Những vấn đề trên không còn là vấn đề tế nhị, riêng tư của cá nhân mà là vấn đề của xã hội đòi hỏi phải có sự quan tâm đúng mức của các cấp ủy Đảng, Chính quyền, của gia đình, nhà trường
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
CAO THỊ HOÀI HƯƠNG
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH KONTUM
Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
Mã số : 60.14.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS LÊ QUANG SƠN
Đà Nẵng - Năm 2014
Trang 2Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Cao Thị Hoài Hương
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đính nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Đóng góp của đề tài 6
9 Cấu trúc luận văn 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 7
1.1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7
1.2 CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI 10
1.2.1 Quản lý và quản lý giáo dục 10
1.2.2 Giới tính và giáo dục giới tính 13
1.2.3 Giáo dục SKSS 15
1.3 LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC SKSS CHO HỌC SINH THPT 17
1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT 17
1.3.2 Mục tiêu và nội dung giáo dục SKSS 22
1.3.3 Các phương pháp giáo dục SKSS cho học sinh 25
1.3.4 Các hình thức giáo dục SKSS cho học sinh 26
1.4 LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC SKSS CHO HỌC SINH THPT 28 1.4.1 Quản lý mục tiêu giáo dục SKSS 28
Trang 41.4.4 Quản lý các điều kiện phục vụ hoạt động giáo dục 33
1.4.5 Quản lý công tác phối hợp các lực lượng giáo dục 34
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 34
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC SKSS CHO HỌC SINH THPT TẠI TỈNH KONTUM 35
2.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ- XÃ HỘI –
GIÁO DỤC CỦA TỈNH KONTUM 35
2.1.1.Khái quát về điều kiện tự nhiên 35
2.1.2 Khái quát điều kiện kinh tế xã hội của tỉnh KonTum 35
2.1.3.Vài nét về thực trạng phát triển giáo dục và đào tạo tại tỉnh KonTum 39
2.2 KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH KHẢO SÁT 40
2.2.1 Mục tiêu khảo sát 40
2.2.2 Đối tượng và địa bàn khảo sát 40
2.2.3 Nội dung khảo sát 40
2.2.4 Phương pháp khảo sát 41
2.2.5 Thời gian và tiến trình khảo sát 41
2.3 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC SKSS CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THPT TẠI TỈNH KONTUM 41
2.3.1 Thực trạng nhận thức của GV, HS về tầm quan trọng, mục tiêu, nội dung giáo dục SKSS 41
2.3.2.Thực trạng về hình thức giáo dục SKSS 49
2.3.3 Thực trạng lực lượng tham gia giáo dục SKSS cho học sinh của các trường THPT tỉnh KonTum 52
Trang 52.4.1.Thực trạng quản lý mục tiêu giáo dục 54 2.4.2.Thực trạng quản lý nội dung giáo dục SKSS 55 2.4.3.Thực trạng quản lý các hoạt động giáo dục SKSS 56 2.4.4 Thực trạng quản lý các điều kiện phục vụ hoạt động giáo dục SKSS 61 2.4.5.Thực trạng quản lý công tác phối hợp các lực lượng giáo dục 63 2.5 ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC SKSS CHO HỌC SINH THPT TỈNH KONTUM 63 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 65
CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH KONTUM 66
3.1 CÁC NGUYÊN TẮC CHỈ ĐẠO VIỆC XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP 66 3.1.1 Biện pháp quản lý phải phù hợp với điều kiện cụ thể của trường THPT 67 3.1.2 Biện pháp quản lý phải phát huy được tiềm năng của xã hội, cộng đồng trong việc giáo dục SKSS 68 3.1.3 Biện pháp quản lý phải đồng bộ, tác động toàn diện đến các mặt của giáo dục SKSS và giáo dục nhân cách nói chung 71 3.1.4 Quản lý giáo dục SKSS là một bộ phận của công tác quản lý Giáo dục – Đào tạo tổng thể của nhà trường THPT 71 3.2 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN CHO HS THPT TỈNH KONTUM 72 3.2.1.Nhóm biện pháp nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của cán
bộ quản lý, giáo viên và cộng đồng về giáo dục SKSS 72
Trang 63.2.3 Nhóm biện pháp hoàn thiện bộ máy thực hiện công tác giáo dục
SKSS 85
3.2.4 Nhóm biện pháp tăng cường các nguồn lực cho giáo dục SKSS 87 3.2.5 Nhóm biện pháp xây dựng cơ chế phối hợp các lực lượng trong hoạt động giáo dục SKSS 90
3.2.6 Mối quan hệ giữa các biện pháp 91
3.3 KHẢO NGHIỆM TÍNH CẤP THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC NHÓM BIỆN PHÁP ĐỀ XUẤT 91
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 94
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95
1 KẾT LUẬN 95
2 KHUYẾN NGHỊ 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
PHỤ LỤC
Trang 7AIDS : Acquired Immune Deficiency Syndrome
(Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải)
BVSKBMTE: Bảo vệ sức khỏe Bà mẹ Trẻ em
(Virut suy giảm miễn dịch người)
KHHGĐ: Kế hoạch hóa gia đình
Trang 8WHO : World heath organisation
(Tổ chức Y tế thế giới)
Trang 9Số hiệu
Trang 102.17
Trang 11Số hiệu
Trang 12
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đảng và Nhà nước ta hết sức chú trọng phát triển giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn lực con người, coi đó là yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam đến năm 2010 đối với giáo dục phổ thông là: “Thực hiện giáo dục toàn diện về đức, trí, thể, mỹ Cung cấp học vấn phổ thông cơ bản, hệ thống và có tính hướng nghiệp; tiếp cận trình độ các nước phát triển trong khu vực Xây dựng thái độ học tập đúng đắn, phương pháp học tập chủ động, tích cực, sáng tạo, lòng ham học, ham hiểu biết, năng lực tự học, năng lực vận dụng kiến thức vào cuộc sống”
Hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản là một bộ phận của quá trình giáo dục ở nhà trường trung học phổ thông Đó là những hoạt động được tích hợp trong các môn học trên lớp, là sự tiếp nối hoạt động dạy học trên lớp thông qua
tổ chức các hoạt động ngoài giờ học, là con đường gắn lý thuyết với thực hành, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức với hành động, góp phần hình thành tình cảm tích cực, niềm tin đúng đắn ở học sinh Hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên là con đường quan trọng để phát triển toàn diện nhân cách Nguyên lý giáo dục của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa Việt Nam là: “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp lao động sản xuất, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” Hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên với hình thức đa dạng, nội dung phong phú là một trong những phương thức để thực hiện nguyên lý giáo dục nói trên
Đời sống kinh tế, xã hội ngày càng được cải thiện và sự tác động của toàn cầu hóa về kinh tế, văn hóa, xã hội, vị thành niên ở nước ta cũng như nhiều nước khác trên thế giới bước vào tuổi dậy thì sớm đi vào yêu đương và
Trang 13có quan hệ tình dục Theo chuẩn mực của xã hội, văn hóa truyền thống Việt Nam thì quan hệ tình dục trước hôn nhân vẫn không được chấp nhận
Một khảo sát tại các thành phố lớn ( Hà Nội, Hồ Chí Minh) có từ 20% vị thành niên có quan hệ tình dục trước hôn nhân, có 5,9% người nạo phá thai là phụ nữ chưa chồng Theo nghiên cứu của Viện Xã hội học cho thấy có khoảng 10% nam và 5% nữ vị thành niên có sinh hoạt tình dục trước hôn nhân Một thực tế hiểu biết về sức khỏe sinh sản vị thành niên nói chung
15-và về các biện pháp tránh thai, các bệnh viêm nhiễm đường tình dục, HIV/AIDS còn rất hạn chế Đồng thời với quan niệm về tình bạn, tình yêu có những thay đổi theo kiểu “ hiện đại hóa”, sự gia tăng quan hệ tình dục dẫn đến sự gia tăng về tỷ lệ mang thai, sinh đẻ, nạo hút thai, lây nhiễm qua đường tình dục và nghiêm trọng hơn nữa là tỉ lệ HIV/AIDS cũng tăng lên trong số những người trẻ ở nước ta
Những vấn đề trên không còn là vấn đề tế nhị, riêng tư của cá nhân mà là vấn đề của xã hội đòi hỏi phải có sự quan tâm đúng mức của các cấp ủy Đảng, Chính quyền, của gia đình, nhà trường và toàn xã hội…
Thực tiễn trong thời gian qua, nhiều trường trung học phổ thông thường quan tâm đến kế hoạch dạy học trên lớp mà chưa coi trọng kế hoạch giáo dục, nhất là giáo dục toàn diện để hình thành những kỹ năng tự quản, tổ chức hoạt động, kỹ năng sống cho học sinh… Chúng ta quan tâm đến vấn đề ma túy HIV/AIDS nhưng hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh chưa được quan tâm đúng mức Nhiều trường có quan tâm nhưng hình thức, nội dung hoạt động còn nghèo nàn, chưa thu hút sự tham gia tích cực, tự giác của học sinh; kinh phí đầu tư cho hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên còn quá hạn hẹp; công tác quản lý chỉ đạo ở một số trường chưa được quan tâm đúng mức đã làm hạn chế chất lượng và hiệu quả của hoạt động này
Hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản là bộ phận hợp thành của quá trình giáo dục, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục- đào tạo của nhà trường,
Trang 14đó là những hoạt động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có chương trình, nội dung, phương pháp và phương tiện đặc biệt Hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản là một nội dung mới được đưa vào chương trình giáo dục bậc trung học phổ thông với những quy định chặt chẽ; việc tổ chức thực hiện đòi hỏi nhiều điều kiện như: thời gian, phương tiện thiết bị, công tác quản lý chỉ đạo của hiệu trưởng, sự tích hợp của giáo viên giảng dạy, sự chủ động của các giáo viên chủ nhiệm lớp; Mặt khác cần có sự nghiên cứu những biện pháp thích hợp, tổng kết thành những bài học kinh nghiệm nhằm từng bước đưa hoạt động giáo dục này đi vào nề nếp, nâng cao chất lượng, hiệu quả và phát huy tác dụng giáo dục ở các trường trung học phổ thông nói chung và đối với
Hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản đã được nhiều người nghiên cứu, tìm hiểu, đề cập đến trên nhiều phương diện: từ hình thức, nội dung, biện pháp, hiệu quả hoạt động… nhưng trên địa bàn tỉnh KonTum vẫn chưa được nghiên cứu và vận dụng một cách thỏa đáng
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi chọn đề tài
nghiên cứu: “Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho
học sinh trung học phổ thông tỉnh KonTum”
2 Mục đính nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh các trường trung học phổ thông trên địa bàn nghiên cứu, đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh tại các trường trung học phổ thông tỉnh KonTum
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý của người hiệu trưởng ở trường trung học phổ thông đối với hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản
Trang 15Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh các trường trung học phổ thông tỉnh KonTum
4 Giả thuyết khoa học
Hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh KonTum trong thời gian qua đã được triển khai và chú trọng nhưng vẫn còn nhiều hạn chế trên một số phương diện, trong đó có công tác quản lý của người hiệu trưởng
Nếu xác định rõ cơ sở lý luận và đánh giá đúng thực trạng hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản ở các trường trung học phổ thông thì có thể đề xuất được các biện pháp quản lý hợp lý, khả thi của hiệu trưởng góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh ở các trường trung học phổ thông tỉnh KonTum
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản ở trường Trung học phổ thông;
Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh KonTum;
Đề xuất các biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh các trường Trung học phổ thông tỉnh Kon Tum
6 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản ở một số trường Trung học phổ thông (THPT) trên địa bàn tỉnh KonTum, bao gồm trường THPT Duy Tân, trường THPT Lê Lợi, trường Trung học Ngô Mây, trường THPT Quang Trung, trường THPT Nguyễn Du, trường THPT Chu Văn An, trường THPT Trần Quốc Tuấn, trường THPT Lương Thế Vinh
Trang 16Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THPT giai đoạn 2008-2013 và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THPT cho giai đoạn 2013-2020 đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện theo chiến lược phát triển giáo dục giai
đoạn 2011-2020
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các nguồn tài liệu về lý luận và thực tiễn có liên quan đến công tác quản lý
giáo dục SKSS cho học sinh
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Nghiên cứu một số
giáo dục SKSSgiáo dục SKSS
7.2.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Lấy ý kiến của cán bộ Sở giáo
giáo dục SKSS
Trang 177.2.5 Phương pháp nghiên cứu hồ sơ lưu trữ: Tìm hiểu hồ sơ lưu trữ của
các cơ sở giáo dục để tìm hiểu rõ hơn về công tác xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện hoạt động giáo dục SKSS cho học sinh
7.3 Phương pháp thống kê toán học: Nhằm thống kê, phân tích, xử lý
số liệu và kết quả nghiên cứu
8 Đóng góp của đề tài
Qua nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về quả
hiệu trưởng các trường THPT trên địa bàn tỉnh Kon Tum Đề xuất các biện pháp
9 Cấu trúc luận văn
- PHẦN MỞ ĐẦU
- PHẦN NỘI DUNG (gồm 3 chương)
+ Chương 1 Cơ sở lí luận của quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh
sản ở các trường trung học phổ thông
+ Chương 2 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản ở
các trường trung học phổ thông tỉnh Kon Tum
+ Chương 3 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản ở
các trường trung học phổ thông tỉnh Kon Tum
- PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
- TÀI LIỆU THAM KHẢO
- PHỤ LỤC
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN CHO HỌC SINH TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG
1.1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Với vai trò là một thành tố của giáo dục dân số, sức khỏe sinh sản được nhiều quốc gia, nhiều tổ chức phi chính phủ quan tâm với mục đích đảm bảo
sự cân bằng bền vững, công bằng cho nguồn lực con người với các nguồn lực khác, đảm bảo cho thế hệ tương lai có đủ năng lực, trí lực, sức lực để duy trì, phát triển nòi giống
Trên cơ sở đó, Hội đồng Dân số thế giới (The Population Council) được thành lập năm 1952 đã quan tâm đến việc nghiên cứu các vấn đề khoa học sinh sản, phổ biến các biện pháp tránh thai mới, phổ biến các dịch vụ SKSS
và KHHGĐ, giúp chính phủ của các nước thực hiện có hiệu quả chính sách dân số
Năm 1954, Hội nghị Quốc tế về dân số tổ chức ở Rô- ma (Italia) với nội dung tổng hợp thông tin về nhân khẩu học Năm 1986, “Tuyên ngôn của Liên hiệp quốc về dân số” ra đời được 12 quốc gia đón nhận, và từ đây vấn đề dân
số được nâng lên tầm tòan cầu Năm 1969, Quỹ Dân số Liên hiệp quốc (UNFPA) được thành lập đánh dấu sự quan tâm của cộng đồng Quốc tế về vấn đề dân số
Hội nghị Quốc tế về “Dân số và phát triển” ở Cai-rô (Ai Cập) năm 1997
có 197 quốc gia tham gia ( trong đó có Việt Nam) đã đi đến những thỏa thuận quan trọng về dân số, về SKSS và nỗ lực xóa đói ở các nước đang phát triển
Từ đó đến nay, các quốc gia trên thế giới đã có sự thay đổi lớn về định hướng chương trình giáo dục ở các nhà trường hiện hành và tập trung vào các nội dung: dân số, giới tính, SKSS, hay thường gọi là GDDS
Trang 19Khi vấn đề GDDS được quan tâm, xuất hiện ngày càng nhiều các công trình nghiên cứu phân tích, đánh giá tình hình dân số thế giới Các nước đang phát triển có tốc độ gia tăng dân số cao gấp đôi so với các nước phát triển Điều đó khiến các quốc gia đang phát triển gặp nhiều khó khăn trong việc hoạch định đường lối chiến lược Và đó còn là mối lo chung của nhân loại, bởi hiện tại, xuất hiện nhiều vấn đề mang tầm quốc tế và xu hướng hội nhập, vấn đề nguồn tài nguyên, dịch bệnh…Những vấn đề đó đều liên quan mật thiết tới vấn đề dân số của quốc gia và toàn cầu
Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng chính sách, chiến lược phát triển con người, đặc biệt là quyền của phụ nữ và trẻ em Điều này thể hiện rõ qua hệ thống văn bản mang tính pháp quy, sự đầu tư nguồn lực vào các vấn đề GDDS
Vào thập niên 60 của thế kỷ XX, Việt Nam đã có những văn bản pháp quy về dân số - kế hoạch hóa gia đình (DS - KHHGD) Quyết định số 216/CP ngày 26 tháng 12 năm 1961 của Hội đồng Bộ trưởng thể hiện sự quan tâm về vấn đề giảm sinh Quyết định số 217/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 18 tháng 12 năm 1961 hướng tới vấn đề sinh đẻ có kế hoạch Như vậy, ngay từ những năm 60 của thế kỷ trước, Việt Nam đã gắn công tác giảm sinh với việc bảo về sức khỏe nhân dân nhằm giảm tỷ lệ tử vong của bà mẹ và trẻ em, từng bước nâng dần chất lượng dân số
Tiếp đến, vào những năm cuối thập kỷ 80 (thế kỷ XX), Quốc hội nước ta thông qua Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân vào ngày 30 tháng 06 năm 1989 Điều này đã tạo ra được hành lang pháp lý để thực hiện chính sách DS - KHHGĐ, thực hiện quan điểm của Đảng về bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em trên toàn lãnh thổ
Bước vào thế kỷ XXI, Chiến lược quốc gia về sức khỏe sinh sản và vấn
đề sức khỏe sinh sản cho thanh nhiên ở nhà trường Việt Nam cụ thể hóa nội
Trang 20dung Nghị quyết Trung ương 4 ( Khóa VII) Chiến lược xác định mục tiêu chung là: “Bảo đảm đến năm 2010 tình trạng sức khỏe sinh sản được cải thiện
rõ rệt và giảm được sự chênh lệch giữa các vũng và các đối tượng bằng cách đáp ứng tốt hơn những nhu cầu đa dạng về chăm sóc sức khỏe sinh sản phù hợp với điều kiện của các cộng đồng ở từng địa phương, đặc biệt chú ý đến
văn bản này đề ra trách nhiệm của Bộ giáo dục về giới, về sức khỏe sinh sản
và sức khỏe tình dục cho học sinh các cấp phổ thông, cao đẳng, đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề và các loại hình giáo dục khác.”
Dự thảo Báo cáo công tác dân số giai đọan 2011-2020 ( Tổng cục dân số) xác định rõ 9 mục tiêu quan trọng Trong đó, đáng quan tâm là mục tiêu 6,7, 8,9 về chất lượng và quản lý dân số Để thực hiện các mục tiêu quan trọng đó, báo cáo nêu lên 5 giải pháp quan trọng: tăng cường chỉ đạo công tác dân số, hoàn thiện tổ chức bộ máy và chuyên môn hóa cán bộ, xã hội hóa và hoàn thiện chính sách, đầu tư nguồn lực có hiệu quả, hợp tác quốc tế Cho đến nay, dự thảo báo cáo này là văn bản đầu tiên đề cập đến vấn đề dân số mang tầm chiến lược giai đoạn 2011-2020
Ngoài ra còn có nhiều văn bản, công trình nghiên cứu tập trung vào vấn
- GDSKSS vị thành niên – Bộ GD&ĐT và UNFPA, 2001
- Chiến lược Quốc gia về SKSS giai đoạn 2001-2010, Bộ Y tế, NXB Quân đội, Hà Nội, 2001
Trang 21- Bình đẳng giới trong chăm sóc SKSS và chống bạo lực trong gia đình – Hội kế hoạch hóa gia đình Việt Nam, Hà Nội, 2002
- Chương trình hành động giáo dục sức khỏe sinh sản và phòng, chống HIV/AIDS cho học sinh trung học giai đoạn 2007-2010, Bộ GD&ĐT, Hà Nội, 2007
- Nhiều công trình nghiên cứu, bài viết, bài giảng của các cấp quản lý và những tổ chức, cá nhân trực tiếp làm công tác dân số về các vấn đề: bình đẳng giới, giáo dục dân số, giáo dục SKSS và SKSS vị thành niên
- Một số luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Quản lý giáo dục của các tác giả Lê Như Đáp, Bùi Thị Kim Yến, Nguyễn Thị Thu Hà…quan tâm đến việc quản lý công tác GDDS, giáo dục SKSS cho học sinh và sinh viên Các tác giả cũng đã đề xuất những biện pháp quản lý công tác giáo dục SKSS như: Thực hiện tốt kế hoạch hóa quản lý công tác giáo dục SKSS cho sinh viên, phối hợp quản lý chặt chẽ giữa quá trình giáo dục của nhà trường với gia đình, cộng đồng, xã hội và sự tự giáo dục của sinh viên…Tuy vậy, trong các công trình đó, các tác giả chủ yếu tiếp cận nghiên cứu trên đối tượng là sinh viên đại học và trung học chuyên nghiệp
1.2 CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Quản lý và quản lý giáo dục
Quản lý
Quản lý là một trong những hoạt động cơ bản nhất của con người Quản
lý là hoạt động có tính phối hợp, nhằm định hướng và kiểm soát quá trình tiến
tới mục tiêu của đối tượng C.Mác đã chỉ rõ: “Bất cứ một lao động xã hội hay
lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải
có một sự chỉ đạo để điều hòa các hoạt động cá nhân… Một nghệ sĩ độc tấu
tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”
[9,tr.34]
Trang 22Nhận thức rõ vai trò của công tác quản lý, giáo dục và quản lý giáo dục,
vào năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định “ Các cơ quan cần
phải chú ý huấn luyện cán bộ Phải lựa chọn rất cẩn thận những nhân viên phụ trách việc huấn luyện đó Những người lãnh đạo cần phải tham gia việc
Bác:
“Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây
Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” [36,tr.222 ] Đối chiếu với lịch sử phát triển của nhân loại, quan điểm của Bác thể hiện rõ cái nhìn cụ thể, phù hợp với điều kiện cách mạng Việt Nam giai đoạn
đó Và quan điểm đó vẫn còn nguyên giá trị cho đến hôm nay Nhất là vào lúc
mà vấn đề con người nhận được sự quan tâm ngày càng nhiều, vấn đề quản lý cần có những đổi mới thiết thực hơn
Tùy cách tiếp cận, có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý:
Theo Đại Bách khoa toàn thư Liên Xô: Quản lý là chức năng của những
hệ thống có tổ chức với những bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kỹ thuật),
nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì quy chế hoạt động thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động [19, tr.7, chuyển dẫn ]
Tác giả Trần Kiểm cho rằng “ Quản lý là những tác động của chủ thể
quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức một cách tối
ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [19, tr.8 ]
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Quản lý là “ tổ chức và điều khiển các
hoạt động theo yêu cầu nhất định” [32, tr.800]
Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “ Quản lý gồm hai quá trình tích hợp
vào nhau, quá trình “quản’ gồm sự coi sóc giữ gìn để duy trì tổ chức ở trạng
Trang 23thái ổn định, quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa hệ thống vào phát triển” [ 2, tr.34]
Như vậy, tuy tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau nhưng các tác giả đều thống nhất cho rằng, quản lý là một quá trình hoạt động của xã hội loài người,
nó là một quá trình tác động có mục đích, có tổ chức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng và phương tiện quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng của tổ chức để đạt được mục đích đề
ra
Quản lý là khái niệm rộng bao gồm nhiều lĩnh vực, các nhà kinh tế thiên
về quản lý nền sản xuất xã hội, các nhà luật học thiên về quản lý nhà nước…Trong muôn vàn hiện tượng kinh tế xã hội, chúng ta đều bắt gặp những vấn đề về quản lý: quản lý trường học, quản lý bệnh viện, quản lý công
sở, quản lý doanh nghiệp, quản lý ngành, quản lý lãnh thổ, quản lý một quốc gia…Mặt pháp lý của quản lý bao gồm hệ thống luật pháp điều chỉnh nền kinh tế xã hội, mặt tâm lý xã hội của quản lý điều chỉnh toàn bộ hành vi của con người Do đó, không có quản lý chung chung mà bao giờ quản lý cũng gắn với một lĩnh vực hoặc một ngành nhất định
Quản lý giáo dục
phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội
UNESCO cho rằng, “ Quản lý giáo dục là cách thức điều hành hệ thống
giáo dục, nhất là cách thức mà chúng ta áp dụng quyết định sự vận hành của
hệ thống giáo dục và tất cả các cấu phần và hoạt động của hệ thống” [29,
tr.102] Đây là cách tiếp cận ở tầm vĩ mô, áp dụng cho tất cả các quốc gia trên thế giới nhằm đạt được mục tiêu giáo dục Cách tiếp cận này coi trọng tính
Trang 24chủ động lựa chọn cách thức của mỗi quốc gia sao cho phù hợp và đạt được hiệu quả cao nhất
Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng “Quản lý giáo dục là hoạt động điều
hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [2]
Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống tác động tự giác (có ý thức, có mục tiêu, có kế hoạch, có hệ thống hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh, các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng, hiệu quả mục tiêu giáo dục
Như vậy có thể nói, quản lý giáo dục là sự tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt mục tiêu, kết quả mong muốn một cách có hiệu quả nhất
1.2.2 Giới tính và giáo dục giới tính
Theo định nghĩa của Đại từ điển Tiếng Việt, giới tính (sexuality) là tính chất đặc trưng cho giới nam và nữ [37]
Giáo dục giới tính chủ yếu quan tâm đến vấn đề tình dục của con người,
sự sinh đẻ và các quan hệ giới tính Mục đích của giáo dục giới tính là nhằm phát triển sự hiểu biết cá nhân về bản chất giới tính của mình, hiểu biết và tôn trọng người khác như là những cá nhân có giới tính Việc phát triển những hiểu biết này nhằm làm cho mọi người có những trách nhiệm về hành vi của
cá nhân mình Cụ thể hơn, giáo dục giới tính nhằm trang bị cho thế hệ trẻ sự hiểu biết về hành vi đạo đức có văn hóa trong quan hệ với người khác giới
Trang 25Thực chất của giáo dục giới tính là một quá trình rèn luyện cho thế hệ trẻ
có những phẩm chất, tính cách, hành vi và thái độ cần thiết trong quan hệ với người khác giới Nội dung giáo dục giới tính có hai mặt:
+ Thứ nhất là sự hiểu biết những gì phù hợp với nền văn hóa xã hội, trong đó có quan hệ của mình với người khác giới;
+ Thứ hai là biết cách ứng xử, biết cách giải quyết những tình huống và những vấn đề cụ thể với người khác giới
Ngày nay, giáo dục giới tính bao gồm những kiến thức khoa học về mối quan hệ nam - nữ dựa trên những thành tựu của nhiều ngành khoa học như đạo đức học, tâm lí học, xã hội học, sinh học, mĩ học, y học…Giáo dục giới tính đề cập tới nhiều vấn đề cơ bản như tình bạn, tình bạn khác giới, tình yêu lứa đôi chân chính, thái độ và hành vi văn hóa của nam và nữ trong quan hệ tình bạn và tình yêu… Ngoài ra, giáo dục giới tính còn cung cấp những hiểu biết thông thường về các bệnh lây nhiễm do quan hệ tình dục, đặc biệt là bệnh HIV/AIDS
Giáo dục giới tính rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách của trẻ đang phát triển Xét cho cũng, hoạt động tình dục là một hoạt động tạo cho chũng ta thành những người đàn ông hay những người đàn bà là điều mình định về vai trò giới tính và sinh sản của chúng ta Không có phần nào trong cuộc sống con người không chịu sự ảnh hưởng bằng cách này hay cách khác
về giới tính Khi trẻ đến tuổi trưởng thành thì gia đình và nhà trường sẽ là những người giáo dục cho chúng hiểu rõ vấn đề này
Mục tiêu của giáo dục giới tính
Tùy theo từng độ tuổi mà xây dựng mục tiêu giáo dục cho phù hợp, thường bao gồm hiểu biết về cơ thể và hoạt động của cơ thể; hiểu biết về tình cảm và hành vi giới tính của con người; hiểu biết thế nào là con trai hay con gái, nam và nữ; hiểu biết về khởi nguyên của sự sống và vấn đề gia đình; hiểu
Trang 26biết về các giá trị và chuẩn mực của đời sống gia đình liên quan đến hành vi tính dục mà cộng đồng có thể chấp nhận; các rủi ro trong việc lây nhiềm bệnh qua đường sinh dục; hiểu biết về các tội về tình dục như hiếp dâm, gạ gẫm trẻ, cùng cách phòng thân; hiểu về các phương pháp ngừa thai
1.2.3 Giáo dục SKSS
Sức khỏe sinh sản
Khái niệm sức khỏe sinh sản đã được chấp nhận chính thức trong phạm
vi toàn thế giới từ Hội nghị quốc tế lần thứ 4 về Dân số và Phát triển (ICPD, họp tại Cai-rô, thủ đô của Ai Cập, tháng 09 năm 1994) Trong chương trình hành động của Hội nghị cai-rô đã định nghĩa: “Sức khỏe sinh sản mô tả hiện trạng khỏe mạnh hoàn toàn về thể chất, tinh thần, xã hội, liên quan đến tất cả mọi vấn đề về hệ thống sinh sản, chức năng và hoạt động của nó chứ không chỉ là không có bệnh tật hoặc tật nguyền” [34,tr.48]
Ở nhiều nước trên thế giới, quan hệ tình dục được bắt đầu ngay từ tuổi vị thành niên, mà đây chính là thời kỳ rất quan trọng cho việc đặt nền tảng cho SKSS của con người Nhìn chung trên toàn thế giới, tuổi dậy thì có xu hướng
hạ thấp còn tuổi kết hôn tăng lên Khoảng thời gian từ khi dậy thì đến khi kết hôn lần đầu tăng lên, do đó có nhiều trường hợp quan hệ tình dục, nạo phá thai, mang thai ở vị thành niên và thanh niên chưa lập gia đình Với sự bất bình đẳng giới, các em gái vị thành niên lại càng phải hứng chịu những rủi ro liên quan đến quan hệ tình dục không an toàn và những tác hại của việc mang thai Cũng do sự hiểu biết còn ít, lại hay bị ảnh hưởng xấu của bạn bè và những tác động tiêu cực của việc toàn cầu hóa thông tin, cho nên bên cạnh việc mang thai ngoài ý muốn, vị thành niên dễ trở thành nạn nhân của bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS, ma túy, mại dâm…Tất cả những cái đó ảnh hưởng tới sự hình thành nhân cách, đến khả năng của các em để trở thành người chủ đích thực của xã hội Do đó, chương trình hành động Cai-rô
Trang 27đã đặt ra mục tiêu là “giải quyết những vấn đề về sức khỏe sinh sản và tình dục của vị thành niên, bao gồm: mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai không
an toàn và các lây truyền qua đường tình dục, kể cả HIV/AIDS thông qua việc nâng cao trách nhiệm và lối sống tình dục và sinh sản lành mạnh kể cả việc tự tiết chế, cung cấp các dịch vụ và tư vấn thích hợp cho nhóm tuổi này” [34]
Giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), “ Tuổi vị thành niên dùng để chỉ
những người trong độ tuổi từ 10 đến 19 và nằm trong khoảng thời gian từ lúc dậy thì đến lúc trưởng thành” [31, tr 28]
Tuổi vị thành niên là tuổi học tập trong các nhà trường Tình yêu nam nữ cũng có điều kiện để hình thành và phát triển, nhất là những năm cuối của học sinh phổ thông và năm đầu của sinh viên Một số mối tình học trò đã dẫn đến quan hệ tình dục trước hôn nhân, trong khi chưa có đủ kiến thức để tự bảo vệ nên dễ có thai ngoài ý muốn Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến các em phải bỏ học, lấy chồng sớm hoặc nạo phá thai lén lút, ảnh hưởng đến sức khỏe, góp phần gia tăng dân số và tác động không nhỏ đến kinh tế- xã hội của đất nước Nguyên nhân sâu xa vẫn là do các em thiểu hiểu biết về sức khỏe sinh sản Chính vì vậy, việc tổ chức giáo dục sức khỏe sinh sản trong nhà trường có một vị trí rất quan trọng, cần được các cấp quản lý hết sức quan tâm
Cho đến nay, trên thế giới cũng như trong nước, giáo dục SKSS vị thành niên ngày càng được khẳng định với vai trò là một nội dung trọng tâm trong công tác giáo dục dân số Với tinh thần như vậy, trong chu kỳ 5 do Quỹ Dân
số Liên Hiệp Quốc tài trợ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang xem xét, xây dựng chương trình tích hợp giáo dục DS-SKSS cho các cấp học trong hệ thống giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên với tinh thần nhấn mạnh tới các chủ
đề về giáo dục SKSS
Trang 28Việc tổ chức giáo dục SKSS nhằm cung cấp cho học sinh những tri thức
về giới tính, tình dục học phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi; giúp các
em các em có hiểu biết về các chức năng sinh học của các cơ quan sinh sản nam và nữ, nắm những vấn đề cơ bản về giải phẩu và sinh lý người, chức năng sinh sản, mang thai, cách phòng tránh thai và vệ sinh sức khỏe sinh sản Trên cơ sở đó, hình thành và phát triển các thái độ, hành vi đúng đắn về đạo đức có liên quan đến đời sống sinh sản có liên quan đến bản thân; chủ động,
tự giác, tỉnh táo, biết tự kiềm chế và khuyên bảo người khác, tránh được những hậu quả đáng tiếc xảy ra trong quan hệ nam – nữ, trong tình bạn, tình yêu của tuổi dậy thì Như vậy, mục tiêu cơ bản của chương trình giáo dục SKSS là: gây tác động tới vấn đề sức khỏe khác có liên quan tới giống nòi Vấn đề chủ yếu đặt ra cho Việt Nam là tình trạng mang thai ở tuổi thiếu niên, các bệnh lây lan qua đường tình dục, đặc biệt là HIV/AIDS, các vấn đề khác có liên quan như sự phân biệt chống lại trẻ em gái và phụ nữ, bạo lực đối với phụ nữ Trong nhà trường, mục tiêu và nội dung cụ thể của chương trình giáo dục SKSS phải dựa trên việc giúp học sinh hiểu biết và có những quyết định đúng đắn hơn đối với các vấn đề này
Bên cạnh việc cung cấp tri thức, kỹ năng để nhận biết và phân tích các vấn đề đời sống sinh sản, giáo dục sức khỏe sinh sản còn là nội dung góp phần quan trọng trong việc giáo dục toàn diện, hình thành và hoàn thiện nhiều mặt của nhân cách, đạo đức, thẩm mỹ,… cho học sinh theo mục tiêu của giáo dục- đào tạo, giúp các em biết làm tốt, làm đẹp, làm khỏe cho bản thân, gia đình và xã hội
1.3 LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC SKSS CHO HỌC SINH THPT
1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT
Học sinh tại các trường THPT nằm trong độ tuổi từ 15 đến 18, độ tuổi này là giai đoạn giữa của tuổi vị thành niên
Trang 29Ở nhóm tuổi này, học sinh có nhu cầu trao đổi những vấn đề thầm kín với bạn bè cùng lứa, vì vậy cần cung cấp những thông tin chính xác, những chỉ dẫn rõ ràng qua chương trình chính khóa cũng như hoạt động ngoại khóa
về giáo dục SKSS trong nhà trường
Thời kỳ vị thành niên, cơ thể cả nam và nữ đều có những thay đổi nhanh chóng cả về tâm lý, sinh lý và cả cơ thể học Giữa nam và nữ có những thay đổi giống nhau và những thay đổi khác nhau, nhưng nhìn chung đặc điểm quan trọng nhất nổi lên mà không thấy ở lứa tuổi khác, đó là hiện tượng dậy thì, được thể hiện rõ nhất ở sự phát triển tăng vọt của chiều cao cơ thể và sự trưởng thành về giới tính, tình dục
Đối với nữ giới, kinh nguyệt là dấu hiệu của tuổi dậy thì Khi có kinh nghĩa là có khả năng mang thai Tuy nhiên, ở lứa tuổi vị thành niên, buồng tử cung chưa phát triển đầy đủ, nếu có mang thai thường không mang được đủ tháng, dễ sẩy thai hoặc đẻ non Mặt khác,vị thành niên chưa có chồng khi mang thai thường dấu diếm, khả năng phát hiện sớm, điều kiện thăm khám kiểm tra định kỳ và hưởng sự chăm sóc của cộng đồng là khó khăn, nguy cơ tai biến khi đẻ cũng cao Bên cạnh hiện tượng kinh nguyệt, dậy thì ở nữ còn được biểu hiện ở sự phát triển của tuyến vú, lông mu và tuyến mồ hôi
Tuổi dậy thì ở nam chậm hơn tuổi dậy thì của nữ khoảng 02 năm (khoảng 15 tuổi) Trong thời gian này, tinh hoàn được hoàn thiện và bắt đầu sản xuất tinh trùng, tuy nhiên thường sau một năm mới thấy xuất tinh lần đầu Bên cạnh đó là các dấu hiệu khác như phát triển lông vùng mu, râu và lông một số nơi khác; thay đổi hình thể, kích thước dương vật, xuất tinh lần đầu tiên và xuất tinh không chủ động; phát triển chiều cao, thay đổi giọng nói, phát triển tuyến bã và tuyến mồ hôi
Thời kỳ vị thành niên so với cả cuộc đời của một con người không dài, nhưng lại có nhiều biến động về tâm lý, biểu hiện ở 4 vấn đề cần được quan
Trang 30tâm trong quá trình tiếp cận đánh giá và giải quyết những vấn đề của vị thành niên
Những biến đổi về thể chất: vị thành niên trải qua những biến đổi sinh học cả bên trong và bên ngoài, kéo theo những biến đổi về tâm lý và khả năng nhận thức như những biến đổi nhanh vóc dáng cơ thế, tăng hoạt động của các tuyến nội tiết trong đó có buồng trứng và tinh hoàn, sự phát triển của não ở cả
2 giới Đôi khi những biến đổi quá nhanh gây tình trạng sốc hoặc cảm giác xấu hổ, e thẹn, không yên tâm thiếu tự tin, lúng túng ở một số vị thành niên
do các em còn chưa có nhiều kinh nghiệm và sự hiểu biết đầy đủ về mình
Sự đột biến về chiều cao và hình dáng cơ thể do sự phát triển nhanh của các xương dài ở chân, tay nên chiều cao tăng nhanh ở tuổi vị thành niên Sự gia tăng chiều cao có sự khác nhau giữa nam và nữ do thời kỳ dậy thì xảy ra ở
độ tuổi khác nhau Thời kỳ này các em đã không còn giữ lại dáng vẻ trẻ con nữa Giữa các phần của cơ thể như thân mình, chân tay, vai có tỉ lệ cân đối hơn Ở các em gái bắt đầu có sự tích mỡ ở ngực, chậu hông, đằng sau vai Các
em trai có sự phát triển và tích tụ khối cơ Đến cuối tuổi dậy thì các em trở thành những chàng trai và cô gái với những vóc dáng, khả năng về thể chất và sức mạnh khác nhau
Sự trưởng thành về sinh lý quá sớm và muộn đều tạo ra những bất lợi Thông thường những em gái trưởng thành sớm thường đương đầu với những khó khăn tâm lý và xã hội lớn hơn; còn những em trai trưởng thành sớm lại có lợi thế xã hội hơn
Những biến đổi về tâm lý xã hội ở vị thành niên:
- Sự nhạy cảm về giới và cảm xúc giới tính khi đến tuổi dậy thì, khát vọng về tình dục đã đem lại cho vị thành niên những cảm giác mới về giới Vị thành niên muốn được mọi người quan tâm nhiều hơn Với những bạn khác giới, vị thành niên cư xử rất thân mật, nhưng đôi khi lại thận trọng Rõ ràng là
Trang 31họ đã có nhận thức về giới tính của mình Trẻ vị thành niên dễ tự ái, đôi khi trở nên bướng bỉnh Tình yêu dường như là một mong muốn kỳ diệu trong giai đoạn này Một vài trẻ yêu sớm và không thể từ chối quan hệ tình dục với người mình yêu
- Sự mất cân bằng tạm thời về tâm lý và cảm xúc do các đặc điểm của hệ thần kinh và nội tiết đang phát triển, vị thành niên dễ mất cân bằng về tâm lý
và cảm xúc Các biểu hiện là tim đập nhanh, tăng huyết áp, hoa mắt, chóng mặt, đau đầu, dễ nổi nóng Đôi khi trẻ vị thành niên cảm thấy khó khăn trong việc tự kiềm chế khi bị kích động và gây ra những phản ứng không mong muốn.Tuy nhiên, hiện tượng này sẽ dần mất khi vị thành niên trưởng thành hơn
- Do những mong muốn được trở thành người lớn và được cư xử như người lớn, trẻ vị thành niên có khuynh hướng sống trong hai thế giới: thế giới nội tâm và thế giới bên ngoài Trong giai đoạn này việc tự đánh giá và tự phê bình bắt đầu định hình Trẻ vị thành niên muốn được độc lập, tuy nhiên, chúng vẫn phụ thuộc về kinh tế nên bố mẹ vẫn có khuynh hướng kiểm soát con cái Từ đó khoảng cách giữa 2 thế hệ về cách nghĩ cũng xa hơn Do đó, các bậc cha mẹ và người lớn cần hiểu trẻ, tôn trọng những quyết định đúng đắn của chúng
Trong lĩnh vực liên quan đến sức khỏe sinh sản của vị thành niên, có thể gặp các hành vi sau:
- Sự trầm cảm: thể hiện từ mức độ nhẹ như cảm giác buồn rầu vẩn vơ,
đén mức độ nặng như chán ăn, sụt cân, bi quan, mất hứng thú với cuộc sống, suy nghĩ lệch lạc, thậm chí không muốn sống Hiện tượng trầm cảm thường gặp ở các em nữ hơn là nam Nguyên nhân rất phức tạp, có liên quan đến vấn
đề thay đổi nội tiết, độ tuổi dễ bị tổn thương về mặt tâm lý, cùng với những
Trang 32yếu tố xã hội tác động đến sự chuyển tiếp từ vị thành niên đến người lớn, các khả năng tự điều chỉnh của từng người liên quan đến giới tính
- Tự tử: Tỉ lệ tự vẫn ở tuổi vị thành niên đang tăng lên, đặc biệt ở độ tuổi
cuối vị thành niên Các yếu tố nguy cơ bao gồm sự trầm cảm nặng, hàng loạt các stress (chẳng hạn: bố mẹ ly hôn, thất tình, sự đánh giá thấp cộng với sự phê phán chỉ trích cao…)
- Rối loạn ăn uống: bao gồm béo phì, chán ăn và nhịn ăn, thường gặp ở
các em nữ Rối loạn ăn uống còn gặp ở người bị trầm cảm, bị lạm dụng tình dục
- Bị lạm dụng tình dục, nghiện hút, nghiện rượu: đây cũng là những vấn
đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến sức khỏe vị thành niên và sức khỏe sinh sản Giải pháp cho việc phòng ngừa là quan trọng và có liên quan đến trách nhiệm của gia đình, bạn bè, nhà trường, chính quyền, đoàn thể, đặc biệt là tập thể
Ở tuổi vị thành niên, tuy có trưởng thành nhanh chóng về mặt sinh học, nhưng về mặt xã hội thì thưởng thành chậm hơn Hoạt động chủ đạo hàng ngày là hoạt động học tập, lựa chọn nghề và một số do có hoàn cảnh đặc biệt nên có tham gia lao động trực tiếp Vị trí và sự phát triển về mặt xã hội chưa được xác định, hầu hết vị thành niên còn sống phụ thuộc vào gia đình, chưa
có vị trí kinh tế độc lập Đa số chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người công dân về mặt pháp luật Lứa tuổi vị thành niên bao gồm nhiều nhóm người
có mức độ kiến thức, học vấn, sự hiểu biết về kinh tế - xã hội khác nhau, dân tộc, tôn giáo, vùng địa dư, phong tục tập quán khác nhau, dẫn đến những định hướng giá trị lối sống, nếp sống cũng có khác nhau.Nhưng dù sao, thời kì vị thành niên cũng đánh dấu những bước phát triển lớn về mặt xã hội Những thành tựu văn hóa – xã hội cùng những thành quả tốt đẹp của công tác xã hội cũng có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển toàn diện của vị thành niên
Trang 33Đối với học sinh, thay đổi về đặc tính của giới ở tuổi dậy thì là những dấu hiệu rõ rệt nhất, chứng tỏ cơ thể đã trưởng thành về chất Mặc dù những thay đổi trên vẫn chỉ là những thay đổi bên ngoài và chưa bền vững, nhưng điều đó cũng chứng tỏ rằng cơ thể của học sinh trong lứa tuổi này đã phát triển tới mức có khả năng để đảm nhận được chức năng sinh sản
1.3.2 Mục tiêu và nội dung giáo dục SKSS
Mục tiêu giáo sục SKSS
Giáo dục SKSS nhằm củng cố và nâng cao kiến thức, hình thành thái độ
và hành vi đúng đắn cho học sinh trong các mối quan hệ với bạn bè khác giới, với người yêu, giúp học sinh vượt qua những khó khăn của tuổi vị thành niên một cách an toàn để xây dựng cuộc sống lành mạnh, đảm bảo duy trì và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc và hạnh phúc tương lai
Nội dung giáo dục SKSS
Tuy đến nay chưa có tài liệu nào biên soạn riêng để giáo dục SKSS cho học sinh THPT, nhưng qua các tài liệu của Ủy ban Dân số - Gia đình và Trẻ em; Vụ Sức khỏe sinh sản; Hội Kế hoạch hóa gia đình đã biên soạn có thể sử dụng để tuyên truyền, giáo dục cho học sinh tại các trường THPT Những nội dung giáo dục SKSS bao gồm:
- Quyền sinh sản
Đó là quyền được nhận các thông tin đầy đủ về SKSS, nam cũng như nữ đều có quyền chủ động tiếp cận các phương tiện truyền thông đại chúng, đến gặp cán bộ y tế, người cung cấp dịch vụ SKSS và cộng tác viên dân số để hỏi những thông tin, kiến thức và kỹ năng mà mình cần liên quan đến chăm sóc SKSS cho bản thân
Quyền được chọn và sử dụng dịch vụ chăm sóc SKSS có chất lượng, nam hay nữ khi đến cơ sở y tế để khám chữa bệnh và được đáp ứng các yêu cầu về khám chữa bệnh
Trang 34Quyền được quyết định các hành vi sinh sản Quyền này phải gắn liền với trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân trong việc thực hiện chính sách dân
số
- Làm mẹ an toàn và chăm sóc bà mẹ sau khi sinh
Làm mẹ an toàn và chăm sóc bà mẹ sau khi sinh bao gồm các vấn đề chăm sóc cho bà mẹ trước khi mang thai (vệ sinh phụ nữ, vệ sinh an toàn trong quan hệ tình dục, dinh dưỡng khi mang thai, độ tuổi mang thai, khoảng cách sinh, kiểm tra sức khỏe trước khi mang thai), trong khi mang thai (khám thai, chống thiếu máu, chống sinh hoạt khi mang thai) và sau khi sinh (chế độ dinh dưỡng của bà mẹ và trẻ em, nuôi con bằng sữa mẹ, tiêm chủng cho trẻ,
vệ sinh vận động sau sinh, dấu hiệu nguy hiểm sau sinh)
- Phòng ngừa và điều trị vô sinh
Vô sinh là trường hợp hai người chung sống với nhau, đời sống tình dục diễn ra bình thường và thường xuyên đã hai năm ( không sử dụng các biện pháp tránh thai) mà không thụ thai, hoặc thụ thai nhưng lần nào cũng sẩy Vô sinh có thể là nguyên phát (tức là từ trước đến giờ người phụ nữ hay người đàn ông chưa bao giờ có con), có thể là thứ phát ( tức là đã từng có con nhưng
về sau mất khả năng đó) Có những trường hợp vô sinh chỉ là do sinh hoạt tình dục của hai vợ chồng, chẳng hạn tính sai ngày nên không giao hợp, sinh hoạt tình dục vào những ngày có khả năng thụ thai Song đa số là do nguyên nhân thực thể
Muốn điều trị vô sinh, cả hai vợ chồng cùng đến các cơ sở y tế chuyên sâu để được khám phát hiện nguyên nhân mà điều trị
- Phòng ngừa nạo phá thai và quản lý những hậu quả của nạo phá thai
Đây là vấn đề lớn của sức khỏe cộng đồng và đặc biệt là sức khỏe của người phụ nữ Trong chương trình giáo dục SKSS cho học sinh cần tập trung
ưu tiên cho mục tiêu là ngăn ngừa có thai ngoài ý muốn và tập trung cố gắng
Trang 35để loại trừ nạo phá thai và trong trường hợp nào đó nạo phá thai phải đảm bảo
an toàn không để lại di chứng hoặc gây ra tai biến
- Phòng tránh nhiễm khuẩn sinh sản, các bệnh lây truyền qua đường tình dục và tình trạng sức khỏe sinh sản khác
Ở nước ta hiện nay, việc cung cấp nước sạch chưa đáp ứng được đúng chuẩn và đầy đủ Vì vậy, phụ nữ thường bị các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, nhất là phụ nữ ở nông thôn Vì vậy, việc khám phụ khoa thường kỳ phải được duy trì và phát triển phổ biến sâu rộng để mọi người dân hiểu được tầm quan trọng của dịch vụ này
Bệnh lây truyền qua đường tình dục ( kể cả HIV/AIDS) là các bệnh lây
từ người này sang người khác thông qua các hình thức hoạt động tình dục Ngoài ra, một số bệnh có thể lây truyền qua những con đường khác như: truyền máu, mẹ truyền sang con khi mang thai, khi cho con bú Bệnh lây truyền qua đường tình dục gây ra nhiều hậu quả rất nghiêm trọng, có thể để lại di chứng cả đời, không chữa được thậm chí dẫn đến cái chết Hiện nay, nhân loại đang phải đối mặt với căn bệnh vô phương cứu chữa: HIV/AIDS Hơn ai hết, học sinh cần dược cung cấp đầy đủ những thông tin về căn bệnh này với những nội dung cơ bản: triệu chứng, con đường lây nhiễm, thời gian ủ bệnh, các biện pháp phòng tránh lây nhiễm…
- Thông tin, giáo dục về tư vấn dịch vụ sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình và những vấn đề thích hợp về bản năng tình dục của con người, sức khỏe sinh sản và trách nhiệm làm cha mẹ
Thông tin, giáo dục, truyền thông, tư vấn dịch vụ SKSS đầy đủ để mọi người cùng thực hiện là nhiệm vụ chính của Đảng và Nhà nước ta, là đạo lý mang tính nhân văn cho thế hệ mai sau KHHGĐ là hoạt động có ý thức của các cặp vợ chồng, nhằm điều chỉnh vô sinh, khoảng cách sinh và ý định có thai hay không có thai
Trang 36Tình dục học nhằm nâng cao kiến thức, hiểu biết về phát triển tình dục
và hệ thống sinh sản ở người, hành vi tình dục lành mạnh Mục đích là giúp cho người ít tuổi thực hiện các hành vi tình dục có trách nhiệm, đúng chỗ và trì hoãn hoạt động tình dục cho đến khi hội đủ điều kiện về kinh tế, thể chất,
xã hội, gia đình Đây là nhu cầu cần thiết, cấp bách để xây dựng nhân cách và hành vi tình dục của con người, có đủ kiến thức về giới tính, tình dục thì học sinh sẽ không tò mò hay bị kích động bởi những kích thích tầm thường, biết kiềm chế bản thân, có trách nhiệm với hành động của mình
1.3.3 Các phương pháp giáo dục SKSS cho học sinh
Các phương pháp giáo dục SKSS cho học sinh là các hình thức hoạt động mà nhà giáo dục đưa nội dung giáo dục SKSS đến cho học sinh, thực hiện sự thống nhất, có kế hoạch nhằm đạt được mục đích đề ra
Các phương pháp giáo dục SKSS cho học sinh được chia thành 3 nhóm:
- Nhóm các phương pháp hình thành ý thức cá nhân Bao gồm:
Phương pháp đàm thoại: Sử dụng các đề tài, chủ đề có liên quan đến nội
dung SKSS để học sinh có cơ hội trao đổi, trình bày quan điểm của mình nhằm nâng cao kiến thức, hình thành thái độ, có hành vi đúng đắn trong lĩnh vực chăm sóc SKSS
Phương pháp nêu gương: Sử dụng những tấm gương sáng (hoặc xấu)
của cá nhân, tập thể kích thích học sinh, khiến họ được giáo dục, học tập và làm theo những cái đúng, cái tốt ( hoặc tránh những hành vi xấu tương tự) Phương pháp giảng giải: Sử dụng tranh ảnh, hình vẽ, pano, áp phích… để giải thích, minh họa sao cho HS dễ nắm bắt những vấn đề liên quan đến SKSS
- Nhóm các phương pháp tổ chức hoạt động xã hội và hình thành kinh
nghiệm xã hội Bao gồm:
Phương pháp giao việc: Đây là phương pháp chú trọng việc tổ chức các
hoạt động nhằm lôi cuốn HS vào những công tác đa dạng và phong phú của
Trang 37tập thể, qua đó giúp HS ý thức đầy đủ ý nghĩa công việc mình làm và tích cực hoạt động trong công tác tuyên truyền SKSS
Phương pháp tập luyện: Đây là phương pháp tổ chức cho HS thực hiện
đều đặn và có kế hoạch các hành động đúng đắn nhất định, nhằm biến những hành động đó thành thói quen ứng xử, thành kỹ năng và kỹ xảo
Phương pháp rèn luyện: Đây là phương pháp tổ chức cho HS thực thể nghiệm thái độ, nhận thức của mình về SKSS trong các tình huống đa dạng của cuộc sống Qua đó, hình thành, củng cố được những hành vi đúng đắn, thực hiện những kỹ năng, kỹ xảo đúng đắn đã hình thành từ phương pháp trên
- Nhóm các phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi ứng xử của học sinh Bao gồm:
Phương pháp nêu gương, khen thưởng: Đây là phương pháp biểu thị sự
đánh giá tích cực đối với các hành vi đúng đắn của học sinh về SKSS
Phương pháp trách phạt: Đây là phương pháp biểu thị thái độ phản đối,
phê phán những hành vi sai trái trong vấn đề SKSS của HS so với các chuẩn mực mà xã hội quy định
1.3.4 Các hình thức giáo dục SKSS cho học sinh
Công tác giáo dục SKSS cho HS có thể được tiến hành bằng nhiều hình thức khác nhau Dưới đây là một số hình thức thông dụng:
- Thông qua môn học chính khóa của trường: Đây là con đường thuận lợi nhất giúp HS nắm bắt kiến thức về SKSS một cách đầy đủ và có hệ thống Hình thức này yêu cầu phải thực hiện đúng phân phối chương trình của Bộ Giáo dục và đào tạo
- Thông qua các hoạt động ngoại khóa: Giáo dục SKSS không chỉ đóng khung trong các giờ dạy trên lớp mà còn phải thực hiện thông qua các hoạt động ngoại khóa và các phong trào của nhà trường Hình thức này nhằm thu hút đông đảo các lực lượng xã hội khác tham gia cùng HS, có tính chất thực tế
Trang 38nhằm làm phong phú thêm những kiến thức mà HS thu nhận được qua sách
vở ở trường Hình thức này gồm các hoạt động sau:
Tổ chức thi viết bài, sáng tác thơ văn, vẽ tranh biếm họa, các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao có nội dung về SKSS
Tổ chức câu lạc bộ, chiếu phim… về giới tính, tình bạn, tình yêu…
Tổ chức các buổi tọa đàm, diễn đàn để các chuyên gia về SKSS nói chuyện, trao đổi với HS nhằm giúp các em tháo gỡ thắc mắc và chia sẻ những suy nghĩ của mình, tổ chức giao lưu với những người bị nhiễm HIV/AIDS, những người nghiện hút…để tạo ra cho HS thái độ đối xử thân thiện với những người này Từ đó giúp HS rút ra bài học cho chính mình
Tổ chức các Trung tâm tư vấn trong trường với các hình thức tư vấn trực tiếp, tư vấn gián tiếp qua các phương tiện (báo chí, loa đài, thư, email, điện thoại…)
- Thông qua các hoạt động xã hội: Hoạt động xã hội là môi trường phổ biến rộng rãi kiến thức về SKSS, giáo dục SKSS cho HS thông qua các hoạt động tập thể Đó là các hình thức: sinh hoạt lớp, sinh hoạt đoàn thể, tham gia văn nghệ… HS sẽ có nhiều cơ hội giao lưu, trao đổi nhằm nâng cao kiến thức
sự là gia đình có văn hóa, có trình độ nhận thức về vấn đề SKSS
- Thông qua hình thức tự giáo dục của cá nhân học sinh: Như các hoạt động giáo dục khác, giáo dục SKSS sẽ thành công nếu người được giáo dục
Trang 39tích cực, chủ động tự rèn luyện, tự giáo dục Bản thân HS phải tích cực, có ý thức tự giáo dục mình thì mới đạt được hiệu quả cao
1.4 LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC SKSS CHO HỌC SINH THPT
1.4.1 Quản lý mục tiêu giáo dục SKSS
Trong nhiều năm trước đây, nước ta chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến Phương Đông, vì thế vấn đề tình dục vẫn được xem là vấn đề cấm
số - Kế hoạch hóa gia đình và Bộ Giáo dục và Đào tạo đang phối hợp triển khai đề án đưa giáo dục dân số; giáo dục giới tính, sức khỏe sinh sản vào trường học Mục đích của giáo dục SKSS nhằm làm cho mọi hoạt động liên quan đến tình dục có ý thức và trách nhiệm, an toàn và lành mạnh trong lứa tuổi vị thành niên; đảm bảo thực hiện được mục tiêu là hình thành kiến thức,
kỹ năng, thái độ để học sinh có thể thực hành đúng các hành vi lành mạnh liên quan đến SKSS
Trang 401.4.2 Quản lý nội dung giáo dục SKSS
Nội dung giáo dục là hệ thống kiến thức toàn diện, là một thành tố của cấu trúc hết sức quan trọng của quá trình giáo dục, cùng với phương pháp nhà giáo dục dẫn dắt học sinh đến được các mục đích mong muốn Nó được xây dựng trên cơ sở các mục đích đã được xác lập Quản lý nội dung giáo dục cần tập trung vào các vấn đề:
- Lựa chọn nội dung phù hợp với khả năng của học sinh cả về mặt tâm
lý, sinh lý và không quá tải
- Các nội dung giáo dục phải được lựa chọn trong hệ thống tri thức khoa học và phải phù hợp với nền văn hóa và truyền thống của dân tộc
- Nội dung giáo dục có tác dụng đích thực với việc ứng dụng trong thực tiễn Đối với hoạt động giáo dục SKSS vị thành niên, những nội dung được học sinh quan tâm và được đưa vào chương trình giáo dục trong nhà trường
đó là: quan hệ khác giới, tình bạn, tình yêu, bình đẳng nam nữ và trách nhiệm của nam giới; các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS; sinh sản; tránh thai; nạo phá thai…
1.4.3 Quản lý các hoạt động giáo dục SKSS
Quản lý các hoạt động trên lớp
Công tác giáo dục SKSS cho học sinh ở trường phổ thông không nhất thiết phải xây dựng thành một môn học riêng biệt, mà có thể tích hợp, lồng ghép vào các môn học đã có trong chương trình Cán bộ quản lý cần thực hiện các công việc sau:
Thông báo đến giáo viên văn bản của nhà trường hướng dẫn thực hiện Quy chế đào tạo của Bộ GD&ĐT, nhằm đảm bảo về tính nguyên tắc, kỷ cương trong dạy học