Xuất phát từ những lý do trên, cùng với hứng thú của bản thân về vấn đề thuộc lĩnh vực công tác, tác giả chọn đề tài: "Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THÙY GIAO
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN
CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN HƯỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thừa Thiên Huế, năm 2016
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THÙY GIAO
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN
CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN HƯỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60140114
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN VĂN BẮC
Thừa Thiên Huế, năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, đƣợc các đồng tác giả cho phép sử dụng và chƣa từng công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thùy Giao
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Được sự quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện của quý thầy giáo, cô giáo, đồng nghiệp, bạn
bè, gia đình, người thân, tôi đã tham gia học tập và hoàn thành luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục Bằng tấm lòng thành kính và tình cảm chân thành, cho phép tôi trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
Ban Giám hiệu trường ĐHSP - Đại học Huế, Phòng Đào tạo Sau Đại học, Khoa Tâm
lý Giáo dục cùng các nhà khoa học, quý thầy giáo, cô giáo trực tiếp giảng dạy đã giúp đỡ, truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Các đồng chí Lãnh đạo, chuyên viên Sở GD&ĐT Quảng Trị, cán bộ quản lý, quý thầy cô giáo, học sinh các trường THPT trên địa bàn huyện Hướng Hóa và các bạn đồng nghiệp đã tạo điều kiện trong quá trình cung cấp thông tin, tư liệu để giúp tôi hoàn chỉnh luận văn này
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với PGS.TS Nguyễn Văn Bắc - người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo, động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh Quảng Trị đã tư vấn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Những người thân trong gia đình, đồng nghiệp, bạn bè thường xuyên động viên, khích lệ tôi học tập, nghiên cứu
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn chắc chắn vẫn không thể tránh khỏi thiếu sót Vì vậy, tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô giáo, các nhà khoa học và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Thừa Thiên Huế , ngày 26 tháng 9 năm 2016
Tác giả luận văn
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC CÁC BẢNG 6
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Mục đích nghiên cứu 9
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 9
4 Giả thuyết khoa học 9
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
6 Phương pháp nghiên cứu 10
7 Phạm vi nghiên cứu 11
8 Cấu trúc luận văn 11
NỘI DUNG 12
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 12
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 12
1.1.1.Nghiên cứu về hoạt động giáo dục SKSS ở trên thế giới 12
1.1.2 Nghiên cứu về hoạt động giáo dục SKSS ở Việt Nam 13
1.2 Các khái niệm và thuật ngữ có liên quan 14
1.2.1 Quản lý và quản lý giáo dục 14
1.2.2 Sức khỏe sinh sản và giáo dục sức khỏe sinh sản 17
1.3 Lý luận về giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh trung học phổ thông 18
1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh trung học phổ thông 18
1.3.2 Mục tiêu giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh 20
1.3.3 Nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh 20
1.3.4 Các phương pháp giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh 23
Trang 61.3.5 Các hình thức giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh 24
1.4 Lý luận về quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho HS THPT 25
1.4.1 Khái niệm quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho HS THPT 25
1.4.2 Vai trò quản lý trong hoạt động giáo dục SKSS cho học sinh THPT 26
1.4.3 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho học sinh THPT 26
1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục SKSS và quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho học sinh THPT 30
1.5.1 Yếu tố chủ quan 30
1.5.2 Yếu tố khách quan 31
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 32
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN HƯỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ 33
2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 33
2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên-kinh tế-xã hội 33
2.1.2 Khái quát tình hình phát triển giáo dục 34
2.2 Khái quát quá trình khảo sát thực trạng 35
2.2.1 Mục đích khảo sát 35
2.2.2 Nội dung khảo sát 35
2.2.3 Đối tượng khảo sát 35
2.2.4 Phương pháp khảo sát 36
2.3 Thực trạng nhận thức về SKSS của học sinh các trường THPT huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị 37
2.3.1 Nhận thức về SKSS của học sinh 37
2.3.2 Hiểu biết về nội dung sức khỏe sinh sản của học sinh 41
2.4 Thực trạng hoạt động giáo dục SKSS cho học sinh các trường THPT huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị 48
2.4.1 Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về hoạt động giáo dục SKSS 48
2.4.2 Đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên về nội dung giáo dục SKSS cho học sinh 49 2.4.3 Đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên về hình thức, phương pháp giáo dục SKSS cho học sinh 50
Trang 72.4.4 Đánh giá của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về kết quả hoạt động giáo
dục SKSS 52
2.4.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục SKSS cho học sinh 52
2.5 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh các trường THPT huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị 53
2.5.1 Quản lý việc xây dựng kế hoạch nội dung, chương trình giáo dục SKSS cho học sinh 53
2.5.2 Quản lý việc tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản 54
2.5.3 Công tác chỉ đạo hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản 55
2.5.4 Công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản 57
2.5.5 Quản lý các điều kiện hỗ trợ hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản 58
2.6 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh các trường THPT huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị 59
2.6.1 Ưu điểm 59
2.6.2 Hạn chế 60
2.6.3 Nguyên nhân của hạn chế 61
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 62
CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN HƯỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ 63
3.1 Cơ sở xác lập các biện pháp 63
3.1.1 Các căn cứ pháp lý định hướng cho việc đề xuất các biện pháp 63
3.1.2 Định hướng của cơ quan quản lý giáo dục các cấp 66
3.2 Nguyên tắc xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh các trường THPT 66
3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 66
3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 67
3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 67
3.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 67
3.3 Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh các trường THPT huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị 67
Trang 83.3.1 Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về sự cần thiết
của hoạt động giáo dục SKSS 67
3.3.2 Thực hiện có hiệu quả các chức năng quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho học sinh 69
3.3.3 Đa dạng hóa các hình thức tổ chức hoạt động giáo dục SKSS cho học sinh THPT 72
3.3.4 Tổ chức tốt các điều kiện hỗ trợ hoạt động giáo dục SKSS cho học sinh các trường THPT 75
3.3.5 Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục SKSS 76
3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 78
3.5 Khảo nghiệm nhận thức về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 80
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 84
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85
1 Kết luận 85
2 Khuyến nghị 87
TÀI LIỆU TAM KHẢO 89 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
AIDS : Acquired Immune Deficiency Syndrome
(Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải)
HIV : Human Immunodeficiency Virus
(Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người) ICDP : Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển KHHGĐ : Kế hoạch hóa gia đình
LHQ : Liên hợp quốc
LTQĐTD : Lây truyền qua đường tình dục
NGLL : Ngoài giờ lên lớp
UNEF : Quỹ môi trường Liên hợp quốc
UNFPA : Quỹ dân số Liên hợp quốc
UNICEF : Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc
VTN : Vị thành niên
WHO : Tổ chức y tế thế giới
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1.a Nhận thức của học sinh về khái niệm sức khỏe sinh sản 37
Bảng 2.2.a Nhận thức của học sinh về đối tượng chăm sóc SKSS 38
Bảng 2.3.a Đánh giá của HS về nguồn thông tin sức khỏe sinh sản 39
Bảng 2.4 Nhận thức của học sinh về các chủ đề giáo dục sức khỏe sinh sản 40
Bảng 2.5 Mức độ hiểu biết của học sinh về các biện pháp tránh thai 41
Bảng 2.6 Đánh giá của HS về mức độ thảo luận các vấn đề tình dục và cách tránh thai 42
Bảng 2.7.a Hiểu biết của học sinh về hậu quả của việc phá thai 43
Bảng 2.8 Hiểu biết của học sinh về các bệnh lây truyền qua đường tình dục 44
Bảng 2.9 Hiểu biết của HS về BP phòng tránh bệnh lây truyền qua đường tình dục 45
Bảng 2.10 Hiểu biết của học sinh về các con đường lây truyền HIV/AIDS 46
Bảng 2.11 Hiểu biết của học sinh về cách phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS 46
Bảng 2.12 Nhận thức của học sinh về sự cần thiết của vấn đề giáo dục SKSS 47
Bảng 2.13 Đánh giá của CBQL,GV về sự cần thiết hoạt động giáo dục SKSS 48
Bảng 2.14 Đánh giá của CBQL, GV về mức độ quan trọng của các nội dung giáo dục SKSS cho HS 49
Bảng 2.15 Đánh giá của CBQL, GV về các hình thức giáo dục SKSS 50
Bảng 2.16 Đánh giá của CBQL,GV về các phương pháp giáo dục SKSS cho HS 51 Bảng 2.17 Đánh giá của CBQL,GV và HS về kết quả hoạt động giáo dục SKSS 52
Bảng 2.18 Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục SKSS cho học sinh 52
Bảng 2.19 Quản lý việc xây dựng kế hoạch nội dung, chương trình giáo dục SKSS cho học sinh 53
Bảng 2.20 Hình thức tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục SKSS cho học sinh 54
Bảng 2.21 Các lực lượng tham gia giáo dục SKSS cho học sinh 55
Bảng 2.22 Sự chỉ đạo phối hợp các lực lượng tham gia giáo dục SKSS cho HS 56
Bảng 2.23 Công tác kiểm tra hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản 57
Bảng 2.24 Công tác đánh giá hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản 57
Bảng 2.25 Đánh giá về các tổ chức theo dõi, kiểm tra hoạt động giáo dục SKSS 58
Bảng 2.26 Quản lý các điều kiện hỗ trợ hoạt động giáo dục SKSS cho học sinh 58
Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm về tính cần thiết của các biện pháp 80
Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm về tính khả thi của các biện pháp 82
Bảng 3.3: Khảo nghiệm nhận thức tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 83
Trang 11Thực tế hiện nay ở Việt Nam, thanh niên nói chung và các em học sinh (HS) nói riêng đang cảm thấy còn rất e ngại và lúng túng khi nói đến vấn đề sức khỏe sinh sản (SKSS) Nhiều em bắt đầu quan hệ tình dục trong khi chưa có những hiểu biết đúng đắn về sức khỏe sinh sản Sự thiếu hiểu biết này có thể dẫn các em gái vào nguy cơ có thai ngoài ý muốn, nạo phá thai, sinh con khi tuổi đời còn quá trẻ, chưa
đủ khả năng làm mẹ, sinh con bệnh tật, dị dạng hoặc mắc các bệnh nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục như giang mai, HIV/AIDS ảnh hưởng lớn đến tâm lý, sức khỏe, tính mạng bản thân, gia đình cũng như nền kinh tế - chính trị xã hội
Theo thống kê của Hội Kế hoạch hóa gia đình(KHHGĐ) Việt Nam, bình quân mỗi năm ở nước ta có khoảng 300.000 ca nạo phá thai ở độ tuổi 15-19 trong
đó 60-70% là học sinh, sinh viên Tỷ lệ nạo phá thai ở Việt Nam cao nhất so với các nước Đông Nam Á và xếp thứ 5 thế giới Nếu như những năm trước, tỷ lệ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên nước ta chiếm 5%-7% tổng số ca nạo phá thai thì vài năm gần đây tỷ lệ này tăng lên 10% [14, tr.8] Nguyên nhân của hiện tượng này là do học sinh ít được giáo dục và tư vấn về vấn đề sức khỏe sinh sản, thiếu hiểu biết về giới tính, về hoạt động tình dục, về các biện pháp tránh thai
Tình hình giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh ở các trường Trung học phổ thông (THPT) Việt Nam hiện nay là một bài toán rất lớn mà chúng ta vẫn đang thiếu lời giải Có thể khẳng định rằng giáo dục sức khỏe sinh sản là kiến thức không mới trong đời sống nhưng lại khá mới đối với văn hóa và giáo dục của Việt Nam Hiện nay có nhiều trường hợp nữ sinh trở thành mẹ hay những cái chết thương tâm bởi bản thân vướng vào con đường tình yêu, tình dục quá sớm… không còn xa lạ Đó
Trang 12là hệ quả tất yếu từ việc “xem nhẹ” chương trình giáo dục sức khỏe sinh sản trong trường học Các bậc phụ huynh thường không quan tâm chương trình giáo dục sức khỏe sinh sản và cho rằng đó là việc của nhà trường Tuy nhiên một thực tế đang diễn
ra là hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản ở nhà trường đang có những lúng túng, bất cập nhất định Chúng ta chưa có giải pháp giáo dục đồng bộ, chưa xây dựng được một hệ thống kiến thức về sức khỏe khỏe sinh sản cho học sinh mà mới chỉ ở mức độ tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản qua các môn Giáo dục công dân, Văn học, Địa lý, Sinh học Việc giáo dục sức khỏe sinh sản vẫn chủ yếu là do kế hoạch hoạt động của từng nhà trường và được thực hiện trong những phạm vi rất nhỏ hẹp Bên cạnh đó nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản còn mang tính hàn lâm, không thiết thực, gây ra nhàm chán không thu hút được sự quan tâm và hứng thú đối với các
em Vì thế học sinh đang phải tiếp cận kiến thức một cách “nửa vời”, hầu như các em chưa có những hiểu biết đầy đủ, khoa học về sự phát triển của cơ thể mình Do vậy vấn đề hết sức quan trọng là học sinh cần được quan tâm và giáo dục sức khỏe sinh sản ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường
Với ý nghĩa đó nên trong Chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định:
Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tổ chức triển khai Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 - 2020 sau khi được phê duyệt; thực hiện các nội dung giáo dục về giới, giới tính, dân số, sức khỏe sinh sản, bình đẳng giới cho học sinh, sinh viên; bồi dưỡng cho giáo viên, giảng viên, cán bộ y tế trong trường học về giới, giới tính, dân số, sức khỏe sinh sản, bình đẳng giới, phòng chống HIV; lồng ghép các mục tiêu, chỉ tiêu về dân số vào quy hoạch,
kế hoạch phát triển ngành [29, tr.9]
Giáo dục sức khỏe sinh sản nhằm trang bị kiến thức và sự hiểu biết về các vấn đề dân số, sức khỏe tình dục, sức khỏe sinh sản để giúp các em chuẩn bị hành trang bước vào cuộc sống tương lai lành mạnh, hạnh phúc
Hướng Hóa là địa bàn miền núi của tỉnh Quảng Trị, học sinh THPT của huyện có gần ¼ là con em đồng bào dân tộc thiểu số Vân Kiều, Pa Cô Đời sống kinh tế của người dân còn nhiều khó khăn, phong tục tập quán còn nhiều hủ tục lạc hậu: tệ nạn tảo hôn, kết hôn cận huyết thống… Số học sinh còn lại chủ yếu ở tuyến
Trang 13đường 9 Nam Lào có điều kiện sống khả giả hơn Một số gia đình chỉ lo làm ăn kinh tế đầu tư cho con đi học nhưng lại ít quan tâm đến đời sống tinh thần của các
em nên học sinh dễ sa ngã vào con đường yêu đương trước tuổi, quan hệ tình dục trước hôn nhân cùng với những hệ lụy của nó là điều tất yếu xảy ra
Thực trạng nhức nhối ấy đã khiến cho hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản trở nên cấp bách hơn, thức tỉnh ý thức trách nhiệm của các cấp ban ngành, của nhà trường, gia đình và toàn xã hội
Quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản đã được nhiều người nghiên cứu, đề cập đến trên nhiều phương diện khác nhau Tuy nhiên trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đặc biệt là huyện Hướng Hóa vấn đề này vẫn chưa được nghiên cứu và vận dụng một cách hợp lý
Xuất phát từ những lý do trên, cùng với hứng thú của bản thân về vấn đề
thuộc lĩnh vực công tác, tác giả chọn đề tài: "Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh các trường THPT huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị” làm luận văn nghiên cứu của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh các trường THPT huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, luận văn đề xuất một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản
lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh các trường THPT huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THPT
Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THPT huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị
4 Giả thuyết khoa học
Quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THPT ở huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị bước đầu đã đạt được kết quả nhất định tuy nhiên do nhiều yếu tố tác động nên quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe cho học sinh THPT
Trang 14còn nhiều hạn chế Nếu xác định được thực trạng, nguyên nhân và đề xuất các biện pháp quản lý khoa học, phù hợp với thực tế từng nhà trường và địa phương thì công tác quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh các trường THPT cũng như chất lượng giáo dục của nhà trường sẽ được nâng cao
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho học sinh ở trường THPT
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho học sinh ở các trường THPT huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị
5.3 Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho học sinh các trường THPT huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương pháp này bao gồm các giai đoạn đọc, phân tích - tổng hợp tài liệu, phân loại các tài liệu nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Để đạt kết quả chính xác, khách quan luận văn sử dụng hệ thống các phương pháp nghiên cứu sau:
6.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Luận văn sử dụng hệ thống phiếu điều tra bằng bảng hỏi được thiết kế theo mục đích của nghiên cứu nhằm tìm hiểu về nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh về hoạt động giáo dục SKSS, các nội dung, hình thức và hoạt động quản lý hoạt động giáo dục SKSS ở các trường phổ thông
6.2.3 Phương pháp phỏng vấn
Luận văn tiến hành các cuộc phỏng vấn với các nhà quản lý, các giáo viên và
Trang 15học sinh tham gia hoạt động giáo dục SKSS nhằm làm rõ các thông tin mà dữ liệu thu thập qua phương pháp điều tra bằng bảng hỏi còn thiếu hay chưa rõ
6.2.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Luận văn sử dụng phương pháp xin ý kiến chuyên gia là những nhà khoa học, các cán bộ chuyên trách có nhiều kinh nghiệm về lĩnh vực giáo dục SKSS để xin ý kiến đóng góp về hoạt động giáo dục SKSS và các định hướng về nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho học sinh
6.2.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tổng hợp các kinh nghiệm, sáng kiến về quản lý hoạt động giáo dục SKSS qua sách, tạp chí của các nhà giáo dục và tìm hiểu thêm các kinh nghiệm từ các đồng nghiệp đã tham gia công tác quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho học sinh
6.3 Phương pháp thống kê toán học
Nhằm xử lý số liệu để phân tích kết quả nghiên cứu
7 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu và khảo sát đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục SKSS ở 04 trường THPT trên địa bàn huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị
8 Cấu trúc luận văn
Luận văn được cấu trúc gồm 3 phần:
Phần A Mở đầu: Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu
Phần B Nội dung: Gồm có 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản
cho học sinh THPT
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho
học sinh các trường THPT huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho học
sinh các trường THPT huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị
Phần C Kết luận và khuyến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 16NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
SỨC KHỎE SINH SẢN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nghiên cứu về hoạt động giáo dục SKSS ở trên thế giới
Giáo dục SKSS đã và đang là vấn đề được quan tâm đặc biệt ở trong nước cũng như trên toàn thế giới nhất là sau Hội nghị Quốc tế về Dân số và phát triển ICPD (International Conference on Population Development) tại Cairo (Ai Cập) năm 1994 Hội nghị này đã tạo bước ngoặt quan trọng trong sự thay đổi chính sách dân số của các quốc gia đồng thời kêu gọi các nước dành sự quan tâm hàng đầu cho vấn đề chất lượng dân số trong đó có sức khỏe sinh sản
Sau hội nghị này, hàng loạt các quốc gia trên thế giới lần lượt tổ chức nhiều hội nghị bàn về vấn đề SKSS vị thành niên như: Bắc Kinh(1995), The Hague, Hà Lan (1999), Hội nghị dân số cấp cao Uỷ ban kinh tế và xã hội Châu Á Thái Bình Dương (ESCAP) và Quỹ dân số Liên hiệp quốc (UNFNPA) tại Băng Cốc [18, tr.10]
Trong kế hoạch hành động của Quỹ Dân số Liên hiệp quốc (UNFPA), các nội dung của SKSS có liên quan chặt chẽ với nhau Tuy vậy tùy vào điều kiện của mỗi quốc gia, mỗi khu vực mà các nội dung đó có sự bổ sung, ưu tiên một cách phù hợp Một trong những mục tiêu được chính phủ các nước khẳng định lại tại Hội nghị lần thứ tư ở Bắc Kinh (1995) đó là: “Tất cả các nước cần hết sức cố gắng thông qua hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu, làm cho mọi người, ở mọi lứa tuổi thích hợp, được tiếp cận khái niệm SKSS càng sớm càng tốt ”[25, tr.1]
Tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới năm 2005, các nhà lãnh đạo thế giới đã cam kết đưa ra giải pháp nhằm đạt được phổ cập SKSS vào năm 2015 Theo thoả thuận, các nhà lãnh đạo sẽ đưa mục tiêu phổ cập sức khoẻ sinh sản vào các chiến lược quốc gia nhằm đạt được các mục tiêu phát triển Thiên niên kỉ chấm dứt nghèo đói, giảm tử vong mẹ, nâng cao bình đẳng giới và đấu tranh chống lại HIV/AIDS [26, tr.11]
Như vậy có thể thấy, SKSS thực sự được nhiều nước coi là vấn đề đặc biệt
Trang 17quan trọng, nó là một bộ phận gắn bó mật thiết không thể tách rời trong chính sách, chiến lược phát triển của mỗi quốc gia
1.1.2 Nghiên cứu về hoạt động giáo dục SKSS ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề giáo dục dân số và sức khỏe sinh sản được Đảng và Nhà nước ta quan tâm từ rất sớm Nhiều hoạt động nhằm tăng cường giáo dục SKSS vị thành niên (VTN) đã được tiến hành như: Luật hôn nhân gia đình đã được sửa đổi
và công bố; Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em đã được Việt Nam ký kết, nhiều chương trình, hội thảo phòng chống tệ nạn xã hội, bảo vệ trẻ em đã được tổ chức
Với ý nghĩa đó từ năm 1982 - 1992, được sự tài trợ của Quỹ dân số của Liên hiệp quốc (UNFPA), ngành giáo dục cũng đã tiến hành ba dự án: Dự án giáo dục dân số trong nhà trường phổ thông; Dự án giáo dục giới tính và đời sống gia đình;
Dự án giáo dục các bậc cha mẹ có con dưới 6 tuổi tại 17 tỉnh, thành phố trên toàn quốc [24, tr12] Từ năm 1994, các chương trình, nội dung giáo dục dân số và SKSS tiếp tục được giới thiệu trong các trường THPT bằng cách lồng ghép tích hợp vào một số môn học và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Năm 1998, Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đã chủ trì triển khai dự án: “Hỗ trợ tăng cường SKSS VTN” Các đợt truyền thông đã tuyên truyền cho giới trẻ về SKSS, các biện pháp tránh thai, quan hệ tình dục an toàn, lành mạnh, phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục… giúp cho thanh thiếu niên có nhận thức đúng và tự điều chỉnh hành vi của mình góp phần giảm tỉ lệ nạo phá thai và sinh con ngoài ý muốn [24, tr12]
Năm 2005, Luật Thanh niên đã được Quốc hội thông qua, đây là văn bản chính thức giúp hoàn thiện môi trường pháp lý cho các can thiệp SKSS VTN Việt Nam giai đoạn 2006 -2010 và định hướng 2020
Bên cạnh đó có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề SKSS và giáo dục SKSS VTN như:
- Dự án “Hỗ trợ chương trình Giáo dục - Đào tạo về SKSS, dân số và phát triển” do UNFPA tài trợ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo xây dựng tài liệu bồi dưỡng giáo viên các trường THCS và THPT về “Giáo dục sức khỏe sinh sản VTN”,
“Phương pháp giảng dạy các chủ đề nhạy cảm về SKSS VTN”
- Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nghiên cứu biên soạn bộ chương trình đào tạo
Trang 18truyền thông về dân số - SKSS do Quỹ dân số LHQ, Ủy ban dân số, gia đình và trẻ
em hỗ trợ
- Ủy ban Quốc gia về dân số đã phối hợp với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh biên soạn “Sổ tay hướng dẫn tuyên truyền thảo luận nhóm về SKSS VTN dành cho tuyên truyền viên và cán bộ đoàn cơ sở”
- Đặc biệt Chiến lược quốc gia về dân số và chăm sóc sức khoẻ sinh sản giai đoạn 2011 - 2020 là sự phát huy những kết quả đạt được của Chiến lược quốc gia về dân số và chăm sóc sức khoẻ sinh sản giai đoạn 2001 - 2010 Chiến lược cũng đã khẳng định:
Tiếp tục đẩy mạnh giáo dục về DS và SKSS, dân số và phát triển, giới và giới tính đã được đưa vào các chương trình giảng dạy chính thức trong nhà trường,
bổ sung thêm kiến thức và kỹ năng sống liên quan đến giới tính, tình dục an toàn, giới và bình đẳng giới vào nội dung giảng dạy phù hợp với các cấp học: trung học
cơ sở, trung học phổ thông, cao đẳng, đại học và các trường dạy nghề [29, tr.20]
Ngoài ra, còn có các công trình khác về quản lý giáo dục SKSS như tác giả Nguyễn Thị Thu Hà, Phạm Thị Hồng Nhi nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản dành cho sinh viên, tác giả Nguyễn Thị Bích Hằng, Trịnh Việt Dũng, Lê Minh Sơn… nghiên cứu các biện pháp quản lý công tác giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh ở các trường THPT…
1.2 Các khái niệm và thuật ngữ có liên quan
1.2.1 Quản lý và quản lý giáo dục
a Quản lý:
Quản lý là một khái niệm rất chung, tổng quát, dùng chung cho cả quá trình quản lý xã hội (xí nghiệp, trường học, đoàn thể…) Hiện có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm quản lý Sau đây là một số quan niệm chủ yếu
Các Mác đã xem quản lý là kết quả tất yếu của quá trình phát triển lao động
xã hội, ông cho rằng:
Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hành những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập
Trang 19của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng [19, tr.5]
Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa: Quản lý là: “
Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những nhu cầu nhất định” [36, tr.772]
Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực(nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [19,tr.8]
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: “Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức”[10, tr.1]
Các khái niệm trên tuy khác nhau, song chúng có chung các dấu hiệu chủ yếu sau đây:
- Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội
- Hoạt động quản lý là những tác động có hướng đích
- Hoạt động quản lý là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức
Từ những định nghĩa của các nhà khoa học và các dấu hiệu trên, trong luận
văn này khái niệm quản lý được hiểu: Quản lý là một quá trình tác động có mục đích, có tổ chức của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng và phương tiện quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng
và cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra
b Quản lý giáo dục
Về thuật ngữ quản lý giáo dục cũng có nhiều quan niệm khác nhau Nếu xét theo khía cạnh phạm vi quản lý sẽ có các loại quản lý như quản lý nhà nước của các cấp: Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT và quản lý trong các trường học, bậc học, cấp học, quản lý ở các lĩnh vực giáo dục khác nhau Sau đây là một số định nghĩa về quản lý giáo dục
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: “Quản lý giáo dục là quá trình thực hiện có định hướng và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục đã đề ra ” [21, tr.15]
Trang 20Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường hay nói rộng ra là quản
lý giáo dục là quản lý hoạt động dạy và học nhằm đưa nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái khác và dần đạt tới mục tiêu đã xác định”[21, tr.16]
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: "Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho
hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [21, tr.16]
Một số tác giả khác phân chia quản lý giáo dục theo hai cấp độ chủ yếu đó là cấp độ vĩ mô và cấp độ vi mô Theo tác giả Trần Kiểm, quản lý giáo dục cấp vĩ mô
là quản lý một nền/hệ thống giáo dục; còn quản lý giáo dục cấp vi mô xem như quản lý trường học/tổ chức giáo dục cơ sở Ông cho rằng:
Ở cấp độ vĩ mô, quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội
Ở cấp độ vi mô, quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có hướng đích của hiệu trưởng đến các hoạt động giáo dục, đến con người (giáo viên, cán bộ nhân viên và học sinh), đến các nguồn lực (cơ sở vật chất, tài chính, thông tin, v.v ) đến các ảnh hưởng ngoài nhà trường một cách hợp quy luật (quy luật quản lý, quy luật giáo dục, quy luật tâm lý ) nhằm đạt mục tiêu giáo dục [20, tr.241]
Các khái niệm trên đều chỉ ra: quá trình quản lý giáo dục được hiểu như một quá trình vận động của các thành tố có mối quan hệ tương tác lẫn nhau trong hệ thống tổ chức của nhà trường Hệ thống đó bao gồm các thành tố cơ bản là: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, nội dung, phương pháp quản lý, mục tiêu quản lý
Các định nghĩa của các tác giả trên tuy không giống nhau nhưng đều cơ bản
có sự thống nhất một số mặt sau:
- Quản lý giáo dục được diễn ra trong một tổ chức, có kế hoạch
- Quản lý giáo dục là hoạt động có hướng đích làm cho hệ giáo dục vận hành
có hiệu quả
Trang 21- Quản lý giáo dục là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức
Từ những định nghĩa trên và đặc điểm của quản lý giáo dục, trong luận văn
này khái niệm quản lý giáo dục được hiểu: Quản lý giáo dục là quá trình tác động
có kế hoạch, có tổ chức của các cơ quan quản lý giáo dục tới các thành tố của quá trình dạy học - giáo dục nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đề ra
1.2.2 Sức khỏe sinh sản và giáo dục sức khỏe sinh sản
a Sức khỏe sinh sản
Khái niệm sức khỏe sinh sản được Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển họp tại Cairô (Ai Cập) năm 1994 thừa nhận và khẳng định:
Sức khỏe sinh sản là một trạng thái thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh thần
và xã hội không chỉ là không bệnh tật hoặc tàn phế của hệ thống sinh sản Điều này cũng hàm ý là mọi người kể cả nam và nữ đều có quyền được nhận thông tin và tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, các biện pháp KHHGĐ an toàn, có hiệu quả và chấp nhận được theo sự lựa chọn của mình, đảm bảo cho người phụ nữ trải qua quá trình thai nghén và sinh đẻ an toàn tạo cho các cặp vợ chồng có cơ may tốt nhất để sinh được đứa con lành mạnh [34, tr.3]
SKSS là tình trạng hài hoà về thể lực, tinh thần, xã hội trong tất cả các vấn
đề có liên quan đến tình dục và hệ thống sinh sản của con người, chức năng và quá trình của nó SKSS được hiểu là con người có nhu cầu và có khả năng về một cuộc sống thoải mái, khoẻ mạnh, tình dục được thoả mãn và an toàn
Như vậy, SKSS có nghĩa là nói đến điều kiện mà một cá nhân có thể hoàn toàn không bị ốm yếu, bệnh tật cả về cơ thể lẫn tinh thần; SKSS còn quan tâm đến những khía cạnh xã hội khác của cuộc sống như trạng thái của cá nhân, tinh thần, chính trị, kinh tế cũng như văn hoá; SKSS bao gồm cả thời gian trước, trong, sau khi sinh và tất cả vòng đời của con người
b Giáo dục sức khỏe sinh sản
Giáo dục SKSS là quá trình cung cấp các thông tin thích hợp bằng tất cả phương tiện, nhằm mục đích chính là nâng cao nhận thức và sự hiểu biết của mọi người kể cả nam và nữ đối với một số vấn đề về sức khỏe sinh sản, các dịch vụ
Trang 22chăm sóc sức khỏe sinh sản, các biện pháp kế hoạch hóa gia đình an toàn nhằm động viên họ chấp nhận các hành vi lành mạnh để ngăn chặn các nguy cơ như: có thai ngoài ý muốn, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, bảo đảm cho người mẹ được chăm sóc tốt khi mang thai, khi được sinh đẻ an toàn, được chăm sóc tốt trong
và sau khi sinh nở, tạo cho các cặp vợ chồng cơ may tốt nhất để sinh được đứa con lành mạnh [16, tr.17]
Giáo dục SKSS trong nhà trường là một bộ phận quan trọng của giáo dục nhân cách nhằm phát triển cân đối và toàn diện ở học sinh; nhằm trang bị cho các
em kiến thức về giới, về hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản, về đời sống tình dục lành mạnh, an toàn, giúp các em hình thành thái độ, hành vi đúng đắn trong các mối quan hệ khác giới, biết cách giải quyết các vấn đề liên quan đến tình bạn, tình yêu, hôn nhân, biết chăm sóc SKSS, sức khỏe tình dục và kiểm soát tốt hơn đời sống của bản thân
1.3 Lý luận về giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh trung học phổ thông
1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh trung học phổ thông
* Sự phát triển về thể chất:
Học sinh trung học phổ thông bao gồm những em đang ở độ tuổi từ 15 đến
18, là thời kỳ đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể Sự phát triển thể chất đã bước vào thời kỳ phát triển bình thường, hài hòa, cân đối Ở tuổi đầu thanh niên, học sinh THPT vẫn còn tính dễ bị kích thích và sự biểu hiện giống như lứa tuổi thiếu niên Tuy nhiên tính dễ bị kích thích ở tuổi thanh niên không phải chỉ do nguyên nhân sinh lý như lứa tuổi thiếu niên mà nó còn do cách sống của cá nhân ở độ tuổi này như (hút thuốc lá, không giữ điều độ trong học tập, lao động, vui chơi ) Cả nam và
nữ trong độ tuổi này đều lớn rất nhanh Ở các em gái, những đặc điểm của vóc dáng thiếu nữ phát triển mạnh Các em trai cũng dần mang vóc dáng người trưởng thành với cơ bắp to ra ở vai, chân và ngực Sự thay đổi vóc dáng ở nữ thường khoảng 3 năm, nhưng ở nam giới lâu hơn, có thể kéo dài đến 19 - 20 tuổi Những thay đổi về vóc dáng cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các cơ quan liên quan đến chức năng sinh sản làm cho các em trở nên hấp dẫn hơn trong mắt người khác giới
Những đặc điểm của tuổi dậy thì xuất hiện và thể hiện ngày càng rõ Ở nữ giới, tuổi dậy thì có thể đến sớm hơn, biểu hiện quan trọng của giai đoạn này là các
Trang 23em bắt đầu có kinh nguyệt, nếu quan hệ tình dục có thể mang thai và sinh con Ở nam giới bắt đầu có dấu hiệu xuất tinh, nếu quan hệ tình dục cũng có thể làm cho nữ giới mang thai, sinh con
Nhìn chung lứa tuổi THPT có sức khỏe và sức chịu đựng tốt hơn tuổi thiếu niên Sự phát triển của thể chất lứa tuổi này sẽ có ảnh hưởng nhất định đến tâm lý
và nhân cách cũng như ảnh hưởng tới những lựa chọn trong cuộc sống
* Những biến đổi về tâm sinh lý:
Ở tuổi dậy thì, dưới tác động của các hoóc môn giới tính, vị thành niên có nhiều thay đổi về tâm lý và tình cảm
Những thay đổi về cảm xúc ở lứa tuổi này thường gặp như vui vẻ, tự hào, lo lắng, thẹn thùng, xấu hỗ… Các em cũng bắt đầu có cảm xúc khác giới, quan tâm hơn tới các bạn khác giới, đôi khi thường tưởng tượng vu vơ đến một chuyện nào đó hoặc một ai đó Hành vi ứng xử của các em cũng có nhiều thay đổi và khó hiểu, lúc thì gay gắt, lúc thì nhẹ nhàng, lúc thì mâu thuẫn, có lúc lại tự cảm thấy vui, buồn lẫn lộn Các
em rất dễ bị xúc động, rất dễ mất tự tin khi gặp phải những vấn đề rắc rối
- Ý thức tự trọng, có tính độc lập trong suy nghĩ và hành động: Ở tuổi VTN, các em thường có xu hướng muốn tự lập, tự khẳng định mình, muốn tách dần ra khỏi sự quản lý của cha mẹ và ít phụ thuộc vào cha mẹ để làm “người lớn” Các em muốn đưa ra những quyết định riêng cho bản thân nhưng thường không suy nghĩ kỹ trước khi quyết định, điều này có thể dẫn đến những hậu quả không mong muốn
- Sự mất cân bằng tạm thời trong tâm lý và tình cảm: Sự phát triển về cơ thể
đã tạo ra sự mất cân bằng trong tâm lý và tình cảm của các em Quá trình hưng phấn của võ não mạnh chiếm ưu thế, các quá trình ức chế có điều kiện bị suy giảm do đó,
có nhiều em không làm chủ được cảm xúc của mình, không kiềm chế được các xúc động mạnh Hưng phấn của võ não lại mang tính chất lan tỏa nhiều hơn, nên các em thường có những cử chỉ, động tác phụ của tay, chân, đầu, mình mỗi khi có một phản ứng nào đó, nhất là các em trai [4, tr.41]
- Tự ý thức và đánh giá về bản thân: Do nhu cầu muốn làm người lớn, trở thành người lớn và được đối xử như người lớn nên các em thường có những hành động bắt chước người lớn Các em thường có khuynh hướng đi sâu vào bản thân mình đồng thời lại muốn tỏa ra ngoài xã hội Các em thường đặt ra câu hỏi: Ta là
Trang 24ai? Ta có thể làm được cái gì? Các em bắt đầu chú ý đến vẻ hình thức bên ngoài Lòng tự ái không chỉ giới hạn việc tự tôn sùng bản thân mà còn thể hiện ở tính ganh đua, hiếu thắng, bộc lộ cái tôi của bản thân trong giao tiếp Các em thường hay bận tâm đến chuyện làm sao đề mọi người có thể chú ý đến mình, do vậy nếu là nữ sẽ có biểu hiện rất thích làm dáng, trang điểm, là con trai thường tỏ ra dáng “mày râu” hay khoe khoang, ăn nói kiểu khác đời [4, tr.42]
1.3.2 Mục tiêu giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh
Giáo dục SKSS cho học sinh trong nhà trường là trang bị cho các em hệ thống kiến thức về SKSS phù hợp với đặc điểm tâm lý, sinh lý của lứa tuổi, nhằm hình thành thái độ, hành vi đúng đắn, phù hợp với chuẩn mực xã hội Trong đó, tập trung vào một số mục tiêu cơ bản sau:
Tạo sự thống nhất trong toàn xã hội về mục tiêu giáo dục SKSS cho học sinh các trường THPT Góp phần hình thành cho học sinh những hành vi văn hoá ứng xử tốt đẹp; hiểu biết những đặc điểm tâm sinh lý của người khác giới để có cách ứng xử thích hợp
Tạo ra môi trường thuận lợi cho học sinh THPT nâng cao nhận thức về SKSS để phát triển toàn diện nhân cách phù hợp với chuẩn mực xã hội, đáp ứng những quy luật phát triển về tâm sinh lý của con người nói chung và học sinh THPT nói riêng
Phát huy được thế mạnh, huy động tối đa nguồn lực của từng lực lượng giáo dục nhằm đạt mục tiêu giáo dục SKSS một cách hiệu quả nhất Góp phần ngăn ngừa hiện tượng có thai ngoài ý muốn Quan hệ tình dục truớc hôn nhân, quan hệ tình dục không an toàn đang tiềm ẩn nhiều rủi ro như có thai ngoài ý muốn, phá thai không
an toàn, lây nhiễm các bệnh tình dục
Nâng cao trách nhiệm của các lực lượng giáo dục trong việc giáo dục SKSS, phát triển nhân cách học sinh và góp phần xây dựng xã hội công bằng dân chủ, văn minh
1.3.3 Nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh
Nội dung giáo dục SKSS cho học sinh rất phong phú có thể nêu một số nội
dung cơ bản sau:
Làm mẹ an toàn: Bao gồm chăm sóc sức khoẻ bà mẹ truớc sinh, trong sinh
và sau sinh, chăm sóc trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ đảm bảo "mẹ khoẻ, con khoẻ" sau mỗi lần sinh, phòng tránh lây truyền HIV/AIDS từ mẹ sang con
Trang 25Quyền sinh sản: Quyền quyết định số con, số lần, khoảng cách sinh Học
sinh có quyền được biết đầy đủ thông tin về SKSS, sức khỏe tình dục một cách thuờng xuyên, liên tục dưới mọi hình thức, trước khi trở thành người lớn; được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc SKSS thuận tiện, phù hợp
Kế hoạch hóa gia đình: Là sự cố gắng có ý thức của một cặp (hoặc cá nhân)
nhằm điều chỉnh số con và khoảng cách sinh con, không chỉ bao hàm việc lựa chọn
sử dụng các biện pháp tránh thai mà còn là những cố gắng của các cặp vợ chồng để tránh có thai Thực hiện tốt công tác KHHGĐ sẽ giảm được tỷ lệ tử vong cho cả mẹ lẫn con, mang lại lợi ích sức khỏe, kinh tế, trình độ bản thân cha, mẹ và con cái
Phòng tránh có thai, phá thai ở tuổi vị thành niên: Việt Nam là 1 trong 5
nước có tỉ lệ nạo phá thai cao nhất trên thế giới Hàng năm, có từ 1,2 đến 1,4 triệu trường hợp nạo phá thai, trong đó số ca phá thai ở tuổi vị thành niên (VTN) khoảng
120.000 trường hợp (chiếm 10% tổng số người phá thai)
Quan hệ tình dục trước hôn nhân trong VTN có xu hướng gia tăng, trong khi
đó tỉ lệ sử dụng biện pháp tránh thai lại rất thấp Điều này cảnh báo việc có thai ở tuổi VTN hoặc có thai ngoài ý muốn đang là vấn đề cấp bách cần được giải quyết Khi không được trang bị đầy đủ những thông tin đúng đắn về tình dục, các em sẽ có những hiểu biết sai lệch, gây ra những hậu quả đáng tiếc, đặc biệt là vấn đề mang thai ngoài ý muốn
Mang thai và có con ở tuổi VTN thường để lại nhiều hậu quả về tâm lý, kinh
tế, xã hội ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc sống hiện tại và tương lai của các em Phá thai không an toàn lại là rủi ro lớn, có thể để lại những biến chứng nghiêm trọng như vô sinh, thậm chí tử vong
Muốn giải quyết tốt vấn đề này, cần thiết phải nâng cao nhận thức về SKSS
và tình dục cho VTN Chỉ khuyên VTN không được quan hệ tình dục là chưa thật
sự hiệu quả mà tốt nhất là phải trang bị cho các em những thông tin chính xác về tình dục, SKSS, tránh thai và tạo điều kiện cho các em được tiếp cận những dịch
vụ tư vấn và chăm sóc y tế liên quan đến SKSS khi cần thiết
Phòng ngừa và điều trị vô sinh : Vô sinh là trường hợp hai người chung sống
với nhau, đời sống tình dục diễn ra bình thường và thường xuyên sau một đến hai năm không sử dụng các biện pháp tránh thai mà không thụ thai Vô sinh có thể là
Trang 26nguyên phát (tức là từ trước đến giờ người phụ nữ hay người đàn ông chưa bao giờ
có con), có thể là thứ phát (tức là đã từng có con nhưng về sau mất khả năng đó)
Muốn điều trị vô sinh, cả hai vợ chồng cùng đến các cơ sở y tế chuyên sâu để được khám phát hiện nguyên nhân mà điều trị
Phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục: Quan hệ tình dục
không an toàn bên cạnh việc làm cho VTN mang thai ngoài ý muốn còn dễ dẫn đến
các nguy cơ gây ra các bệnh lây truyền qua đường tình dục
Khi có quan hệ tình dục, các em gái hầu như không thể biết bạn trai của mình có bệnh hay không Việc quan hệ tình dục đối với các em lúc này vì không hợp pháp nên thường “vụng trộm”, chọn những nơi kín đáo, vắng vẻ; Các em không được trang bị những kiến thức cơ bản lại thiếu điền kiện vệ sinh an toàn nên rất dễ mang theo các mầm bệnh đi sâu vào trong Ở các em nữ thường dễ dàng nhiễm bệnh hơn là ở các em nam Khi đã mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục các em thường xấu hỗ không dám đi khám để chữa bệnh kịp thời nên ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và có thể gây biến chứng tại đường sinh sản, tác động xấu đến khả năng sinh sản sau này
Các bệnh lây truyền qua đường tình dục hiện nay khoảng trên 24 loại nhưng phổ biến là các bệnh lậu, giang mai, HIV/AIDS, sùi mào gà, viêm gan virut và viêm
âm đạo do trùng roi Trong đó đặc biệt rất nguy hiểm hiện nay là HIV/AIDS, một bệnh sớm muộn sẽ đưa đến tử vong vì chưa có thuốc điều trị và phòng ngừa Do đó, học sinh cần được cung cấp đầy đủ những thông tin về căn bệnh này với những nội dung cơ bản: triệu chứng, con đường lây nhiễm, thời gian ủ bệnh, các biện pháp phòng tránh lây nhiễm
Giáo dục về tình dục, sức khỏe tình dục: Giáo dục về tình dục, sức khỏe tình
dục nhằm nâng cao kiến thức, hiểu biết về phát triển tình dục và hệ thống sinh sản ở người, hành vi tình dục lành mạnh Mục đích là giúp cho người ít tuổi thực hiện các hành vi tình dục có trách nhiệm, đúng chỗ và trì hoãn hoạt động tình dục cho đến khi hội đủ điều kiện về kinh tế, thể chất, xã hội, gia đình Đây là nhu cầu cần thiết, cấp bách để xây dựng nhân cách và hành vi tình dục của con người, có đủ kiến thức
về giới tính, tình dục thì học sinh sẽ không tò mò hay bị kích động bởi những kích
thích tầm thường, biết kiềm chế bản thân, có trách nhiệm với hành động của mình
Trang 27Thông tin, giáo dục, truyền thông, tư vấn về SKSS: Thông tin, giáo dục,
truyền thông, tư vấn dịch vụ SKSS giúp cho mọi người nâng cao trình độ hiểu biết, thay đổi nhận thức, hành vi để thực hiện tốt những yêu cầu về chăm sóc SKSS Thông tin, giáo dục, truyền thông, tư vấn dịch vụ SKSS đầy đủ để mọi người cùng thực hiện là nhiệm vụ chính của Đảng và Nhà nước ta, là đạo lý mang tính nhân văn cho thế hệ mai sau
1.3.4 Các phương pháp giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh
Phương pháp giáo dục SKSS cho học sinh là những hình thức hoạt động được nhà giáo dục lựa chọn, thực hiện một cách thống nhất để chuyển tải nội dung giáo dục SKSS đến cho học sinh nhằm đạt được mục đích đề ra
Các phương pháp giáo dục SKSS cho học sinh có thể chia thành 3 nhóm:
- Nhóm các phương pháp hình thành ý thức cá nhân Bao gồm:
Phương pháp đàm thoại: Sử dụng các đề tài, chủ đề có liên quan đến nội
dung SKSS để giúp học sinh có cơ hội trao đổi, thảo luận trình bày ý kiến của bản thân nhằm nâng cao kiến thức, hình thành thái độ, có hành vi đúng đắn trong lĩnh vực chăm sóc SKSS
Phương pháp giảng giải và khuyên răn: Là phương pháp mà nhà giáo dục
dùng lời nói đề giải thích, chứng minh các chuẩn mực xã hội nhằm giúp cho người được giáo dục nắm vững nội dung, ý nghĩa các chuẩn mực từ đó hình thành tình cảm, niềm tin và có thể tự giác thực hiện các chuẩn mực này
Phương pháp kể chuyện: Là phương pháp nhà giáo dục dùng lời nói, cử chỉ,
điệu bộ để kể lại một câu chuyện nào đó, qua nội dung câu chuyện có thể hình thành cho học sinh những kinh nghiệm, niềm tin và hành vi đúng đắn Những câu chuyện trong giáo dục SKSS có thể là những vấn đề xảy ra trong thực tiễn để từ đó, VTN
có thể rút ra những kinh nghiệm hữu ích cho mình
- Nhóm các phương pháp tổ chức hoạt động xã hội và hình thành kinh nghiệm xã hội Bao gồm:
Phương pháp giao việc: Đây là phương pháp chú trọng việc tổ chức các hoạt
động nhằm lôi cuốn học sinh vào các hoạt động đa dạng và phong phú của tập thể, qua đó giúp học sinh ý thức đầy đủ ý nghĩa công việc mình làm và tích cực tham gia hoạt động tuyên truyền giáo dục SKSS
Trang 28Phương pháp tập luyện: Là phương pháp tổ chức cho học sinh thể hiện ý
thức tình cảm của mình qua đó có thể hình thành và củng cố cho học sinh các hành
vi phù hợp trong lĩnh vực SKSS
Phương pháp tập thói quen: Đây là phương pháp tổ chức cho học sinh thực
hiện đều đặn và có kế hoạch các hành động đúng đắn nhất định, nhằm biến những hành động đó thành thói quen ứng xử, thành kỹ năng và kỹ xảo
- Nhóm các phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi ứng
xử của học sinh Bao gồm:
Phương pháp nêu gương: Sử dụng những tấm gương sáng (hoặc xấu) của cá
nhân, tập thể kích thích học sinh, khiến họ được giáo dục, học tập và làm theo
những cái đúng, cái tốt (hoặc tránh những hành vi xấu tương tự)
Phương pháp trách phạt: Đây là phương pháp biểu thị thái độ phản đối, phê
phán những hành vi sai trái trong vấn đề SKSS của học sinh so với các chuẩn mực
mà xã hội quy định
Phương pháp thi đua: Là phương pháp kích thích khuynh hướng tự
khẳng định mình của người được giáo dục, thúc đẩy các em cố gắng hăng hái vươn lên và lôi cuốn người khác để giành được những thành tích xuất sắc cho
cá nhân và tập thể
Tùy vào từng tình huống, hoàn cảnh cụ thể mà nhà giáo dục có thể lựa chọn
và sử dụng linh hoạt các phương pháp để đạt được mục đích đề ra
1.3.5 Các hình thức giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh
Hoạt động giáo dục SKSS cho học sinh có thể được tiến hành bằng nhiều hình thức khác nhau Ở trường THPT giáo dục SKSS cho học sinh được thực hiện thông qua một số hình thức cơ bản sau:
- Tích hợp qua các môn học chính khóa của trường: Giáo dục SKSS có thể được lồng ghép tích hợp qua các môn học như: Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân, Sinh học… Đây là con đường thuận lợi nhất giúp học sinh nắm bắt kiến thức về SKSS một cách đầy đủ và có hệ thống Hình thức này yêu cầu phải thực hiện đúng phân phối chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Thông qua các hoạt động ngoại khóa: Hoạt động giáo dục SKSS không chỉ thực hiện trong các giờ dạy chính khóa mà còn phải thực hiện thông qua các hoạt
Trang 29động ngoại khóa và các phong trào của nhà trường Thông qua các hoạt động ngoại khóa, học sinh có cơ hội để của cố kiến thức và rèn luyện các kỹ năng thực hành Hình thức này nhằm thu hút đông đảo các lực lượng xã hội khác tham gia cùng học sinh Hình thức này gồm các hoạt động sau:
Tổ chức thi viết, sáng tác thơ văn, vẽ tranh biếm họa, các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao có nội dung về SKSS
Tổ chức câu lạc bộ, chiếu phim về giới tính, tình bạn, tình yêu
Tổ chức các buổi tọa đàm, diễn đàn để các chuyên gia về SKSS nói chuyện, trao đổi với học sinh nhằm giúp các em tháo gỡ thắc mắc và chia sẻ những suy nghĩ của mình, tổ chức giao lưu với những người bị nhiễm HIV/AIDS, để tạo ra cho học sinh thái độ đối xử thân thiện với những người này Từ đó giúp các em rút ra bài học cho chính bản thân
- Thông qua các hoạt động xã hội, các hoạt động tập thể: Sinh hoạt lớp, sinh hoạt đoàn thể, tham gia văn nghệhọc sinh sẽ có nhiều cơ hội giao lưu, trao đổi nhằm nâng cao kiến thức về SKSS
- Thông qua các buổi sinh hoạt văn hóa gia đình: Học sinh đuợc tiếp thu những chuẩn mực về đạo đức, hành vi ứng xử đúng đắn về những vấn đề có liên quan đến SKSS
- Thông qua hình thức tự giáo dục của cá nhân học sinh: Các em phải tích cực, chủ động, có ý thức tự giáo dục thì mới đạt được hiệu quả cao
1.4 Lý luận về quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho HS THPT
1.4.1 Khái niệm quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho HS THPT
Trên cơ sở phân tích khái niệm về quản lý, sức khỏe sinh sản và hoạt động giáo dục, trong luận văn này khái niệm quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh
sản được hiểu:
Quản lý giáo dục SKSS là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức, có mục đích của các nhà quản lý giáo dục tới đối tượng quản lý nhằm đẩy mạnh hoạt động giáo dục SKSS đạt kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất Đó là quá trình tác động có chủ định vào các thành tố tham gia trong quá trình giáo dục SKSS
để trang bị, bồi dưỡng và nâng cao kiến thức SKSS, hình thành, xây dựng kỹ năng
chăm sóc SKSS, kỹ năng sống lành mạnh ở học sinh THPT
Trang 301.4.2 Vai trò quản lý trong hoạt động giáo dục SKSS cho học sinh THPT
Quản lý có vai trò đặc biệt quan trọng trong giáo dục SKSS ở trường THPT Với các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, nhà quản lý có thể tác động đến tất cả các thành tố của giáo dục SKSS, tác động mạnh mẽ đến các điều kiện
hỗ trợ, các yếu tố phối hợp thực hiện hoạt động giáo dục SKSS trong nhà trường
Trọng tâm của quản lý hoạt động giáo dục SKSS là quản lý con người Vì vậy, nhà quản lý cần thiết phải làm sao để mọi thành viên tùy theo chức năng, nhiệm vụ và điều kiện cụ thể của mình đều phải làm việc một cách tích cực, có trách nhiệm để đạt được mục tiêu giáo dục đề ra
1.4.3 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho học sinh THPT
1.4.3.1 Quản lý mục tiêu giáo dục SKSS
SKSS vị thành niên là một trong những vấn đề ưu tiên, chính yếu trong giai đoạn hiện nay Quan tâm đến giáo dục SKSS tức là đặt vấn đề bền vững cho sự nghiệp dân số, nâng cao chất lượng dân số, đảm bảo xây dựng nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Để đạt được những mong muốn đó, giáo dục SKSS VTN phải trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản nhằm giúp các em hiểu mình, có khả năng tự chăm sóc và bảo vệ mình, có nhận thức đúng đắn về tình bạn, tình yêu và tình dục để từ đó hình thành lối sống lành mạnh, có văn hóa, đảm bảo cho tương lai của bản thân và sự phát triển của xã hội
Quản lý mục tiêu giáo dục SKSS cho học sinh là quản lý kết quả mà chủ thể mong muốn trong quá trình tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục SKSS Đây cũng là mục tiêu bộ phận của mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường
1.4.3.2 Quản lý nội dung, chương trình, kế hoạch giáo dục SKSS
Nội dung là một thành tố quan trọng trong quá trình giáo dục Việc xây dựng nội dung, chương trình giáo dục SKSS cần thiết phải phù hợp với các đặc điểm tâm sinh lý học sinh gắn với những vấn đề thực tiễn của đời sống xã hội Vì vậy, nhà quản lý phải nắm vững các cơ sở lý luận cần thiết, trọng tâm là các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước thể hiện qua các văn bản quy phạm pháp luật như pháp lệnh dân số, chiến lược Dân số - Sức khỏe sinh sản Việt Nam qua các giai đoạn, các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của các bộ, ban, ngành
Trang 31Đối với hoạt động giáo dục SKSS vị thành niên, những nội dung được học sinh quan tâm và đưa vào chương trình giáo dục trong nhà trường đó là: quan hệ khác giới, tình bạn, tình yêu, bình đẳng nam nữ và trách nhiệm của nam giới; các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS; sinh sản; tránh thai; nạo phá thai
Quản lý kế hoạch giáo dục SKSS cho học sinh THPT là việc xây dựng kế hoạch hành động về giáo dục SKSS Đó là việc nhà quản lý đưa ra những nội dung chương trình cụ thể cho các tổ chức, đoàn thể trong nhà trường triển khai hoạt động, trong đó phải xác định được các mục tiêu cần đạt và biện pháp cụ thể để thực hiện
Quản lý tốt kế hoạch là cơ sở quyết định để thực hiện thành công mục tiêu giáo dục SKSS trong nhà trường
1.4.3.3 Quản lý việc thực hiện phương pháp giáo dục SKSS
Quản lý việc thực hiện phương pháp giáo dục SKSS là quản lý việc tổ chức thực hiện các phương pháp trong quá trình giáo dục SKSS cho HS nhằm đạt được mục đích giáo dục đề ra Việc sử dụng các phương pháp quản lý cần phải phù hợp với mục đích và nguyên tắc quản lý
Quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho học sinh THPT huyện Hướng Hóa gồm 3 phương pháp chủ yếu sau:
Phương pháp hành chính - pháp luật
Phương pháp hành chính pháp luật là các tác động của chủ thể quản lý dựa trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực nhà nước Đặc trưng cơ bản của phương pháp này là sự yêu cầu đơn phương của chủ thể quản lý với đối tượng quản lý Quan hệ thể hiện ở đây chính là quan hệ quyền uy, phục tùng giữa cấp trên và cấp dưới, giữa cá nhân với tổ chức Cấp trên ra mệnh lệnh, cấp dưới buộc phải thi hành Phương pháp này nhằm mục đích là chủ thể quản lý ban hành các văn bản pháp quy quy định về tổ chức và hoạt động của tổ chức giáo dục Bên cạnh đó nó còn có mục đích thông qua các chỉ thị, mệnh lệnh hành chính, nhà quản lý bắt buộc cấp dưới thực hiện những nhiệm vụ theo kế hoạch nhất định, đảm bảo sự đúng hướng, phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận
Trang 32hợp giữa kích thích bằng vật chất và tinh thần trong quá trình quản lý Nếu như quá coi trọng kích thích bằng vật chất sẽ tầm thường hóa con người và không phù hợp với môi trường giáo dục Ngược lại, nếu quá đề cao kích thích tinh thần chúng ta sẽ rơi vào chủ nghĩa duy ý chí
Phương pháp giáo dục tâm lý
Phương pháp giáo dục tâm lý là tổng thể những tác động lên trí tuệ, tình cảm,
ý thức và nhân cách con người Mục đích của phương pháp này là thông qua những mối quan hệ liên nhân cách tác động lên con người nhằm cung cấp thêm những hiểu biết, hình thành những quan điểm đúng đắn, nâng cao trình độ, khả năng thực hiện nhiệm vụ của họ Bên cạnh đó nó còn khơi dậy lòng tự trọng và lương tâm nghề nghiệp, nhằm khai thác tiềm năng trí tuệ, kích thích sự say mê sáng tạo trong hoạt động mỗi người Đặc trưng của phương pháp này chính là tính thuyết phục, làm cho con người hiểu rõ đúng - sai, tốt - xấu, thiện - ác…để nâng cao tính tự giác làm việc, gắn bó với tổ chức
Với những nội dung giáo dục SKSS đã được xác định, nhà giáo dục cần phải
sử dụng những phương pháp giáo dục phù hợp để giúp người học tiếp thu được các nội dung giáo dục SKSS một cách tốt nhất
Thực tiễn quản lý giáo dục cho chúng ta thấy, không có một phương pháp nào là vạn năng, là quyết định mà mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định Vì thế tùy vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể và kinh nghiệm quản lý nhà giáo dục cần vận dụng kết hợp linh hoạt và có hiệu quả các phương pháp quản lý giáo dục
Trang 33Sử dụng phòng truyền thông: Đây chính là nơi cung cấp và lưu giữ các thông tin, lài liệu liên quan đến công tác giáo dục SKSS Cố vấn về tổ chức và quản lý hoạt
động của phòng truyền thông là đại diện Ban giám hiệu, Ban chấp hành Đoàn trường, cùng các thầy cô giáo chủ nhiệm, các thầy cô có am hiểu về lĩnh vực giáo dục SKSS Chủ trì phòng truyền thông là cán bộ Đoàn với sự tham gia của đại diện các lớp
Sử dụng hộp thư: Nếu học sinh có những thắc mắc về các vấn đề nhạy cảm
cần được giải đáp nhưng lại rụt rè, e ngại không dám hỏi trực tiếp thì các em có thể gửi câu hỏi vào hộp thư để được trả lời trực tiếp
Giao lưu với các chuyên gia, nhà tư vấn về SKSS
Nhà truờng có thể mời các chuyên gia, các nhà tư vấn trực tiếp làm việc để học sinh giao lưu, tìm hiểu Qua hoạt động này, học sinh đuợc truyền đạt những kiến thức cơ bản về giới, sức khỏe sinh sản
Tổ chức thi tìm hiểu, sáng tạo về SKSS
Tổ chức văn nghệ, sáng tác, vẽ tranh biếm họa có nội dung về giáo dục SKSS…
Dù ở hình thức nào, chúng ta cũng cần chú trọng đến việc kích thích tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh để các em tham gia một cách hiệu quả
1.4.3.5 Quản lý các điều kiện hỗ trợ hoạt động giáo dục SKSS
Ngoài các yếu tố như quản lý mục tiêu, nội dung, kế hoạch, hình thức thì việc quản lý các điều kiện hỗ trợ cho hoạt động giáo dục SKSS cũng rất quan trọng Bởi vì các điều hiện hỗ trợ hoạt động giáo dục có ý nghĩa to lớn trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục, thay đổi nội dung, cải tiến phương pháp giáo dục, nâng cao hiệu quả của quá trình nhận thức và rèn luyện kỹ năng thực hành của học sinh
Quản lý và sử dụng tốt các điều kiện phục vụ hoạt động giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục có nghĩa là:
Quản lý và sử dụng nguồn kinh phí để trang bị cơ sở vật chất, tài liệu, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động giáo dục
Quản lý việc sử dụng có hiệu quả việc mua sắm bảo đảm chất lượng và bảo trì tốt các điều kiện phục vụ công tác giáo dục
1.4.3.6 Quản lý sự phối hợp các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục SKSS
Giáo dục học sinh không chỉ là trách nhiệm của nhà trường, mà còn là trách nhiệm chung của gia đình và cộng đồng xã hội
Vì thế, bên cạnh đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên của nhà
Trang 34trường chuyên trách làm công tác tuyên truyền, giáo dục SKSS, nhà trường phải
có kế hoạch phối hợp cụ thể với các đơn vị như: Hội KHHGĐ, Ủy ban Dân số gia đình và Trẻ em, Trung tâm bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em Thông qua đó nhà trường có thể mời cán bộ, chuyên gia tư vấn để tham gia vào hoạt động giáo dục SKSS cùng với nhà trường
1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục SKSS và quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho học sinh THPT
1.5.1 Yếu tố chủ quan
* Nhận thức của thầy cô giáo, gia đình
Xã hội phát triển đòi hỏi giáo dục phải tạo ra cho xã hội những công dân có phẩm chất, đạo đức, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, có khả năng thích ứng với những thay đổi nhanh chóng như vũ bão của công nghệ thông tin Muốn làm được điều đó phải có sự hợp tác thống nhất, phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ giữa các lực lượng giáo dục (LLGD), trong đó nhà trường luôn giữ vai trò chủ đạo Do
đó trình độ nhận thức của chủ thể phối hợp giáo dục (thầy cô giáo, gia đình ) là rất quan trọng Chỉ khi có nhận thức đầy đủ, đúng đắn thì sự phối hợp mới đạt hiệu quả cao trong giáo dục nói chung và giáo dục SKSS nói riêng
Nhà giáo dục cần có nhận thức sâu sắc về sự cần thiết của công tác giáo dục SKSS; Có hiểu biết sâu rộng về kiến thức, về kinh nghiệm sống thực tiễn và có năng lực truyền đạt kiến thức đó đến đối tượng; Có nhân cách tốt đẹp, có lối sống lành mạnh, gương mẫu để làm hình mẫu cho các em học tập, khách quan, công bằng, tôn trọng những quan điểm bất đồng, những giá trị và niềm tin của người khác Bên cạnh đó, chủ thể giáo dục cần có quan hệ tốt với đối tượng giáo dục, nhiệt tình, cởi mở, tạo niềm tin với đối tượng giáo dục
Trang 35pháp giáo dục cho phù hợp với nhu cầu thì không phải dễ thực hiện
Mặt khác, trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, học sinh THPT
có đầy đủ điều kiện cơ bản để nhận thức về tình cảm, ý chí, hoạt động để biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, quyết định kết quả phát triển nhân cách
Do đó, nếu giáo viên áp đặt, mắng mỏ, dọa nạt học sinhthì chắc chắc sẽ không đạt được kết quả
1.5.2 Yếu tố khách quan
* Quy định của Nhà nước trong việc giáo dục SKSS cho học sinh THPT
Có thể nói chính sách giáo dục tác động không những đến toàn ngành giáo dục mà còn tác động đến toàn xã hội Chính sách giáo dục đóng vai trò hết sức quan trọng trong quản lý giáo dục đồng thời dự báo những cơ hội và tập trung nguồn lực
để tận dụng tốt nhất những cơ hội đó
Việc phối hợp giáo dục nhà trường với gia đình, xã hội được đề cập đến trong một số văn bản Luật như: Điều 3, Luật Giáo dục 2005 quy định " Giáo dục Nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội"; Điều 5 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình, Nhà trường, nhà nước, xã hội và cộng đồng"
Chính sách về giáo dục SKSS và quy định trách nhiệm của các lực lượng giáo dục trong quá trình giáo dục SKSS cho người dân nói chung và cho học sinh THPT nói riêng có tác động tích cực đến chất lượng giáo dục SKSS cho học sinh THPT Do
đó, việc đề xuất chính sách, chỉ đạo, tổ chức thực hiện và giám sát thực hiện chính sách về giáo dục SKSS cho học sinh THPT là công việc hết sức cần thiết
* Điều kiện kinh tế - văn hoá của địa phương, gia đình
Điều kiện kinh tế - văn hóa của địa phương và gia đình có ảnh hưởng sâu sắc
và trực tiếp tới việc tổ chức phối hợp giữa nhà trường với các lực lượng ngoài xã hội trong việc giáo dục SKSS cho học sinh Sự phát triển kinh tế của địa phương và gia đình sẽ góp phần xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh, tạo điều kiện thuận lợi trong việc giáo dục SKSS cho học sinh
* Cơ sở vật chất của nhà trường
Cơ sở vật chất là một bộ phận, một thành tố không thể thiếu trong quá trình giáo dục, đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định chất lượng giáo dục nói chung và giáo dục SKSS nói riêng Cơ sở vật chất của nhà trường đầy đủ, đảm bảo
Trang 36sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện có hiệu quả các hoạt động giáo dục trong đó có hoạt động SKSS cho học sinh
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh ở các trường phổ thông hiện nay rất được nhiều nhà giáo dục quan tâm bởi lẽ hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh ở nhà trường đang có những lúng túng, bất cập Hiện chưa có giải pháp giáo dục đồng bộ, chưa xây dựng được một hệ thống kiến thức về sức khỏe sinh sản cho học sinh mà mới chỉ ở mức độ tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản qua các môn học Việc giáo sức khỏe sinh sản vẫn chủ yếu là do kế hoạch hoạt động của từng nhà trường và được thực hiện trong những phạm vi rất nhỏ hẹp, chưa có sự quản lý tổ chức khoa học Bên cạnh đó nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản còn mang tính hàn lâm, không thiết thực, gây ra nhàm chán không thu hút được
sự quan tâm và hứng thú đối với các em Do vậy, việc quản lý hoạt động giáo dục
sức khỏe sinh sản cho học sinh là hết sức cần thiết
Chương 1 bao gồm những nội dung cơ bản liên quan đến giáo dục SKSS như: khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, giáo dục SKSS và quản lý giáo dục SKSS, đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT (sự phát triển về thể chất, những biến đổi về tâm lý) Đề tài cũng đã khái quát lý luận về giáo dục SKSS và quản lý hoạt động giáo dục SKSS trên cơ sở xác định mục tiêu, kế hoạch, nội dung, hình thức, phương pháp, các điều kiện hỗ trợ, sự phối hợp các lực lượng tham gia vào quá trình quản lý hoạt động giáo dục SKSS…cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho học sinh THPT
Việc xác định được mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục và
sự phối hợp đồng bộ giữa các tổ chức đoàn thể, thông qua sự chỉ đạo của Ban giám hiệu chính là nhân tố quyết định hiệu quả của công tác giáo dục, rèn luyện học sinh nói chung và giáo dục SKSS nói riêng
Nắm vững các khái niệm, phạm trù lý luận về quản lý hoạt động giáo dục SKSS sẽ góp phần giúp chúng ta xây dựng được môi trường giáo dục thực sự lành mạnh, nâng cao chất lượng cuộc sống
Trang 37CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN HƯỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ
2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên-kinh tế-xã hội
Hướng Hoá là huyện miền núi, vùng cao, biên giới nằm về phía Tây của tỉnh Quảng Trị, là một trong 10 đơn vị hành chính của tỉnh Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Bình, phía Nam và Tây giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, phía Đông giáp với huyện Gio Linh, Vĩnh Linh và Đakrông Toàn huyện có 22 đơn vị hành chính với 20 xã và 02 thị trấn (Khe Sanh và Lao Bảo), trong đó có 13 xã đặc biệt khó khăn; 11 xã giáp biên với Lào, có cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo nằm trên trục đường Quốc lộ 9 nối liền với các nước trong khu vực: Lào, Thái Lan, Mianma và Khu vực miền Trung Việt Nam Hướng Hóa có đường biên giới dài 156km tiếp giáp với 3 huyện của nước bạn Lào: Tù Muồi (tỉnh Salavan), Mường Noòng và SêPôn (tỉnh Savannakhet) Diện tích tự nhiên toàn huyện là:1151 km2, dân số đến cuối năm 2015 là: 81.845 người, với 03 dân tộc sinh sống chủ yếu là: Kinh, Pa Kô, Vân Kiều
Địa thế núi rừng Hướng Hoá rất đa dạng Núi và sông xen kẽ nhau, tạo thành địa hình chia cắt, sông suối đều bắt nguồn từ núi cao Khí hậu mang những nét điển hình của khí hậu nhiệt đới - gió mùa, quanh năm nóng ẩm, nhiệt độ trung bình năm
220 C, lượng mưa bình quân 2.262 mm/năm
Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi cộng với tiềm năng từ cửa khẩu và khu vực khuyến khích phát triển kinh tế thương mại Đặc biệt Lao Bảo (gọi tắt là Khu thương mại Đặc biệt Lao Bảo), là đầu mối thông thương với các nước nằm trên tuyến đường xuyên Á và khu vực miền Trung của Việt Nam Hướng Hoá
đã và đang là một trong những địa phương có vị thế đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Trị
Sản xuất nông nghiệp đạt những kết quả quan trọng Tích cực chuyển đổi cây trồng, vật nuôi gắn với các chính sách phát triển kinh tế và ứng dụng khoa học- kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất Hình thành các vùng chuyên canh theo hướng sản xuất hàng hóa Nhiều mô hình chăn nuôi gia súc, gia cầm có quy mô lớn
Trang 38Các ngành dịch vụ phát triển đa dạng, phong phú, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của nhân dân
Xây dựng cơ sở hạ tầng đạt được những kết quả đáng kể Nhiều công trình thiết yếu đã được đầu tư xây dựng Hệ thống giao thông được nâng cấp và mở rộng
Văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân được cải thiện Sự nghiệp GD&ĐT được quan tâm đúng mức, cơ sở vật chất, trang thiết bị được đầu tư xây dựng, chất lượng dạy và học được nâng cao Công tác xã hội hóa giáo dục và khuyến học ngày càng phát triển
Công tác khám chữa bệnh cho nhân dân cũng được chú trọng Công tác bảo
vệ môi trường được quan tâm Hoạt động văn hóa - thông tin, thể thao và du lịch có những chuyển biến tích cực
Quốc phòng - an ninh được tăng cường, chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương
Tất cả những điều kiện về tự nhiên, sự phát triển về kinh tế-xã hội, sự ổn định về chính trị, quốc phòng-an ninh, cùng với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và
sự quan tâm của toàn dân đối với sự nghiệp giáo dục là điều kiện thuận lợi để ngành giáo dục huyện Hướng Hóa phát triển, đào tạo được nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương
2.1.2 Khái quát tình hình phát triển giáo dục
Sự nghiệp phát triển giáo dục đào tạo huyện Hướng Hóa trong những năm gần đây luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của các các cấp ban ngành Huyện Hướng Hóa có 04 trường THPT: THPT Hướng Hóa, THPT Hướng Phùng, THPT Lao Bảo, THPT A Túc Do đặc thù vùng miền nên bên cạnh việc giáo dục tri thức, rèn luyện phẩm chất đạo đức, giáo dục đào tạo của huyện Hướng Hóa còn chú trọng đến việc rèn luyện những kỹ năng sống cho học sinh như kỹ năng phòng chống HIV/AIDS, nghiện hút, ma túy, cờ bạc… đặc biệt là giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THPT
Trong những năm qua, cùng với giáo dục của cả nước, giáo dục huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng trị đã nỗ lực thực hiện đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp giáo dục phổ thông theo Nghị quyết 40 của Quốc hội khóa X, tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất - Thiết bị dạy học, phát triển về đội ngũ cán
bộ, giáo viên ở các bậc học, cấp học; quy mô trường lớp ngày càng được mở rộng
Trang 39- Về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học: Toàn huyện có 4 trường THPT Các trường cơ bản có đủ điều hiện phục vụ hoạt động dạy học
- Về chất lượng giáo dục: Năm học 2015 - 2016, huyện Hướng Hóa có 04 trường THPT với 63 lớp, 2.057 học sinh Kết quả xếp loại 2 mặt giáo dục:
Hạnh kiểm: Tốt 1.319 học sinh đạt 64,1%, Khá 562 học sinh đạt 27,3%, Trung bình 146 học sinh chiếm 7,1%, Yếu 30 học sinh chiếm 1,5%
Học lực: Giỏi 154 học sinh đạt 7,5%, Khá 854 học sinh đạt 41,5%, Trung bình 850 học sinh đạt 41,3%; Yếu 194 chiếm 9,4%, Kém 05 học sinh chiếm 2,3%
2.2 Khái quát quá trình khảo sát thực trạng
2.2.1 Mục đích khảo sát
Mục đích khảo sát của đề tài nhằm tìm hiểu về thực trạng nhận thức, kiến thức về SKSS của học sinh, thực trạng hoạt động giáo dục SKSS cho học sinh, thực trạng về công tác quản lý hoạt động giáo dục SKSS ở các trường THPT A Túc, THPT Lao Bảo, THPT Hướng Hóa, THPT Hướng Phùng thuộc huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị Từ đó, đánh giá và đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục SKSS của các trường
2.2.2 Nội dung khảo sát
Luận văn tập trung khảo sát các nội dung sau:
Thực trạng nhận thức về SKSS của học sinh các trường THPT gồm kiến thức, thái độ, hành vi, nguồn tiếp nhận thông tin và nhu cầu về giáo dục SKSS
Thực trạng hoạt động giáo dục SKSS cho học sinh gồm nội dung, hình thức, phương pháp và kết quả giáo dục SKSS cho học sinh ở các trường
Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho học sinh gồm xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra, đánh giá và quản lý các điều kiện hỗ trợ hoạt động giáo dục SKSS ở các trường,
2.2.3 Đối tượng khảo sát
Để tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho học sinh các trường THPT ở huyện Hướng Hóa, chúng tôi đã tiến hành khảo sát 95 cán bộ, giáo viên và 609 học sinh thuộc các khối 10, 11, 12 của 4 trường THPT: Hướng Hóa, Hướng Phùng, Lao Bảo, A Túc
Trong đó:
* Số lượng và tỉ lệ học sinh theo các trường:
Trang 40- THPT Hướng Hóa: 195, chiếm tỉ lệ 32,1%
- THPT Lao Bảo:162, chiếm tỉ lệ 26,6%
- THPT A Túc: 147, chiếm tỉ lệ 24,1%
- THPT Hướng Phùng: 105, chiếm tỉ lệ 17,2%
* Số lượng và tỉ lệ học sinh theo khối:
- Học sinh khối 10: 195, chiếm tỉ lệ 32,1%
- Học sinh khối 11: 203, chiếm tỉ lệ 33,3%
- Học sinh khối 12: 211, chiếm tỉ lệ 34,6%
* Số lượng và tỉ lệ học sinh theo giới tính:
- Học sinh nữ: 352, chiếm tỉ lệ 57,8%
- Học sinh nam: 257, chiếm tỉ lệ 42,2%
* Tỷ lệ học sinh theo dân tộc:
- HS dân tộc Kinh: 431, chiếm 70,8%
- HS dân tộc thiểu số: 178, chiếm 29,2%
Đề tài nghiên cứu sử dụng các phương pháp khảo sát sau:
- Khảo sát bằng phiếu điều tra đối với mẫu nghiên cứu được chọn ở trên
- Tham khảo ý kiến các chuyên gia (cán bộ Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh Quảng Trị, cán bộ trung tâm Y tế học đường thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Trị và trung tâm Dân số - KHHGĐ huyện Hướng Hóa) để tìm hiểu thêm về các chương trình, nội dung, hình thức, phương pháp và hiệu quả của các hoạt động