Qua tìm hiểu có thể kể đến một số công trình và bài viết nghiên cứu có liên quan phần nào đến DNTN, hợp đồng mua bán doanh nghiệp sau đây: Thứ nhất, với các công trình luận án, Luận văn,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGÔ THỊ HƯỜNG
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN
DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGÔ THỊ HƯỜNG
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN
DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số : 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGÔ HUY CƯƠNG
Hà nội – 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành đề tài Luận văn Thạc sĩ, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự hướng dẫn , giúp đỡ quý báu của các thầy cô , gia đình, đồng nghiệp và bạn bè trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện Luận văn Thạc sĩ
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn tới Ban chủ nhiệm, Phòng đào tạo sau đại học, Bộ môn Luật Kinh doanh Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiê ̣n thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Đặc biệt, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin gửi lời cảm ơn chân
thành đến TS Ngô Huy Cương, người thầy kính mến đã hết lòng giúp đỡ , động
viên và tạo mọi điều kiê ̣n thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn Xin gửi lời tri ân nhất của tôi đối với những điều mà thầy đã dành cho tôi
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể các thầy cô trong Khoa luật – Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và quá trình thực hiện đề tài luận văn này
Xin gửi lời cảm ơn tới gia đình , đồng nghiệp và bạn bè đã luôn ở bên cạnh động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập , làm việc và hoàn thành luận văn
Tác giả Luận văn
Ngô Thị Hường
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo
vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả Luận văn
Ngô Thị Hường
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 KHÁI LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 7
1.1 Tổng quan về Doanh nghiệp tư nhân 7
1.1.1 Lịch sử phát triển của Doanh nghiệp tư nhân 7
1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của Doanh nghiệp tư nhân 10
1.1.3 Khái niệm Doanh nghiệp tư nhân 15
1.1.4 Đặc trưng pháp lý của Doanh nghiệp tư nhân 21
1.2 Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân 26
1.2.1 Khái niệm và bản chất pháp lý của Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân 26
1.2.2 Pháp luật điều chỉnh Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân 32
1.2.3 Hình thức của Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân 34
1.2.4 Đối tượng của Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân 36
1.2.5 Chủ thể trong Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân 41
1.2.6 Nội dung cơ bản của Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân 46
1.2.7 Vi phạm Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân và các chế tài 49
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 56
2.1 Cấu trúc và nguồn pháp luật Việt Nam về Doanh nghiệp tư nhân và Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân 56
2.2 Thực trạng pháp luật Việt Nam về hình thức của Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân 62
Trang 62.3 Thực trạng pháp luật Việt Nam về đối tượng của Hợp đồng mua bán Doanh
nghiệp tư nhân 71
2.4 Thực trạng pháp luật Việt Nam về chủ thể của Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân 80
2.5 Thực trạng pháp luật Việt Nam về nội dung cơ bản của Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân 84
2.6 Thực trạng pháp luật Việt Nam về vi phạm nghĩa vụ Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân và các chế tài 86
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 105
3.1 Những định hướng cơ bản 105
3.1.1 Chỉnh sửa và xây dựng những quy phạm pháp luật có tính chặt chẽ và phù hợp trên cơ sở rà soát và nghiên cứu thực trạng mua bán Doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam 105
3.1.2 Đảm bảo tính đồng bộ trong hệ thống các văn bản pháp luật 106
3.1.3 Đảm bảo sự quản lý, điều phối của cơ quan quản lý nhà nước 107
3.2 Một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân 108
3.2.1 Về cách tiếp cận doanh nghiệp tư nhân 108
3.2.2 Về hình thức của Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân 108
3.2.3 Về đối tượng của Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân 109
3.2.4 Về chủ thể của Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân 109
3.2.5 Về nội dung cơ bản của Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân 111
3.2.6 Về vấn đề lao động trong Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân 112
3.2.7 Về vi phạm nghĩa vụ hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân và các chế tài 113
3.2.8 Về lựa chọn luật áp dụng 114
KẾT LUẬN 116
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
PHỤ LỤC 01 - CÁC BẢNG SỐ LIỆU Error! Bookmark not defined.
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CT TNHH : Công ty Trách nhiệm Hữu hạn
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 01: Số lượng doanh nghiệp đang hoạt động phân theo loại hình
Bảng 02: Vốn sản xuất kinh doanh bình quân hàng năm của doanh nghiệp phân theo loại hình doanh nghiệp (Tỷ đồng)
Bảng 03: Tổng số lao động trong các doanh nghiệp phân theo loại hình (người)
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã mở ra cho các Doanh nghiệp trong nước nhiều cơ hội đầu tư, kinh doanh nhưng cũng đem lại không ít những khó khăn, thách thức trong việc cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài có quy mô và tiềm năng về vốn, về kỹ thuật, về năng lực quản lý Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ, hoặc những doanh nghiệp quản trị kém không thể tiếp tục “chèo lái” con thuyền của mình đã phải bán doanh nghiệp hoặc bán phần vốn góp của mình trong công ty hay sáp nhập vào công ty khác Điều đó đồng nghĩa với việc, có những doanh nghiệp sẽ ngày một mạnh lên nhờ công nghệ, nhờ quản trị, nhờ sản phẩm chiến lược…và sẽ luôn tìm kiếm cơ hội mở rộng hoạt động kinh doanh của mình Ngược lại, có những doanh nghiệp ngày một suy kém
và buộc phải rút lui khỏi thị trường Một trong những hình thức tương đối hữu hiệu
mà các doanh nghiệp mạnh thường nghĩ đến là mua lại các công ty khác đang “hấp hối” để tranh thủ những nguồn lực sẵn có của công ty này (như nguồn nhân công rẻ, tay nghề tốt hay mạng lưới cung cấp khách hàng tiềm năng hay thương hiệu hàng hóa sẵn có…) Tương lai gần, việc mua bán doanh nghiệp hay chuyển nhượng vốn góp sẽ ngày càng phát triển và trở thành xu hướng tất yếu của thị trường
Trong bức tranh chung về mua bán doanh nghiệp, thì có lẽ vấn đề mua bán doanh nghiệp tư nhân (doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình) là vấn đề đầu tiên được pháp luật ghi nhận chính thức tại Luật Doanh nghiệp Tư nhân được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1990
(“Luật Doanh nghiệp Tư nhân 1990”) Lần đầu tiên pháp luật ghi nhận quyền bán
doanh nghiệp tư nhân của chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân Tuy nhiên, từ đó đến nay khung pháp lý điều chỉnh hoạt động này còn hạn chế, chưa nêu bật được bản chất mua bán doanh nghiệp tư nhân, sự khác biệt của hoạt động mua bán doanh nghiệp tư nhân với các hoạt động mua bán doanh nghiệp khác Luật Doanh nghiệp
Tư nhân 1990 và Luật Doanh nghiệp số 13/1999/QH10 được Quốc hội nước Cộng
Trang 11hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 12 tháng 6
năm 1999 (“Luật Doanh nghiệp 1999”) ra đời đã công nhận sự tồn tại và phát triển
lâu dài của kinh tế tư nhân, công nhận sự bình đẳng của DNTN với những loại hình doanh nghiệp khác Điều đó góp phần thúc đẩy sự tồn tại, phát triển của DNTN cũng như góp một phần đáng kể cho nền kinh tế nước nhà trong những thập kỷ vừa qua Trong đó, hoạt động mua bán DNTN chiếm một vị trí không nhỏ
Như vậy, bên cạnh góc độ kinh tế, góc độ pháp lý của việc mua bán doanh nghiệp nói chung và mua bán doanh nghiệp tư nhân nói riêng là vấn đề mà nhà nước Việt Nam cần quan tâm, nghiên cứu sâu hơn nữa để có thể xây dựng một khung pháp lý phù hợp, đảm bảo cho các giao dịch mua bán doanh nghiệp diễn ra đúng trình tự pháp lý, có sự quản lý của nhà nước, đảm bảo sự bình ổn trong nền kinh tế đất nước, tránh lũng đoạn thị trường cũng như bảo vệ quyền lợi của các chủ thể (bên mua và bên bán) trong các giao dịch
Từ những lý luận và thực tế trên, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài “Pháp
luật Việt Nam về Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân” làm đề tài nghiên
cứu thạc sĩ của mình nhằm tiếp cận, phân tích và giải quyết những vấn đề có liên quan trực tiếp đến hợp đồng mua bán DNTN
2 Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian gần đây, cùng với sự gia tăng của các giao dịch mua bán doanh nghiệp, số lượng các bài nghiên cứu cũng tăng lên Qua tìm hiểu có thể kể đến một số công trình và bài viết nghiên cứu có liên quan phần nào đến DNTN, hợp đồng mua bán doanh nghiệp sau đây:
Thứ nhất, với các công trình luận án, Luận văn, có thể kể đến một số công
trình nghiên cứu sau:
Luận án Tiến sỹ Luật Học (2000) của Phạm Quý Tỵ bàn về “Nhà nước quản
lý bằng pháp luật đối với Doanh nghiệp tư nhân và Công ty trách nhiệm hữu hạn”;
Luận án Tiến sỹ Luật học (2003) của Phạm Trí Tuệ bàn về “Địa vị pháp lý
của Doanh nghiệp tư nhân”;
Trang 12Luận án Tiến sỹ - chuyên ngành Kinh tế quản lý và kế hoạch hóa kinh tế
quốc dân (2003) của Lê Anh Dũng bàn về vấn đề “Đổi mới cơ chế quản lý của nhà
nước đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Thành phố Hồ Chí Minh”;
Luận văn Thạc sĩ của Mai Vân Anh (2009) bàn về “Hợp đồng mua bán
Doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam”
Thứ hai, với các sách chuyên khảo, các bài viết tạp chí (báo) Việt Nam và
Quốc tế, có thể kể đến một số tài liệu sau:
Sách của tác giả Corinne Renault – Brahinsky, người dịch Trần Đức Sơn,
Nhà pháp luật Việt Pháp, Nhà xuất bản Gualino (2002), nghiên cứu về “Đại cương
pháp luật hợp đồng”;
Sách của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa (2004), Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
Hà Nội với tựa đề “Chuyên khảo luật kinh tế”;
Sách của LS.TS Nguyễn Thanh Bình (chủ biên), Nhà xuất bản Thống Kê
(2008), nghiên cứu về “Nghiệp vụ của Luật sư về Tư vấn pháp luật và Tư vấn Hợp
đồng”;
Bài viết của ThS Bùi Xuân Hải (2008), “Vài nét về các loại hình công ty
theo Luật Công ty của Úc”;
Bài viết của tác giả Trần Thị Bảo Ánh bàn về “Thực trạng pháp luật Việt
Nam về mua bán doanh nghiệp”, Tạp chí Luật học số 05/2008;
Bài viết của TS Ngô Huy Cương (2010), "Vài bình luận về pháp luật doanh
nghiệp tư nhân", Tạp chí Khoa học ĐHQGHN - Luật học, số (26);
Bài viết của Vũ Quốc Tuấn (2010) được đăng trên Báo Doanh nhân Sài Gòn
cuối tuần bàn về vấn đề “Tại sao Doanh nghiệp tư nhân chậm phát triển”;
Bài viết của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Oanh (2010) bàn về “Sự điều chỉnh
pháp luật về thị trường mua bán, sáp nhập doanh nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam”;
Bài viết của ThS Nguyễn Trí Thanh – Đại Học Hitotsubashi – Nhật bản &
ThS Bùi Anh Tuấn – Đại học tổng hợp Columbia, Hoa Kỳ bàn về “Các bước trong
Trang 13quy trình mua doanh nghiệp”, ngày đăng 16/01/2011, Trang Thông tin Pháp luật
Dân sự - cổng thông tin chuyên ngành dân sự;
Nhìn chung những công trình, bài nghiên cứu trên mới chỉ đề cập đến tổng quan về hoạt động mua bán doanh nghiệp nói chung như lịch sử ra đời và phát triển hoạt động mua bán doanh nghiệp trên thế giới và tại Việt Nam, khái niệm, vai trò,
ý nghĩa của hoạt động mua bán doanh nghiệp hoặc chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu những đặc trưng pháp lý của DNTN mà chưa đi vào phân tích cụ thể những vấn đề pháp lý liên quan đến hợp đồng mua bán DNTN Do vậy, có thể nói hiện nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách sâu sắc đầy đủ chi tiết về hợp đồng mua bán DNTN theo pháp luật Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là nhằm làm sáng tỏ các vấn đề lý luận
và đặc trưng pháp lý của hợp đồng mua bán DNTN; đánh giá và phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về hợp đồng mua bán DNTN trên cơ sở đối chiếu, so sánh với pháp luật các nước; trên cơ sở đó, đề xuất những kiến nghị, giải pháp để góp phần xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán DNTN
Để đạt được những mục tiêu trên, Luận văn có những nhiệm vụ nghiên cứu
sau: (i) Thứ nhất, nghiên cứu đặc trưng pháp lý của loại hình DNTN và những vấn
đề lý luận về hợp đồng mua bán DNTN; (ii) Nghiên cứu, phân tích những quy định pháp luật hiện hành về hợp đồng mua bán DNTN; (iii) Đánh giá, bình luận về những ưu điểm, hạn chế của quy định pháp luật hiện hành về hợp đồng mua bán DNTN; (iv) Đưa ra những kiến nghị cụ thể góp phần khắc phục những hạn chế, thiếu sót và hoàn thiện hành lang pháp lý liên quan đến hợp đồng mua bán doanh nghiệp nói chung và mua bán doanh nghiệp tư nhân nói riêng
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là những vấn đề lý luận về hợp đồng
mua bán DNTN và thực trạng pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán DNTN
Trang 14Phạm vi nghiên cứu của Luận văn là Luận văn tiến hành nghiên cứu thực
trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về việc mua bán DNTN (có sự đối chiếu, so sánh với một số quy định của pháp luật Việt Nam từ năm 1990 trở lại đây) Ngoài
ra, DNTN được đề cập tại Luận văn chính là DNTN theo nghĩa hẹp, tức một loại hình doanh nghiệp được quy định tại Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông
qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 (“Luật Doanh nghiệp 2005”), là DNTN do một cá
nhân làm chủ và chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình Luận văn không nghiên cứu DNTN theo nghĩa rộng, tức không nghiên cứu toàn bộ các loại
hình doanh nghiệp có nguồn vốn đầu tư từ tư nhân
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình hoàn thiện Luận văn, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: (i) phương pháp duy vật biện chứng, phân tích lịch sử, phân tích, tổng hợp, mô hình hóa, điển hình hóa để phân tích lý giải, lập luận những vấn đề
lý luận và thực trạng pháp luật về hợp đồng mua bán DNTN; (ii) Phương pháp so sánh để so sánh những sự khác nhau giữa hợp đồng mua bán tài sản của doanh nghiệp và hợp đồng mua bán DNTN, sự khác biệt của hợp đồng mua bán DNTN với hợp đồng mua bán các loại hình doanh nghiệp khác, so sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật một số nước trên thế giới…; và (iii) các phương pháp nghiên cứu riêng của khoa học pháp lý như: phân tích qui phạm, phân tích hệ thống, công thức hóa qui tắc pháp lý
6 Đóng góp mới về mặt khoa học của Luận văn
Thứ nhất, đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên nghiên cứu một
cách hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về hợp đồng mua bán DNTN trên
cơ sở nghiên cứu những đặc trưng cơ bản của DNTN và hệ thống các vấn đề pháp
lý có liên quan đến Hợp đồng mua bán DNTN
Thứ hai, trên cơ sở khảo sát, phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về hợp
đồng mua bán DNTN, đã xây dựng được những định hướng và giải pháp mang tính
Trang 15đặc thù để khắc phục những hạn chế, thiếu sót của pháp luật hiện thời về hợp đồng mua bán DNTN
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
Thứ nhất, Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách bao quát, có
hệ thống lý luận pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán DNTN
Thứ hai, Luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề pháp lý cơ bản về hợp
đồng mua bán DNTN tại Việt Nam và đánh giá một cách tương đối có hệ thống thực trạng pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán DNTNi
Thứ ba, Luận văn, trong phần kiến nghị những định hướng và giải pháp hoàn
thiện, đã đưa ra được những định hướng và giải pháp cụ thể nhằm góp phần xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán DNTN nói riêng và mua bán doanh nghiệp nói chung cũng như góp phần cung cấp những nền tảng pháp
lý cho các chủ thể khi tìm hiểu hay tham gia vào hoạt động mua bán DNTN tại Việt Nam
8 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, Mục lục, Luận văn chia ra thành 3 chương như sau:
Chương 1: Khái luận về Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân
Chương 3: Định hướng và các kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về
Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân
Trang 16CHƯƠNG 1 KHÁI LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 1.1 Tổng quan về Doanh nghiệp tư nhân
1.1.1 Lịch sử phát triển của Doanh nghiệp tư nhân
Sự phát triển của DNTN cần được nhìn nhận, đánh giá dưới lăng kính tổng quan của nền kinh tế tư nhân nói chung, của các doanh nghiệp thuộc khối tư nhân nói riêng Vì vậy, trong phạm vi phần lịch sử phát triển này, thuật ngữ DNTN được dùng để chỉ DNTN nói riêng và chỉ các loại hình doanh nghiệp thuộc khối tư nhân nói chung
DNTN ở Việt Nam trước thời kỳ Đổi mới
Trong bản Tuyên ngôn độc lập (1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên án một trong những tội ác của thực dân khi chúng cai trị nước ta là: “chúng không cho các nhà tư sản của nước ta ngóc đầu lên” Do đó, khi Việt Nam bước vào thời kỳ chống thực dân Pháp với khẩu hiệu “Toàn dân kháng chiến”, Người đã kêu gọi những người giàu góp vốn để mở công ty kinh doanh công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, tài chính, giao thông để tịch thu một cách vô điều kiện các cơ sở sản xuất tư nhân Hưởng ứng lời kêu gọi đó, nhiều thương nhân Việt Nam giàu lòng yêu nước
đã đóng góp xứng đáng vào cuộc kháng chiến trường kỳ 1945-1954
Đến năm 1954, hòa bình lập lại ở Miền Bắc Việt Nam và bước vào công cuộc xây dựng lại đất nước, trong khi Miền Nam Việt Nam vẫn còn dưới chế độ Mỹ
- Diệm Với khẩu hiệu “xây dựng chủ nghĩa xã hội”, tất cả tài sản của các thành phần kinh tế như: kinh tế cá thể người lao động ở nông thôn, các DNTN, hộ sản xuất thủ công, hay của các DNTN nhỏ đều bị chuyển đổi thành tài sản của nhà nước Cải cách ruộng đất ở nông thôn được nhìn nhận như một sai lầm trong phát triển kinh tế của Việt Nam
Vào thời kỳ đó, ở Miền Bắc có 3.065 DNTN với tổng số vốn gần 22 triệu USD Hình thức chủ yếu của các DNTN là DNTN một chủ hoặc một số ít là DNTN hợp danh, các hình thức doanh nghiệp khác như: Công ty TNHH, CTCP chưa xuất hiện
Trang 17Trong vòng 6 năm, toàn bộ sở hữu tư nhân trong các doanh nghiệp bị quy thành sở hữu nhà nước khu vực kinh tế tư nhân gần như bị tiêu diệt hoàn toàn Nền kinh tế Việt Nam (Miền Bắc) chỉ còn hai thành phần chủ yếu là Kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, một phần nhỏ là kinh tế cá thể Hiện trạng này giống như Trung Quốc trước Cải cách mở cửa
Sau 1975, đất nước thống nhất, chính sách quốc hữu hóa tài sản của khu vực kinh tế tư nhân lại được áp dụng ở Miền Nam Gần như toàn bộ tài sản của 22.456 DNTN với giá trị khoảng 800 triệu USD đã trở thành sở hữu nhà nước Các DNTN
bị liệt vào thành phần phi xã hội chủ nghĩa và không được phép tồn tại Cũng như ở Trung Quốc, Doanh nghiệp ở Miền Bắc Việt Nam bị phân biệt đối xử, thậm chí còn
bị coi là thành phần phản cách mạng Nền kinh tế Việt Nam đến giữa những năm
1980 ngày càng trì trệ, lạc hậu Một đất nước nông nghiệp với điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi và người dân cần cù, sáng tạo nhưng liên tục thiếu đói, phải trông chờ viện trợ lương thực từ các nước xã hội chủ nghĩa ở Châu Âu
Năm 1986 là năm đánh dấu một thời kỳ mới – thời kỳ Đổi mới – bằng việc Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VI lần đầu tiên khẳng định cần xây dựng một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần cho dù nền kinh tế hàng hóa đó vẫn phải theo chế độ sở hữu chung về tư liệu sản xuất Thời kỳ này đánh dấu bước ngoặt cho các DNTN có cơ hội phát triển trở lại
Sự phát triển của DNTN ở Việt Nam từ 1986 đến 1990
Bước đầu nền kinh tế Việt Nam nổi lên với nền kinh tế hộ cá thể (năm 1990
số hộ kinh doanh cá thể lên đến khoảng 840 hộ) [2], những điều kiện phát triển kinh
tế tư nhân thoát khỏi phạm vi kinh tế hộ cá thể gần như chưa có Các hộ sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp này vẫn phải hoạt động “ngầm” và chủ hộ vẫn bị kỳ thị, vẫn bị coi là “con buôn” Đây thực sự mới chỉ là giai đoạn chuẩn bị cho sự ra đời của DNTN
Sự phát triển của DNTN ở Việt Nam từ 1991 đến 1999
Kinh tế hộ đứng trước đòi hỏi bức thiết về mở rộng quy mô, ngành nghề sản xuất kinh doanh, muốn thoát khỏi cảnh hoạt động ngầm cũng như được pháp luật và
Trang 18xã hội chính thức thừa nhận Điều này phù hợp với đòi hỏi khách quan Do đó, Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam toàn quốc lần VII (1991) đã chính thức thừa nhận nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường nhưng có định hướng xã hội chủ nghĩa
Tiếp theo đó, tháng 12/1990, Luật Doanh nghiệp Tư nhân được Đảng và nhà nước chính thức thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 15/4/1991 Đây là bước ngoặt hết sức quan trọng cho DNTN bởi Luật Doanh nghiệp Tư nhân 1990 chính thức đặt nền tảng pháp lý cho DNTN Việt Nam DNTN và sở hữu tư nhân được chính thức được pháp luật thừa nhận và bảo hộ Luật Doanh nghiệp Tư nhân 1990
có tác dụng như một luồng gió mới, phá vỡ những rào cản vô hình (từ trong nhận thức) và hữu hình (qua những quy định, quy phạm) trước đây đã từng trói buộc kinh
tế tư nhân Giai đoạn 10 năm 1990-1999 có thể coi là giai đoạn khai sinh ra DNTN
Sự phát triển của DNTN ở Việt Nam từ 2000 đến nay
Sau nhiều lần soạn thảo, tháng 5/1999, Luật Doanh nghiệp ra đời và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2000 Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp 1999 là bước đợt phá cả về tư duy lẫn kỹ năng quản lý đối với khối kinh tế tư nhân Do yêu cầu của kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế nên các doanh nghiệp tư nhân của nước
ta đã gia tăng nhanh chóng Có thể tham khảo con số thống kê do Tổng cục thống
kê Việt Nam tổng hợp tại ấn phẩm “Doanh nghiệp Việt Nam 9 năm đầu thế kỷ 21”, NXB Thống kê, 2010 như sau: trong năm 2000 có 20.548 DNTN được thành lập; năm 2001 có 22.777 DNTN; năm 2002 có 24.794 DNTN; năm 2003 có 25.653 DNTN; năm 2004 có 29.980 DNTN; năm 2008 đã tăng lên 46.530 DNTN Cho đến nay, với cơ chế mở cửa, chính sách hội nhập quốc tế và sự phát triển đa dạng các loại hình doanh nghiệp cho thương nhân lựa chọn, loại hình DNTN dù không tiếp tục phát triển rầm rộ như những năm trước, nhưng xu hướng mua bán DNTN vẫn tồn tại phát triển Do đó, cùng với quá trình này, việc bổ sung, sửa đổi và ban hành các quy định mới về doanh nghiệp tư nhân cũng được dần hoàn chỉnh
Trang 191.1.2 Vai trò và ý nghĩa của Doanh nghiệp tư nhân
1.1.2.1 Doanh nghiệp tư nhân - quy luật phát triển tất yếu của kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam
Giai đoạn 1986-1990 khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam chủ yếu mới xuất hiện dưới hình thức kinh tế hộ gia đình và còn chịu nhiều ràng buộc Các hộ sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp vẫn chưa được xã hội chấp nhận, vẫn hoạt động
“ngầm” là chủ yếu và chủ hộ vẫn còn bị kỳ thị, coi là “con buôn”
Sang đến giai đoạn 1991-1999, kinh tế hộ gia đình nhất là hộ công thương nghiệp kinh doanh cá thể đứng trước đòi hỏi bức thiết về mở rộng quy mô, ngành nghề sản xuất kinh doanh đồng thời thoát khỏi cảnh hoạt động “ngầm”, muốn được luật pháp chính thức thừa nhận Điều này phù hợp với xu thế tất yếu khách quan là phải giải phóng sức sản xuất
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần VII (1991) đã chính thức coi phát triển nền kinh tế hàng hóa đa thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa là chủ trương trong cả thời kì quá độ lên Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Chủ trương của Đảng được thể chế hóa thông qua việc ban hành Luật Doanh nghiệp Tư nhân 1990 và được sửa đổi bổ sung vào năm 1994 Đây là bước ngoặt quan trọng mở ra một thời kỳ mới cho DNTN DNTN và sở hữu tư nhân chính thức được pháp luật công nhận và bảo hộ
Tuy nhiên, việc phát triển nhanh chóng của kinh tế hộ và đặc biệt của các DNTN về quy mô và số lượng đã làm bộc lộ nhiều hạn chế của Luật Doanh nghiệp
Tư nhân 1990 Vì vậy, sau nhiều lần soạn thảo, Quốc Hội đã thông qua Luật Doanh nghiệp mới vào tháng 6/1999
Từ năm 2000 – 2005: từ sau khi Luật Doanh nghiệp 1999 ra đời, kinh tế tư nhân nói chung và DNTN nói riêng, một lần nữa, tiếp tục khẳng định những đóng góp và vai trò to lớn của mình đối với sự phát triển của kinh tế đất nước, cùng với
sự kiện Việt Nam chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương Mại Thế Giới (WTO), Đảng
và Nhà nước nhận thấy cần có sự bình đẳng hơn đối với tất cả các thành phần kinh
Trang 20tế Do đó, năm 2005, sự kiện Luật Doanh nghiệp thống nhất (sự thống nhất tất cả các loại hình doanh nghiệp vào chung một luật: Doanh nghiệp nhà nước – trước chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp Nhà nước được Quốc hội nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá IX, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 20 tháng 04 năm
1995 (“Luật Doanh nghiệp Nhà nước 2003"), DNTN – trước chịu sự điều chỉnh
của Luật Doanh nghiệp Tư nhân 1990, Doanh nghiệp ngoài quốc doanh – trước chịu
sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp 1999, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp FDI) – trước chịu sự điều chỉnh của Luật Đầu tư Nước ngoài tại Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX,
kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 12 tháng 11 năm 1996 ("Luật Đầu tư Nước ngoài
1996") Theo đó, “DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ, tự chịu trách
nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp” (Điều
141, Khoản 1, Luật Doanh nghiệp 2005) Loại hình doanh nghiệp này ngay từ khi hình thành đã dần phát triển và đóng góp một phần đáng kể cho sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam trong suốt hơn một thập kỷ qua Việc ghi nhận về mặt pháp lý một loại hình doanh nghiệp mới – DNTN – chính là một trong những giải pháp nhằm giải phóng sức sản xuất, phát huy mọi nguồn lực để xây dựng và phát triển đất nước
Đánh giá về sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (2002) đã chỉ rõ: “Hơn 10 năm qua, thực hiện đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, được sự đồng tình và hưởng ứng tích cực của nhân dân, kinh tế tư nhân gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và loại hình DNTN đã phát triển rộng khắp trong cả nước; đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế, huy động các nguồn lực xã hội vào sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, tăng ngân sách nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội của đất nước Cùng với các thành phần kinh tế khác, sự phát triển của kinh tế tư nhân đã góp phần giải phóng lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
Trang 21hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng thêm số lượng công nhân, lao động và doanh nhân Việt Nam, thực hiện các chủ trương xã hội hóa
y tế, văn hóa, giáo dục…” Và tại Hội nghị gần đây nhất của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã thông qua Báo cáo về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm giai đoạn 2006-2010, Đảng và Nhà nước ta đã tiếp tục khẳng
định dứt khoát: "Điều có ý nghĩa quyết định là phải có chính sách phù hợp để phát
huy tối đa khả năng về vật chất, trí tuệ và tinh thần của mọi người dân, của các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân - một nguồn lực giàu tiềm năng của dân tộc ta - để góp phần quan trọng giải quyết việc làm, đẩy nhanh và nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội” và “Tiếp tục phát triển mạnh các hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân”
Mang trong mình nhiều nét tương đồng về văn hóa, kinh tế, chính trị xã hội với Việt Nam, thực tế phát triển kinh tế của Trung Quốc cũng cho thấy vai trò to lớn của khu vực kinh tế tư nhân: “Khu vực kinh tế tư nhân trở thành nguồn lực chủ đạo của nền kinh tế Trung Quốc Tính đến cuối năm 2006, kinh tế tư nhân đóng góp hai
phần ba tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cho quốc gia và một phần hai tổng thuế thu
nhập doanh nghiệp và cung cấp gần 75% việc làm cho khu vực thành thị” [49, 1]
Cũng theo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, một nền kinh tế có chất lượng bền vững luôn luôn có sự phát triển hài hòa giữa các doanh nghiệp thuộc loại hình lớn, nhỏ và vừa; nhất là có sự phân công, hợp tác, liên kết chặt chẽ giữa các loại hình doanh nghiệp nói trên
Điều đó chứng tỏ chủ trương phát triển bình đẳng mọi thành phần kinh tế trong xã hội của Đảng và Nhà nước ta là đúng đắn Việc phát triển kinh tế hộ gia đình và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân trong đó có loại hình DNTN là cần thiết và có ý nghĩa to lớn cho nền kinh tế đất nước
1.1.2.2 Ý nghĩa của doanh nghiệp tư nhân trong việc phát triển kinh tế đất nước
Thứ nhất, loại hình DNTN ra đời mang theo những ưu thế nhất định và vì
vậy DNTN là sự lựa chọn phù hợp đối với những kế hoạch kinh doanh có quy mô
Trang 22nhỏ và vừa Không chỉ tại Việt Nam mà tại hầu hết các quốc gia theo Hệ thống Dân
luật (Civil Law) cũng như Hệ thống Thông luật (Common Law), loại hình DNTN hoặc loại hình mang những đặc trưng của DNTN vẫn luôn được ghi nhận, tồn tại và phát triển Khác với các loại hình doanh nghiệp khác, DNTN thực chất là thương nhân đơn lẻ (sole trader) hay doanh nghiệp cá thể (sole proprietorship) Do đó, chủ DNTN được hưởng toàn bộ lợi nhuận; tự định hướng và mục tiêu kinh doanh; không chậm trễ trong việc ra quyết định; đáp ứng khách hàng nhanh chóng; quan hệ gần gũi với khách hàng; bảo đảm bí mật kinh doanh; có động cơ thúc đẩy làm việc chăm chỉ; giám sát chặt chẽ hoạt động sản xuất, kinh doanh; chỉ phải chịu cơ chế đơn thuế, tức là đối tượng của một loại thuế Ví dụ: chỉ phải đóng thuế thu nhập cá nhân (personal income tax) – như hầu hết các quốc gia trên thế giới ghi nhận: Pháp, Singapore, Anh, Mỹ … hoặc chỉ phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp (corporation income tax) mà không phải chịu thuế thu nhập cá nhân Tuy nhiên, bên cạnh đó, chủ DNTN vẫn phải gánh chịu những bất lợi nhất định, đó là phải làm việc vất vả; chịu trách nhiệm cá nhân và vô hạn đối với các khoản nợ; bị hạn chế về vốn; khó mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh, và đổi mới công nghệ; giá thành sản phẩm cao, khó khăn trong việc cạnh tranh; khi chết, không có gì bảo đảm người thừa kế của họ thích duy trì hoặc có khả năng duy trì doanh nghiệp Vì thế, sau bước tiếp cận ban đầu với thị trường, chủ DNTN có xu hướng tìm kiếm đối tác (partners) để cùng nhau tiến hành các hoạt động kinh doanh dưới dạng công ty có trách nhiệm hữu hạn (như công ty cổ phần, công ty TNHH một thành viên hoặc có từ hai thành viên trở lên)
Trên thực tế, DNTN vẫn là loại hình được lựa chọn nhiều tại Việt Nam bởi nền kinh tế Việt Nam vẫn là nền kinh tế nông nghiệp, thủ công chiếm đa số Do đó,
số lượng cá thể và hộ gia đình chỉ có ít vốn liếng hoặc vốn liếng chính là những bí quyết thủ công truyền thống … chiếm một số lượng không nhỏ Và với ưu điểm bảo mật tối đa và những ưu điểm như phân tích ở trên, loại hình DNTN vẫn là loại hình được ưa chuộng Từ khi loại hình Công ty TNHH một thành viên được ghi nhận, dường như phần nào ảnh hưởng đến tốc độ phát triển của các DNTN Tuy nhiên,
Trang 23điều đó cũng không thể làm phủ nhận được vị trí và vai trò to lớn của DNTN trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay
Ta có thể thấy được điều này qua số liệu thống kê của Tổng cục thống kê
như nêu tại Bảng 01 – Số lượng doanh nghiệp đang hoạt động phân theo loại hình
(được đính kèm tại Phụ lục của Luận văn) [58] Nhìn vào Bảng 01 ta thấy số lượng DNTN được thành lập hàng năm vẫn tăng đều và trong cơ cấu các loại hình doanh nghiệp được thành lập thì tỷ trọng DNTN lại giảm dần Có hiện tượng này là do sự
ra đời của Luật Doanh nghiệp 1999, tiếp theo là Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Đầu tư năm 2005 đã mở ra cho các nhà đầu tư một khung pháp lý thống nhất, thông thoáng và cởi mở hơn cho kế hoạch kinh doanh của các nhà đầu tư trong và ngoài nước Điều này cũng là nguyên nhân khiến số lượng các doanh nghiệp ở hầu hết các loại hình doanh nghiệp tăng lên nhanh chóng
Thứ hai, loại hình DNTN là phương thức huy động vốn tối đa trong nhân
dân, huy động vốn từ những cá thể đơn lẻ có số lượng vốn nhỏ và vừa vào trong hoạt động sản xuất kinh doanh Vì thế, “góp gió thành bão”, với số lượng DNTN
đông đảo và với một số lượng vốn tương đối lớn, các DNTN đã đóng một vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng của nền kinh tế nước ta
Ta có thể thấy được điều này qua số liệu thống kê của Tổng cục thống kê
như nêu tại Bảng 02 – Vốn sản xuất kinh doanh bình quân hàng năm của doanh
nghiệp phân theo loại hình doanh nghiệp (được đính kèm tại Phụ lục của Luận văn)
[58]
Thứ ba, các DNTN đã góp phần giải quyết một số lượng lớn việc làm cho
dân cư, làm tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo Ta có
thể thấy được điều này qua số liệu thống kê của Tổng cục thống kê như nêu tại
Bảng 03 – Tổng số lao động trong các doanh nghiệp phân theo loại hình (được đính
kèm tại Phụ lục của Luận văn) [58]
Thứ tư, các DNTN góp phần làm năng động nền kinh tế bởi những lợi thế mà
loại hình DNTN mang lại như quy mô sản xuất, kinh doanh nhỏ gọn, tính năng động, linh hoạt trong sáng tạo kinh doanh, cùng với hình thức tổ chức kinh doanh
Trang 24có sự kết hợp chuyên môn hóa và đa dạng hóa mềm dẻo, hòa nhịp với đòi hỏi uyển chuyển của nền kinh tế thị trường
Thứ năm, các DNTN có vai trò to lớn trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
đặc biệt là khu vực nông thôn Sự phát triển nhanh các DNTN ở nông thôn đã đẩy
nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm cho công nghiệp và thủ công nghiệp ngày càng phát triển mạnh, đồng thời thúc đẩy các ngành thương mại, dịch
vụ phát triển sự phát triển DNTN ở thành thị cũng góp phần làm tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ Các DNTN còn góp phần làm thay đổi và
đa dạng cơ cấu công nghiệp
Thứ sáu, các DNTN góp phần thực hiện đô thị hóa phi tập trung và thực hiện
các phương châm “ly nông bất ly hương”
Thứ bảy, các DNTN là nơi đào tạo tài năng kinh doanh, là loại hình doanh
nghiệp có quy mô nhỏ giúp các nhà doanh nghiệp làm quen với môi trường kinh
doanh Với DNTN, các nhà kinh doanh có toàn quyền quyết định hoạt động kinh
doanh của Công ty, thỏa sức sáng tạo trong kinh doanh, thỏa sức trải nghiệm và từ
đó, xét trên góc độ tích cực, các chủ DNTN sẽ trưởng thành lên cũng như DNTN sẽ lớn mạnh lên Khi đó, các chủ DNTN hoặc là tiếp tục phát huy và duy trì sự tồn tại
và phát triển của DNTN của mình hoặc là tìm kiếm đối tác để mở rộng phạm vi kinh doanh, từ quy mô kinh doanh nhỏ đến quy mô lớn hơn
Nhìn chung, DNTN là một trong những loại hình doanh nghiệp ra đời sớm nhất và phát triển song song với tiến trình lịch sử phát triển của nước ta Từ lúc ra đời cho đến nay, DNTN đã và đang giữ một vị trí tương đối quan trọng trong nền kinh tế của đất nước
1.1.3 Khái niệm Doanh nghiệp tư nhân
Để có một cái nhìn tổng quan về DNTN, tác giả Luận văn nghiên cứu sơ lược các cách phân loại doanh nghiệp khác nhau và các đặc trưng pháp lý đi kèm với từng cách phân loại Trên cơ sở đó, tác giả nghiên cứu các cách tiếp cận và nhìn nhận loại hình DNTN của các quốc gia khác trong sự đối chiếu so sánh với pháp luật Việt Nam
Trang 25Doanh nghiệp và các tiêu chí phân loại doanh nghiệp
Các nước phương Đông có xu hướng du nhập mô hình doanh nghiệp phương Tây, cho nên cách phân loại doanh nghiệp hiện nay về cơ bản đều anh hưởng bởi các tiêu chí phân loại của phương Tây [41, 90] Có rất nhiều tiêu chí và theo đó cũng có nhiều cách phân loại khác nhau: (i) theo tiêu chí sở hữu và mục đích hoạt động, doanh nghiệp được chia thành doanh nghiệp tư và doanh nghiệp công, trong
đó doanh nghiệp công thường có một phần sở hữu nhà nước hoặc do Nhà nước đóng vai trò chi phối trong chiến lược kinh doanh; (ii) theo tiêu chí quy mô, doanh nghiệp được chia thành doanh nghiệp vừa và nhỏ và doanh nghiệp lớn; (iii) căn cứ vào sự liên kết, doanh nghiệp được chia thành doanh nghiệp độc lập và các tập đoàn, các nhóm công ty, các tổ hợp, các công ty đa quốc gia; (iv) căn cứ vào đặc trưng pháp lý, doanh nghiệp được chia thành công ty, hợp danh và cá nhân kinh doanh, trong đó công ty được chia thành nhiều loại hình doanh nghiệp (công ty cổ phần, công ty TNHH), hợp danh cũng được chia thành hợp danh hữu hạn, hợp danh
vô hạn, hợp danh hữu hạn theo cổ phần Thương nhân phương Tây thậm chí còn có khả năng biến tấu mô hình doanh nghiệp thành nhiều loại hình doanh nghiệp khác bằng các điều lệ thành lập công ty
Khác với các nước phương Đông, các nước theo hệ thống luật Châu Âu - Lục Địa thường phân loại công ty thành công ty đối vốn và công ty đối nhân Công ty đối nhân bao gồm các công ty dân luật, hợp danh, hợp danh hữu hạn, hợp danh cổ phần theo thương luật Công ty đối vốn bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần [44, 1]
Truyền thống này của họ pháp luật Châu Âu - Lục Địa đã được du nhập vào nước ta từ hơn một thế kỉ trước Song tới nay, pháp luật về công ty ở Việt Nam đã
xa rời đáng kể luật truyền thống Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14/6/2005 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7
thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 (“Bộ luật Dân sự 2005”) của nước ta không
quy định về công ty dân luật, không xem công ty dân luật là nền tảng cho công ty
Trang 26thương luật Bên cạnh Bộ luật Dân sự 2005, Việt Nam đã du nhập các loại hình cá nhân kinh doanh, hợp danh và các công ty trong Luật Doanh nghiệp 2005
Theo học giả ở các nước thuộc Họ Pháp luật Anh-Mỹ, trước khi định nghĩa
về công ty, thường giới thiệu các học thuyết liên quan tới bản chất của công ty Tuy nhiên, các nước thuộc họ pháp luật này có sự phân biệt giữa thương nhân đơn lẻ (sole trader hay sole propietorship), hợp danh (partnership) với doanh nghiệp, công
ty (enterprise hay company)
Thuật ngữ “doanh nghiệp” thực ra là một thuật ngữ kinh tế chứ không phải thuật ngữ luật học Nhìn từ góc độ kinh tế, “Doanh nghiệp” được xem như một cái
áo khoác để thực hiện ý tưởng kinh doanh [41, 90] Nhìn từ góc độ pháp lý, người
ta thường xem xét tư cách pháp lý của doanh nghiệp Điều này có nguồn gốc sâu xa
từ triết lý pháp luật phương Tây, lấy cá nhân (người) làm chủ thể pháp luật Bởi vậy, mọi tổ chức kinh doanh đều được quy nạp dưới tiêu chí của “pháp nhân”, pháp nhân cũng là người nhưng do luật học sáng tạo ra, có các quyền như một con người bằng xương bằng thịt Muốn kinh doanh, thương nhân phải chọn lấy một loại hình
mà nhà làm luật đã quy định Các loại hình này tương đối đa dạng, tùy theo pháp luật mỗi nước, song có thể quy nạp thành ba loại chính sau đây: (i) công ty; (ii) hợp danh và (iii) cá nhân kinh doanh
Trong khi đó, luật của Pháp lại có sự phân biệt giữa cơ sở kinh doanh và doanh nghiệp Bộ luật dân sự của Pháp cung cấp một hệ thống các quy định để điều chỉnh riêng cho cơ sở kinh doanh và đối với các doanh nghiệp thì chịu sự điều chỉnh của luật công ty Theo đó, doanh nghiệp là một tổ chức tập hợp các nhân tố, phương tiện, vật chất, thiết bị, nhân công, vốn nhằm sản xuất một số của cải hoặc làm một
số dịch vụ (Luật pháp của nước Pháp có rất ít văn bản đề cập khái niệm doanh nghiệp, nhưng luật thương mại thường nói đến các cơ sở kinh doanh là một trong các nhân tố của doanh nghiệp theo nghĩa kinh tế của từ này); cơ sở kinh doanh được hiểu là một tập hợp các tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nhân và toàn bộ của cải đó có thể được chuyển nhượng, cầm cố, thuê mượn
Trang 27Khái niệm về cơ sở kinh doanh theo luật của Pháp rất sát với khái niệm doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam Trên thực tế, các cửa hàng kinh doanh, các cơ
sở kinh doanh nhỏ lẻ ở Việt Nam phát triển rầm rộ, nhưng hệ thống pháp luật Việt Nam lại chưa có những quy định cụ thể và thống nhất để điều chỉnh hoạt động của các cơ sở kinh doanh này Theo đó, việc nghiên cứu và học tập, sửa đổi, vận dụng các giải pháp pháp luật của nước Pháp đưa ra cho các cơ sở kinh doanh nước ta cũng có giá trị rất lớn trong việc nghiên cứu và đưa ra các giải pháp tương ứng cho DNTN ở Việt Nam
Xuất phát từ các cách phân loại doanh nghiệp trên đây Có thể thấy loại hình DNTN theo mỗi họ pháp luật, mỗi cách phân loại doanh nghiệp sẽ được gọi dưới những cái tên khác nhau và chịu sự điều chỉnh của các chế định pháp luật khác nhau
Như vậy, kết quả nghiên cứu sơ lược về các cách phân loại doanh nghiệp cho thấy hầu hết các họ pháp luật và hệ thống pháp luật của các nước đều ghi nhận DNTN là một trong những hình thức kinh doanh cơ bản mặc dù cách ghi nhận ở mỗi hệ thống pháp luật là không giống nhau
Khái niệm Doanh nghiệp tư nhân
Theo pháp luật Anh Quốc, một doanh nghiệp kinh doanh đơn lẻ (sole trader
enterprise) sẽ không tách biệt với cá nhân tạo lập nên nó và lao động trong đó, thông thường tên thương mại của sole trader enterprise là tên của cá nhân tạo lập
nên nó hoặc cũng có thể là tên khác đặt theo quy định của pháp luật [60]
Thep pháp luật Hoa Kỳ, cá thể kinh doanh (sole proprietorship) được hiểu là
“người khai thác doanh nghiệp không cần thiết phải dùng tên riêng của mình như là tên thương mại, nó có thể được thừa nhận như Data experts company Tuy nhiên, một cái tên như vậy phải được đăng ký tại nhà chức trách tiểu bang hay địa phương
thích hợp” [61]
Theo pháp luật Trung Quốc, Điều 2, Luật Doanh nghiệp Tư nhân của Trung
Quốc được Ủy ban Thường trực của Quốc Hội thứ 9 thông qua tại kỳ họp thứ 11
quy định: “DNTN là một thực thể kinh doanh được thành lập tại Trung Quốc với số
Trang 28vốn của doanh nghiệp do một cá nhân đóng góp và tài sản của doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của chủ DNTN Chủ DNTN chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình” Như vậy, khái niệm DNTN của Trung Quốc có nhiều điểm tương
đồng với khái niệm DNTN theo pháp luật Việt Nam, tức DNTN được thành lập trên
cơ sở (1) Sự góp vốn của một cá nhân (còn gọi là chủ DNTN); (2) Tài sản trong DNTN là thuộc quyền sở hữu của chủ DNTN; (3) Chủ DNTN chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình Điều này có nguồn gốc sâu xa từ việc pháp luật Trung Quốc và pháp luật Việt Nam, theo truyền thống học thuật, đều được xếp vào
hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa, nhưng trên thực tế nhiều qui định về dân sự, về
tố tụng, về hệ thống Toà án lại mang nhiều đặc điểm của hệ thống luật Châu Âu - Lục Địa Ngoài ra, thể chế chính trị, văn hóa, xã hội của Việt Nam và Trung Hoa có nhiều điểm tương đồng Vì vậy, việc nghiên cứu pháp luật Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu và so sánh với pháp luật Trung Hoa là hoàn toàn có cơ sở
Theo pháp luật Úc (thuộc hệ thống Thông luật hay còn gọi là “Common
Law”, “hệ thống luật Anh Mỹ”; “Hệ thống pháp luật Ănglô - xắcxông”), khác với
hệ thống dân luật (hay còn gọi là “Civil law”; hay “hệ thống luật Châu Âu – Lục Địa”), hệ thống pháp luật của Úc không có một định nghĩa riêng về DNTN (sole proprietorship) Hình bóng của DNTN có thể thấy được qua việc ghi nhận những hình thức pháp lý của doanh nghiệp cũng như đặc trưng pháp lý của những loại hình doanh nghiệp đó
Theo Điều 112(1) của Đạo luật công ty 2001 của Úc, các nhà đầu tư có quyền đăng ký thành lập công ty tại Úc theo các hình thức dưới đây:
Công ty sở hữu chủ (proprietary company) Loại công ty này gồm có hai hình thức: Công ty trách nhiệm hữu hạn (bởi) cổ phiếu (company limited by shares)
và công ty trách nhiệm vô hạn (unlimited company with shares capital)
Công ty công cộng (public company) Loại công ty này gồm có bốn hình thức sau đây: (1) Công ty trách nhiệm hữu hạn (bởi) cổ phiếu (company limited by
shares), (2) công ty trách nhiệm hữu hạn (bởi sự) bảo đảm (company limited by
Trang 29guarantee), (3) công ty trách nhiệm vô hạn (unlimited company with shares capital), và (4) công ty không trách nhiệm (no liability company)
Như vậy, việc ghi nhận các hình thức pháp lý của công ty tại Điều 112(1) của Đạo luật Công ty năm 2001 của Úc cho thấy, căn cứ vào chế độ trách nhiệm của các thành viên công ty, cho dù là công ty công cộng hay công ty sở hữu chủ thì tất
cả đều phải đăng ký dưới một trong bốn hình thức công ty dưới đây:
1 Công ty trách nhiệm hữu hạn theo cổ phần (company limited by shares)
2 Công ty trách nhiệm hữu hạn có bảo đảm (company limited by guarantee),
3 Công ty trách nhiệm vô hạn (unlimited company with shares capital),
4 Công ty không trách nhiệm (no-liability company)
Theo luật của Úc, mọi công ty đều được công nhận là pháp nhân (a separate
legal entity), chỉ cần có ít nhất là một thành viên và thành viên đó có thể là thể nhân
capital) Công ty trách nhiệm vô hạn có thể đăng ký dưới hình thức công ty sở hữu
chủ hoặc công ty công cộng
Trên thực tế, chỉ có khoảng vài trăm công ty loại này được thành lập ở Úc, chúng được thành lập trên nguyên tắc trách nhiệm của các thành viên là vô hạn đối
với các nghĩa vụ của công ty (Điều 9, Đạo luật công ty 2001) Tuy nhiên, theo luật
công ty Úc, chế độ trách nhiệm vô hạn của thành viên công ty được hiểu là trách
nhiệm vô hạn đối với công ty chứ không phải đối với các chủ nợ của công ty Vì
thế, khi công ty còn đang hoạt động, các chủ nợ của công ty này không có quyền trực tiếp khởi kiện đòi các thành viên phải thanh toán số nợ mà công ty chưa trả được Do vậy, để thu hồi toàn bộ khoản nợ, chủ nợ của công ty, trước tiên, sẽ phải
Trang 30tiến hành thủ tục yêu cầu thanh lý công ty Sau đó, nếu tài sản của công ty không đủ
để thanh toán cho các chủ nợ, thì mỗi thành viên công ty sẽ phải chịu trách nhiệm
vô hạn về các nghĩa vụ của công ty Đặc điểm này tương đối giống với chế độ trách nhiệm vô hạn của các thành viên trong hợp danh, tuy nhiên, hợp danh theo pháp luật của các bang ở Úc có một số điểm bất lợi hơn trong kinh doanh so với mô hình công ty trách nhiệm vô hạn
Với chế độ trách nhiệm vô hạn của thành viên như thế, loại công ty này được cho là không thích hợp cho hoạt động kinh doanh thương mại và hoạt động kinh doanh có qui mô lớn Một số lĩnh vực hoạt động kinh doanh mang tính nghề nghiệp đặc thù mà pháp luật yêu cầu các thành viên phải chịu trách nhiệm vô hạn, người ta thường thành lập công ty trách nhiệm vô hạn hơn là kinh doanh theo hình thức hợp danh bởi vì họ muốn có được những lợi ích của mô hình công ty như về tư cách
pháp nhân, thuế, huy động vốn … trong sự so sánh với hợp danh
Kết luận, một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, pháp luật các nước đều ghi nhận
sự tồn tại của loại hình kinh doanh cá thể tức loại hình kinh doanh do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về hoạt động kinh doanh của cá nhân đó Nói cách khác, đó cũng chính là DNTN theo quan điểm của pháp luật Việt Nam, pháp luật Trung Quốc và một số quốc gia theo hệ pháp luật Châu Âu – Lục Địa Từ đó, một cách khái quát nhất, có thể định nghĩa DNTN là một thực thể kinh doanh không có tư cách pháp nhân do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về toàn bộ hoạt động của DNTN
(trách nhiệm vô hạn)
1.1.4 Đặc trưng pháp lý của Doanh nghiệp tư nhân
Cho dù được ghi nhận dưới hình thức nào (thương nhân đơn lẻ, cá thể kinh doanh hay DNTN) thì đứng trên quan điểm là loại hình kinh doanh (do một cá nhân làm chủ và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình) được pháp luật ghi nhận và bảo hộ, DNTN đều có những điểm đặc trưng pháp lý cơ bản sau:
Thứ nhất, DNTN là một thực thể kinh doanh có tư cách chủ thể pháp lý độc lập nhưng không có tư cách pháp nhân
Trang 31Một phần nào đó của DNTN, như đã nói ở trên, tách rời với nhân thân của người chủ DNTN và theo Luật Doanh nghiệp 2005, DNTN được ghi nhận là một trong những loại hình doanh nghiệp căn bản để các nhà đầu tư chọn lựa DNTN được pháp luật và Nhà nước thừa nhận có sự bình đẳng trước pháp luật như đối với các doanh nghiệp khác Do vậy, DNTN có tư cách chủ thể pháp lý độc lập, có tên riêng, có mục tiêu hoạt động xác định, có con dấu và mã số thuế riêng Trong giao lưu kinh tế, DNTN tham gia các quan hệ trao đổi, mua bán … trên thị trường bằng chính tên riêng của mình Về hình thức pháp lý, DNTN phần nào đứng độc lập, tách khỏi tên tuổi của chủ DNTN
Tuy nhiên, một đặc trưng của DNTN là ở chỗ, DNTN không có khối tài sản riêng, toàn bộ tài sản của DNTN gắn liền với nhân thân người chủ DNTN Vì vậy, mọi khoản nợ, mọi nghĩa vụ phát sinh từ hoạt động của DNTN sẽ do người chủ DNTN chịu trách nhiệm và chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình, tức bằng cả những tài sản mà người chủ DNTN không đem vào DNTN để tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh
Trong khi đó, “Pháp nhân là một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi
có đủ các điều kiện sau đây: (i) Được thành lập hợp pháp; (ii) Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; (iii) Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; (iv) Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập” (Điều 84, Bộ luật Dân sự 2005)
Như vậy, đặc trưng về tài sản của DNTN như phân tích ở trên đã khiến DNTN, khác với những doanh nghiệp khác, là doanh nghiệp duy nhất trong Luật Doanh nghiệp 2005 không có tư cách pháp nhân
Khác với các nước khác (như Hoa Kỳ, Pháp, Đức…), DNTN được coi như một thể nhân kinh doanh Và vì thế, DNTN không chịu sự điều chỉnh của đạo luật công ty Thông thường mọi hoạt động, quyền và nghĩa vụ phát sinh từ DNTN sẽ do
Bộ luật Dân sự và Thương mại (đạo luật áp dụng cho thương gia độc lập) điều chỉnh
Trang 32Trong quá trình nghiên cứu DNTN hay địa vị pháp lý của DNTN, có nhiều tác giả đã đồng nhất khái niệm tư cách chủ thể pháp luật với tư cách pháp nhân [32]
Ở đây, tác giả Luận văn đồng nhất với quan điểm cho rằng “tư cách pháp nhân và
tư cách chủ thể pháp luật độc lập là hai vấn đề có nội dung và bản chất pháp lý khác nhau” [47] Theo đó, tất cả các doanh nghiệp được pháp luật thừa nhận và bảo
hộ thì đều có tư cách chủ thể pháp luật độc lập Trong đó, những doanh nghiệp có khối tài sản độc lập, tách bạch với nhà đầu tư (chủ sở hữu) và chỉ chịu trách nhiệm với mọi nghĩa vụ kinh doanh phát sinh từ doanh nghiệp trong phạm vi khối tài sản của doanh nghiệp (vốn điều lệ của doanh nghiệp) thì doanh nghiệp đó có tư cách pháp nhân
Như vậy, DNTN là doanh nghiệp được pháp luật ghi nhận và bảo hộ Do đó, DNTN có tư cách pháp lý độc lập nhưng DNTN lại không có tư cách pháp nhân, vì
cơ chế chịu trách nhiệm của DNTN là cơ chế trách nhiệm vô hạn và không có sự tách bạch giữa tài sản của chủ sở hữu với tài sản của doanh nghiệp
Thứ hai, DNTN do một cá nhân bỏ vốn ra thành lập và làm chủ
Trong điều kiện kinh tế hiện tại của Việt Nam, DNTN thích hợp cho các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ Chủ DNTN đưa tư liệu sản xuất và vốn vào quá trình sản xuất mà không có sự hội vốn với người kahcs do vậy họ vừa là chủ sở hữu tài sản, vừa là người sử dụng tài sản, đồng thời cũng là người quản lý hoạt động của doanh nghiệp Thông thường, DNTN có quy mô nhỏ và vừa Do đó, chủ sở hữu DNTN đồng thời là người trực tiếp quản lý, điều hành, thậm chí trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh Tuy nhiên, DNTN là một thực thể kinh doanh
có tư cách chủ thể pháp lý độc lập cho nên chủ sở hữu DNTN có thể thuê người khác quản lý, điều hành doanh nghiệp Tuy nhiên, cho dù trực tiếp hay gián tiếp điều hành, quản lý DNTN, chủ DNTN vẫn phải trách nhiệm về mọi hoạt động của doanh nghiệp
Do tính chất một chủ, chủ DNTN là người duy nhất và toàn quyền đối với khoản lợi kiếm được từ hoạt động kinh doanh của DNTN đồng thời là người duy nhất gánh chịu mọi nghĩa vụ, trách nhiệm phát sinh từ doanh nghiệp, không có sự
Trang 33phân chia rủi ro và trách nhiệm với những người khác Nhưng một trong những ưu điểm mà DNTN đem lại đó là chủ DNTN có thể đưa ra những quyết sách nhanh chóng và linh hoạt cho mọi hoạt động của DNTN Điều này đôi khi đem lại cho doanh nghiệp những cơ hội kinh doanh và khoản lời không nhỏ
Thứ ba, chủ DNTN chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của DNTN (trách nhiệm vô hạn)
Về mặt pháp lý, đây là một đặc điểm quan trọng của DNTN và cũng là đặc điểm khiến nhiều nhà đầu tư phải suy xét khi quyết định đầu tư dưới hình thức DNTN Trong mọi quan hệ kinh tế, DNTN nhân danh chính mình tham gia các hoạt động và giao dịch Tuy nhiên, người chủ doanh nghiệp được coi như là người bảo lãnh cho toàn bộ quyền và nghĩa vụ mà DNTN tạo ra DNTN không có tài sản riêng tách bạch với tài sản của chủ sở hữu doanh nghiệp cho nên DNTN không có khả năng tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của doanh nghiệp như những loại hình doanh nghiệp khác Người chủ sở hữu DNTN nghĩa vụ thanh toán và thực hiện toàn bộ nghĩa vụ của DNTN bằng toàn bộ tài sản của mình – tức không chỉ tài sản đã đưa vào DNTN để thực hiện hoạt động kinh doanh mà còn bằng toàn bộ tài sản khác của chủ DNTN
Quan hệ giữa chủ DNTN với các chủ thể khác trong quá trình kinh doanh:
Người chủ DNTN chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc thực hiện tất cả các hợp đồng được ký kết trong quá trình hoạt động kinh doanh, chẳng hạn như hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng vay mượn, hợp đồng lao động…
Chủ sở hữu DNTN chịu trách nhiệm về tất cả các vi phạm pháp luật của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh Tất cả các tài sản được sử dụng
để kinh doanh và thậm chí tài sản cá nhân không dung vào kinh doanh đều có thể bị
xử lý để thực hiện các nghĩa vụ và trách nhiệm của doanh nghiệp cũng như của cá nhân chủ DNTN
Về chế độ tài sản giữa vợ chồng của người chủ DNTN: cơ sở kinh doanh của người đó phải theo chế độ tài sản trong hôn nhân Vì vậy cơ sở kinh doanh có thể là tài sản chung của vợ chồng
Trang 34 Nếu chủ DNTN chết, sự kiện này có ảnh hưởng đến sự tồn tại của DNTN Đây cũng là vấn đề phức tạp mà pháp luật Việt Nam còn đang bỏ ngỏ Pháp luật của Pháp đã dự liệu được một số giải pháp cho trường hợp này Theo Điều 832
Bộ luật dân sự Pháp, khi người chủ cơ sở kinh doanh chết, giải pháp đưa ra là trong các người thừa kế di sản, có thể có người được hưởng ưu tiên, nhưng người đó phải trả một khoản tiền bù lại cho các người cùng hàng thừa kế Pháp luật của Pháp giải quyết vấn đề thừa kế của người chủ cơ sở kinh doanh như trường hợp của một cá nhân thông thường Tuy nhiên, việc kế tục cơ sở kinh doanh và các tài sản của cơ sở kinh doanh thì xuất phát từ các đặc trưng của cơ sở kinh doanh [31, 102]
Thứ tư, về nghĩa vụ thuế của DNTN
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, DNTN được coi là một trong những loại hình cơ bản và chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp 2005 Vì vậy, DNTN là đối tượng của Thuế thu nhập Doanh nghiệp
Tuy nhiên, DNTN lại là doanh nghiệp chỉ do duy nhất một cá nhân làm chủ Vậy chủ DNTN có phải chịu thuế thu nhập cá nhân theo quy định về thuế thu nhập
cá nhân nữa hay không Pháp luật Việt Nam coi DNTN là một loại hình doanh nghiệp, thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cho nên chủ DNTN không phải nộp thuế thu nhập cá nhân (Điểm 1.1, Phần A Thông tư số 130/2008/TT-BT ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 và hướng dẫn thi hành nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008)
Trong khi đó, trên cơ sở quan điểm coi DNTN như một thể nhân kinh doanh (một thương gia độc lập), cho nên pháp luật các nước (Hoa Kỳ, Anh Quốc, Pháp, Đức… hay thậm chí là Singapore) quy định DNTN là đối tượng của thuế thu nhập
cá nhân Theo đó, DNTN không phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, chỉ người chủ DNTN phải đóng thuế thu nhập cá nhân như những cá nhân khác
Có lẽ tiếp cận DNTN theo hướng là một thương gia độc lập, một thể nhân kinh doanh có phần đúng với bản chất pháp lý của nó hơn Hơn nữa, việc chủ DNTN chỉ phải chịu thuế thu nhập cá nhân sẽ là chính sách thuế có lợi cho loại hình
Trang 35doanh nghiệp Đây cũng là điều hợp lý và là chính sách đúng đắn để khuyến khích các cá nhân tham gia hoạt động kinh doanh cũng như tạo đà cho DNTN phát triển
1.2 Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân
1.2.1 Khái niệm và bản chất pháp lý của Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân
Nói đến mua bán doanh nghiệp, một cách chung nhất, người ta thường nghĩ ngay đến thuật ngữ M&A (Merge and Acquision) hay “Sáp nhập và thâu tóm” hay
“sáp nhập và mua lại” hay “mua bán và sáp nhập công ty” hay “mua bán & sáp nhập” Trên thực tế, M&A đơn giản là khái niệm để chỉ một công ty tìm cách giành quyền kiểm soát một công ty khác qua việc thâu tóm một phần hoặc toàn bộ vốn/cổ phần hay tài sản của một công ty mục tiêu [27, 3] Và như thế nào được coi là một công ty giành được “Quyền kiểm soát” một công ty khác tùy thuộc vào hệ thống luật của mỗi quốc gia khác nhau cũng như tùy thuộc vào thỏa thuận của các bên trong giao dịch Thuật ngữ này được sử dụng phổ biến ở Anh Quốc cũng như Hoa
Kỳ, Nhật Bản và một số nước Châu Âu lục địa … và mới chỉ được quan tâm ở Việt Nam kể từ khi Luật Doanh nghiệp 1999 ra đời
M&A có thể nói là một phần tất yếu của bất cứ nền kinh tế lành mạnh nào Ý nghĩa mà M&A đem đến cho nền kinh tế là rất lớn Thứ nhất, M&A đang ngày càng trở thành một trong những giải pháp tổ chức lại doanh nghiệp hữu hiệu và phổ biến Thứ hai, M&A là một trong những cách thức chủ yếu để các doanh nghiệp mở rộng
và phát triển hoạt động kinh doanh của mình bằng việc tập trung các nguồn lực tài chính, công nghệ, nhân lực, thương hiệu … của (các) công ty mục tiêu (các công ty được mua lại hoặc được sáp nhập) nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh
và đem lại thu nhập cho chủ sở hữu và các nhà đầu tư Nguyên tắc của M&A nói chung là tạo ra giá trị cho cổ đông bao trùm và lớn hơn tổng giá trị hiện tại của hai doanh nghiệp khi hai doanh nghiệp tồn tại riêng rẽ Thứ ba, hoạt động mua bán doanh nghiệp sẽ thanh lọc những doanh nghiệp yếu, tạo nên những doanh nghiệp mới có tiềm lực mạnh hơn, hoạt động hiệu quả hơn và làm lành mạnh hóa nền kinh
tế của đất nước
Trang 36Mua bán DNTN, vì thế, cũng không nằm ngoài những ý nghĩa to lớn đó Hơn nữa, trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam cũng như thực trạng hoạt động của các DNTN hiện tại, hoạt động mua bán DNTN thực sự đem lại cho nền kinh tế Việt Nam cũng như số lượng đông đảo các DNTN những ý nghĩa đặc trưng nhất định, cụ thể:
Thứ nhất, mua bán DNTN, đứng trên khía cạnh của người bán doanh nghiệp,
sẽ đem đến cho chủ sở hữu của DNTN hiện hữu một “đường lui” hữu hiệu hoặc một khoản lời khi chuyển nhượng Một khi các chủ sở hữu DNTN hiện hữu nhận thấy kế hoạch kinh doanh của mình có nguy cơ phá sản, người chủ này có thể thông minh chọn lựa cách bán DNTN của mình cho những người có nhu cầu Và việc chuyển giao một DNTN kém hiệu quả từ người này sang người khác mang lại nhiều
ý nghĩa hơn việc khai tử cho doanh nghiệp đó Nếu khéo léo và nếu nhận được sự hợp tác thiện chí từ phía người mua và chủ nợ, việc bán lại DNTN còn giúp chủ sở hữu cũ của DNTN được giải thoát khỏi những vấn đề pháp lý phức tạp mà việc phá
sản hoặc giải thể DNTN đem lại
Mặt khác, trong trường hợp DNTN đang phát triển nhưng vì lý do nào đó (ốm đau, tai nạn hoặc thay đổi kế hoạch kinh doanh …) mà chủ DNTN hiện hữu muốn chuyển nhượng DNTN của mình cho người khác, việc chuyển nhượng một DNTN đang hoạt động hiệu quả sẽ đem lại cho chủ sở hữu doanh nghiệp một khoản lời nhất định
Thứ hai, mua bán DNTN, xét trên khía cạnh của người mua doanh nghiệp, là một trong những kênh đầu tư hiệu quả cho các nhà đầu tư mới bắt đầu tham gia thị trường với số vốn và phạm vi kinh doanh nhỏ và vừa Việc mua lại một DNTN đang hoạt động để “thổi” vào đó ý tưởng kinh doanh của mình là một trong những lựa chọn khôn ngoan và hiệu quả của các nhà đầu tư mới tham gia thị trường Theo các chuyên gia kinh tế, việc mua một doanh nghiệp có sẵn là sự đầu tư ít rủi ro hơn
và mang lại lợi nhuận nhanh hơn so với việc tạo dựng một doanh nghiệp từ con số không Theo đó, người mua lại một DNTN đang hoạt động có thể tranh thủ và tận dụng được nhiều lợi ích hiện có của DNTN đó, cụ thể như: (1) tranh thủ nguồn
Trang 37nhân lực sẵn có; (2) tranh thủ bí quyết kinh doanh và/hoặc công nghệ, khoa học sẵn có; (3) tranh thủ các đầu mối, bạn hàng sẵn có; (4) tranh thủ nhãn hiệu hàng hóa, thương hiệu của DNTN đã được gây dựng hiện tại… Điều đó cũng đồng nghĩa với việc, người mua lại DNTN mục tiêu có thể giảm thiểu chi phí đầu tư ban đầu, giảm thiểu chi phí và thời gian cho những thủ tục pháp lý và những thủ tục “tiền doanh nghiệp” như: thủ tục thành lập DNTN, tìm và xây dựng địa điểm kinh doanh, tìm và thuê mướn lao động có tay nghề, tìm kiếm bạn hàng, đối tác làm ăn, các nguồn cung
hàng hóa…
Thứ ba, mua bán DNTN, xét trên khía cạnh của bản thân DNTN, là một phương thức tái cơ cấu doanh nghiệp hữu hiệu Cùng là một kế hoạch kinh doanh, nhưng dưới sự quản lý của người này thì thành công và dưới sự quản lý của người kia thì thất bại, theo phương thức hoạt động này thì phát triển và theo phương thức hoạt động kia thì lụi bại … Do đó, một khi DNTN hiện hữu không thể phát triển và
có nguy cơ phá sản thì việc chuyển nhượng doanh nghiệp đó sang cho chủ thể khác
sẽ là cơ hội để DNTN được tái cơ cấu, tổ chức lại theo cách thức tổ chức và quản lý mới của người chủ mới Việc tái cơ cấu, tổ chức lại doanh nghiệp này nhiều khi đem lại những cải thiện và thành công không nhỏ cho doanh nghiệp, tất nhiên cũng không tránh khỏi trường hợp có tác động ngược lại Tuy nhiên, ngay cả khi trường hợp đó xảy ra, người chủ mới lại có thể tiếp tục bán, chuyển nhượng DNTN của mình cho người khác Như một sự tất yếu của vòng tuần hoàn, doanh nghiệp được luân chuyển từ tay người này sang cho người khác và sẽ trụ lại khi doanh nghiệp được khoác lên người một kế hoạch kinh doanh, một sự tái cơ cấu và một phương
thức quản lý doanh nghiệp hợp lý
Thứ tư, mua bán DNTN, xét trên khía cạnh của nền kinh tế, góp phần bình
ổn nền kinh tế và tăng trưởng xã hội Như phân tích ở phần 1.1 của Luận văn, DNTN chiếm một số lượng lớn ở nước ta hiện nay Tuy nhiên, đặc trưng của các DNTN này là quy mô hoạt động nhỏ, lẻ, thiếu và yếu cả về vốn và kỹ năng quản lý… Đứng trước cơn bão khủng hoảng và hiện tượng toàn cầu hóa nền kinh tế đang ngày càng mở rộng như hiện nay, các DNTN đang thực sự phải đương đầu với vô
Trang 38vàn những khó khăn, thử thách Và không phải tất cả các chủ DNTN đều đủ khả năng và bản lĩnh “chèo lái con thuyền” của mình trước cơn lốc khủng hoảng và những thử thách mà toàn cầu hóa kinh tế đặt ra Vì thế, các DNTN đứng trước nguy
cơ đổ vỡ hàng loạt, gây ảnh hưởng không nhỏ đến cơ cấu nền kinh tế cũng như tác động xấu đến nền kinh tế thị trường cũng như đến số lượng lớn các lao động, các
chủ thể kinh doanh khác trong hệ thống kinh tế Việc chủ sở hữu của các DNTN
đang đứng trước nguy cơ sụp đổ có thể bán lại DNTN của mình cho người khác để tiếp tục chèo lái và phát triển doanh nghiệp sẽ góp phần khắc phục sự đổ vỡ hàng loạt của các doanh nghiệp, góp phần bình ổn nền kinh tế và ổn định trật tự xã hội
Thực tiễn giao dịch cho thấy, mua bán doanh nghiệp nói chung và mua bán DNTN nói riêng là một loại giao dịch khá phức tạp cho nên các bên thường lựa chọn việc ký kết với nhau một thỏa thuận chuyển nhượng bằng văn bản gọi là hợp đồng mua bán DNTN để làm bằng chứng ghi nhận sự thỏa thuận của hai bên
Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật một số nước có hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp phát triển như Anh Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Pháp và một
số nước Châu Âu Lục địa đều không có quy định trực tiếp nào về hợp đồng mua bán DNTN Tuy nhiên, đứng trên khía cạnh khoa học pháp lý về hợp đồng và từ các đặc trưng pháp lý của DNTN, Hợp đồng mua bán DNTN có những điểm đặc trưng riêng biệt
Về mặt khoa học pháp lý, hợp đồng mua bán DNTN có thể được hiểu theo
ba nghĩa: (1) chỉ một văn bản được ký kết giữa các chủ thể tham gia giao dịch mua bán DNTN; (2) chỉ sự thỏa thuận của các chủ thể tham gia giao dịch mua bán DNTN nhằm chuyển quyền sở hữu DNTN từ bên mua sang bên bán; hay (3) chỉ một chế định pháp luật thuộc luật nghĩa vụ nhằm điều chỉnh quan hệ mua bán DNTN giữa bên mua với bên bán, giữa bên bán với các chủ nợ và giữa bên mua với
các chủ nợ Nếu hiểu theo nghĩa thứ nhất, hợp đồng mua bán DNTN chỉ thuần túy
là một văn bản, một hình thức thể hiện của ý chí Khi đó, hợp đồng mua bán DNTN
cũng không có điểm gì khác biệt so với những văn bản thể hiện ý chí khác Nếu
hiểu theo nghĩa thứ hai, hợp đồng mua bán DNTN cần được nhìn nhận từ bản chất
Trang 39pháp lý của giao dịch mua bán DNTN, đặc biệt là từ những đặc trưng pháp lý của DNTN Theo đó, bản chất pháp lý của giao dịch mua bán DNTN chính là một quan
hệ hợp đồng, là sự thỏa thuận của bên mua và bên bán về việc bên bán sẽ chuyển
giao quyền sở hữu toàn bộ tài sản có của một DNTN để bên mua tiếp tục các hoạt
động kinh doanh của DNTN Các tài sản nợ của DNTN vẫn đương nhiên gắn liền với người chủ cũ, trừ khi giữa người chủ cũ, các chủ nợ và bên nhận chuyển nhượng DNTN có một thỏa thuận đặc biệt gọi là thỏa thuận ba bên về chuyển giao nghĩa vụ Hệ quả pháp lý của giao dịch là chủ DNTN cũ sẽ chấm dứt quyền sử dụng, chiếm hữu và hưởng dụng tài sản có của DNTN đó và bên mua trong giao dịch này sẽ trở thành chủ sở hữu mới của DNTN Nói cách khác, bên mua sẽ có toàn quyền sử dụng, quản lý, khai thác và định đoạt DNTN mới mua lại Theo đó, bên mua và bên bán cần thực hiện thủ tục chuyển nhượng theo đúng quy định của pháp luật, tùy yêu cầu của mỗi hệ thống pháp luật, đó có thể là thủ tục đăng ký với
cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về việc chuyển nhượng, đó cũng có thể là thủ tục đăng ký lại DNTN để ghi nhận chủ sở
hữu mới của DNTN đó Nếu hiểu theo nghĩa thứ ba, hợp đồng mua bán DNTN
không nằm ngoài những chế định pháp luật sau: (1) Chế định hợp đồng, giao dịch dân sự và chế định tài sản và quyền sở hữu trong pháp luật dân sự; (2) Chế định pháp luật DNTN trong pháp Luật Doanh nghiệp
Có thể phân tích hợp đồng mua bán DNTN trên cơ sở so sánh với các hợp đồng tương tự như Hợp đồng mua bán công ty TNHH, công ty cổ phần, Hợp đồng mua bán tài sản của doanh nghiệp để làm rõ đặc trưng pháp lý của hợp đồng mua
bán DNTN Trong sự so sánh với hợp đồng mua bán công ty TNHH, công ty cổ
phần, có thể thấy Hợp đồng mua bán DNTN khác với các hợp đồng mua bán công
ty TNHH, công ty cổ phần ở điểm: nếu như hợp đồng mua bán công ty TNHH, công ty cổ phần là sự thoả thuận giữa các bên để chuyển giao toàn bộ doanh nghiệp (gồm toàn bộ tài sản có, tài sản nợ doanh nghiệp) cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận toàn bộ doanh nghiệp (bao gồm cả những khoản nợ, những nghĩa vụ chưa thực hiện) và trả tiền cho bên bán thì Hợp đồng mua bán
Trang 40DNTN chỉ là sự chuyển giao phần tài sản có của DNTN cho bên mua (bởi theo quy định của pháp luật, chủ DNTN vẫn phải chịu trách nhiệm về tất cả các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác mà doanh nghiệp chưa thực hiện, trừ khi có thỏa thuận ba bên
về việc chuyển giao cả phần tài sản nợ và nghĩa vụ chưa thực hiện) Trong sự so
sánh với hợp đồng mua bán tài sản của doanh nghiệp, có thể thấy Hợp đồng mua
bán DNTN khác với hợp đồng mua bán tài sản của doanh nghiệp ở điểm: đối tượng của hợp đồng mua bán DNTN chính là DNTN – một thực thể kinh doanh, một doanh nghiệp có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, trong khi đó đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản của doanh nghiệp chỉ là một hoặc một số phần tài sản của doanh nghiệp
Từ đó dẫn đến hệ quả khác nhau của mỗi giao dịch, đó là hợp đồng mua bán DNTN dẫn tới sự thay đổi địa vị của chủ sở hữu doanh nghiệp cụ thể là sự chuyển đổi chủ
sở hữu của doanh nghiệp từ bên bán sang bên mua, chấm dứt tư cách pháp lý của chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân cũ; còn hợp đồng bán một phần hoặc toàn bộ tài sản của doanh nghiệp không làm thay đổi địa vị của chủ sở hữu doanh nghiệp
Từ những đặc trưng pháp lý của DNTN và từ những phân tích trên đây cho thấy mua bán DNTN là thỏa thuận chuyển giao một phần tài sản có của chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân đã đưa vào doanh nghiệp Sau khi bán doanh nghiệp chủ DNTN cũ sẽ không còn là chủ doanh nghiệp nữa mà người mua sẽ là chủ doanh nghiệp Kể từ ngày bán DNTN, coi như DNTN này chấm dứt tồn tại, mặc dù sau đó người mua vẫn có thể đăng ký kinh doanh lại với tên DNTN và toàn bộ cơ sở vật chất đã có của DNTN cũ
Ngoài ra, xuất phát từ những đặc trưng của đối tượng hợp đồng mua bán DNTN như phân tích tại Luận văn, có thể thấy hợp đồng mua bán DNTN là một loại hợp đồng mua bán phức hợp, các tài sản có trong DNTN có thể là các tài sản hữu hình và tài sản vô hình Do đó, việc chuyển giao các loại tài sản phức hợp này cũng có những quy định khác nhau
Kết luận, Hợp đồng mua bán DNTN là sự thoả thuận giữa bên mua và bên bán về việc bên bán chuyển giao quyền sở hữu phần tài sản có mà chủ sở hữu doanh