước nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và
Trang 36đồng bán và thuê lại Ở Việt Nam hầu hết các công trình khoa học chưa làm
rõ đầy đủ các lý thuyết về khái niệm, đặc điểm của cho thuê tài chính và hợp đồng bán và thuê lại Việc nghiên cứu lý luận về vị trí chế định cho thuê tài chính trong hệ thống pháp luật; giao kết, thực hiện hợp đồng bán và thuê lại ở mức độ khá hạn chế Ngược lại, có khá nhiều công trình ở trong nước nghiên cứu về cách phân loại, kết cấu căn bản của giao dịch cho thuê tài chính và vai trò ý nghĩa của cho thuê tài chính Những thành tựu của các công trình này được luận án kế thừa và phát triển
Có thể khẳng định chưa có bất kỳ một công trình nước ngoài nghiên cứu pháp luật Việt Nam về cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại Tuy nhiên các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có giá trị lớn đối với luận án khi làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về khái niệm, bản chất của cho thuê tài chính và bán và thuê lại; về việc áp dụng các biện pháp bảo đảm đối với hợp đồng cho thuê tài chính
Từ tổng quan tình hình nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam về bán và thuê lại cho thấy các công trình nghiên cứu ở trong nước đã đưa ra một
số hạn chế có liên quan đến đề tài nhưng còn nhiều vướng mắc, bất cập chưa được làm rõ Chẳng hạn như những hạn chế về trình tự, thủ tục thu hồi xử lý tài sản trong trường hợp tài sản thuê là vật chứng của vụ án hình sự; bất cập của việc áp dụng biện pháp bảo đảm; phạm vi chủ thể và đối tượng của hợp đồng bán và thuê lại; nguyên tắc xác định giá của tài sản bán và thuê lại; phương thức xử lý khi hợp đồng bị chấm dứt trước thời hạn…
Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá các công trình ở trong nước nghiên cứu đề xuất kiến nghị liên quan đến hợp đồng bán và thuê lại, luận án có kế thừa những quan điểm về định hướng hoàn thiện pháp luật, những đánh giá về
cơ sở kinh tế của việc hoàn thiện và một số ý kiến lập pháp liên quan đến chủ thể, đối tượng của hợp đồng bán và thuê lại…Đặc biệt, luận án có tiếp thu khá nhiều thành tựu của các công trình nghiên cứu ở nước ngoài cho việc đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật của luận án
Trang 37Chương 2
LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ CHO THUÊ TÀI CHÍNH
THEO HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG BÁN VÀ THUÊ LẠI
2.1 Những vấn đề lý luận tổng quát về cho thuê tài chính
2.1.1 Khái niệm và bản chất của cho thuê tài chính
Thuê hay cho thuê (leasing) là hoạt động có lịch sử rất lâu đời trong nền văn minh nhân loại Mặc dù không thể xác định chính xác thời gian xuất hiện giao dịch thuê hay cho thuê đầu tiên, nhưng theo các thư tịch cổ, giao dịch thuê hay cho thuê đã xuất hiện vào khoảng 2000 năm trước Công nguyên tại thành phố Sumerian của người Ur [106, tr 4] Mãi cho đến đầu thế kỷ thứ XIX,
sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghiệp cho thuê Bởi không có một cá nhân hay
tổ chức kinh tế, hành chính nào có khả năng mua sắm đầy đủ các trang thiết bị sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng Thực tế, ngày nay cho thuê đã trở thành một công cụ tài chính quan trọng đối với nền kinh tế
Theo Roberto G Medina thì khái niệm "cho thuê" (leasing) được hiểu
là một hợp đồng được thương thảo giữa chủ sở hữu (người cho thuê) tài sản cho phép người thuê sử dụng tài sản trong một khoản thời hạn nhất định nhằm đổi lại một khoản tiền thuê nhất định [103, tr 235] Còn Bộ luật thương mại nhất thể (UCC) của Hoa Kỳ định nghĩa "cho thuê là việc chuyển giao quyền chiếm hữu và quyền sử dụng hàng hóa (goods) trong một thời gian để đổi lại một khoản tiền nhất định" [110, Section 2A-103(1)(j)] Cho thuê, thực tế, đã tách quyền sử dụng tài sản khỏi quyền sở hữu tài sản [99, tr 1]
Hiện nay, có rất nhiều hình thức cho thuê khác nhau Trong đó, thuê hay cho thuê tài chính (financial leasing) là một hình thức leasing, được sáng tạo ra đầu tiên ở Hoa Kỳ, bởi một công ty tư nhân có tên là United State Leasing Coporation nhằm mục đích đáp ứng những nhu cầu vốn trung và dài
Trang 38Như vậy, cho thuê tài chính được hiểu là một hành vi thương mại (cụ thể là hợp đồng thương mại) bởi các bên giao kết hợp đồng này đều là những thương nhân và nhằm mục tiêu lợi nhuận Tuy nhiên, bên cung cấp tài sản thuê thường là các tổ chức tín dụng hay các định chế tài chính, do đó pháp luật quy định về loại hành vi thương mại này có thể được tiếp cận ở hai giác
độ khác nhau: Thứ nhất, từ giác độ của bên chủ thể cung cấp tài sản thuê (vốn) cho bên thuê; thứ hai, từ giác độ mối quan hệ bình đẳng giữa các chủ
thể cùng biểu lộ ý chí để nhằm tới một hậu quả pháp lý nhất định (hợp đồng) Nếu tiếp cận từ giác độ thứ nhất người ta có thể xếp thuê hay cho thuê tài chính nói chung và hợp đồng bán và thuê lại nói riêng vào lĩnh vực của pháp luật tài chính, ngân hàng vì coi tổ chức tín dụng hay định chế tài chính cấp một khoản tín dụng cho bên đi thuê Nếu tiếp cận từ giác độ thứ hai thì cho thuê tài chính nói chung hay hợp đồng bán và thuê lại nói riêng đơn thuần là một hành vi thương mại và được xếp vào luật thương mại
Tác giả luận án cho rằng: đã là quan hệ hợp đồng thì đều phải tuân thủ hay bị chi phối bởi nguyên tắc bình đẳng giữa các bên trong quan hệ hợp đồng; các bên trong quan hệ hợp đồng thuê hay cho thuê tài chính nói chung hay hợp đồng bán và thuê lại nói riêng đều là những thương nhân tìm kiếm lợi nhuận bằng cách bên cho thuê tài chính cung cấp một dịch vụ tài chính cho bên đi thuê thay vì nhận được một khoản tiền thuê từ bên đi thuê Vì vậy, luận
án tiếp cận các nội dung nghiên cứu chủ yếu từ giác độ xem hợp đồng thuê hay cho thuê tài chính, cũng như hợp đồng bán và thuê lại là một loại hành vi thương mại Tuy nhiên, thuê hay cho thuê tài chính nói chung và hợp đồng bán và thuê lại nói riêng không thể tách rời các quy chế liên quan tới cấp tín dụng
Về mặt kinh tế, cho thuê tài chính được định nghĩa là một phương thức tài trợ ("financing technique") đối với việc đầu tư từ trung hạn đến dài hạn, trong đó bên cho thuê chuyển trực tiếp tài sản cho bên thuê sử dụng và hưởng
Trang 39hoa lợi từ tài sản đó thay vì chuyển một khoản tiền để mua tài sản [113, tr 17] Nói cách khác, cho thuê tài chính được hiểu là công cụ tài chính với mục đích tài trợ đầu tư dưới hình thức tài sản để thu lợi nhuận, trong đó bên cho thuê sẽ mua tài sản theo yêu cầu của bên thuê và chuyển thẳng tài sản đến bên thuê Bên thuê sử dụng và hưởng hoa lợi từ tài sản thuê cho hoạt động của mình và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn đã thỏa thuận
Về mặt pháp lý, có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về cho thuê tài chính Có lẽ, các học giả khi nghiên cứu định nghĩa về cho thuê tài chính thường viện dẫn các quy định tại Điều 2A của Bộ luật thương mại nhất thể Hoa Kỳ (UCC) bởi Hoa Kỳ không chỉ là nước có ngành cho thuê phát triển,
mà nó chính là "cái nôi" của ngành cho thuê tài chính hiện đại Điều luật này định nghĩa cho thuê tài chính là: "cho thuê mà trong đó: (i) bên cho thuê không lựa chọn nhà sản xuất, hoặc nhà cung cấp hàng hóa; (ii) bên cho thuê xác lập quyền sở hữu đối với hàng hóa hoặc quyền chiếm hữu và sử dụng hàng hóa theo hợp đồng cho thuê; và (iii) một trong các sự kiện sau xuất hiện: (A) bên thuê nhận một bản sao hợp đồng theo đó bên cho thuê xác lập quyền
sở hữu đối với hàng hóa hoặc quyền chiếm hữu và sử dụng hàng hóa trước khi ký hợp đồng thuê; (B) sự chấp thuận của bên thuê đối với hợp đồng theo
đó bên cho thuê xác lập quyền sở hữu đối với hàng hóa hoặc quyền chiếm hữu và sử dụng hàng hóa là điều kiện để hợp đồng thuê có hiệu lực; (C) bên thuê, trước khi ký hợp đồng thuê, nhận được một văn bản đầy đủ và chính xác trong đó quy định rõ các cam kết và điều kiện bảo hành, và bất kỳ điều kiện
từ chối bảo hành nào, các giới hạn hoặc sửa đổi đối với các chế tài/bồi thường, hoặc bồi thường theo thỏa thuận, bao gồm các cam kết và điều kiện của bên thứ ba, ví dụ như nhà sản xuất hàng hóa, áp dụng đối với bên cho thuê thông qua nhà cung cấp hàng hóa theo hợp đồng hoặc là một phần trong hợp đồng qua đó bên cho thuê xác lập quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu và
Trang 40thương mại, bên cho thuê, trước khi bên thuê ký kết hợp đồng thuê, phải thông báo cho bên thuê bằng văn bản về (a) thông tin cá nhân của nhà cung cấp hàng hóa cho bên cho thuê, trừ khi bên thuê là người đã lựa chọn nhà cung cấp
đó và yêu cầu bên cho thuê xác lập quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu và sử dụng đối với hàng hóa từ nhà cung cấp đó, (b) rằng bên thuê được hưởng các cam kết và bảo hành theo Điều này, bao gồm cả các cam kết và bảo hành của bên thứ ba áp dụng đối với bên cho thuê thông qua nhà cung cấp hàng hóa theo hợp đồng hoặc là một phần của hợp đồng theo đó bên cho thuê xác lập quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu và sử dụng đối với hàng hóa, và (c) rằng bên thuê có thể sẽ liên hệ với nhà cung cấp hàng hóa cho bên cho thuê và văn bản chính xác và đầy đủ về cam kết và điều kiện bảo hành đó, bao gồm bất kỳ (tuyên bố) miễn trừ trách nhiệm và các giới hạn của các cam kết và bảo hành
đó hoặc của các chế tài/bồi thường (sẽ áp dụng)" [110, Điều 2A-103, Phần 1]
Như vậy, cho thuê tài chính theo pháp luật Hoa Kỳ là một hình thức cho thuê Tuy nhiên không giống với cho thuê thông thường, bản chất trong cho thuê tài chính bên thuê, thay vì bên cho thuê, phải có sự liên hệ với thiết bị cho thuê, cụ thể là phải liên quan đến việc lựa chọn nhà sản xuất, nhà cung cấp hoặc
là chủ sở hữu trước đó của tài sản (prior ownership), và bên thuê cũng nên được thông báo về nội dung của hợp đồng cung ứng thiết bị Điều 2A đã tách bên cho thuê khỏi vai trò chủ động liên quan đến việc cung cấp tài sản, và do
đó giải phóng bên cho thuê khỏi những nghĩa vụ phát sinh từ việc cho thuê thông thường đồng thời cũng trao cho bên thuê được hưởng các điều kiện bảo hành từ nhà cung cấp [93, tr 30] Có thể thấy, theo quan điểm này thì điểm mấu chốt của cho thuê tài chính là việc cho thuê mà trong đó Bên thuê lựa chọn tài sản thuê và nhà cung cấp tài sản Có lẽ vì vậy các quyền và nghĩa vụ kéo theo của bên cho thuê và của bên thuê trong hợp đồng cho thuê tài chính có sự khác biệt với quyền và nghĩa vụ của họ trong hợp đồng cho thuê truyền thống