1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng hệ thống bài tập kiểm tra đánh giá năng lực của học sinh trong dạy học chuyên đề phong cách chức năng ngôn ngữ ở trường THPT (2018)

64 249 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 764,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khóa luận với đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập kiểm tra đánh giá năng lực của học sinh trong dạy học chuyên đề phong cách chức năng ngôn ngữ ở trường THPT.. 22 CHƯƠNG 2: QUY TRÌNH XÂY

Trang 1

ĐỀ PHONG CÁCH CHỨC NĂNG NGÔN

NGỮ

Ở TRƯỜNG THPT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

Người hướng dẫn khoa học

ThS DƯƠNG THỊ MỸ HẰNG

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình tới

cô giáo Dương Thị Mỹ Hằng, người đã hướng dẫn tận tình và luôn động viên em Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn, khoa Ngữ văn đã tạo điều kiện và đóng góp ý kiến để em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Do thời gian và khuôn khổ cho phép của đề tài còn hạn chế chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến và tiếp tục xây dựng đề tài của quý thầy cô và các bạn để đề tài của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Nguyễn Thị Lan

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận là kết quả nghiên cứu của riêng tôi và có sự

hướng dẫn tận tình của cô giáo Dương Thị Mỹ Hằng Khóa luận với đề tài: Xây

dựng hệ thống bài tập kiểm tra đánh giá năng lực của học sinh trong dạy học chuyên đề phong cách chức năng ngôn ngữ ở trường THPT Khóa luận chưa

từng công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Nguyễn Thị Lan

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 6

5.Phương pháp nghiên cứu 6

6 Bố cục khóa luận 7

PHẦN NỘI DUNG………8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN……….8

1.1 Cơ sở lí luận 8

1.1.1 Khái niệm bài tập 8

1.1.2 Vai trò của bài tập trong kiểm tra, đánh giá 8

1.1.3 Kiểm tra đánh giá năng lực 8

1.1.4 Thang Bloom trong kiểm tra đánh giá năng lực của người học 12

1.1.5 Bài tập theo định hướng năng lực 13

1.1.6 Dạy học theo chuyên đề 17

1.1.7 Phong cách chức năng ngôn ngữ 19

1.2 Cơ sở thực tiễn 21

1.2.1 Hệ thống bài tập về phong cách chức năng ngôn ngữ trong SGK Ngữ văn THPT 21

1.2.2 Thực trạng biên soạn và sử dụng bài tập trong dạy học về phong cách chức năng ngôn ngữ ở THPT 22

CHƯƠNG 2: QUY TRÌNH XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ PHONG CÁCH CHỨC NĂNG NGÔN NGỮ Ở TRƯỜNG THPT 28

2.1 Quy trình xây dựng chuyên đề PHONG CÁCH CHỨC NĂNG NGÔN NGỮ 28

2.1.1 Cơ sở xây dựng chuyên đề 28

Trang 7

2.1.2 Mục tiêu dạy học chuyên đề 30

2.1.3 Nội dung chuyên đề 32

2.2 Bảng mô tả mức độ yêu cầu của bài tập trong chuyên đề 32

2.2.1 Cơ sở xây dựng bảng mô tả 32

2.2.2 Bảng mô tả 32

2.3 Hệ thống bài tập 34

2.3.1 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập 34

2.3.2 Bài tập nhận biết 34

2.3.3 Bài tập thông hiểu 36

2.3.4 Bài tập vận dụng 39

2.4 Phương hướng sử dụng bài tập 42

2.4.1 Mục đ ch và yêu cầu sử dụng 42

2.4.2 Cách thức sử dụng 43

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM 45

3.1 Mục đ ch thực nghiệm 45

3.2 Địa bàn và thời gian thực nghiệm 45

3.2.1 Địa bàn thực nghiệm 45

3.2.2 Thời gian thực nghiệm 46

3.3 Nội dung thực nghiệm 46

3.3.1 Chuẩn bị thực nghiệm 46

3.3.2 Phương thức thực nghiệm 46

3.4 Kết quả bước đầu 48

PHẦN KẾT LUẬN……… 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Xuất phát từ định hướng đổi mới về giáo dục

Dạy và học trong nhà trường đang đứng trước yêu cầu đổi mới toàn diện từ phương hướng, mục tiêu đến nội dung và phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học Điều đặc biệt quan trọng cần đổi mới là đổi mới giáo dục trung học phổ thông phải được diễn ra toàn diện và sâu sát hơn Từ việc đổi mới chương trình cần đổi mới phương pháp dạy học đến cả việc đổi mới khâu kiểm tra đánh giá, trong đó đổi mới căn bản nhất là phương pháp dạy học bằng cách đưa ra hệ thống bài tập cụ thể cho từng bài để phát huy năng lực của học sinh Ch nh điều này sẽ giúp học sinh nắm

bắt nội dung bài học một cách đúng đắn và khoa học nhất

Nghị quyết số 29 (NQ/TW) Trung ương khóa XI đã nêu rõ cần phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, trong đó những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế,

ch nh sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản

lí của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục, đào tạo… cũng cần thay đổi mạnh mẽ Đổi mới kiểm tra, thi, đánh giá được coi là giải pháp đột phá nhằm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam

Công văn 5555 của Bộ Giáo dục -Đào tạo đã chỉ rõ phải nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn trong trường trung học và trung tâm giáo dục thường xuyên, tập trung vào thực hiện đổi mới PPDH và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh Đồng thời giúp cho cán bộ quản lý, giáo viên bước đầu biết chủ động lựa chọn nội dung để xây dựng các chuyên đề dạy học trong mỗi môn học và các chuyên đề tích hợp, liên môn phù hợp với việc tổ chức hoạt động học tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh, sử dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực để xây dựng tiến trình dạy học theochuyên đề nhằm phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh, làm quen với hình thức tập huấn, bồi dưỡng, học tập

và sinh hoạt chuyên môn qua mạng

Trang 9

1.2 Xuất phát từ vai trò của bài tập Ngữ văn nói chung và phong cách chức năng ngôn ngữ nói riêng

Môn Ngữ văn được coi là môn học công cụ, môn học bắt buộc ở cả 3 cấp, hướng tới việc hình thành và phát triển các năng lực đọc, viết tiếng Việt (năng lực tiếp nhận và xử l thông tin, năng lực cảm thụ thẩm mĩ, năng lực trình bày, tạo lập các kiểu loại văn bản cần thiết trong cuộc sống Dạy học định hướng năng lực Ngữ văn đòi hỏi việc thay đổi mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và đánh giá, trong

đó việc thay đổi quan niệm và cách xây dựng các nhiệm vụ học tập, bài tập (sau đây gọi chung là bài tập) có vai trò quan trọng Bài tập giúp HS hình thành và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vận dụng kiến thức vào thực tiễn BT còn giúp phát triển tư duy, nâng cao năng lực làm việc tự lực của HS Đồng thời BT là công cụ để GV kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo, đặc biệt là giúp phát hiện trình độ phát triển tr tuệ, làm bộc lộ những khó khăn, sai lầm của học sinh trong học tập, từ đó GV có thể điều chỉnh việc dạy học sao cho phù hợp với đối tượng HS Việc sử dụng BT để dạy chuyên

đề về PCCNNN là biện pháp quan trọng để phát huy khả năng tự lực nghiên cứu SGK, và các tài liệu khác, giúp cho HS có thể lĩnh hội vững chắc, tạo hứng thú học tập, rèn luyện cho HS những thao tác lập luận tư duy, đặc biệt là thao tác phân t ch tổng hợp, vận dụng kiến thức vào đời sống, bồi dưỡng năng lực cho HS tự học, tự tìm kiếm thông tin, năng lực tự giải quyết vấn đề, phát triển năng lực tư duy và hành động Hệ thống BT trong PCCCNN còn giúp HS phát triển kĩ năng giao tiếp trong quá trình học và trong đời sống hằng ngày

1.3 Xuất phát từ thực tiễn xây dựng hệ thống bài tập về phong cách chức năng ngôn ngữ ở trường THPT

Hiện trạng của hệ thống bài tập Ngữ văn nói chung và bài tập về phong cách chức năng ngôn ngữ nói riêng còn nhiều tồn tại Theo chỉ đạo của Công văn 5555/BGD-ĐT, một số GV đã biết cách xây dựng BT trong chuyên đề dạy học Tuy nhiên, họ vẫn còn lúng túng trong việc xây dựng các BT Các BT trong SGK hiện nay

đa số có cách tiếp cận một chiều, t thay đổi trong việc xây dựng bài tập, thường là những BT đóng Thiếu về tham chiếu ứng dụng, chuyển giao cái đã học sang vấn đề

Trang 10

chưa biết cũng như các tình huống thực tiễn cuộc sống Kiểm tra thành t ch, chú trọng các thành t ch nhớ và hiểu ngắn hạn Quá t ôn tập thường xuyên và bỏ qua sự kết nối giữa vấn đề đã biết và vấn đề mới T nh t ch lũy của việc học không được lưu ý đến một cách đầy đủ…Thực tế số lượng BT về ngôn ngữ trong nội dung dạy học về PCCNN ở SGK Ngữ văn hiện hành rất t, điều này sẽ gây ra những khó khăn cho cả

GV và HS trong quá trình dạy và học Về ph a HS qua việc khảo sát việc học các bài về PCNN còn nhiều hạn chế HS không được làm bài tập nhiều, nhất là những bài tập mang t nh vận dụng thấp, cao Khi gặp các văn bản thông thường HS không thể phân biệt được văn bản đó thuộc PCNN nào Điều đó sẽ gây ra những những khó khăn trong hoat động giao tiếp của HS Về ph a GV vẫn chỉ là truyền đạt kiến thức cơ bản cho các em, mà chưa thể xác định rõ được năng lực cụ thể của từng em qua hệ thống bài tập

Là một sinh viên chuyên ngành Ngữ Văn, việc nghiên cứu vấn đề xây dựng

hệ thống bài tập kiểm tra đánh giá năng lực của HS trong dạy học chuyên đề các phong cách chức năng ngôn ngữ ở trường THPT là điều vô cùng cần thiết

Bởi vậy đây là nguyên nhân thôi thúc tôi nghiên cứu vấn đề này Đồng thời trước yêu cầu đổi mới của thời đại, nhu cầu học tập và nghiên cứu trở thành điều quan trọng đối với mỗi sinh viên Do vậy tôi tìm hiểu vấn đề này để bổ sung thêm cho vốn kiến thức, hiểu biết và cả năng lực cho mình

2 Lịch sử nghiên cứu

Vấn đề nghiên cứu quy trình xây dựng hệ thống bài tập để kiểm tra đánh giá năng lực của HS đã sớm được quan tâm ở nhiều nước trên thế giới và đặc biệt thu hút nhiều nhà nghiên cứu Điều này đã được giới nghiên cứu bắt tay vào nghiên cứu đồng bộ cả về lý thuyết lẫn thực hành, và đã có những công trình nghiên cứu như công trình của GS.TS Lê Thị Thanh Oai (2003) về việc biên soạn câu hỏi bài tập trong môn Sinh Học, lớp 11: “Sử dụng câu hỏi bài tập để tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS trong dạy- học STH ở học sinh” Đây được coi là một công trình nghiên cứu có tính hệ thống cao từ việc đưa ra cơ sở nguyên tắc đến quy trình thiết

kế câu hỏi bài tập Qua đó người giáo viên có thể có những kiến thức nền quan

Trang 11

trọng khi tiến hành tổ chức giúp HS phát hiện ra những kiến thức mới qua hệ thống câu hỏi và bài tập nhằm nâng cao chất lượng dạy học Tuy nhiên đây chỉ là những tài liệu chủ yếu dùng cho dạy học nói chung, chưa đề cập trực tiếp đến vấn đề xây dựng hệ thống bài tập để kiểm tra đánh giá HS

Công văn số 8773/BGDĐT-GDTH ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ GDĐT

đã chỉ rõ: Đánh giá kết quả học tập của học sinh là một hoạt động rất quan trọng trong quá trình giáo dục Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lí thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh nhằm tạo

cơ sở cho những điều chỉnh sư phạm của giáo viên, các giải pháp của các cấp quản

lí giáo dục và cho bản thân học sinh, để học sinh học tập đạt kết quả tốt hơn

Bàn về nội dung kiểm tra đánh giá PGS.TS Nguyễn Công Khanh, đã chỉ rõ: Kiểm tra đánh giá là bộ phận không thể tách rời của quá trình dạy học và có thể nói KT-ĐG là động lực để thúc đẩy sự đổi mới quá trình dạy và học Tác giả cũng đề cập đến công cụ để KT-ĐG như sổ ghi chép, bài kiểm tra, phiếu kiểm kê…Trong

đó, hệ thống bài tập là một trong những công cụ được dùng khá phổ biến để đánh giá kết quả học tập của học sinh Có thể bao gồm các câu hỏi, bài tập (tự luận hoặc/và trắc nghiệm) theo 4 mức độ yêu cầu: Nhận biết; Thông hiểu; Vận dụng Căn cứ vào mức độ phát triển năng lực của học sinh ở từng học kỳ và từng khối lớp, giáo viên và nhà trường xác định tỉ lệ các câu hỏi, bài tập theo 4 mức độ yêu cầu trong các bài để kiểm tra trên nguyên tắc đảm bảo sự phù hợp với đối tượng học sinh và tăng dần tỉ lệ các câu hỏi, bài tập ở mức độ yêu cầu vận dụng, vận dụng cao

Tác giả Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt trong cuốn “Giáo dục học, tập 1”, NXB Giáo Dục, 1987 đã quan niệm về kiểm tra đánh giá như sau: “Kiểm tra và đánh giá

tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của học sinh là một khâu quan trọng của quá trình dạy học Xét theo các cách thức thực hiện hệ thống các khâu của quá trình dạy học, kiểm tra

và đánh giá có thể xem như là một nhóm phương pháp dạy học” [11; tr258]

Bài viết “Kiểm tra, đánh giá năng lực Ngữ Văn của học sinh” của TS Nguyễn Trọng Hoàn, đã đề cập đến một số vấn đề kiểm tra, đánh giá năng lực Ngữ Văn của học sinh với tinh thần dạy học định hướng năng lực Để đánh giá được các

Trang 12

năng lực Ngữ văn của học sinh, cần có những bộ công cụ phù hợp với mục đ ch và tính chất của từng bài kiểm tra, kì thi

Bài viết “Vai trò của bài tập mở trong rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh trường trung học cơ sở”[14] của Hồ Thị Mai Phương đã chỉ rõ: Trong quá trình dạy học bài tập toán đều thể hiện những chức năng khác nhau, nhưng các chức năng đó đều hướng đến việc thực hiện các mục tiêu dạy học Một trong các mục tiêu đó là rèn luyện những hoạt động trí tuệ, đặc biệt là hoạt động sáng tạo của học sinh

Bên cạnh đó là luận văn “Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 10 THPT” Ngô Thị Nghị, trường THPT Thạch Hòa Luận văn đã chỉ rõ quy trình xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng Làm văn, đặc biệt kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 10 THPT nhằm giúp HS tạo lập một đoạn văn hoàn chỉnh, thật hiệu quả

Các hệ thống BT trong SGK, và sách giáo viên của chương trình Ngữ văn

10, 11, 12 là những cuốn sách mang tính chất công cụ của GV và HS trong quá trình dạy học Tuy nhiên các BT trong đó còn khá sơ lược, chưa thành hệ thống Nhưng dù ở mức độ sơ giản thì các nội dung BT về PCNN được đề cập đến trong SGK và sách giáo viên 10, 11, 12 là tư liệu hết sức quan trọng cho cả GV và HS và đây cũng là một cơ sở cho GV thực hiện đề tài này

Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết đề cập đến vấn đề xây dựng bài tập, kiểm tra đánh giá cho học sinh.Trong

đó có những công trình những bài viết đã chỉ ra những mục tiêu, cách thức, biện pháp để dạy học môn Ngữ văn nói chung và dạy học chuyên đề nói riêng Chúng ta không thể phủ nhận những đóng góp đáng kể của những công trình nghiên cứu và những bài viết vừa nêu trên song cũng không thể không nhận thấy tất cả cũng mới chỉ dừng lại ở những nhận định, quan điểm, nguyên tắc và những phương pháp dạy học khái quát Đây thực sự là một “Khoảng trống khoa học ” rất cần những nghiên cứu chuyên sâu để có thể luận giải thỏa đáng về tầm quan trọng của việc xây dựng bài tập và kiểm tra đánh giá, những nội dung cụ thể và phương pháp phát triển vấn

đề này

Trang 13

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài nhằm mục đ ch: xây dựng hệ thống bài tập nhằm kiểm tra đánh giá năng lực học sinh trong dạy học chuyên đề phong cách chức năng ngôn ngữ để nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Việt nói chung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Chúng tôi xác định đề tài nghiên cứu với những nhiệm vụ sau:

-Hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu để kế thừa và giải quyết đề tài

- Xác định cở sở lí luận và cơ sở thực tiễn

- Xây dựng hệ thống bài tập kiểm tra nhằm đánh giá năng lực của HS

- Tổ chức thực nghiệm và rút ra kết luận khoa học

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

4.1 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi đề tài, giới hạn phạm vi nghiên cứu bao gồm SGK Ngữ văn lớp

10, 11, 12 và các bài về PCNN trong chương trình ba lớp Đối tượng mà chúng tôi hướng đến là học sinh lớp 10,11, và 12 ở trường THPT Mê Linh, thành phố Hà Nội

4.2.Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống bài tập trong chuyên đề phong cách ngôn ngữ

5.Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thống kê

Trong chương trình hiện hành SGK lớp 10, 11, và 12 có tất cả sáu PCCNNN Bài tập trong chuyên đề gồm các dạng được xắp xếp theo các mức độ tái hiện nhận biết, vận dụng, giải quyết vấn đề, và các bài tập gắn với bối cảnh thực tiễn

Phương pháp thống kê được sử dụng để xử lí các số liệu thu thập trong quá trình khảo sát, thực nghiệm, bổ trợ cho phương pháp phân t ch, tổng hợp nhằm đạt tới những kết luận chính xác và khách quan

5.2 Phương pháp điều tra, khảo sát

Trang 14

Phương pháp này được sử dụng để thu thập những tư liệu thực tế và tình hình dạy học tiếng Việt nói chung và dạy học chuyên đề PCCNNN đang triển khai ở trường THPT

5.3.Phương pháp thực nghiệm

Ở đề tài này, phương pháp thực nghiệm nhằm thấy được tính hiệu quả của nghiên cứu việc thực nghiệm hệ thống bài tập chuyên đề phong cách ngôn ngữ Ngữ văn 10, 11, 12

5.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu lịch sử vấn đề và phát hiện, rút ra những kết luận cần thiết về cở sở lí luận thông qua tìm hiểu các tư liệu, tạp chí, giáo trình, các bài nghiên cứu thuộc lĩnh vực Ngôn ngữ học, tâm lí học,lí luận

và phương pháp dạy học Văn… có liên quan trực tiếp đến chuyên đề tiếng Việt cụ thể là các PCCNNN

6 Bố cục khóa luận

Gồm có 3 phần như sau:

Phần mở đầu: Phần này trình bày những vấn đề khái quát về đề tài nghiên

cứu, đối tượng nghiên cứu, nêu rõ lí do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, phương pháp nghiên cứu

Phần nội dung: Phần nội dung của khóa luận được chúng tôi triển khai trong

3 chương cụ thể như sau:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Quy trình xây dựng hệ thống bài tập kiểm tra đánh giá năng lực của học sinh trong dạy học chuyên đề phong cách ngôn ngữ ở trường THPT

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Phần kết luận: Tóm tắt lại vấn đề các chương đã làm được

Trang 15

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Khái niệm bài tập

Theo cuốn “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường”, tác giả Phan Ngọ Trọng quan niệm: “Bài tập bao gồm các hoạt động của học viên được

thực hiện theo yêu cầu của GV, hướng đến việc củng cố những tri thức, kỹ năng, phương pháp hành động đã học”[17] Bài tập là bài ra cho học sinh làm để vận

dụng những điều đã học, đây là phần quan trọng bổ sung cho việc học lí thuyết,

giúp củng cố và mở mở rộng sâu sắc kiến thức hơn

1.1.2 Vai trò của bài tập trong kiểm tra, đánh giá

Bài tập trong KT-ĐG có vai trò vô cùng quan trọng ở mỗi giai đoạn khác nhau trong quá trình dạy và học Hệ thống bài tập nhằm hình thành củng cố cho HS những kiến thức kĩ năng, kĩ xảo, ở các giai đoạn khác nhau trong quá trình dạy học Một số bài tập còn hình thành cho HS thế giới quan duy vật biện chứng, hứng thú học tập, niềm tin và phẩm chất của con người lao động mới Đặc biệt bài tập còn phát triển năng lực tư duy của HS, hình thành nên những thao tác trí tuệ tạo nên phẩm chất của tư duy khoa học Thông qua bài tập GV có thể đánh giá về mức độ dạy học, kết quả dạy học, đánh giá khả năng độc lập học Ngữ văn của từng em Có thể nói bài tập ch nh là thước đo để GV theo dõi thường xuyên được thành tích và tinh thần học tập của HS cùng với những hiệu quả công tác giáo dục, giáo dưỡng của mình để từ đó có thể điều chỉnh lại nội dung phương pháp của mình trong quá

trình dạy học

1.1.3 Kiểm tra đánh giá năng lực

1.1.3.1 Khái niệm kiểm tra

Theo Từ điển tiếng Việt [18], kiểm tra được hiểu là xem xét tình hình thực tế

để đánh giá, nhận xét Như vậy, việc kiểm tra sẽ cung cấp những dữ kiện, những thông tin cần thiết làm cơ sở cho việc đánh giá học sinh GV sẽ thu thập số liệu,

Trang 16

chứng cứ, xem xét để đánh giá học sinh Một số nhà nghiên cứu cho rằng: KT là thuật ngữ chỉ cách thức, chỉ hoạt động của GV sử dụng để thu thập thông tin về kiến thức, kĩ năng, và thái độ học tập của HS Kiểm tra được hiểu theo nghĩa rộng như là theo dõi quá trình học tập của HS, theo nghĩa hẹp là công cụ để kiểm tra đánh giá năng lực của HS

1.1.3.2 Khái niệm đánh giá

Đánh giá được hiểu là nhận định giá trị Các kết quả kiểm tra thành tích học tập, rèn luyện của học sinh được thể hiện trong việc đánh giá những thành tích học tập, rèn luyện đó Đánh giá kết quả học tập của HS là quá trình kịp thời thu thập xử

lí thông tin về hiện trạng, trình độ, khả năng đạt được mục tiêu của HS Cùng với tác động và nguyên nhân của tình hình đó, nhằm tạo quyết định sư phạm cho những

GV và nhà trường để HS ngày càng tiến bộ hơn Đánh giá phải đảm bảo tính công khai và tính chuẩn xác Nghĩa là phải phản ánh chính xác kết quả trên cơ sở công khai đối chiếu với mục tiêu đề ra, không phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của người

GV đánh giá

Đánh giá kết quả học tập của HS trong quá trình học chuyên đề có rất nhiều các đánh giá như đánh giá tổng kết, đánh giá quá trình, đánh giá sơ chuẩn, chuẩn đoán, đánh giá khách quan và chủ quan…nhưng chúng tôi chọn hai cách đánh giá sau làm căn bản Đó là đánh giá tổng kết và đánh giá quá trình

Đánh giá tổng kết là đánh giá có t nh tổng hợp, bao quát, nhằm cung cấp

thông tin về sự tinh thông, thành thạo của HS ở các mặt nội dung kỉến thức, kĩ năng

và thái độ sau khi kết thúc một chuyên đề Mục tiêu ch nh của đánh giá tổng kết là xác định mức độ đạt thành t ch của HS, nhưng không quan tâm đến việc thành t ch

đó đã đạt được ra sao và kết quả đánh giá này được sử dụng để công nhận người học đã hoặc không hoàn thành

Đánh giá quá trình là hoạt động đánh giá diễn ra trong tiến trình thực hiện

hoạt động giảng dạy một chuyên đề cung cấp thông tin phản hồi cho GV nhằm mục tiêu cải thiện hoạt động hướng dẫn, giảng dạy Đánh giá quá trình thường được thực hiện trong quá trình giảng dạy một chuyên đề ở một lớp Đánh giá quá trình, còn

Trang 17

được gọi là "Đánh giá giáo dục" được thực hiện để hỗ trợ cho việc nâng cao chất lượng dạy và học

1.1.3.3 Công cụ kiểm tra đánh giá

Trong đề tài này, công cụ đánh giá được hiểu là một phương tiện được GV

sử dụng trong suốt quá trình dạy và học để nhằm đạt được mục đ ch đánh giá T nh năng cơ bản nhất của công cụ đánh giá là thu thập thông tin để cung cấp cho HS và

GV để đánh giá và tự đánh giá

Công cụ đánh giá đầu tiên là sổ ghi chép GV có thể theo dõi, ghi chép những hoạt động rồi sau đó đi đến nhận xét từng kết quả hoạt động của HS sau mỗi tiết học để thấy được năng lực của từng em Sổ ghi chép là phương tiện để GV thu thập các thông tin một cách hệ thống và đây cũng là căn cứ để GV đánh giá kết quả học tập của HS

Công cụ thứ hai là bài kiểm tra gồm có hai hình thức đó là bài kiểm tra nói (miệng) và bài kiểm tra viết Bài kiểm tra nói là một thuật ngữ chỉ hoạt động đánh giá thường xuyên và trực tiếp đối mặt giữa GV và HS trong mỗi bài học mới nhằm kiểm tra sự hiểu biết và khả năng ứng dụng những điều đã học của các em Hình thức thứ hai là kiểm tra viết là được dùng khá thường xuyên và phổ biến, được sử dụng để kiểm tra cho nhiều HS Bài kiểm tra viết được sử dụng sau khi học xong một phần của một chương, một chương hay nhiều chương

Công cụ thứ ba là bài tập, GV có thể sử dụng hệ thống bài tập trong SGK hay trong vở bài tập để giao cho HS làm Đồng thời, GV cũng có thể tự biên soạn bài tập phù hợp với trình độ nhận thức của từng HS Đây là công cụ để đánh giá kết quả học tập của HS thông qua việc quan sát, theo dõi, nhận biết, kĩ năng tạo lập…dựa vào các thao tác, hay sản phẩm cuối cùng của HS thu được sau khi thực hành

Công cụ đánh giá tiếp theo là bản báo cáo, thu hoạch dùng để thu thập thông tin về một vấn đề nào đó thông qua kĩ năng trình bày, quan sát, so sánh…

HS cũng có thể tự đánh giá bằng cách tự đánh giá bản thân và đánh giá các bạn trong lớp bằng phiếu kiểm kê, thang xếp hạng Trên đây là một số công cụ đánh

Trang 18

giá cơ bản, ngoài ra cũng còn một số những công cụ khác để tiến hành đánh giá kết quả học tập của HS

1.1.3.4 Năng lực

Có rất nhiều những khái niệm về năng lực được các nhà nghiên cứu đề ra Theo cuốn “Từ điển Giáo dục học”, Bùi Hiền và các tác giả cho rằng: “Năng lực được thể hiện vào khả năng thi hành một hoạt động, thực hiện một nhiệm vụ Năng lực chỉ có hiệu quả khi nó được chứng minh, trong trường hợp ngược lại nó

là giả định hoặc không có thực Nó phát triển bởi kinh nghiệm hoặc bởi việc học tập phù hợp với tính riêng biệt của cá nhân” [8,158] Như vậy, ở góc độ giáo dục học năng lực được hiểu là một hệ thống các cấu trúc tinh thần bên trong và khả năng huy động các kiến thức, kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hiện thành công các hoạt động trong một bối cảnh cụ thể

Theo “Từ điển tiếng Việt” của Hoàng Phê năng lực có thể hiểu theo hai hướng : “1: Khả năng điều kiện hoặc chủ quan, tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó, năng lực tư duy, năng lực tài chính…2: Phẩm chất sinh lý và trình độ chuyên môn tạo cho con người khả năng hình thành một loại hoạt động nào

đó với chất lượng cao: năng lực lãnh đạo, năng lực chuyên môn…” [13]

Theo quan điểm của những nhà tâm l học, năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc t nh tâm l của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao

Có rất nhiều những định nghĩa về năng lực, từ việc luận giải kế thừa chọn lọc, chúng tôi cho rằng: Năng lực là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động

và trách nhiệm

1.1.3.5 Kiểm tra đánh giá năng lực

Đánh giá năng lực là chúng ta đánh giá các kĩ năng nhận thức về xã hội, kĩ năng hợp tác và các năng lực chủ động phát huy sự sáng tạo, các hình thức, phong cách tư duy khác nhau ở mỗi học sinh Đây là quan điểm đánh giá NL theo chiều rộng Trong quá trình dạy học GV sẽ đánh giá năng lực của HS trong sự vận dụng

Trang 19

sự kết hợp giữa tri thức, kĩ năng và thái độ trong việc tìm hiểu nội dung bài học có

sự kết hợp với các hoạt động nhằm hình thành nên các năng lực cho HS

Đánh giá năng lực không đơn giản là GV yêu cầu HS nhắc lại hay còn gọi kĩ năng tư duy bậc thấp mà là kĩ năng học tập, kĩ năng xây dựng kiến thức và quan trọng là kĩ năng ứng dụng

1.1.4 Thang Bloom trong kiểm tra đánh giá năng lực của người học

Theo “Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh” (2014) [19], GV có thể tham khảo thang cấp độ tư duy là công cụ nền tảng để xây dựng mục tiêu và hệ thống hóa các bài tập dùng để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh Thang bloom gồm có sáu cấp độ: Nhớ - Hiểu -Vận dụng -Phân tích - Đánh giá- Sáng tạo

Các cấp độ tư duy này được có thể hiểu như sau:

Nhớ: Bao gồm việc người học có thể nhớ và nhận diện một phần thông tin, kiến thức đã học trong bài Ở cấp độ này người học cần nhớ lại đúng điều được hỏi đến, nhớ một cách ch nh xác, máy móc và lặp lại đúng như vậy Để đánh giá mức

độ nhớ của HS, GV có thể sử dụng các từ khóa khi đánh giá cấp độ nhận thức này là: Trình bày, Nhắc lại, Mô tả, Liệt kê…

Hiểu: Ở cấp độ nhận thức này người học cần nắm được ý nghĩa của thông tin của một phần kiến thức, và điều này được HS thể hiện qua khả năng diễn giải, suy diễn, liên hệ theo ý hiểu của mình Và để đánh giá xem HS hiểu bài thế nào, GV có thể đưa ra câu hỏi kiểm tra với các từ khóa: trình bày, diễn giải, chứng minh,…

Vận dụng: Người học có khả năng áp dụng thông tin, kiến thức đã biết vào một tình huống, một điều kiện mới, HS có thể chuyển đổi kiến thức từ l thuyết sang thực hành GV có thể sử dụng từ khóa đánh giá: Vận dụng, Áp dụng, T nh toán, Chứng minh, Giải th ch, Xây dựng…

Phân t ch: Người học có khả năng chia tách, mổ xẻ các nội dung, các thông tin thành những phần nhỏ để có thể chỉ ra các đặc trưng riêng, các yếu tố, các mối liên hệ, các nguyên tắc cấu trúc của chúng để có cái nhìn sâu rộng, khái quát, tổng hợp về kiến thức ban đầu GV có thể sử dụng các từ khóa để đánh giá: Phân tích, Lý giải, So sánh, Lập biểu đồ, Phân biệt, Hệ thống hóa, Đối chiếu…

Trang 20

Đánh giá: HS có khả năng đưa ra nhận định, phán quyết, những ý kiến nhận xét đánh giá bàn luận của bản thân đối với một vấn đề dựa trên các chuẩn mực, các tiêu ch đã có V dụ: Phản biện một nghiên cứu, một bài báo; GV có thể sử dụng các từ khóa: Đánh giá, Cho ý kiến, Bình luận, Tổng hợp, So sánh…

Sáng tạo: Đây là cấp độ nhận thức cao nhất vì người học có khả năng tạo ra cái hoàn toàn mới từ cái căn bản đã được học Để đánh giá mức độ sáng tạo này của

HS, GV có thể sử dụng các từ khóa: Thiết lập, Tổng hợp, Xây dựng, Thiết kế, Đề xuất…

Đây là sáu cấp độ nhận thức đã phân t ch với các mục tiêu về kiến thức, kỹ năng và thái độ của người học, giúp người học phát huy được năng lực sáng tạo một cách tương đối

1.1.5 Bài tập theo định hướng năng lực

1.1.5.1 Tiếp cận bài tập định hướng phát triển năng lực

Hệ thống bài tập định hướng phát triển năng lực chính là công cụ để HS luyện tập nhằm hình thành năng lực, đồng thời cũng là công cụ để GV kiểm tra, đánh giá năng lực của HS và biết được mức độ đạt chuẩn của quá trình dạy học

Các nghiên cứu thực tiễn về bài tập trong dạy học đã rút ra được một số những kinh nghiệm khi xây dựng bài tập truyền thống như sau:

GV còn tiếp cận một chiều chưa có sự tiếp cận đa chiều, phần lớn còn chủ trương giữ nguyên những bài tập đóng, hạn chế về sự thay đổi làm mới bài tập cho

HS

Đa số còn thiếu nặng về tham chiếu ứng dụng, vận dụng những điều đã học vào trong thực tiễn Các mức độ kiểm tra đánh giá phát triển năng lực của GV đối với HS còn hạn chế, GV chỉ kiểm tra lấy thành t ch, đa phần là ở mức độ ghi nhớ và nhận biết chứ chưa có sự vận dụng cao và sáng tạo

GV rất ít cho HS ôn tập thường xuyên, thường bỏ qua sự kết nối giữa cái cũ

và cái mới, cái ứng dụng thực tế Đồng thời t nh t ch lũy kiến thức chưa cao

Trang 21

Ngoài những hạn chế trên thì việc tiếp cận bài tập cũng có những ưu điểm nhất định So với việc dạy học định hướng nội dung thì việc dạy học định hướng năng lực chiếm ưu thế mạnh hơn đến HS

Nội dung học tập được GV triển khai không phải theo hướng tư duy trìu tượng mà hoàn toàn là mang tính tình huống, tính bối cảnh và tính thực tiễn cao

Trọng tâm không phải là thành phần kiến thức kĩ năng riêng lẻ mà là sự vận dụng có phối hợp các thành t ch riêng khác nhau trên cơ sở một vấn đề đối mới đối với HS

Bài tập là một yếu tố quan trọng trong học tập mà người GV cần tiếp cận, tập trung xây dựng, để định hướng phát triển năng lực cho học sinh

1.1.5.2 Phân loại bài tập định hướng phát triển năng lực

Bài tập có vai trò rất quan trọng đối với quá trình điều khiển giáo dục của

GV và nó là một nhiệm vụ phải thực hiện để đánh giá năng lực hiểu bài của HS Bài tập có thể phân loại theo chức năng và phân loại theo tính chất “đóng mở” Đối với loại bài tập phân theo chức năng, theo l luận dạy học, bài tập này gồm hai loại là bài tập học và bài tập kiểm tra, đánh giá (bài tập thi, kiểm tra)

Bài tập học: Bao gồm các bài tập dùng trong bài học để lĩnh hội tri thức mới, chẳng hạn các bài tập về một tình hướng mới, giải quyết bài tập này để rút ra tri thức mới, hoặc các bài tập để luyện tập, củng cố, vận dụng kiến thức đã học

Bài tập đánh giá: Là các kiểm tra ở lớp do GV ra đề hay các đề tập trung như kiểm tra chất lượng, thi tuyển

Bài tập phân loại theo tính chất “đóng mở ” thường có các dạng bài tập sau: Bài tập đóng: Là các bài tập mà HS (người làm bài) không cần tự trình bày câu trả lời mà lựa chọn từ những câu trả lời cho trước Như vậy trong loại bài tập này, GV đã biết câu trả lời, HS được cho trước các phương án có thể lựa chọn

Bài tập mở: Là những bài tập mà không có lời giải cố định đối với cả GV và

HS (người ra đề và người làm bài); có nghĩa là kết quả bài tập là “mở” Chẳng hạn

GV đưa ra một chủ đề, một vấn đề, HS cần tự bình luận, bàn bạc đánh giá về vấn đề

đó và đưa ra quan điểm cá nhân Các đề bài bình luận văn học không yêu cầu học

Trang 22

theo mẫu, HS tự trình bày ý kiến theo cách hiểu và lập luận của mình là các v dụ điển hình về bài tập mở

1.1.5.3 Những đặc điểm của bài tập định hướng phát triển năng lực

Những đặc điểm của bài tập có thể nói rất quan trọng trong việc đánh giá định hướng năng lực cho HS Các bài tập cần phải có sự đa dạng, quan trọng là chất lượng phải đứng hàng đầu, GV cần có kinh nghiệm trong việc soạn thảo bài tập, giao bài tập, và có kĩ năng lồng ghép bài tập với nhau vào giờ học môt cách hợp logic

Bài tập phát triển năng lực gồm 8 đặc điểm như sau:

Thứ nhất các bài bài tập cần phải có mức độ khó khác nhau Mỗi bài tập đưa

ra phải mô tả được kiến thức thức và kỹ năng theo yêu cầu Bài tập phải định hướng theo kết quả mà giáo viên đưa ra

Thứ hai là hệ thống bài tập phải hỗ trợ người học t ch lũy và liên kết các nội dung kiến thức qua suốt các năm học Thông qua các bài tập GV có thể nhận biết được năng lực nhận thức của HS đạt ở mức độ nào Và điều quan trọng là người học

phải thường xuyên liên tục vận dụng được cái đã học vào thực tiễn đời sống

Thứ ba các bài tập phải có sự hỗ trợ cá nhân hóa trong việc học tập Người

GV đưa ra bài tập phải biết năng lực của học sinh ở mức độ nào và có sự khuyến

kh ch các em Đồng thời, cần phải tạo khả năng trách nhiệm đối với việc học của

bản thân, giúp các em sử dụng sai lầm như là cơ hội

Thứ tư là phải xây dựng bài tập trên cơ sở chuẩn nghĩa là hệ thống bài tập phải bảo đảm tri thức cơ sở, chuẩn kiến thức kĩ năng Người GV phải thường xuyên thay đổi bài tập đặt ra v dụ như mở rộng, chuyển giao, đào sâu và kết nối, xây dựng tri thức thông minh GV phải cho HS tiến hành thử các hình thức luyện tập khác nhau

Thứ năm là GV phải đưa ra những bài tập phát triển năng lực cho hợp tác và giao tiếp cho HS trong quá trình học Nghĩa là thông qua bài tập HS có thể được làm việc nhóm, được hợp tác, được trao đổi kiến thức, được tranh luận để củng cố tri thức và phát triển kiến thức, kĩ năng mới

Trang 23

Thứ sáu là các bài tập phải đảm bảo yêu cầu t ch cực hóa hoạt động nhận thức Nghĩa là bài tập phải giải quyết được vấn đề củng cố được kiến thức cơ bản của phần bài học và từ đó HS có thể vận dụng những điều đã học vào thực tế để có

cơ hội trải nghiệm bản thân, kết nối với kinh nghiệm đời sống Thông qua bài tập

HS phát huy được năng lực sáng tạo bằng việc nghĩ ra các phương pháp và chiến lược giải quyết vấn đề

Thứ bảy là bài tập đề ra phải có những con đường và giải pháp khác nhau chứ không phải chỉ có một cách giải duy nhất Đặc điểm này nuôi dưỡng sự đa dạng của các con đường, giải pháp Với đặc điểm này HS hoàn toàn có thể đặt vấn đề mở

và độc lập tìm hiểu Đồng thời không gian cho các ý tưởng khác thường tạo nên một diễn biến mở của giờ học

Cuối cùng là các bài tập cần có sự phân hóa nội tại Các bài tập phải có những con đường cho HS tiếp cận khác nhau Các bài tập có sự phân hóa bên trong

và gắn với các tình huống và bối cảnh

1.1.5.4 Các mức độ trình độ trong bài tập định hướng phát triển năng lực

Về phương diện nhận thức, người ta chia các mức nhận thức tương ứng với

đó là các bậc trình độ nhận thức

Ở mức quá trình nhận thức hồi tưởng thông tin thì có các bậc trình độ nhận thức là tái hiện gồm nhận biết lại và tái tạo lại Nghĩa là nhận biết và tái tạo lại cái

gì đã học theo cách thức không thay đổi

Ở mức quá trình xử lí thông tin thì sẽ có các bậc trình độ nhận thức là hiểu

và vận dụng gồm nắm bắt ý nghĩa và vận dung Nghĩa là phản ánh đúng bản chất của cái đã học và vận dụng đúng cấu trúc đã học trong tình huống tương tự

Ở mức quá trình tạo thông tin thì sẽ có các bậc trình độ là xử lí và giải quyết vấn đề Nghĩa là nghiên cứu có hệ thống và bao quát một tình huống bằng những tiêu chí riêng Vận dụng các cấu trúc đã học sang một tình huống mới Đánh giá một hoàn cảnh, tình huống thông qua những tiêu ch riêng

Căn cứ vào các bậc nhận thức và đặc điểm của bài tập định hướng phát triển năng lực, có thể xây dựng bài tập theo các dạng như sau:

Trang 24

Các bài tập dạng tái hiện: Yêu cầu sự hiểu và tái hiện tri thức Lưu ý dạng

bài tập tái hiện không phải trọng tâm của bài tập định hướng phát triển năng lực

Các bài tập vận dụng: Các bài tập vận dụng những kiến thức trong các tình huống không thay đổi Dạng bài tập này nhằm củng cố thêm kiến thức và rèn luyện

kỹ năng cơ bản, nhưng chưa đòi hỏi năng lực sáng tạo của HS

Các bài tập giải quyết vấn đề: Các bài tập này đòi hỏi cần có sự phân t ch,

đánh giá, tổng hợp và vận dụng kiến thức vào những tình huống thay đổi, giải quyết

vấn đề đặt ra trong bài tập Dạng bài tập này đòi hỏi HS phải phát huy năng lực sáng tạo cao trong quá trình làm bài

Các bài tập gắn với bối cảnh, tình huống thực tiễn: Các bài tập yêu cầu có

t nh vận dụng cao và giải quyết vấn đề gắn với các bối cảnh và tình huống thực tiễn Dạng bài tập này là những bài tập mở, tạo cơ hội cho HS có nhiều cách tiếp cận, nhiều con đường giải quyết khác nhau giúp HS phát huy được t nh chủ động sáng tạo

1.1.6 Dạy học theo chuyên đề

1.1.61 Khái niệm chuyên đề

Chuyên đề là văn bản trình bày về chủ đề nào đó Nó rất giống với "bài tập lớn" hay "tiểu luận" Về độ lớn (k ch thước trang) thì chuyên đề có thể tương đương đương hoặc lớn hơn tiểu luận, và sẽ nhỏ báo cáo thực tập, có thể coi là luận văn thu nhỏ

Chuyên đề dạy học có thể hiểu là vấn đề chuyên môn được nghiên cứu Dạy học theo chuyên đề là hình thức tìm tòi những khái niệm tư tưởng, đơn vị kiến thức…có sự giao thoa, tương đồng lẫn nhau dựa trên mối liên hệ về các cơ sở lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các hợp phần của các bài học đó Và điều

đó được tổng hợp làm thành một chuyên đề có ý nghĩa hơn, thực tế hơn, nhờ đó mà

HS có thể hoạt động nhiều hơn, phát huy được tính chủ động sáng tạo cao

Dạy học theo chuyên đề là sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, người

GV không dạy học theo kiểu truyền rót kiến thức mà GV chỉ hướng dẫn để cho HS

tự đi tìm kiến thức, từ đó bộc lộ được khả năng và phát huy cao độ sự sáng tạo HS

Trang 25

sẽ được sử dụng và vận dụng các kiến thức để giải quyết các vấn đề mang ý nghĩa thực tiễn Tóm lại đây chuyên đề là những bài học ngắn cô lập, có cùng một điểm chung nhất định Dạy học theo chuyên đề ở THPT là sự tăng cường tích hợp kiến thức, làm cho kiến thức có sự liên kết nhiều chiều

1.1.6.2 Đặc điểm của dạy học theo chuyên đề

Dạy học theo chuyên đề khác với việc dạy theo bài học thông thường, nhưng về cơ bản vẫn phải đảm bảo các chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ của chương trình và sách giáo khoa hiện hành, tuy nhiên dạy học theo cách này lại được nâng lên một mức độ nhất định cao hơn

Các vấn đề được GV đưa vào nội dung học tập trong chuyên đề phải là một vấn đề cơ bản của chương trình, sách giáo khoa THPT Những kiến thức thu được đều có mối liên quan mật thiết với nhau, và có những điểm tương đồng nhất định

về mặt nội dung kiến thức

Nội dung của các bài học trong chuyên đề, giúp HS có những hiểu biết cơ bản nhất về những kiến thức của chương trình, sách giáo khoa mà HS THPT cần đạt được Từ những kiến thức đó để học sinh có trình độ nhận thức cao hơn cụ thể là tổng kết, hệ thống hoá kiến thức, củng cố, thực hành, rút ra kinh nghiệm và bài học

Nội dung chuyên đề không dừng lại ở việc cung cấp cho HS những kiến thức

l luận về các phong cách ngôn ngữ mà còn mà nâng cao trình độ nhận thức các văn bản thuộc các phong cách ngôn ngữ khác nhau

Nội dung chuyên đề phải đảm bảo được t nh toàn diện, t nh hệ thống, phù hợp với năng lực nhận thức của học sinh

Kiến thức có được sau khi kết thúc chuyên đề thường vượt ra ngoài phạm vi bài học và gần gũi với thực tiễn bởi HS là người trực tiếp tham gia vào việc tìm kiếm và xử lý thông tin trong quá trình học

1.1.6.3 Quy trình thiết kế chuyên đề dạy học

Mỗi chuyên đề dạy phải giải quyết được một vấn đề học tập Vì vậy, việc xây dựng mỗi chuyên đề dạy học cần thực hiện theo quy trình

- Lựa chọn, xây dựng chuyên đề

Trang 26

Xác định các nội dung kiến thức có mối liên quan mật thiết với nhau được biểu hiện ở một số bài trong chương trình SGK THPT Từ những điểm chung đó,

tiến hành xây dựng thành một chuyên đề dạy học đơn môn

-Xác định chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ

Xác định chuẩn kiến thức, kĩ năng được quy định trong Chương trình giáo

dục phổ thông môn Ngữ Văn hiện hành và các hoạt động học dự kiến sẽ tổ chức cho

học sinh theo phương pháp dạy học tích cực, từ đó xác định các năng lực và phẩm chất có thể hình thành cho học sinh trong chuyên đề sẽ xây dựng Tuy nhiên khi xác định chuẩn theo chủ đề, có thể cụ thể hóa hơn, gắn với những bài học cụ thể Trong một số chủ đề có thể xác định cả chuẩn, thái độ

-Xác định và lập bảng mô tả mức độ yêu cầu

Tiến hành lập bảng mô tả đánh giá theo định hướng năng lực nhằm cụ thể hóa chuẩn kiến thức - kĩ năng theo các mức độ khác nhau, nhằm đánh giá khả năng đạt được của HS Các mức độ này được sắp xếp theo các mức nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp, vận dụng cao của mỗi loại bài tập có thể sử dụng để kiểm tra, đánh giá năng lực và phẩm chất của học sinh trong dạy học

- Biên soạn bài tập

Xây dựng các bài tập cụ thể theo các mức độ yêu cầu đã mô tả để sử dụng trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học và kiểm tra, đánh giá, luyện tập theo chuyên đề đã xây dựng

1.1.7 Phong cách chức năng ngôn ngữ

1.1.7.1 Khái niệm

Theo giáo trình “Phong cách và tu từ Tiếng Việt” [11] của Trịnh Đức Long thì đây là một trong những vấn đề trung tâm và là một phạm trù cơ bản nhất của phong cách học Đây là một dạng tồn tại của ngôn ngữ dân tộc, được hình thành những dạng nhất định bởi quy luật lựa chọn và sử dụng phương tiện biểu hiện do các nhân tố ngoài ngôn ngữ chi phối và quy định

Theo giáo trình “Phong cách học Tiếng Việt hiện đại”[4] thì đây là một phạm trù cơ bản của phong cách học Phong cách chức năng ngôn ngữ là tổng hợp, lựa chọn lựa chọn các đơn vị ngôn từ nhằm phù hợp với đối tượng, mục đ ch và nội dung giao tiếp

Trang 27

Từ việc kế thừa luận giải và chọn lọc các khái niệm về phong cách ngôn ngữ, tôi cho rằng: Phong cách chức năng ngôn ngữ chỉ những dấu hiệu hành vi và hoạt động ngôn ngữ thể hiện ở cách lựa chọn và sử dụng các phương tiện ngôn ngữ có màu sắc riêng (biến thể ngôn ngữ) được lặp đi lặp lại nhiều lần ở một cá nhân, một môi trường giao tiếp và một cộng đồng ngôn ngữ, có khả năng phân biệt ngôn ngữ của cá nhân này với ngôn ngữ của cá nhân khác, môi trường này với môi trường khác và ngôn ngữ này với ngôn ngữ khác

1.1.7.2 Các phong cách chức năng ngôn ngữ

Trong chương trình hiện hành SGK Ngữ Văn lớp 10, 11, và 12 có tất cả sáu phong cách chức năng ngôn ngữ

*Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt là phong cách được dùng trong giao tiếp

sinh hoạt hàng ngày, thuộc hoàn cảnh giao tiếp không mang t nh nghi thức Giao tiếp ở đây thường với tư cách cá nhân nhằm để trao đổi tư tưởng, tình cảm của mình với người thân, bạn bè,…

- Đặc trưng: T nh cụ thể, tính cảm xúc, t nh cá thể

*Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật:

- Là phong cách được dùng trong sáng tác văn chương

- Đặc trưng: T nh hình tượng, t nh truyền cảm, t nh cá thể

* Phong cách ngôn ngữ chính luận

- Là phong cách được dùng trong lĩnh vực ch nh trị xã hội, nhằm trình bày, bình luận, đánh giá những sự kiện, những vấn đề về ch nh trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng,…theo một quan điểm ch nh trị nhất định

- Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ ch nh luận:

+ T nh công khai về quan điểm ch nh trị

+ T nh chặt chẽ trong diễn đạt và suy luận

+ T nh truyền cảm, thuyết phục

* Phong cách ngôn ngữ khoa học

- Ngôn ngữ KH: là ngôn ngữ được dùng trong giao tiếp thuộc lĩnh vực khoa học, tiêu biểu là các VBKH

- VB khoa học gồm 3 loại:

Trang 28

+ VBKH chuyên sâu

+ VBKH và giáo khoa

+ VBKH phổ cập

Đặc trưng phong cách ngôn ngữ khoa học: T nh khái quát, trừu tượng

*Phong cách ngôn ngữ báo chí

- Là ngôn ngữ dùng để thông báo tin tức thời sự trong nước và quốc tế, phản ánh ch nh kiến của tờ báo và dư luận quần chúng, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của XH Tồn tại ở 2 dạng: nói (thuyết minh, phỏng vấn miệng trong các buổi phát thanh/ truyền hình…) và viết

- Đặc trưng của PCNN báo ch :

+ T nh thông tin thời sự

+ T nh ngắn gọn

+ T nh sinh động, hấp dẫn

* Phong cách ngôn ngữ hành chính

- VB hành ch nh là VB đuợc dùng trong giao tiếp thuộc lĩnh vực hành ch nh

Ðó là giao tiếp giữa Nhà nước với nhân dân, giữa nhân dân với cơ quan Nhà nước, giữa cơ quan với cơ quan, giữa nước này và nước khác trên cơ sở pháp l (thông tư, nghị định, đơn từ, báo cáo, hóa đơn, hợp đồng…)

-Đặc trưng PCNN hành ch nh:

+ T nh khuôn mẫu

+ Tính minh xác

+ T nh công vụ

Đó là sáu PCCNNN được học trong chương trình SGK giáo dục phổ thông

và được dùng khá phổ biến trong đời sống hằng ngày

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Hệ thống bài tập về phong cách chức năng ngôn ngữ trong SGK Ngữ văn THPT

Trang 29

Ở chuyên đề phong cách chức năng ngôn ngữ trong chương trình có cả lí thuyết lẫn thực hành Tùy theo nội dung bài học, GV vừa bám theo chuẩn kiến thức

kĩ năng vừa kết hợp nâng cao và rèn luyện cho học sinh

- Để tiến hành phân loại được hệ thống các bài tập trong dạy học chuyên đề chúng tôi tiến hành khảo sát thông qua chương trình hiện hành trong SGK Ngữ văn lớp 10, 11, 12 Chuyên đề gồm có 6 bài PCCNNN và được phân chia gồm 4 dạng

cơ bản được phân loại theo các mức độ Qua khảo sát chúng tôi thống kê số lượng các dạng bài tập như sau:

để có thể nhận diện được các PCNN ở từng văn bản cụ thể Tuy nhiên dạng BT này chỉ mang tính chất củng cố kiến thức, chiếm quá nhiều dung lượng trong chương trình, còn bài tập vận dụng và giải quyết vấn đề, gắn với tình huống bối cảnh thực tế chiếm số lượng rất ít Loại bài tập này yêu cầu vận dụng phương pháp phân t ch mẫu trong giảng dạy kiến thức l thuyết kiểu bài PCCNN từ đó giúp HS quan sát, phân

t ch để tìm ra kết luận về đặc trưng cơ bản của từng dạng PCNN, đồng thời giúp HS phải biết tạo lập một văn bản có sử dụng PCNN Như vậy, HS sẽ không có điều kiện

để được thực hành và vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế

1.2.2 Thực trạng biên soạn và sử dụng bài tập trong dạy học về phong cách chức năng ngôn ngữ ở THPT

Xây dựng hệ thống bài tập trong chuyên đề PCCNNN ở các trường THPT là một việc vô cùng quan trọng và cần thiết, đây được coi là một việc làm không thể

Trang 30

tùy tiện và thiếu kinh nghiệm chủ nghĩa cá nhân Việc xây dựng những bài tập này phải xuất phát từ những căn cứ khoa học, người GV cần phải có sự tìm hiểu kĩ càng khi tiến hành đưa ra những bài tập để kiểm tra đánh giá năng lực cho học sinh

Chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng biên soạn và sử dụng bài tập bằng

phương pháp khảo sát qua phiếu điều tra thăm d Chúng tôi tiến hành xây dựng

phiếu thăm dò ý kiến và tiến hành khảo sát 2 GV đang trực tiếp giảng dạy ở trường THPT Mê Linh, 60 HS lớp 10, 50 HS lớp 11, và 70 HS lớp 12 Phiếu khảo sát được xây dựng dưới hình thức câu hỏi trắc nghiệm khách quan Mặc dù kết quả nhận được chưa phải là ch nh xác 100 nhưng phần nào đánh giá khái quát thực trạng

dạy và học chuyên đề PCCNNN của HS trường THPT Mê Linh, thành phố Hà Nội

- Kết quả và đánh giá khảo sát t

Chúng tôi thiết kế phiếu điều tra thăm dò ý kiến dành cho HS gồm có 5 câu

Số phiếu phát ra 180 phiếu dành cho khối lớp 10,11 và 12 ở trường THPT Mê Linh, thành phố Hà Nội, nội dung phiếu điều tra như sau:

Câu 1: rong giờ học chuyên đề các PCCNNN, bạn có hiểu hệ thống bài tập

thầy /cô giáo đặt ra không? Thực tế cho thấy, khoảng 80% HS hiểu nội dung bản

chất của các bài tập mà giáo viên đặt ra ở mức độ nhận biết , thông hiểu trong giờ học, chỉ có 11% HS chưa xác định được nội dung bài tập Đối với những bài tập vận dụng cao thì rất ít HS hiểu và làm được

Ch nh vì thế chúng tôi thiết kế câu hỏi 2: ạn có trả lời được tất cả cá các

bài tập trong quá trình học phong cách chức năng ngôn ngữ? Và kết quả gặp khó

khăn khi trả lời các bài tập của HS là 22,3 thường xuyên gặp khó khăn trong việc trả lời các bài tập Qua kết quả này cho thấy chỉ số t học sinh gặp khó khăn, số lượng HS không gặp khó khăn trong quá trình tiếp cận bài tập thì rất thì tương đối nhiều Với việc gặp khó khăn này thì sẽ gây cản trở HS trong việc phát triển năng lực sáng tạo chủ động tìm tòi tri thức Bởi nếu GV đưa ra hệ thống những bài tập hay sẽ kích thích sự học của các em, thì HS sẽ phấn khởi, hứng thú hơn trong quá trình học tập

Trang 31

Câu 3: Các bài tập GV đưa ra có giúp cho các em phát triển được năng lực

hợp tác và giao tiếp không? Để xác định được năng lực của HS thì kết quả thật

đáng lo ngại, bởi sau khi tiến hành khảo sát có đến 30,56 HS đã được phát triển năng lực hợp tác, giao tiếp trong quá trình học tập, chỉ có 69,44 HS đã thỉnh thoảng được phát triển năng lực thông qua các bài tập nhóm Trong quá trình dạy học theo chuyên đề HS cần phải được giao cho những bài tập mở và những bài tập nhóm để các em có cơ hội giao tiếp, trao đổi tranh luận, từ đó giúp phát huy cao độ năng lực sáng tạo của các em Thực tế này tương đối lo ngại

Câu 4: Các em có thường xuyên được làm các dạng bài tập mở (HS có thể

nêu ra chính kiến riêng của bản thân và bảo vệ quan điểm đó.)?Thực tế cho rằng,

chỉ thỉnh thoảng hoặc rất t các em được tiếp cận với dạng bài tập này chiếm khoảng 60% Đa số các em được tiếp cận các bài tập học đó là những bài tập củng cố luyện tập các tri thức cũ đã học Thực tế này thật đáng quan tâm

Câu 5: Các bài tập sau mỗi giờ học có giúp các em tổng hợp được những

kiến thức quan trọng của bài không? Theo kết quả của phiếu khảo sát thực nghiệm

cho thấy hơn 70,23 số lượng HS có được những kiến thức mang tính khái quát và tổng hợp sau khi giải quyết xong các bài tập Và chỉ có khoảng 29,7 % HS chưa t ch lũy được các kiến thức mang tính chất tổng hợp quan trọng

-Kết quả và đánh giá khảo sát t phía GV

Song song với việc thiết kế phiếu khảo sát thăm dò ý kiến dành cho HS, chúng tôi cũng thiết kế phiếu thăm dò ý kiến dành cho GV Nội dung của phiếu điều tra gồm có 4 câu hỏi Với những kết quả thống kê từ phiếu điều tra, chúng tôi phân

t ch kết quả khảo sát như sau:

Nhằm mục đ ch có được thông tin ch nh xác về mức độ chuẩn bị bài về nhà của học sinh qua sự đánh giá của giáo viên, chúng tôi thiết kế câu hỏi 1:

ọc sinh chuẩn bị bài cho giờ học phong cách ngôn ngữ ở mức độ nào? Kết

quả thu được hoàn toàn phù hợp với kết quả khảo sát ở câu số một dành cho học sinh Bởi tỉ lệ học sinh đã soạn bài cao (92,5 ) Cũng từ kết quả này cho thấy học sinh đã nhận thức được tầm quan trọng của việc chuẩn bị những bài tập trong bài trước khi đến lớp

Trang 32

Ở câu 2: rong giờ học phong cách ngôn ngữ, học sinh có thường xung

phong để giải quyết bài tập mà GV đưa ra không? Thì kết quả cho thấy chỉ có

12,5 giáo viên đánh giá học sinh thụ động trong việc các làm bài tập GV phải thiết kế những hệ thống bài tập cụ thể, mang tính chuẩn xác, hấp dẫn để kích thích

sự ham học của các em

Với mục đ ch tìm hiểu cách thức tổ chức hoạt động dạy học của GV, chúng tôi tiến hành thiết kế câu hỏi 3:

Trong giờ học phong cách ngôn ngữ GV có tạo điều kiện để HS hoạt động nhóm và cùng trao đổi thảo luận về một bài tập nào đó không? Chúng tôi thu nhận

được kết quả là chỉ khoảng 19,44% GV không chú trọng vai trò chủ thể của HS trong quá trình giảng dạy Vì GV vẫn sử dụng hình thức dạy học kiểu truyền thụ kiến thức một chiều, thầy giảng- trò chép, ghi nhớ một cách máy móc mà chưa thấy được mặt tích cực của chủ thể HS Tuy nhiên khoảng 80, 56% GV ở đây đã biết cách cho HS được làm việc nhóm, được có cơ hội trao đổi thảo luận các bài tập trong bài

Nhưng có một điều khá bất ngờ là khi chúng tôi đặt câu hỏi 4: Theo thầy/ cô

việc xây dựng hệ thống bài tập trong các bài phong cách ngôn ngữ có quan trọng không? Thì có thể thấy đến 82,5% GV cho là rất quan trọng Kết quả đó cho thấy

GV đã nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng bài tập để kiểm tra đánh giá năng lực của HS

-Khảo sát qua dự giờ

Chúng tôi tiến hành khảo sát bằng cách dự một số giờ dạy của GV Ngữ văn

ở trường THPT Mê Linh Trong những tiết dự giờ này, chúng tôi đi vào khảo sát cách tổ chức dạy học của GV khi đưa ra hệ thống bài tập theo chuyên đề và hoạt động của HS khi tiếp cận các bài tập

-Kết quả và đánh giá kết quả khảo sát qua dự giờ

-Kết quả và đánh giá kết quả khảo sát từ HS:

Nhằm thu thập thông tin về hoạt động của HS trong nhà trường, bên cạnh hình thức khảo sát bằng phiếu điều tra thăm dò chúng tôi cũng dự giờ một số tiết dạy của GV ở trường TPHT Mê Linh Qua tiết dự giờ, chúng tôi đi đến kết luận sau:

Ngày đăng: 07/09/2018, 08:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Quang Báo, Hội thảo: “Đổi mới chương trình và SGK GD phổ thông-kinh nghiệm 2. Nguyễn Văn Cường (2006) “Đổi mới phương pháp dạy học trung học phổ thông”bộ GD và ĐT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới chương trình và SGK GD phổ thông-kinh nghiệm 2. Nguyễn Văn Cường (2006) “Đổi mới phương pháp dạy học trung học phổ thông
3. Nguyễn Thị Dần, Trường Đại học Sư phạm Huế, “Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
11. Giáo trình “Phong cách và tu từ Tiếng Việt” (2010) NXB Hà nội, Trịnh Đức Long 12. Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt,(1987), Giáo dục học tập 1, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách và tu từ Tiếng Việt” (2010) NXB Hà nội, Trịnh Đức Long 12. Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt,(1987), "Giáo dục học tập 1
Tác giả: Giáo trình “Phong cách và tu từ Tiếng Việt” (2010) NXB Hà nội, Trịnh Đức Long 12. Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt
Nhà XB: NXB Hà nội
Năm: 1987
13. Lê Thị Thanh Oai (2003), “Sử dụng câu hỏi bài tập để tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS trong dạy- học STH ở học sinh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng câu hỏi bài tập để tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS trong dạy- học STH ở học sinh
Tác giả: Lê Thị Thanh Oai
Năm: 2003
14. Hoàng Phê (2005), T điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học Sách, tạp chí
Tiêu đề: T điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2005
15. Hồ Thị Mai Phương (Trường ĐH Sư phạm - ĐH Thái Nguyên) “Vai trò của bài tập mở trong rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh trường trung học cơ sở”,Tạp chí khoa học và công nghệ Số 1 tháng 1 năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của bài tập mở trong rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh trường trung học cơ sở
17. Lê Thị Tùng (trường Đại học sư phạm TP. Hồ Chí Minh),“Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 10 THPT” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 10 THPT
18. Phan Ngọ Trọng“Dạy học và và phương pháp dạy học trong nhà trường” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học và và phương pháp dạy học trong nhà trường
20. “Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh” (2014) Bộ giáo dục và Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh
23. Luận văn “Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 10 THPT” Ngô Thị Nghị, trường THPT Thạch Hòa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 10 THPT
4. Phong cách học Tiếng Việt hiện đại, (2011), Nguyễn Hữu Đạt, Đại học quốc gia Hà Nội Khác
5. Nguyễn Chí Hòa (2012), Kiểm tra đánh giá trong giảng dạy Tiếng việt thực hành, NXB 6. Lê Bá Hán (chủ biên), Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2004), Từ điển thuật ngữ văn học, NXBGD, Hà Nội Khác
7. Trần Bá Hoành, 1996, Đánh giá trong giáo dục, Nhà xuất bản GD Khác
9. Nguyễn Công Khanh, (2004), Đánh giá đo lường trong khoa học xã hội, quy trình kĩ thuật, thiết kế, đánh giá công cụ đo, NXB ch nh trị quốc gia Hà Nội Khác
10. Vũ Ngọc Khánh, 2004 Để dạy và học tốt môn Văn, NXB Đại học Sư phạmquốc tế và vận dụng vào Việt Nam” do bộ GD ĐT tổ chức ngày 10-12/12/2012 tại Hà Nội Khác
16. Trần Đình Sử (Tổng chủ biên) 2006 SGK Ngữ văn 10, Bộ cơ bản tập 1,2, NXB Giáo dục Khác
22. Công văn số 8773/BGDĐT-GDTH ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ GDĐT Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w