1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Xây dựng hệ thống bài tập theo hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học địa lý tự nhiên lớp 10 THPT

107 139 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM --- TRẦN HỒNG HẢI XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN LỚP 10 THPT LUẬN VĂN TH

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-

TRẦN HỒNG HẢI

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN LỚP 10 THPT

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Chuyên ngành: Lí‎ luận & Phương pháp dạy học Địa lí

Mã số: 8140111

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-

TRẦN HỒNG HẢI

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN LỚP 10 THPT

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Chuyên ngành: Lí‎ luận & Phương pháp dạy học Địa lí

Mã số: 8140111

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN NGỌC MINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN



Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép

sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Trang 4

LỜI CẢM ƠN



Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo - người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Ngọc Minh đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Địa lí Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế, đặc biệt là thầy giáo PGS.TS Nguyễn Đức Vũ đã góp nhiều ý kiến quý báu trong quá trình thực hiện để hoàn thiện đề tài

Chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu cùng các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Địa

lí, các em học sinh lớp 10A1, A4 trường THPT Phúc Trạch, lớp A1, A2 trường THPT Hương Khê, lớp A1, A2 trường THPT Hàm Nghi trên địa bàn huyện Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và hợp tác cùng chúng tôi trong quá trình nghiên cứu

Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thiện đề tài

Hà Tĩnh, tháng 8 năm 2018

Tác giả luận văn

Trần Hồng Hải

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỤC LỤC 1

DANH MỤC VIẾT TẮT 4

DANH MỤC CÁC BẢNG 9

DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ 10

MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Mục tiêu nghiên cứu 7

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng nghiên cứu 8

5 Phạm vi nghiên cứu 8

6 Lịch sử nghiên cứu 8

7 Phương pháp nghiên cứu 10

8 Cấu trúc luận văn 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN LỚP 10 12

1.1 Bài tập Địa lí 12

1.1.1 Khái niệm 12

1.1.2 Tác dụng của bài tập địa lí 13

1.1.3 Phân loại bài tập địa lí 13

1.1.4 Vị trí của bài tập địa lí trong quá trình dạy học 14

1.1.5 Điều kiện để học sinh giải bài tập địa lí 15

1.1.6 Xu hướng phát triển bài tập địa lí 15

1.1.7 Thực trạng của việc xây dựng và sử dụng bài tập địa lí ở các trường THPT 16 1.2 Tự học 20

1.2.1 Khái niệm tự học 20

1.2.2 Các hình thức tự học 20

Trang 6

1.3.2 Các năng lực tự học cần bồi dưỡng và phát triển cho HS 23

1.3.3 Ý nghĩa của phát triển năng lực tự học cho học sinh 24

1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển năng lực tự học của học sinh 26

1.4 Chương trình sách giáo khoa Địa lí lớp 10 THPT 27

1.4.1 Mục tiêu chương trình Địa lí lớp 10 THPT 27

1.4.2 Đặc điểm, cấu trúc SGK lớp 10 THPT 28

1.4.3 Điều kiện xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực tự học trong phần Địa lí tự nhiên lớp 10 THPT 29

1.5 Đặc điểm tâm sinh lí và trình độ nhận thức của học sinh lớp 10 THPT 30

1.5.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh 10 THPT 30

1.5.2 Trình độ nhận thức của học sinh 10 THPT 31

CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP ĐỊA LÍ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN LỚP 10 THPT 33

2.1 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập trong giảng dạy Địa lí lớp 10 phần tự nhiên đại cương 33

2.1.1 Hệ thống bài tập phải góp phần thực hiện mục tiêu môn học 33

2.1.2 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính chính xác, khoa học 33

2.1.3 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính hệ thống, tính đa dạng 33

2.1.4 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính phân hóa và tính vừa sức 34

2.1.5 Hệ thống bài tập phải góp phần củng cố kiến thức cho học sinh ở các mức độ hiểu, biết, vận dụng 34

2.1.6 Hệ thống bài tập phải phát huy tính tích cực nhận thức, năng lực sáng tạo của học sinh 34

2.2 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập 34

2.2.1 Xác định mục tiêu của bài tập 34

2.2.2 Xác định nội dung bài tập 35

2.2.3 Xác định loại bài tập, các kiểu bài tập 35

2.2.4 Thu thập thông tin để soạn hệ thống bài tập 35

2.2.5 Tiến hành soạn thảo bài tập 35

2.2.6 Hoàn thiện hệ thống bài tập 36

Trang 7

2.3 Xây dựng hệ thống bài tập phần Địa lí tự nhiên lớp 10 THPT 36

2.3.1 Các bài tập theo chủ đề: Bản đồ 36

2.3.2 Các bài tập theo chủ đề: Trái Đất Hệ quả các chuyển động của Trái đất 41

2.3.3 Các bài tập theo chủ đề: Thạch quyển 44

2.3.4 Các bài tập theo chủ đề: Khí quyển 47

2.3.5 Các bài tập theo chủ đề: Thủy quyển 51

2.3.6 Các bài tập theo chủ đề: Thổ nhưỡng quyển và sinh quyển 54

2.3.7 Các bài tập theo chủ đề: Một số quy luật của lớp vỏ Địa lí 57

2.4 Phương pháp sử dụng hệ thống bài tập Địa lí tự nhiên lớp 10 theo hướng phát triển năng lực tự học 62

2.4.1 Yêu cầu sử dụng phương pháp 62

2.4.1.1 Đối với học sinh 62

2.4.1.2 Đối với giáo viên 62

2.4.2 Phương pháp sử dụng 62

2.4.3 Ví dụ minh họa phương pháp sử dụng bài tập trong dạy học Địa lí tự nhiên đại cương lớp 10 64

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 77

3.1 Mục tiêu thực nghiệm 77

3.2 Nguyên tắc thực nghiệm 77

3.3 Nhiệm vụ thực nghiệm 78

3.4 Đối tượng thực nghiệm 78

3.5 Tiến hành thực nghiệm 79

3.6 Kết quả thực nghiệm 79

3.6.1 Kết quả thực nghiệm về mặt định lượng 80

3.6.2 Kết quả thực nghiệm về mặt định tính 84

3.6.3 Nhận xét chung về thực nghiệm 86

KẾT LUẬN 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Tầm quan trọng của sử dụng bài tập trong dạy học địa lí tự nhiên lớp 10 17

Bảng 1.2: Cách sử dụng BTĐL trong quá trình dạy học 17

Bảng 1.3: Tình hình sử dụng BT trong quá trình dạy học địa lí 18

Bảng 1.4: Vai trò giải các BT phần địa lí tự nhiên lớp 10 THPT 19

Bảng 1.5: Kết quả điều tra về vai trò của tự học 25

Bảng 1.6 Lý do học sinh cần phải tự học phần địa lí tự nhiên 25

Bảng 2.1: Nhiệt độ và lượng mưa các tháng trong năm của manila 49

Bảng 2.2: Lượng mưa trung bình năm ở các đới 52

Bảng 2.3: Lưu lượng nước sông hồng các tháng trong năm ở sơn tây (m3/s) 53

Bảng 2.5: Sự thay đổi nhiệt độ trung bình năm và biên độ nhiệt năm theo vĩ độ ở Bán cầu bắc 74

Bảng 3.1: Đối tượng thực nghiệm 78

Bảng 3.2 Điểm bài kiểm tra lần 1 80

Bảng 3.3: Phân phối tần số, tần suất, tần suất lũy tích bài kiểm tra lần 1 80

bảng 3.4: Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra lần 1 81

Bảng 3.5: Tổng hợp các tham số đặc trưng bài kiểm tra lần 1 82

Bảng 3.6: Điểm bài kiểm tra lần 2 82

Bảng 3.7: Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra lần 2 83

Bảng 3.8: Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra lần 2 84

Trang 10

DANH MỤC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ

Hình 2.1 Các vành đai động đất, núi lửa và các vùng núi trẻ 37

Hình 2.2 Các mảng kiến tạo của thạch quyển 38

Hình 2.3 Gió và bão ở Việt Nam 39

Hình 2.4 Đường chuyển động biểu kiến của Mặt trời trong năm 42

Hình 2.5 Cấu trúc Trái Đất 44

Hình 2.6 Lược đồ các mảng kiến tạo, động đất và núi lửa 46

Hình 2.7 Biểu đồ nhiệt độ, lượng mưa của một số địa điểm 48

Hình 2.8 Sơ đồ phân tầng thực vật theo độ cao 50

Hình 2.9 Lược đồ các đới khí hậu ở bán cầu Nam 51

Hình 2.10 Lược đồ các dòng biển trên thế giới 54

Hình 2.11 Các kiểu thảm thực vật chính trên thế giới 55

Hình 2.12 Các nhóm đất chính trên Thế giới 55

Hình 2.13 Gió và bão ở Việt Nam 71

Hình 2.14 Phân phối bức xạ Mặt Trời 73

Hình 3.1 Biểu đồ lũy tích kết quả bài kiểm tra lần 1 81

Hình 3.3 Biểu đồ lũy tích kết quả bài kiểm tra lần 2 83

Hình 3.4 Biểu đồ kết quả học tập bài kiểm tra lần 2 84

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức đã đặt ngành giáo dục đứng trước cơ hội thuận lợi và cùng với những thử thách lớn trong vấn đề đào tạo nguồn nhân lực với những yêu cầu mới Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế xã hội, toàn ngành giáo dục đang nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) theo hướng tích cực, phát huy tối đa khả năng tự học của học sinh; từng bước rèn luyện tư duy độc lập nhằm tạo ra những lớp người mới năng động sáng tạo, giàu tính nhân văn, đáp ứng được những yêu cầu của thời đại

Chủ trương của ngành giáo dục nước ta là phát hiện, đào tạo và bồi dưỡng nhân tài Do đó mỗi trường phổ thông ở từng vùng cần có lực lượng giáo viên có khả năng phát hiện học sinh năng khiếu và có biện pháp, phương pháp để bồi dưỡng cho các em Điều đó minh chứng bằng kết quả học sinh qua các kỳ thi hàng năm đã

có không ít các em học ở các trường THPT đạt kết quả cao Kết quả đó phần lớn là

do năng lực tự học, tự nghiên cứu của các em rất tốt.[21]

Sau một thời gian đổi mới phương pháp dạy và học, nhất là việc tự học và học suốt đời của các em học sinh, đặc biệt là những em yêu thích môn Địa lý đã đầu tư cho việc tự học nhiều hơn Tuy nhiên, lượng tài liệu và thông tin hiện nay là rất lớn

và có nhiều quan điểm khác nhau của nhiều tác giả nên các em gặp trở ngại trong việc lựa chọn tài liệu và phương pháp tự học đảm bảo tin cậy, hiệu quả

Xuất phát từ những lý do nêu trên chúng tôi đã chọn đề tài “Xây dựng hệ thống bài tập theo hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học địa

lí tự nhiên lớp 10 THPT” để nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu xây dựng được hệ thống bài tập địa lí theo hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 10 trong học Địa lí tự nhiên ở trường phổ thông Qua đó thực hiện đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy và học môn Địa lí hiện nay

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 12

- Nghiên cứu thực trạng dạy học địa lí lớp 10 ở các trường phổ thông

- Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập địa lí theo hướng tự học, trong dạy học phần địa lí tự nhiên lớp 10 THPT

- Thực nghiệm sư phạm đánh giá tính khả thi và hiệu quả việc sử dụng hệ thống bài tập cho học sinh ở trường phổ thông

4 Đối tƣợng nghiên cứu

+ Thời gian: Từ tháng 01/2017 đến tháng 8/2018

6 Lịch sử nghiên cứu

Xây dựng hệ thống bài tập không phải là vấn đề mới cả về mặt lí luận và

thực tiễn, tuy nhiên xây dựng hệ thống bài tập theo hướng phát triển năng lực tự học của học sinh lại là vấn đề đang được quan tâm và bàn đến nhiều trong các công trình nghiên cứu về khoa học giáo dục

- Trên thế giới:

Vấn đề xây dựng hệ thống bài tập (HTBT) trong dạy học đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm:

Việc sử dụng bài tập để kích thích người học tìm ra tri thức mới có từ rất sớm

Từ thời cổ đại, nhà hiền triết Hy Lạp Socrrat (470-39 TCN) đã đề ra phương pháp vấn đáp, gợi mở Ông đã dùng phương pháp này để dạy triết học, giúp cho người học tiếp cận tri thức mới

Trang 13

Ở Liên Xô cũ, nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả như Sôclivskara (1971), Abramova, D.B Gophman, Kadosuhico (1979) đã đề cập đến vai trò,

Trong thế kỷ XX, các nhà giáo dục Xô Viết B.P.Exipop, M.A Danilop, IF Kharlamop đề tìm kiếm con đường tích cực hóa hoạt động dạy học, trong đó có sử dụng câu hỏi, bài tập.[20]

- Ở trong nước:

Xây dựng và sử dụng bài tập trong các khoa học tự nhiên được nghiên cứu từ lâu, trong số đó có Lí luận dạy học đại cương của tác giả Nguyễn Ngọc Quang, Lí luận dạy học hóa học của tác giả Nguyễn Cương, Dương Xuân Trình (1975), Các tác giả đã đề ra phương pháp, biện pháp xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập như là phương tiện chuyển tải tri tức mới.[8]

Trong bộ môn Địa lí, nhiều nhà nghiên cứu giáo dục đã quan tâm đến vấn đề xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập trong dạy học địa lí nhằm củng cố và khắc sâu kiến thức cho học sinh như:

+ Nguyễn Minh Tuệ - Trần Thị Tuyết Mai – Nguyễn Đức Vũ, “Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm và bài tập tự luận Địa lí 10”, NXBGD 2006 Ở đây các tác giả đã biên soạn cả câu hỏi và bài tập địa lí một cách cụ thể Chúng tôi tham khảo cách thức soạn bài tập của tác giả để phục vụ quá trình nghiên cứu đề tài

+ Nguyễn Minh Tuệ - Nguyên Đức Vũ – Phạm Thu Phương, “Tìm hiểu kiến thức Địa lí 10” NXBGD 2006 Các tác giả hệ thống được kiến thức, mục tiêu cần đạt về kiến thức trong dạy học Địa lí lớp 10 Đây là cơ sở chúng tôi tham khảo để xây dựng hệ thống bài tập và đưa ra lời giải

Các nghiên cứu xây dựng hệ thống bài tập trong dạy học Địa lí tự nhiên lớp 10 THPT, theo hướng phát triển năng lực tự học có các công trình nghiên cứu sau: + “Xây dựng hệ thống bài tập với Atlat Địa lí Việt Nam trong dạy học phần Địa lí tự nhiên lớp 12 trung học phổ thông”, Luận văn thạc sĩ của tác giả Võ Hồng Tuyến An năm 2011, trường ĐHSP Huế Đề tài khoa học này tác giả đã đề cập đến

hệ thống bài tập và cách xây dựng, trong phạm vi Atlat Địa lí Việt Nam và chỉ nhằm mục tiêu dạy học Địa lí tự nhiên lớp 12

Trang 14

Lan Anh năm 2016, trường ĐHSP Huế Tác giả xây dựng hệ thống bài tập nhằm rèn luyện kỹ năng cho học sinh trong dạy học phần Địa lí kinh tế - xã hội đại cương và chỉ đặt trong phạm vi nghiên cứu là trường chuyên, đối tượng thực nghiệm là học sinh khả - giỏi Mục tiêu nghiên cứu tác giả là để bồi dưỡng học sinh giỏi Địa lí, đặc biệt là rèn luyện các kỹ năng cho học sinh: Đọc bản đồ, vẽ và nhận xét các loại biểu

đồ, phân tích bảng số liệu thống kê Bài tập tác giả xây dựng ở đây là nhằm đạt được mục tiêu đó

+ “Xây dựng và sử dụng câu hỏi, bài tập kiểm tra đánh giá học sinh theo định hướng năng lực trong dạy học địa lí 10 trung học phổ thông”, Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Mùi năm 2016, trường ĐHSP Huế Ở đây tác giả xây dựng

hệ thống cả câu hỏi và bài tập theo hướng phát triển năng lực một cách chung chung, chưa cụ thể cho từng năng lực Phạm vi nghiên cứu là toàn bộ hệ thống kiến thức môn Địa lí lớp 10

+ “Xây dựng và sử dụng một số chủ đề địa lý tự nhiên trong dạy học Địa lý lớp

10 trung học phổ thông”, Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Khăm, năm 2016, ĐHSP Huế Đề tài khoa học này được tác giả nghiên cứu với mục đích là xây dựng

và sử dụng chủ đề địa lí, trong phần Địa lí tự nhiên lớp, không đề cập đến xây dựng bài tập địa lí Nó không trùng với đề tài chúng tôi nghiên cứu: “Xây dựng hệ thống bài tập nhằm phát triển năng lực tự học trong dạy học Địa lí tự nhiên đại cương” Những đề tài trên, các tác giả mới chỉ đề cập đến năng lực chung hoặc năng lực tự học trong địa lí lớp 10 nói chung Bên cạnh đó, mỗi đề tài đều có phạm vi ứng dụng thực nghiệm trên những địa bàn khác nhau, nên đề tài tôi chọn nghiên cứu

ở đây vừa có tính kế thừa, vừa có tính mới và có giá trị áp dụng cho chúng tôi trong quá trình giảng dạy

Như vậy, đến thời điểm này chưa một công trình nghiên cứu khoa học nào hoàn chỉnh việc thiết kế hệ thống bài tập trong phần Địa lí tự nhiên lớp 10 theo hướng phát huy năng lực tự học Đây chính là nhiệm vụ mà đề tài cần giải quyết

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Phương pháp sưu tầm tài liệu: thu thập các nguồn tài liệu liên quan để xây dựng cơ sở lí luận của đề tài

Trang 15

- Sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp: để tiến hành xem xét, lựa chọn tư liệu liên quan, phân loại, hệ thống các nguồn tài liệu làm cơ sở khoa học nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp phân loại, hệ thống hóa trong nghiên cứu tài liệu lý luận có liên quan

- Phương pháp lịch sử Chúng tôi sử dụng phương pháp này theo hướng đi tìm những thông tin, khái niệm liên quan đến bài tập, cách xây dựng hệ thống bài tập và

tự học qua các thời kỳ của các tác giả đề lại

7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp khảo sát điều tra

Chúng tôi sử dụng bằng cách khảo sát điều tra tình hình xây dựng và sử dụng bài tập phần Địa lí tự nhiên trong dạy học Địa lí lớp 10, ở các trường THPT Phúc Trạch, Hương Khê, Hàm Nghi trên địa bàn huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, bằng cách áp dụng phiếu điều tra

- Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến các GV môn Địa lí có kinh nghiệm trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, Tp Huế, Quảng Trị và ý kiến của HS về hệ thống bài tập phần Địa lí tự nhiên lớp 10

7.2.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Tổ chức thực nghiệm sư phạm ở các trường THPT trên địa bàn huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh nhằm đánh giá tính khả thi của đề tài

7.2.3 Phương pháp toán thống kê

Sử dụng các phương pháp thống kê toán học để xử lí các số liệu đã thu thập được từ kết quả học tập của học sinh, xử lí phiếu điều tra, nội dung góp ý của GV

và HS

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của xây dựng hệ thống bài tập theo hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học Địa lí tự nhiên lớp 10 Chương 2: Xây dựng hệ thống bài tập theo hướng phát triển năng lực tự học

Trang 16

Chương 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG

HỆ THỐNG BÀI TẬP THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN

NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ

TỰ NHIÊN LỚP 10 1.1 Bài tập Địa lí

1.1.1 Khái niệm

Theo nghĩa chung nhất, thuật ngữ “bài tập” (tiếng Anh) là “Exercise”, tiếng Pháp – “Exercice” dùng để chỉ một loạt hoạt động nhằm rèn luyện thể chất, tinh thần và trí tuệ.[30]

Trong giáo dục, theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, thuật ngữ

“bài tập có nghĩa là bài ra cho học sinh làm để vận dụng những điều đã học”.[14]Theo Thái Duy Tuyên “bài tập là một hệ thống thông tin xác định bao gồm những điều kiện và những yêu cầu được đưa ra trong quá trình dạy học, đòi hỏi người học một lời giải đáp, mà lời giải đáp này về toàn bộ hoặc từng phần không ở trạng thái có sẵn của người giải tại thời điểm mà bài tập được đặt ra”.[15]

Bài tập được xem như là một phương tiện dạy học then chốt trong quá trình dạy học, dùng bài tập trong quá trình hình thành kiến thức, khai thác kiến thức, phát triển tư duy, hình thành kĩ năng, kĩ xảo cho người học và kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập Theo đó, có thể xem bài tập là một “vũ khí” sắc bén cho GV, HS trong quá trình dạy học và sử dụng bài tập, là một trong những yêu cầu quan trọng trong quá trình dạy học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo

Như vậy bài tập địa lí là những yêu cầu, nhiệm vụ mà GV đặt ra cho HS trong quá trình dạy học; là những bài ra cho học sinh làm để vận dụng những điều đã học, đòi hỏi HS bằng nhiều cách giải đáp những yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra nhằm mục đích củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng Địa lí, phát triển năng lực tư duy, tự học và sáng tạo Bài tập địa lí là một hệ thống thông tin xác định, bao gồm hai phần: cơ sở dữ liệu

(điều kiện bài tập nêu ra) và yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong nội dung bài tập

Trang 17

1.1.2 Tác dụng của bài tập địa lí

“Bài tập Địa lí là một bộ phận, một khâu của các tiết học Địa lí, nhằm giúp

học sinh củng cố và mở rộng kiến thức đã học” [8] Bài tập Địa lí góp phần rèn luyện

và phát triển các kỹ năng địa lí cho HS: phân tích, tổng hợp, so sánh; kỹ năng vẽ các

sơ đồ, biểu đồ, đồ thị, bài tập địa lí còn giúp HS hình thành và phát triển các kỹ năng cần thiết để tự học, tự nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của GV, cụ thể:

BTĐL giúp cho học sinh hiểu được một cách chính xác các khái niệm Địa lí, nắm được bản chất của từng khái niệm đã học

Học sinh có điều kiện để rèn luyện, củng cố và khắc sâu các kiến thức Địa lí

tự nhiên đại cương, hiểu được mối quan hệ giữa các nội dung kiến thức cơ bản; Góp phần hình thành được những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết về bộ môn Địa lí, để học sinh

1.1.3 Phân loại bài tập địa lí

Hiện nay có nhiều cách phân loại bài tập khác nhau Theo các nhà khoa học Địa lí, BTĐL có các dạng sau:

Dựa vào nội dung toán học của bài tập: bài tập định tính,bài tập định lượng Dựa vào nội dung của bài tập địa lí: bài tập lý thuyết, bài tập thực hành, bài tập tổng hợp

Dựa vào chức năng của bài tập: bài tập tái hiện kiến thức (hiểu, biết, vận dụng), bài tập rèn luyện tư duy độc lập, sáng tạo (phân tích, tổng hợp, đánh giá)

Trang 18

Dựa theo các bước của quá trình dạy học: bài tập mở bài, tạo tình huống dạy học, bài tập vận dụng khi giảng bài mới, bài tập củng cố, hệ thống hóa kiến thức; Bài tập về nhà, bài tập kiểm tra

Ngoài ra, có thể dựa vào đặc điểm của hoạt động nhận thức có thể chia thành: Bài tập tái hiện: Bài tập yêu cầu HS nhớ lại, tái hiện kiến thức, kĩ năng đã học; Bài tập vận dụng sáng tạo: Bài tập yêu cầu HS phải áp dụng những kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết vấn đề trong tình huống mới Ở mức độ cao hơn, bài tập sáng tạo đòi hỏi HS giải quyết vấn đề theo một hướng mới, một kĩ thuật mới, một phương pháp mới

Trong thực tế dạy học Địa lí, có hai cách phân loại bài tập có ý nghĩa hơn cả là phân loại theo nội dung và theo dạng bài

1.1.4 Vị trí của bài tập địa lí trong quá trình dạy học

Trong thực tế dạy học hiện nay, nhiều giáo viên chưa nắm được vị trí của bài tập địa lí trong quá trình dạy học Họ thường sử dụng BT vào đầu giờ để kiểm tra bài cũ hoặc cuối giờ học, cuối chương, cuối học kì để ôn tập và kiểm tra kiến thức Quan niệm đó chưa thật đúng, làm giảm tác dụng của BT khi dạy học

GV có thể sử dụng BT ở bất cứ lúc nào, nơi nào khi thấy nó có thể giúp mình thỏa mãn nhiệm vụ dạy học và mục đích dạy học Ngược lại, GV hoàn toàn có thể không sử dụng BT khi điều đó không cần thiết cho công việc giảng dạy của mình Bài tập Địa lí chứa đựng nội dung dạy học phải phù hợp với năng lực nhận thức của học sinh và góp phần thực hiên được ý đồ dạy học của GV Khi ra một bài tập phải xác định đúng vị trí của bài tập để nó trở thành một bộ phận hữu cơ của hệ

Trang 19

thống kiến thức cần truyền thụ

1.1.5 Điều kiện để học sinh giải bài tập địa lí

Học sinh cần hình thành và phát triển được năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, cụ thể là năng lực địa lí, bao gồm: Năng lực nhận thức thế giới theo quan điểm không gian; Năng lực giải thích các hiện tượng và quá trình địa lí (tự nhiên, kinh tế – xã hội); Năng lực sử dụng các công cụ Địa lí học và tổ chức học tập thực địa; Năng lực thu thập, xử lí và truyền đạt thông tin Địa lí; Năng lực vận dụng kiến thức,

kĩ năng vào thực tiễn.[4]

Học sinh phải nắm chắc lý thuyết: các khái niệm, quy luật Địa lí; Nắm được các dạng bài tập cơ bản, nhanh chóng xác định bài tập thuộc dạng bài tập nào; Nắm được một số phương pháp giải thích phù hợp với từng dạng bài tập; Biết được một số thủ thuật tính toán, xử lí số liệu, vẽ biểu đồ; Đọc và sử dụng các loại bản đồ Địa lí; Đọc và phân tích Atlat Địa lí

Tóm lại, để giải được các bài tập Địa lí học sinh cần phải có kiến thức và kỹ năng Địa lí Học sinh phải có thái độ hành vi học tập đúng đắn, nghiêm túc và có tính cầu thị Trong phần Địa lí tự nhiên lớp 10, học sinh phải trang bị được cho mình những kiến thức cơ bản về tự nhiên đại cương và rèn luyện, phát huy năng lực

tự học

1.1.6 Xu hướng phát triển bài tập địa lí

Thông qua chương trình môn Địa lí nói chung, chương trình môn Địa lí 10 nói riêng, học sinh cần hình thành thế giới quan khoa học và các phẩm chất yêu thiên nhiên; có ý thức, niềm tin và hành động cụ thể trong việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; yêu thương người lao động, tôn trọng những giá trị nhân văn khác nhau; rèn luyện được sự tự tin trung thực, khách quan; đồng thời hình thành và phát triển các năng lực tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo.[4]

Vì vậy, xu hướng xây dựng BT địa lí hiện nay là: Hạn chế những bài tập có nội dung Địa lí nghèo, ghi nhớ máy móc, học thuộc, những bài tập có nội dung phức tạp, xa rời hoặc phi thực tiễn; tăng cường sử dụng bài tập thực hành, tăng

Trang 20

năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề Đa dạng hóa các loại hình bài tập bằng hình vẽ, bài tập vẽ đồ thị, sơ đồ, xây dựng những bài tập có nội dung phong phú, sâu sắc, phần tính toán đơn giản, nhẹ nhàng, xây dựng và tăng cường sử dụng bài tập định lượng

1.1.7 Thực trạng của việc xây dựng và sử dụng bài tập địa lí ở các trường THPT

Để đánh giá thực trạng xây dựng và sử dụng hệ thống BTĐL ở các trường THPT, chúng tôi đã sử dụng hình thức khảo sát điều tra tại một số trường học

1.1.7.1 Mục đích điều tra

Tìm hiểu thực trạng trong việc sử dụng bài tập Địa lí tự nhiên lớp 10 ở trường THPT để đưa ra cách khắc phục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục

1.1.7.2 Đối tượng điều tra

Chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng việc sử dụng bài tập địa lí tự nhiên lớp

10, 11 GV; 191 HS của 3 trường (trường THPT Phúc Trạch, trường THPT Hương Khê và trường THPT Hàm Nghi) trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh và GV ở trên địa bàn TP Huế, Quảng Trị

1.1.7.3 Cách tiến hành

Thiết kế phiếu điều tra (phụ lục 1,2,3)

Phát phiếu điều tra cho GV và HS

Tiến hành thống kê kết quả thu được

Trao đổi trực tiếp với GV dạy lớp 10 về HTBT và cách dạy

1.1.7.4 Kết quả điều tra

Trang 21

Bảng 1.1: Tầm quan trọng của sử dụng bài tập trong dạy học Địa lí tự nhiên lớp 10

+ Về cách thức sử dụng BTĐL trong quá trình dạy học

Bảng 1.2: Cách sử dụng BTĐL trong quá trình dạy học

Trang 22

+ Về việc sử dụng BT trong quá trình dạy học Địa lí

Bảng 1.3: Tình hình sử dụng BT trong quá trình dạy học Địa lí

TT Các khâu trong quá trình dạy

học

Mức độ sử dụng Khá thường

Số lượng Tỉ lệ % lượng Số Tỉ lệ %

Số lượng Tỉ lệ %

Qua bảng chúng ta thấy được các BTĐL chưa sử dụng tích cực và thường xuyên trong quá trình dạy học

Ngoài ra chúng tôi nhận thấy đa số trong các giờ dạy, GV tiến hành sửa BT bằng cách gọi vài HS lên bảng trong giờ kiểm tra bài cũ cùng một lúc để giải BT mà các em đã chuẩn bị sẵn ở nhà GV ít đầu tư cho việc ra BT, phần lớn BT GV ra cho

HS là từ tài liệu tham khảo, ít mang tính tích cực, tự lực của HS Như vậy GV còn xem nhẹ hoạt động xây dựng bài tập theo hướng phát triển năng lực tự học

Phần lớn GV chưa sử dụng BT do chính GV tự biên soạn vào dạy học mà chủ yếu sử dụng các BT trong SGK, tài liệu tham khảo HS làm các BTĐL không thường xuyên, ít trong giờ học chính khóa, nếu có thì chủ yếu trong các buổi dạy BDHSG

+ Điều tra về học sinh

Điều tra nhận thức của HS về vai trò của việc giải BTĐL trong quá trình học phần Địa lí tự nhiên lớp 10 THPT:

Sử dụng phiếu điều tra có các mức độ sau: mức độ 1: hoàn toàn không đồng ý, mức độ 2: không đồng ý, mức độ 3: đồng ý, mức độ 4: hoàn toàn đồng ý

Trang 23

Bảng 1.4: Vai trò giải các BT phần Địa lí tự nhiên lớp 10 THPT

Vai trò

Số lượng

Tỉ lệ

%

Số lượng

Tỉ lệ

%

Số lượng

Tỉ lệ

%

Số lượng

Từ các kết quả điều tra nêu trên, chúng tôi rút ra:

Các dạng BT trong sách giáo khoa chưa đầy đủ, số lượng tương đối ít Đa số các GV đều chú trọng đến việc sử dụng BT để luyện tập, hệ thống kiến thức và hình thành kĩ năng cho HS GV ít sử dụng BT để hình thành khái niệm, kiến thức mới, rèn luyện kĩ năng thực hành, kĩ năng quan sát, giải thích và năng lực vận dụng kiến thức cho HS vào việc giải quyết các vấn đề thực tiễn Ngoài SGK, GV thường biên soạn các BT, kể cả việc xây dựng cho các em một HTBT hoàn chỉnh Để thực hiện một tiết dạy có nhiều BT, GV thường phát cho HS phiếu học tập, cách này được

GV dùng nhiều nhất vì dễ thực hiện

Rất nhiều HS từ trước đến nay vẫn học tập một cách thụ động, ghi chép học thuộc, áp dụng máy móc, chỉ dựa vào lời giảng của GV, hầu như không có thói quen tự học, thậm chí đọc xong một đoạn trong SGK, không thể tự tóm tắt được nội dung chính, đặc biệt là không thể rút ra phương pháp chung để thực hiện một loại hoạt động nhận thức cụ thể Rèn luyện kĩ năng tự học cho HS là một quá trình lâu dài phức tạp và luôn luôn được củng cố, nâng cao và bổ sung thêm, bởi vậy tốt nhất

là nên dành thời gian tiếp xúc giữa GV và HS ở trên lớp để thực hiện công việc đó Xây dựng HTBT có chất lượng cho HS là việc đúng đắn và GV cần khai thác thế mạnh của BTĐL một cách triệt để nhằm phát triển tư duy cho các em, đồng thời kích thích sự hứng thú và sáng tạo qua từng bài tập, phát huy năng lực tự học của

Trang 24

1.2 Tự học

1.2.1 Khái niệm tự học

Tự học: “Cốt lõi của học là tự học, nhờ tự học mà năng lực của mỗi người được phát huy mạnh mẽ Tự học là quá trình cá nhân người học tự lực, tự giác, tích cực, độc lập, nhằm chiếm lĩnh tri thức, kinh nghiệm ở một lĩnh vực nào đó trong học tập nhằm hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách”[10] Tự học là một hình thức học tập có tính độc lập cao và đậm sắc thái cá nhân nhưng có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học Nội dung của tự học rất phong phú, bao gồm toàn bộ những công việc học tập do cá nhân và có khi cả tập thể HS tiến hành ngoài giờ, hoặc do bản thân HS tiến hành ngay trong giờ học trên lớp như: đọc sách, làm bài tập, làm bài thực hành, tự suy nghĩ, tự động não tìm ra tri thức mới

Tự học là một quá trình mà người học tự thực hiện các hoạt động học tập, có thể cần hoặc không cần sự hỗ trợ của người khác, dự đoán được nhu cầu học tập của bản thân, xác định được mục tiêu học tập, phát hiện ra nguồn tài liệu, con người giúp ích được cho quá trình học tập, biết lựa chọn và thực hiện chiến lược học tập

và đánh giá được kết quả thực hiện

Như vậy khái niệm tự học ở đây được hiểu là hoạt động tự lực của HS để chiếm lĩnh tri thức khoa học đã được qui định thành kiến thức học tập trong chương trình và SGK với sự hướng dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp của GV thông qua các phương tiện học

1.2.2 Các hình thức tự học

+ Tự học không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV

Tự học thông qua tài liệu, qua tìm hiểu thực tế, học kinh nghiệm của người khác Hình thức tự học này HS gặp nhiều khó khăn do có nhiều lỗ hổng kiến thức, khó thu xếp tiến độ, kế hoạch tự học, không tự đánh giá được kết quả tự học của mình, từ đó HS dễ chán nản và không tiếp tục tự học

Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập: ví dụ như học bài hay làm bài tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việc thường xuyên của học sinh phổ thông Để giúp HS có thể tự học ở nhà, GV cần tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả học bài, làm bài tập ở nhà của học sinh

Trang 25

Tự học qua phương tiện truyền thông: HS được nghe GV giảng giải minh họa, nhưng không được tiếp xúc với GV, không nhận được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn Với hình thức tự học này, HS cũng không đánh giá được kết quả học tập của mình

Tự học qua tài liệu hướng dẫn: Trong tài liệu trình bày cả nội dung, cách xây dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn cách tra cứu, bổ sung, làm lại cho đến khi đạt được mục tiêu của hoạt động học tập Tuy nhiên nếu chỉ dùng tài liệu tự học HS cũng có thể gặp khó khăn và không biết hỏi ai

Học sinh tự thực hiện một số hoạt động học dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của

GV ở lớp: Với hình thức này cũng đem lại kết quả nhất định Song nếu HS vẫn sử dụng SGK Địa lý như hiện nay thì họ cũng gặp khó khăn khi tiến hành tự học vì thiếu sự hướng dẫn về phương pháp học

Qua việc nghiên cứu các hình thức tự học ở trên chúng tôi thấy rằng mỗi hình thức tự học có những mặt ưu điểm và nhược điểm nhất định Để nhằm khắc phục được những nhược điểm của các hình thức tự học đã có này đề xuất một hình thức

tự học mới: tự học theo tài liệu hướng dẫn và có sự giúp đỡ trực tiếp một phần của

GV gọi tắt là "tự học có hướng dẫn"

+ Tự học có hướng dẫn

Tự học phải có mục đích, nội dung và phương pháp phù hợp Hình thức tự học

có hướng dẫn vừa phải đảm bảo thực hiện đúng quan điểm dạy học hiện đại vừa phù hợp với đặc điểm nhận thức của HS

Cần hiểu mối quan hệ giữa dạy và tự học là quan hệ giữa tác động bên ngoài

và hoạt động bên trong Tác động dạy của GV là bên ngoài hỗ trợ cho HS tự phát triển, chỉ có tự học của HS mới là nhân tố quyết định sự phát triển của bản thân HS Trong tự học có hướng dẫn, HS nhận được sự hướng dẫn từ hai nguồn: từ tài liệu hướng dẫn và trực tiếp từ GV

Nguồn hướng dẫn qua tài liệu: Tài liệu SGK Địa lý thường chỉ trình bày kiến thức mà không có những chỉ dẫn về phương pháp hoạt động để tiếp cận tri thức, hình thành kĩ năng Bởi vậy HS rất bị động, đọc đến dòng nào trong SGK thì biết đến dòng ấy không hiểu phương hướng bước đi kế hoạch như thế nào và

Trang 26

học ngoài việc trình bày nội dung kiến thức, còn hướng dẫn cả cách thức hoạt động để phát hiện vấn đề, thu thập thông tin, xử lí thông tin, rút ra kết luận, kiểm tra và đánh giá kết quả

Nguồn hướng dẫn trực tiếp của GV qua các giờ lên lớp: Hiện nay theo quy định của Bộ Giáo dục đào tạo, môn Địa lý trong các trường THPT có thời gian từ 2,5 tiết/ tuần, thời gian đó nếu để giảng giải kiến thức thì quá ít và sẽ phiến diện nếu

để HS hoàn toàn tự học thì cũng không được Chúng tôi cho rằng có thể tận dụng thời gian tiếp xúc giữa GV và HS để GV tổ chức, hướng dẫn và rèn luyện cho HS những kĩ năng tự học cụ thể.[3] Ví dụ như thành lập các Câu lạc bộ Địa lí sẽ góp phần phát huy năng lực tự học của học sinh

1.2.3 Xu hướng đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay theo hướng phát huy năng lục tự học

Phương pháp dạy học là nhân tố quan trọng của quá trình dạy học, là cách thức hoạt động của người giáo viên để truyền thụ kiến thức, rèn luyện kỹ năng, là sự kết hợp các biện pháp và phương tiện trong quá trình dạy học hướng tới mục đích của giáo dục [24]

Ngày nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ và sự tăng trưởng không ngừng về kinh tế của các nước trên thế giới, những vòng xoáy biến đổi của nền kinh

tế thị trường trong quá trình hội nhập đòi hỏi người giáo viên phải thiết kế được phương pháp dạy học mềm dẻo, linh hoạt, giúp người học thích ứng, hoà nhập tích cực với cuộc sống hiện thực.[26]

Xu hướng cải tiến phương pháp dạy học hiện nay là phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm, nhằm huy động tối đa chức năng tâm lý và nhận thức Cần huy động học sinh tích cực tái hiện, tìm tòi phát hiện cái mới, cái hay, cái thú vị và đặc biệt là tích cực sáng tạo Thông qua các phương pháp dạy học, các bài tập Địa lí cần được lồng ghép, tích hợp trong tất cả các tiết học, chương trình dạy học

Quan điểm về dạy học Địa lí đã có chuyển biến tích cực, nhưng trong đó cách dạy để đạt hiệu quả tối ưu là yếu tố quan trọng giúp học sinh phát huy năng lực trí tuệ, tư duy sáng tạo tìm tòi, đồng thời rèn luyện kỹ năng cho HS là khởi nguồn cho khả năng thích ứng nhanh chóng với xu thế hội nhập và phát triển của đất nước

trong thời kỳ mới

Trang 27

1.3 Năng lực tự học

1.3.1 Khái niệm năng lực tự học

“Năng lực tự học được hiểu là một thuộc tính kỹ năng rất phức hợp Nó bao gồm kỹ năng và kĩ xảo cần gắn bó với động cơ và thói quen tương ứng, làm cho

Để bồi dưỡng cho HS năng lực tự học, tự nghiên cứu, cần phải xác định được

các năng lực và trong quá trình dạy học, GV cần hướng dẫn và tạo các cơ hội, điều kiện thuận lợi cho HS hoạt động nhằm phát triển các năng lực đó

1.3.2 Các năng lực tự học cần bồi dưỡng và phát triển cho HS

- Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề

Năng lực nhận biết, tìm tòi, phát hiện vấn đề hết sức quan trọng đối với người học Nhờ năng lực này HS vừa tự làm giàu kiến thức của mình, vừa rèn luyện tư duy và thói quen tìm tòi, phát hiện vấn đề

Năng lực này đòi hỏi HS phải nhận biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, so sánh sự vật hiện tượng được tiếp xúc, suy xét từ nhiều góc độ, có hệ thống trên cơ sở những

lí luận và hiểu biết đã có của mình, phát hiện ra các khó khăn, mâu thuẫn xung đột, các điểm chưa hoàn chỉnh cần giải quyết, bổ sung, các bế tắc, nghịch lí cần phải khai thông, khám phá, làm sáng tỏ

- Năng lực giải quyết vấn đề

Năng lực giải quyết vấn đề bao gồm khả năng trình bày giả thuyết, xác định cách thức giải quyết và lập kế hoạch giải quyết vấn đề, khảo sát các khía cạnh, thu thập và xử lí thông tin, đề xuất các giải pháp, kiến nghị các kết luận Kinh nghiệm thực tế cho thấy nhiều HS thu thập được một khối lượng thông tin phong phú nhưng không biết hệ thống và xử lí như thế nào để tìm ra con đường đến với giả thuyết Trong dạy học, quan trọng nhất là dạy cho HS cách học, thì trong đó cần coi trọng dạy cho HS kĩ thuật giải quyết vấn đề Với kĩ thuật này, HS có thể áp dụng vào rất nhiều trường hợp trong học tập cũng như trong cuộc sống để lĩnh hội các tri thức cần thiết cho mình Kĩ thuật giải quyết vấn đề vừa là công cụ nhận thức, nhưng đồng thời là mục tiêu của việc dạy học cho HS phương pháp tự học

Trang 28

- Năng lực xác định những kết luận đúng từ quá trình giải quyết vấn đề

Đây là một năng lực quan trọng cần cho người học đạt đến những kết luận đúng của quá trình giải quyết vấn đề, hay nói cách khác, các tri thức cần lĩnh hội sau khi giải quyết vấn đề sẽ có được một khi chính bản thân HS có năng lực này Năng lực này bao gồm các khả năng khẳng định hay bác bỏ giả thuyết, hình thành kết quả và đề xuất vấn đề mới, hoặc áp dụng (nếu cần thiết) Các quyết định phải được dựa trên logic của quá trình giải quyết vấn đề

- Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn

HS vận dụng kiến thức đã học để nhận thức, cải tạo thực tiễn, hoặc trên cơ sở kiến thức và phương pháp đã có, nghiên cứu, khám phá, thu nhận thêm kiến thức mới Việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đặc biệt trong các trường hợp mới, lại làm xuất hiện các vấn đề đòi hỏi phải giải quyết và kết quả của việc giải quyết vấn đề giúp cho người học thâm nhập sâu hơn vào thực tiễn Từ đó hứng thú học tập, niềm say mê và khao khát được tìm tòi, khám phá, áp dụng kiến thức và kinh nghiệm tăng lên, các động cơ học tập đúng đắn càng được bồi dưỡng vững chắc Các kĩ năng về giao tiếp, cộng tác, huy động nguồn lực được rèn luyện Kết quả của hoạt động thực tiễn vừa làm giàu thêm tri thức, vừa soi sáng, giải thích, làm rõ thêm các kiến thức được học từ SGK, tài liệu HS thấy tự tin, chủ động hơn, đồng thời họ lại phải có thái độ dám chịu trách nhiệm về các quyết định mình đã lựa chọn và có kĩ năng lập luận.[27]

- Năng lực đánh giá và tự đánh giá

Dạy học đề cao vai trò tự chủ của HS (hay tập trung vào người học), đòi hỏi phải tạo điều kiện, cơ hội và khuyến khích (thậm chí bắt buộc) HS đánh giá và tự đánh giá mình

HS phải luôn đánh giá và tự đánh giá, biết được mặt mạnh, hạn chế của mình, cái đúng sai trong việc mình làm mới có thể tiếp tục vững bước tiếp trên con đường học tập chủ động của mình

1.3.3 Ý nghĩa của phát triển năng lực tự học cho học sinh

Tự học có vai trò đối với học sinh, đặc biệt qua các kì thi, tự học sẽ giúp cho các em đặt kết quả cao hơn Kết quả điều tra vai trò của tự học tại một số trường THPT trên địa bàn huyện Hương Khê cho chúng tôi kết quả như sau:

Trang 29

Bảng 1.5: Kết quả điều tra về vai trò của tự học Rất cần

Có hay không cũng được

Không cần thiết

Hoàn toàn không cần thiết

Về lí do các em cần phải tự học: (chúng tôi đã đưa ra các câu trả lời và thu

được kết quả trong bảng dưới đây)

Bảng 1.6 Lý do học sinh cần phải tự học phần Địa lí tự nhiên

Số lượng %

Kết quả trên chứng tỏ đa phần các em đã biết rõ tác dụng của việc tự học Số học sinh nhận thức được vai trò của tự học đến gần 80% với 225 HS, các em thấy được tự học sẽ giúp hiểu bài trên lớp sâu sắc hơn, nhớ bài lâu hơn và đặc biệt các

em có hứng thú học tập, yêu thích môn địa lí hơn Đặc biệt là đối với phần Địa lí tự nhiên lớp 10, các em đã áp dụng phương pháp tự học để nhằm mục đích phục vụ cho các kỳ thi rất nhiều, có gần 60% số lượng học sinh được khảo sát sử dụng phương pháp tự học để học phần Địa lí tự nhiên đại cương

Trang 30

1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển năng lực tự học của học sinh

1.3.4.1 Nhóm nhân tố chủ quan

- Nhận thức của HS về tự học:

Nhận thức của HS về tự học đóng vai trò định hướng cho hoạt động của bản thân Chỉ khi HS có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về năng lực tự học thì các em mới có thái độ tích cực trong TH và có cơ sở vững chắc để hình thành các kĩ năng

kĩ năng kế hoạch hoá hoạt động; nhóm kĩ năng tổ chức thực hiện hoạt động; nhóm

kĩ năng kiểm tra, đánh giá kết quả Đối với HS lớp 10 THPT, phần lớn các em có kĩ năng đọc tài liệu, kĩ năng nghe giảng, đó là những thuận lợi giúp các em có được

thông tin, tri thức Địa lí từ kênh chữ

- Thái độ tự học

Thái độ tự học có vai trò kích thích, thúc đẩy quá trình nhận thức và rèn kĩ năng tự học Thái độ tích cực trong học tập đã trực tiếp đem lại cho HS những kiến thức và kĩ năng trong hoạt đông học tập

Nhận thức tự học cùng với kĩ năng và thái độ tự học là 3 yếu tố chủ quan cơ bản tác động đến NLTH Nó có tính quyết định và ảnh hưởng trực tiếp đến NLTH môn Địa lí của học sinh

1.3.4.2 Nhóm nhân tố khách quan

Mục tiêu đào tạo: phản ánh yêu cầu của xã hội đối với ngành, nghề đào tạo, thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội Mục tiêu đào tạo chi phối nội dung, hình thức, phương pháp đào tạo

Nhân cách của GV: gồm 2 thành phần: phẩm chất và năng lực Trong đó, năng lực lại gồm năng lực chuyên môn và năng lực nghiệp vụ Những phẩm chất đó có tác động rất lớn tới sự yêu thích môn học, thái độ tích cực học tập và tự học của HS

Trang 31

Cơ sở vật chất phục vụ tự học và công tác tổ chức, quản lí một số hoạt động liên quan đến tự học của HS, như: SGK, tài liệu tham khảo, câu lạc bộ, chất lượng phục vụ thư viện, của nhà trường đảm bảo cho hoạt động tự học của HS Ví dụ: diện tích của thư viện còn nhỏ, không đủ chỗ ngồi cho HS lên học Đây cũng là một trong những lí do HS đưa ra để lí giải việc lựa chọn địa điểm tự học là tại nhà

1.4 Chương trình sách giáo khoa Địa lí lớp 10 THPT

1.4.1 Mục tiêu chương trình Địa lí lớp 10 THPT

1.4.1.1 Kiến thức

Nắm vững các kiến thức cơ bản về địa lí tự nhiên đại cương: Trái đất với ý nghĩa là môi trường sống của con người, gồm các thành phần cấu tạo và tác động qua lại lẫn nhau: Thạch quyển – Khí quyển – Thủy quyển – Thổ nhưỡng quyển – Sinh quyển; Một số quy luật của lớp vỏ Địa lí; Địa lí dân cư; Các hoạt động kinh tế chủ yếu của con người trên Trái Đất; Mối quan hệ dân cư, các hoạt động sản xuất với môi trường và sự phát triển bền vững

1.4.1.4 Năng lực hình thành

Học sinh hình thành và phát triển được năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội,

cụ thể là năng lực địa lí, bao gồm: năng lực nhận thức địa lí (Nhận thức thế giới theo quan điểm không gian; giải thích các hiện tượng và quá trình địa lí); năng lực tìm tòi, khám phá địa lí; vận dụng kiến thức địa lí vào thực tiễn

Trang 32

1.4.2 Đặc điểm, cấu trúc SGK lớp 10 THPT

1.4.2.1 Đặc điểm

Địa lí là môn học cung cấp cho HS những kiến thức phổ thông cơ bản,

cần thiết về Trái Đất và những hoạt động kinh tế của con người, là cơ sở cho việc hình thành thế giới quan khoa học, rèn luyện cho HS những kỹ năng hành động, ứng xử phù hợp với môi trường tự nhiên, xã hội và nhu cầu của đất nước trong giai đoạn mới

SGK Địa lí phổ thông dựa trên quan điểm hệ thống được thiết kế theo kiểu đồng tâm có sự tiếp nối nâng cao các kiến thức từ tiểu học đến THCS, sau đó là THPT với mục tiêu giáo dục bộ môn đảm bảo tính kế thừa và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam, mang tính khoa học, hiện đại và cập nhật theo định hướng đổi mới PP dạy học

Đặc điểm thể hiện trong các SGK mới là số lượng kênh hình tăng, được chọn lọc, nhằm tạo điều kiện để GV dẫn dắt HS tìm đến kiến thức, các câu hỏi trong bài là hướng dẫn quan sát kênh hình hoặc dựa vào kiến thức cũ để tìm đến kiến thức mới, nên nội dung được đặt ra giữa bài không viết lại kênh chữ vì vậy trong quá trình giảng dạy GV cần giúp HS khai thác kiến thức mới nhằm hoàn thiện nội dung bài

Mảng kiến thức Địa lí tự nhiên đại cương trong SGK Địa lí lớp 10 được coi là khó hơn bởi các sự vật cũng như hiện tượng địa lí tự nhiên vốn đã phức tạp và biểu hiện trong mối quan hệ với nhiều khía cạnh khác nhau Hơn nữa bản thân HS lớp 10 còn hạn chế về lứa tuổi và hiểu biết tự nhiên cũng như trình độ nhận thức

SGK Địa lí lớp 10 mở đầu bằng chương bản đồ, bởi bản đồ là cuốn sách giáo khoa thứ hai của Địa lí nên các kiến thức về bản đồ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, chúng được sử dụng không chỉ ở lớp 10 mà kỹ năng bản đồ ngày càng được hoàn thiện và nâng cao ở lớp 11, 12 cũng như các bậc học sau này

Trang 33

Dù ở bất kỳ mảng nhận thức nào nội dung SGK đều được thể hiện qua kênh chữ, kênh hình, câu hỏi và bài tập Kênh chữ là phần quan trọng hàng đầu trong SGK Địa lí lớp 10, thông qua kênh chữ các khái niệm cơ bản, các quy luật địa lí được hệ thống hoá giúp HS nắm nội dung bài Kênh hình được trình bày tương đối phong phú và đa dạng (bản đồ, biểu đồ, lược đồ, sơ đồ, tranh ảnh, ) Đây không phải là hình ảnh minh hoạ đơn thuần mà là một trong những nội dung được gắn kết chặt chẽ với kênh chữ Kênh hình giúp HS hiểu sâu sắc hơn các sự vật hiện tượng địa lí là một trong những thành tố giúp các em phát triển tư duy, hình thành và phát triển các kỹ năng địa lí

Các bài tập là một bộ phận hữu cơ trong SGK Địa lí lớp 10 thường được đan xen giữa bài hoặc cuối bài Bài tập cuối mỗi bài giúp HS hệ thống hoá kiến thức nhằm phát huy tính tích cực và khả năng tư duy, rèn luyện kỹ năng địa lí.[18]

Bài tập Địa lí được lồng ghép, tích hợp trong các bài lý thuyết, có thể là bài tập nhận thức hoặc bài tập rèn luyện kỹ năng Chính vì vậy yêu cầu thời lượng dành cho việc hoàn thiện bài tập trên lớp cũng như ở nhà cần được sắp xếp hợp lý dưới

sự hướng dẫn của GV

SGK Địa lí lớp 10 hiện hành có những bước tiến vượt bậc, đặc biệt việc phát triển kỹ năng, được chú trọng đầu tư về thời lượng, trang thiết bị Đây là điều kiện cần thiết cho việc tự học có hướng dẫn của GV đặc biệt là hướng dẫn HS phát huy khả năng làm việc độc lập của người học, đặt nền móng cho quá trình tự học, tự nghiên cứu

1.4.3 Điều kiện xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực tự học trong phần Địa lí tự nhiên lớp 10 THPT

1.4.3.1 Thuận lợi

Chương trình SGK Địa lí lớp 10 hiện hành có nhiều thuận lợi cho việc xây dựng hệ thống BT theo hướng tự học, đặc biệt là trong phần Địa lí tự nhiên đại cương Nội dung, hình thức SGK Địa lí 10 được đổi mới, chú trọng hơn trong việc xây dựng hệ thống kiến thức theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh, không liệt kê, mô tả đơn thuần SGK đã giúp cho người dạy và người học định hướng được tiến trình hoạt động học tập Trong đó, việc xác định mức độ xây dựng,

Trang 34

Trong quá trình thực hiện và chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục tại các địa phương, các sở GD&ĐT Hà Tĩnh đã tổ chức các đợt tập huấn thực hiện chương trình SGK mới, nâng cao năng lực GV Sở giáo dục đã phối hợp với các đơn vị giáo dục tổ chức các cuộc hội thảo về BDHSG, ôn tập thi THPTQG, hội thảo liên trường Tất cả các hoạt động đó góp phần tạo điều kiện cho GV nghiên cứu và xây dựng BTĐL theo hướng phát huy năng lực tự học của HS

Đa số GV Địa lí ở các trường THPT có trình độ chuyên môn nghiệp vị vững vàng, khả năng tiếp cận nhanh với kiến thức và tài liệu mới, có kinh nghiệm trong việc xây dựng hệ thống BTĐL theo hướng tự học

1.5 Đặc điểm tâm sinh lí và trình độ nhận thức của học sinh lớp 10 THPT

1.5.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh 10 THPT

Mặc dù là lớp đầu cấp, học sinh lớp 10 đang dần dần phát triển hoàn thiện về thể chất, tư duy logic, tư duy trừu tượng, sự hoài nghi khoa học, thích tranh luận, tò

mò Kinh nghiệm sống của học sinh ngày càng phong phú và có ý thức đúng đắn về nhiệm vụ học tập của mình Đó chính là những thuận lợi để giúp giáo viên lựa chọn các phương pháp dạy học nhằm phát huy được tư duy sáng tạo, tính độc lập của học sinh trong quá trình học tập Vì vậy đòi hỏi giáo viên trong việc hướng dẫn học sinh làm các BT phải có sự phối hợp linh hoạt giữa các phương pháp Giáo viên không thể áp dụng một phương pháp dạy vào tất cả các BT, mà phải tùy thuộc vào từng bài, từng trình độ của học sinh và từng lớp cụ thể để có thể tìm ra biện pháp tổ chức

Trang 35

lớp và có phương pháp dạy phù hợp để giờ học đạt được kết quả cao

Quá trình nhận thức của học sinh là một quá trình vận động và phát triển Học sinh tiếp thu tri thức từ mức độ thấp đến mức độ cao, từ đơn giản đến phức tạp Các câu hỏi cũng phải sắp xếp phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh để phát huy tính tích cực độc lập và trí thông minh sáng tạo của học sinh Chương trình Địa lý lớp 10, đặc biệt là phần Địa lí tự nhiên đã tạo điều kiện cho học sinh hứng thú học tập bởi lẽ các kiến thức về tự nhiên gần gũi với đời sống hàng ngày mà các em có thể biết qua các phương tiện thông tin đại chúng như: Báo chí, tivi, tranh ảnh, đây

là điều kiện tốt cho các em ghi nhớ và khắc sâu các kiến thức lý thuyết, rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo trong quá trình tiếp cận tri thức

Thái độ ý thức học tập của HS ngày càng phát triển, thúc đẩy bởi các động cơ

và mục đích học tập Điều này thúc đẩy sự phát triển có tính chủ định của quá trình nhận thức và năng lực điều khiển bản thân trong quá trình tự học

1.5.2.2 Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ

Lứa tuổi của học sinh THPT có trí tuệ phát triển cao, khả năng ghi nhớ logic, ghi nhớ trừu tượng ngày càng rõ rệt

Tri giác có mục đích đã đạt tới mức độ cao hơn, khả năng quan sát có mục đích và có hệ thống, toàn diện hơn Mặt khác, khả năng tư duy lí luận, tư duy trừu tượng độc lập, sáng tạo hơn, chặt chẽ và có căn cứ hơn Không những thế, tính phê phán của tư duy cũng dần phát triển, thế giới quan đang dần được hình thành

Như vậy đối với HS lớp 10, các em đã có một cơ thể khỏe mạnh, năng động, sáng tạo, khả năng tư duy trừu tượng cao, năng lực quan sát tư duy nhạy bén Các

em thích bày tỏ quan điểm và ý kiến của mình Do đó GV cần phải lựa chon PPDH

Trang 36

Tiểu kết chương 1

Trong chương này chúng tôi đã trình bày tổng quan vấn đề nghiên cứu, cơ sở

lí luận và thực tiễn của đề tài bao gồm:

Bài tập địa lí: nêu rõ khái niệm bài tập, tác dụng, vị trí của bài tập Địa lí trong quá trình dạy học, phân loại bài tập và xu hướng phát triển bài tập Địa lí hiện nay Nêu một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học, trong đó có phương pháp sử dụng bài tập Địa lí theo hướng tự học

Chương trình địa lí tự nhiên lớp 10 THPT: chúng tôi làm rõ được mục tiêu, nội dung kiến thức của SGK và chương trình địa lí 10 THPT từ đó lấy cơ sở lí luận

để xây dựng và sử dụng bài tập Địa lí phần tự nhiên đại cương theo hướng phát huy năng lực tự học

Chúng tôi khảo sát thực trạng sử dụng bài tập địa lí địa lí tự nhiên lớp 10 của

GV dạy môn địa lí ở tỉnh Hà Tĩnh, T.p Huế, Quảng Trị; 191 HS của trường THPT Phúc Trạch, trường THPT Hương Khê và trường THPT Hàm Nghi trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh Kết quả điều tra cho thấy 55,2% GV thường biên soạn các BT cho HS

và 86,7% GV thường phát cho HS phiếu học tập trong các tiết có nhiều BT Có khoảng hơn 50% HS không hứng thú khi học môn Địa lí với nguyên nhân là do

giải chúng (57,5%)

Những nội dung trên là cơ sở để chúng tôi nghiên cứu, xây dựng và tuyển chọn hệ thống bài tập Địa lí góp phần phát huy năng lực tự học của học sinh, đồng thời đề ra các hướng sử dụng bài tập đã xây dựng nhằm nâng cao hiệu quả dạy học

Trang 37

Chương 2:

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP ĐỊA LÍ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN LỚP 10 THPT

2.1 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập trong giảng dạy Địa lí lớp 10 phần

tự nhiên đại cương

2.1.1 Hệ thống bài tập phải góp phần thực hiện mục tiêu môn học

Bài tập là một phương tiện để tổ chức các hoạt động của học sinh nhằm khắc sâu, vận dụng và phát triển hệ thống kiến thức lí thuyết đã học, hình thành và rèn luyện các kĩ năng cơ bản

Mục tiêu của Địa lí tự nhiên ở trường THPT cung cấp cho học sinh hệ thống kiến thức, kĩ năng phổ thông, cơ bản, hiện đại, thiết thực, có nâng cao về Địa lí tự nhiên và gắn với đời sống.[4]

2.1.2 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính chính xác, khoa học

Khi xây dựng bài tập nội dung phải có sự chính xác về kiến thức Địa lí, bài tập cho đủ các dữ kiện, không được thừa hay thiếu Các bài tập không được mắc sai lầm trong cách diễn đạt, nội dung thiếu logic chặt chẽ Vì vậy giáo viên khi ra bài tập cần nói, viết một cách logic, chính xác và đảm bảo tính khoa học về mặt ngôn ngữ Địa lí

2.1.3 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính hệ thống, tính đa dạng

Vận dụng quan điểm hệ thống – cấu trúc vào việc xây dựng bài tập cho học sinh, trước hết chúng tôi xác định từng bài tập (mỗi bài tập tương ứng với một kĩ năng nhất định và đây là những kĩ năng cơ bản) Toàn bộ hệ thống gồm nhiều bài tập sẽ hình thành hệ thống kĩ năng toàn diện cho học sinh

Trong quá trình xây dựng hệ thống bài tập có những loại bài tập được đầu tư nhiều hơn, vì chúng góp phần quan trọng hơn vào việc hình thành và rèn luyện những kĩ năng liên quan đến nhiều hoạt động giáo dục Hệ thống bài tập luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bài tập trước là cơ sở, nền tảng để thực hiện bài tập

Trang 38

trước Toàn bộ hệ thống bài tập đều nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức, hình thành và phát triển hệ thống kĩ năng cơ bản

Mặt khác, hệ thống bài tập còn phải được xây dựng một cách đa dạng, phong phú Sự đa dạng của hệ thống bài tập sẽ giúp cho việc hình thành các kĩ năng cụ thể, chuyên biệt một cách hiệu quả

2.1.4 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính phân hóa và tính vừa sức

Bài tập phải được xây dựng từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp Các bài tập phải có đủ loại và tính mục đích rõ ràng, có bài tập chung cho cả lớp nhưng cũng có bài tập riêng cho từng đối tượng, hình thức phổ biến là cao hơn, khó hơn nhưng gây được hứng thú, chứ không mang tính chất ép buộc Với hệ thống bài tập được xây dựng theo nguyên tắc này sẽ giúp cho mọi trình độ học sinh đều tham gia vào việc giải bài tập Khi nói lên một ý hay, ý đúng sẽ tạo cho học sinh một niềm vui, một sự hưng phấn cao độ, kích thích tư duy và nỗ lực suy nghĩ

2.1.5 Hệ thống bài tập phải góp phần củng cố kiến thức cho học sinh ở các mức

độ hiểu, biết, vận dụng

Kiến thức có thể phân biệt ở bốn mức độ: biết, hiểu, vận dụng, vận dụng cao Học sinh nắm vững kiến thức Địa lí một cách chắc chắn khi được hình thành kĩ năng, kĩ xảo vận dụng và chiếm lĩnh kiến thức thông qua nhiều hình thức tự học khác nhau Sử dụng bài tập nhằm mục đích cho học sinh vận dụng kiến thức để giải thích các sự vật hiện tượng Địa lí, kiến thức được củng cố vững chắc hơn

2.1.6 Hệ thống bài tập phải phát huy tính tích cực nhận thức, năng lực sáng tạo của học sinh

Với mục đích nghiên cứu quá trình suy luận của học sinh nhằm phát triển năng lực nhận thức, tư duy sáng tạo, chúng tôi tạm phân ra làm hai loại bài tập: Bài tập

cơ bản, loại bài tập chỉ yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức đã biết để giải quyết các tình huống quen thuộc; Bài tập tổng hợp: loại bài tập đòi hỏi học sinh khi giải

vận dụng một chuỗi các lập luận logic, giữa cái đã cho và cái cần tìm

2.2 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập

2.2.1 Xác định mục tiêu của bài tập

Mục tiêu xây dựng HTBT phần địa lí tự nhiên lớp 10 THPT nhằm củng cố kiến thức, phát triển tư duy sáng tạo và khả năng tự học cho học sinh

Trang 39

2.2.2 Xác định nội dung bài tập

Nội dung của hệ thống bài tập phải bao quát được kiến thức của phần Địa lí tự nhiên lớp 10 Bài tập Địa lí thỏa mãn mục tiêu chương, giáo viên phải trả lời được các câu hỏi sau: Bài tập giải quyết vấn đề gì? Nó nằm ở vị trí nào trong bài học? Cần ra loại bài tập gì? (định tính hay định lượng) Có liên hệ với những kiến thức cũ

và mới không? Có phù hợp với năng lực nhận thức của học sinh không? Có phối hợp với những phương tiện, thiết bị dạy học Địa lí khác không? Có thỏa mãn ý đồ, phương pháp của GV không?

2.2.3 Xác định loại bài tập, các kiểu bài tập

Đối với phần Địa lí tự nhiên, chúng tôi chia thành các loại bài tập: Bài tập định tính; Bài tập định lượng

Bài tập định tính là trong đề bài không yêu cầu phải tính toán trong quá trình giải và yêu cầu phải xác lập những mối liên hệ nhất định giữa các kiến thức và các

kĩ năng Ví dụ: giải các bài tập có quan sát, nhận biết các sự vật, hiện tượng địa lí; xác định vị trí các đối tượng địa lí; so sánh, vẽ sơ đồ và giải thích về mối quan hệ của các sự vật, hiện tượng địa lí; xử lí số liệu và vẽ các loại biểu đồ, rút ra nhận xét Bài tập định lượng là trong đề bài phải có tính toán trong quá trình giải các bài tập

2.2.4 Thu thập thông tin để soạn hệ thống bài tập

Gồm các bước: thu thập các sách bài tập, các tài liệu liên quan đến HTBT cần xây dựng; tham khảo sách, báo, tạp chí có liên quan; tìm hiểu, nghiên cứu thực tế những nội dung Địa lí có liên quan đến đời sống

Tài liệu thu thập được càng nhiều và càng đa dạng thì việc biên soạn càng nhanh chóng và có chất lượng, hiệu quả Vì vậy, cần tổ chức sưu tầm, tư liệu một cách khoa học và có sự đầu tư về thời gian

2.2.5 Tiến hành soạn thảo bài tập

Soạn từng loại bài tập Bổ sung thêm các dạng bài tập còn thiếu hoặc những nội dung chưa có bài tập trong sách giáo khoa, sách bài tập

Chỉnh sửa các bài tập trong sách giáo khoa, sách bài tập không phù hợp như

Trang 40

Xây dựng các phương pháp giải quyết bài tập Sắp xếp các bài tập thành các loại như đã xác định theo trình tự: từ dễ đến khó, từ lí thuyết đến thực hành, từ tái hiện đến sáng tạo

2.2.6 Hoàn thiện hệ thống bài tập

Hệ thống bài tập Địa lí nhằm củng cố kiến thức và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh, GV trao đổi với đồng nghiệp thực nghiệm về khả năng nắm vững kiến thức

và phát triển năng lực nhận thức, tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua hoạt động giải các bài tập

Sau khi điều chỉnh những bài tập chưa hợp lí, chúng tôi tiến hành soạn thảo lại, sắp xếp chúng thành một hệ thống bài tập hoàn chỉnh, hoàn thiện bài tập, đảm bảo cân đối về số lượng bài tập theo hướng phát triển năng lực tự học

2.3 Xây dựng hệ thống bài tập phần Địa lí tự nhiên lớp 10 THPT

Hệ thống bài tập phần Địa lí tự nhiên lớp 10 được chúng tôi xây dựng trong

7 chủ đề, với 28 dạng bài tập được sắp xếp tương ứng các mức độ từ dễ đến khó, phù hợp với các mức độ nhận thức và năng lực tự học của học sinh Trong mỗi bài tập có hai phần: cơ sở dữ liệu của bài tập, yêu cầu và nhiệm của bài tập cần phải giải quyết

2.3.1 Các bài tập theo chủ đề: Bản đồ

+ Nội dung kiến thức cơ bản của chủ đề

Một số phương pháp biểu hiện các đối tượng địa lí trên bản đồ; Phương pháp

sử dụng bản đồ trong học tập và trong đời sống

+ Yêu cầu cần đạt

Phân biệt được một số phương pháp biểu hiện các đối tượng địa lí trên bản đồ;

Sử dụng được bản đồ trong học tập và đời sống

+ Năng lực hình thành

Năng lực chung: Tự học, giải quyết vấn đề; Năng lực chuyên biệt: Năng lực tư duy tổng hợp theo lãnh thổ Năng lực sử dụng bản đồ, sơ đồ

+ Hệ thống bài tập cần được xây dựng

Câu 1: Dựa vào lược đồ dưới đây, hãy viết rõ từng hướng từ O đi tới các địa điểm A, B, C, D, E, G, H, I, K

Ngày đăng: 12/09/2020, 15:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Võ Hồng Tuyến An (2011), Xây dựng hệ thống bài tập với Atlat Địa lí Việt Nam trong dạy học phần Địa lí tự nhiên lớp 12 trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ Địa lý, Trường Đại học Sư phạm, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng hệ thống bài tập với Atlat Địa lí Việt Nam trong dạy học phần Địa lí tự nhiên lớp 12 trung học phổ thông
Tác giả: Võ Hồng Tuyến An
Năm: 2011
2. Đỗ Thị Lan Anh (2013), Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng trong dạy học Địa lí KT-XH đại cương lớp 10 ở các trường THPT chuyên, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, Trường Đại học Sư phạm, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng trong dạy học Địa lí KT-XH đại cương lớp 10 ở các trường THPT chuyên
Tác giả: Đỗ Thị Lan Anh
Năm: 2013
3. Bộ GD&ĐT (tháng 7 năm 2017), Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể. Hà Nội, tháng 7 năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể
4. Bộ GD&ĐT (tháng 4 năm 2018), Chương trình giáo dục phổ thông môn Địa lí. Hà Nội, tháng 4 năm 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông môn Địa lí
5. Bộ GD&ĐT, dự án Việt – Bỉ (2010), Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học, NXB Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học
Tác giả: Bộ GD&ĐT, dự án Việt – Bỉ
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2010
6. Nguyễn Dược, Nguyễn Trọng Phúc (2001), Lý luận dạy học Địa lí phần đại cương, NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Lý luận dạy học Địa lí phần đại cương
Tác giả: Nguyễn Dược, Nguyễn Trọng Phúc
Nhà XB: NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2001
7. Lâm Quang Dốc (2006), Hướng dẫn sử dụng bản đồ, lược đồ trong SGK Địa lý ở nhà trường phổ thông, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn sử dụng bản đồ, lược đồ trong SGK Địa lý ở nhà trường phổ thông
Tác giả: Lâm Quang Dốc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
8. Nguyễn Thị Phương Dung (2008) “Tuyển chọn và sử dụng bài tập trong chương Chất khí, vật lí 10 theo hướng rèn luyện và phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh”, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, trường ĐHSP Huế, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển chọn và sử dụng bài tập trong chương Chất khí, vật lí 10 theo hướng rèn luyện và phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh
9. Đặng Văn Đức (1999), Kĩ thuật dạy học Địa lý ở trường THPT, NXB Giáo dục 10. Nguyễn Thị Khăm (2017), Xây dựng và sử dụng một số chủ đề địa lý tự nhiêntrong dạy học Địa lý lớp 10 trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ Địa lý, Trường Đại học Sư phạm, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ thuật dạy học Địa lý ở trường THPT", NXB Giáo dục 10. Nguyễn Thị Khăm (2017), "Xây dựng và sử dụng một số chủ đề địa lý tự nhiên "trong dạy học Địa lý lớp 10 trung học phổ thông
Tác giả: Đặng Văn Đức (1999), Kĩ thuật dạy học Địa lý ở trường THPT, NXB Giáo dục 10. Nguyễn Thị Khăm
Nhà XB: NXB Giáo dục 10. Nguyễn Thị Khăm (2017)
Năm: 2017
11. Nguyễn Thị Kha Liên (2017), Phát triển năng lực tự học cho học sinh trong môn Địa lý lớp 10 THPT, Luận văn thạc sĩ Địa lý, Trường Đại học Sư phạm, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển năng lực tự học cho học sinh trong môn Địa lý lớp 10 THPT
Tác giả: Nguyễn Thị Kha Liên
Năm: 2017
12. Nguyễn Thị Mùi (2016), Xây dựng và sử dụng câu hỏi, bài tập kiểm tra đánh giá học sinh theo định hướng năng lực trong dạy học địa lí 10 trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ Địa lý, Trường Đại học Sư phạm, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và sử dụng câu hỏi, bài tập kiểm tra đánh giá học sinh theo định hướng năng lực trong dạy học địa lí 10 trung học phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Mùi
Năm: 2016
13. Nguyễn Ngọc Minh (2014), Kỹ thuật dạy học địa lí, NXB Đại học sư phạm Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật dạy học địa lí
Tác giả: Nguyễn Ngọc Minh
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm Huế
Năm: 2014
14. Hoàng Phê (2017), Từ điển tiếng việt, Viện ngôn ngữ học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng việt
Tác giả: Hoàng Phê
Năm: 2017
15. Lê Thông – Trần Trọng Hà – Nguyễn Minh Tuệ - Nguyễn Trọng Hiếu – Phạm Thu Phương – Đỗ Ngọc Tiễn – Nguyễn Viết Thịnh (2017), SGK Địa Lí 10, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Địa Lí 10
Tác giả: Lê Thông – Trần Trọng Hà – Nguyễn Minh Tuệ - Nguyễn Trọng Hiếu – Phạm Thu Phương – Đỗ Ngọc Tiễn – Nguyễn Viết Thịnh
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2017
16. Thái Duy Tuyên (2010), Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, NXB giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới
Tác giả: Thái Duy Tuyên
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2010
17. Nguyễn Xuân Thức (2006), Giáo trình tâm lí học đại cương, NXB Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm lí học đại cương
Tác giả: Nguyễn Xuân Thức
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2006
18. Lê Thông, Nguyễn Thị Minh Phương, Phạm Viết Hồng, Nguyễn Việt Hùng, Ông Thị Đan Thanh, Trần Đức Tuấn, Nguyễn Đức Vũ (2006), Sách giáo khoa Địa lí 10, NXB giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Địa lí 10
Tác giả: Lê Thông, Nguyễn Thị Minh Phương, Phạm Viết Hồng, Nguyễn Việt Hùng, Ông Thị Đan Thanh, Trần Đức Tuấn, Nguyễn Đức Vũ
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2006
19. Nguyễn Cảnh Toàn (2002), Học và dạy cách học,NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học và dạy cách học
Tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
20. Nguyễn Thị Như Trang (2011), Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng trong dạy học Địa lý lớp 10 ở các trường THPT chuyên, Luận văn thạc sĩ Địa lý, Trường Đại học Sư phạm Huế, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng trong dạy học Địa lý lớp 10 ở các trường THPT chuyên
Tác giả: Nguyễn Thị Như Trang
Năm: 2011
22. Nguyễn Đức Vũ (2013), Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục trong địa lí, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục trong địa lí
Tác giả: Nguyễn Đức Vũ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2013

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w