1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

cơ sở lý luận về phân tích tài chính

26 876 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ sở lý luận về phân tích tài chính
Chuyên ngành Tài chính Doanh nghiệp
Thể loại Giáo trình
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 93,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các báo cáo tài chính được soạn thảo theo định kỳ phản ánh một cách tổng hợp và toàn diện về tình hình tài sản nguồn vốn, công nợ, kết quả kinh doanh… bằng các chỉ tiêu giá trị nhằm mục

Trang 1

cơ sở lý luận về phân tích tài chính.

I phân tích tài chính trong doanh nghiệp.

1 Khái niệm.

Hoạt động tài chính là một bộ phận của hoạt động sản xuất kinh doanh

và có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều ảnh hưởng tới tình hình tài chính doanh nghiệp.

Vì vậy tình hình tài chính tốt hay xấu sẽ có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh Do đó trước khi lập kế hoạch tài chính, doanh nghiệp cần phải nghiên cứu báo cáo tài chính của kì thực hiện Các báo cáo tài chính được soạn thảo theo định kỳ phản ánh một cách tổng hợp và toàn diện về tình hình tài sản nguồn vốn, công nợ, kết quả kinh doanh… bằng các chỉ tiêu giá trị nhằm mục đích thông tin về kết quả và tình hình tài chính của doanh nghiệp cho người lãnh đạo và bộ phận tài chính doanh nghiệp thấy được thực trạng tài chính của đơn vị mình, chuẩn bị căn cứ lập kế hoạch cho

kỳ tương lai.

Vì vậy người ta phải dùng phương pháp phân tích để thuyết minh các mối quan hệ chủ yếu, giúp cho các nhà kế hoạch dự đoán và đưa ra các quyết định tài chính trong tương lai, bằng cách so sánh, đánh giá xem xét xu hướng dựa trên các thông tin đó.

Phân tích tài chính doanh nghiệp bao gồm các phương pháp và công cụ cho phép thu thập và xử lý thông tin kế toán và các thông tin khác trong quản

lý doanh nghiệp, nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp giúp người xử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp.

Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích các báo cáo tài chính và các chỉ tiêu đặc trưng tài chính thông qua một hệ thống các phương pháp, công cụ và kỹ thuật phân tích giúp người sử dụng

Trang 2

thông tin từ các góc độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp khái quát, vừa xem xét một cách chi tiết hoạt động tài chính của doanh nghiệp.

2 Các bước tiến hành phân tích tài chính trong doanh nghiệp 2.1 Thu thập thông tin.

Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dự đoán tài chính Nó bao gồm cả những thông tin nội bộ đến thông tin bên ngoài, những thông tin kế toán và thông tin quản lý khác, những thông tin

về số lượng giá trị… trong đó các thông tin kế toán phản ánh tập trung trong các báo cáo tài chính doanh nghiệp là những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng Do vậy phân tích tài chính thực tế là phân tích các báo cáo tài chính.

2.2 Sử lý thông tin.

Quá trinh tiếp theo của phân tích tài chính là sử lý thông tin đã thu thập được Trong giai đoạn này người sử dụng thông tin ở góc độ nghiên cứu, ứng dụng khác nhau có phương pháp sử lý thông tin khác nhau phục vụ mục tiêu phân tích đã đặt ra: sử lý thông tin là quá trinh sắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân của các kết quả đã được phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định.

II Tầm quan trọng của phân tích tài chính doanh nghiệp.

Trang 3

Phân tích tài chính doanh nghiệp chính là để đạt được mục đích cao nhất là đánh giá thực trạng tài chính và tiềm năng của doanh nghiệp từ đó giúp những người ra quyết định dự đoán và lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu.

Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau, đều bình đẳng trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh Do vậy sẽ có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như: Chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng…kể cả các cơ quan nhà nước và những người làm công, mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các góc độ khác nhau.

1 Đối với bản thân doanh nghiệp.

1.1 Đối với chủ doanh nghiệp và những người quản lý doanh nghiệp.

Đối với chủ doanh nghiệp và những người quản lý doanh nghiệp thì mục tiêu hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng tài trợ Một doanh nghiệp nếu làm ăn thua lỗ liên tục thì các nguồn lực sẽ cạn kiệt và sẽ buộc phải đóng cửa, một doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ cũng dẫn đến chỗ phá sản Bên cạnh đó, chủ doanh nghiệp và những người quản lý còn quan tâm đến các mục tiêu khác như: Nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo công ăn việc lam, phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường… Do ở trong doanh nghiệp nên các chủ doanh nghiệp và các nhà quản lý có thông tin đầy đủ và hiểu rõ về doanh nghiệp, họ có lợi thế để phân tích tài chính tốt nhất Việc phân tích tài chính giúp cho họ trong nhiều vấn đề như: hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả không, có đạt lợi nhuận không, tương lai

sẽ có nhiều triển vọng hay khó khăn Khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn ra sao, vốn được huy động từ những nguồn nào và đầu tư vào đâu để thu lợi nhuận cao nhất.

Trang 4

1.2 Đối với người hưởng lương trong doanh nghiệp.

Như chúng ta đã biết lương là khoản thu nhập chính của những người làm công Ngoài ra theo quy định doanh nghiệp luôn giữ một phần được gọi là

cá nhân người hưởng lương góp cho doanh nghiệp như vậy người hưởng lương buộc phải quan tâm tới tình hình tài chính doanh nghiệp vì đó cũng chính là tình hình tài chính của họ Cách quan tâm của người hưởng lương tới tình hình tài chính của doanh nghiệp cũng chính là phân tích tài chính.

2 Đối với các chủ nợ.

Các chủ nợ bao gồm các ngân hàng, các doanh nghiệp cho vay, ứng trước hay bàn chịu Họ phân tích tài chính chủ yếu là để quan tâm đến khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp đi vay Đối với các khoản vay ngăng hạn thì người cho vay đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp Tức là khả năng ứng phó của các doanh nghiệp đối với món nợ này khi đến hạn còn đối với các khoản nợ dài hạn thì người cho vay phải tin chắc khả năng hoàn trả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà việc hoàn trả vốn và lãi phụ thuộc vào chính khả năng sinh lời đó.

Việc phân tích tài chính thay đổi theo bản chất và thời hạn của các khoản vay nhưng dù cho đó là vay dài hạn hay ngắn hạn thì người cho vay đều quan tâm đến cơ cấu tài chính biểu hiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp

đi vay Như vậy trước khi chấp nhận cho vay người cho vay phải phân tích tài chính của doanh nghiệp đi vay vì việc phân tích đó sẽ giúp họ trong các vấn đề như: Doanh nghiệp có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn hay không, tổng số nợ của doanh nghiệp so với tổng tài sản của doanh nghiệp là cao hay thấp, nguồn vốn chủ sở hữu so với tổng nguồn vốn của doanh nghiệp như thế nào, khả năng sinh lợi của doanh nghiệp.

Từ những nghiên cứu đó xem xét có nên cho vay hay không và nếu cho vay thì hạn mức là bao nhiêu, thời hạn thanh toán khoản vay trong bao lâu.

Trang 5

3 Đối với các nhà đầu tư.

Đây là các doanh nghiệp và các cá nhân quan tâm trực tiếp đến các tính toán giá trị của doanh nghiệp và họ đã giao vốn cho doanh nghiệp và có thể phải chịu rủi ro Thu nhập của họ là tiền chia lợi tức và giá trị tăng thêm của vốn đầu tư Hai yếu tố này chịu ảnh hưởng của lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp các nhà đầu tư lớn thường dựa vào các nhà chuyên môn, những người chuyên phân tích tài chính, để phân tích và làm rõ triển vọng của doanh nghiệp cũng như đánh giá cổ phiếu của doanh nghiệp Đối với nhà đầu tư hiện tạo cũng như nhà đầu tư tiềm năng, thì mối quan tâm trước hết của họ là đánh giá những đặc điểm đầu tư của doanh nghiệp Các đặc điểm đầu tư của một doanh

vụ có tính đến các yếu tố rủi ro, sự hoàn lại lãi cổ phần hoặc tiền lời, sự bảo toàn vốn, khả năng thanh toán vốn, sự tăng trưởng và các yếu tố khác.

Mặt khác, các nhà đầu tư cũng quan tâm tới thu nhập của doanh nghiệp.

Để đánh giá thu nhập bình thường của doanh nghiệp họ quan tâm tới tiềm năng tăng trưởng các thông tin liên quan đến việc doanh nghiệp đã giành được nguồn tiềm năng gì và như thế nào, đã sử dụng chúng ra sao, cơ cấu vốn của doanh nghiệp là gì, những rủi ro và may mắn nào doanh nghiệp cần đảm bảo cho các nhà đầu tư cổ phần, doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính nào không Các đánh giá đầu tư cũng liên quan đến việc dự đoán thời gian, độ lớn và những điều không chắc chắn của những quyết toán tương lai thuộc doanh nghiệp Ngoài ra các nhà đầu tư cũng quan tâm tới việc điều hành hoạt động

và tính hiệu quả của công tác quản lý trong doanh nghiệp Những thông tin về công tác quản lý đòi hỏi những nguồn nào và sử dụng những nguồn ấy dưới sự giám sát của công tác quản lý như thế nào cũng có thể ảnh hưởng đến quyết định đầu tư.

4 Đối với các cơ quan chức năng.

Cơ quan chức năng bao gồm: các cơ quan cấp cao trực thuộc bộ, cơ quan thuế, thanh tra tài chính Các cơ quan này sử dụng báo cáo tài chính do

Trang 6

các doanh nghiệp gửi lên để phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp đó với mục đích kiểm tra, giám sát tình hình hoạt động kinh doanh, xem họ có thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ với nhà nước hay không, xem họ có kinh doanh đúng luật hay không Đồng thời giám sát này còn giúp cho các cơ quan có thẩm quyền có thể hoạch định chính sách một cách phù hợp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất có hiệu quả.

III Nội dung phân tích tài chính trong doanh nghiệp.

1 Phân tích cân đối giữa tài sản và nguồn vốn.

Phân tích mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn là xét mối quan

hệ giữa tài sản và nguồn vốn, nhằm đánh giá khái quát tình hình phân bổ huy động sử dụng các loại vốn và nguồn vốn bảo đảm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Theo quan điểm luân chuyển vốn, xét về mặt lý thuyết thì nguồn vốn chủ

sở hữu của doanh nghiệp đủ đảm bảo trang trải cho các loại tài sản, cho hoạt động chủ yếu như hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động đầu tư mà không phải đi vay và chiếm dụng vốn.

Trang 7

Trên thực tế thường xảy ra các trường hợp sau:

Trường hợp 1: Vế trái < Vế phải.

Trong trường hợp này nguồn vốn chủ sở hữu không sử dụng hết nên bị các đơn vị khác chiếm dụng.

Trường hợp 2: Vế trái > Vế phải.

Trường hợp này nguồn vốn chủ sở hữu không đủ trang trải cho những hoạt động chủ yếu, nên tất yếu doanh nghiệp phải đi vay vốn hoặc chiếm dụng vốn của các đơn vị khác Để đánh giá chính xác cần xem xét số vốn đi chiếm dụng có hợp lý không, vốn vay có quá hạn không… Từ trường hợp này ta có mối quan hệ cân đối thứ hai.

1.2 Cân đối thứ hai

Trang 8

Trường hợp 1: Vế trái < Vế phải.

Trường hợp này nguồn vốn chủ sở hữu và vốn vay chưa sử dụng hết vào quá trình hoạt động, bị các đơn vị khác chiếm dụng nhỏ hơn số vốn chiếm dụng.

Trang 9

Trường hợp 2: Vế trái > Vế phải.

Trương hợp này nguồn vốn chủ sở hữu và vốn vay không đủ trang trải cho những hoạt động chủ yếu, doanh nghiệp phải đi chiếm dụng vốn của các đơn vị khác và đi chiếm dụng lớn hơn số vốn bị chiếm dụng như sau:

Trang 10

(A+B)Tài sản = (A+B) Nguồn vốn: Đây chính là tính cân đối của bảng cân đối kế toán.

2 Phân tích tình hình phân bổ vốn.

Phần tài sản trong bảng cân đối kế toán phản ánh giá trị hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo theo cơ cấu tài sản và hình thức tồn tại trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Căn cứ vào số liệu này

có thể đánh giá tổng quát quy mô tài sản, năng lực và trình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp Tổng tài sản gồm có:

- Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn.

- Tài sản cố định và đầu tư dài hạn.

Để đảm bảo có đủ tài sản cho hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần phải tập trung các biện pháp tài chính cần thiết cho việc huy động, hình thành nguồn vốn.

Khi phân tích tình hình phân bổ vốn là đánh giá sự biến động các bộ phận cấu thành tổng số vốn của doanh nghiệp nhằm thấy được trình độ sử dụng vốn và việc phân bổ giữa các loại vốn trong các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh có hợp lý không, từ đó đề ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Phương pháp phân tích là tiến hành xác định tỷ trọng từng khoản vốn ở thời điểm đầu năm và cuối kỳ và sự thay đổi về tỷ trọng giữa đầu năm và cuối

kỳ và tìm nguyên nhân cụ thể của chênh lệch tỷ trọng này Qua đó so sánh bằng

số tuyệt đối và tỷ trọng có thể thấy được sự thay đổi về số lượng, quy mô và tỷ trọng từng loại vốn Để có thể phân biệt tình hình thay đổi của tài sản là hợp lý hay không cần phải đi sâu nghiên cứu sự biến động của từng loại tài sản.

2.1.Tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn:

Căn cứ vào tính chất và vai trò tham gia vào quá trình sản xuất, tư liệu sản xuất của doanh nghiệp được chia thành hai bộ phận là tư liệu lao động và

Trang 11

đối tượng lao động Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu mà nó có đặc điểm cơ bản là tham gia nhiều chu kỳ sản xuất, hình thái vật chất không thay đổi từ chu kỳ sản xuất đầu tiên cho đến khi bị sa thải khỏi quá trình sản xuất Mọi tư liệu lao động là từng tài sản hữu hình có kết cấu độc lập, hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định như:

- Tài sản cố định hữu hình.

- Tài sản cố định vô hình.

- Đầu tư tài chính dài hạn.

Xu hướng chung của quá trình phát triển sản xuất kinh doanh là tài sản

cố định và đầu tư tài chính dài hạn phải tăng lên cả về số tuyệt đối lẫn số tương đối (trừ tài sản cố định chờ thanh lý và chưa cần dùng) Bởi vì điều này thể hiện quy mô sản xuất, cơ sở vật chất kỹ thuật gia tăng, trình độ tổ chức sản xuất và kinh doanh tốt Tuy nhiên không phải lúc nào giá trị tài sản cố định tăng lên cũng tốt, có nhiều trường hợp doanh nghiệp đầu tư nhà xưởng, máy móc thiết bị quá nhiều nhưng lại thiếu nguyên vật liệu sản xuất hoặc đầu tư nhiều nhưng không sản xuất sản phẩm không tiêu thụ được Đây là tình hình thừa vốn cố định … Do vậy, để đánh giá sự hợp lý của sự biến động này cần xem xét tỷ lệ của tài sản cố định trong sự phân bổ tối ưu giữa tài sản cố định và tài của lưu động Để đánh giá tài sản cố định và đầu tư dài hạn, trước hết phải tính chỉ tiêu tỷ suất đầu tư và xem xét sự biến động của nó Chỉ tiêu tỷ suất đầu

tư phản ánh tình hình đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp.

Tỷ suất đầu tư chung phản ánh tình hình chung về đầu tư cho việc trang

bị cơ sở vật chất kỹ thuật, mua sắm và xây dựng tài sản cố định và đầu tư tài chính như mua: Cổ phần, cổ phiếu, góp vốn liên doanh và kinh doanh bất động sản.

Trang 12

n s¶

tµi Tæng

n b¶

XD phÝ Chi h¹n

dµi

chÝnh tµi t­

Çu

§ TSC§

cña

cã hiÖn gi¸

TrÞ chung t­

n s¶

tµi tæng

Þnh

§ cè n s¶

tµi cña cã hiÖn trÞ gi¸

Đầu tư tài chính dài hạn phản ánh tình hình giá trị các khoản đầu tư dài hạn vào lĩnh vực kinh doanh mua cổ phần, cho vay dài hạn và kinh doanh bất động sản.

n s¶

tµi tæng

h¹n dµi chÝnh tµi

Çu

§ n kho¶

c¸c gi¸

trÞ h¹n dµi chÝnh tµi

Çu

§ suÊt

Chi phí đầu tư xây dựng cơ bản dở dang: Chi phí đầu tư xây dựng cơ bản

dở dang tăng lên có thể do doanh nghiệp đầu tư thêm và tiến hành sửa chữa lớn tài sản cố định Đây là biểu hiện tốt nhằm đánh giá sự tăng cường năng lực sản xuất của doanh nghiệp Nếu chi phí xây dựng cơ bản tăng lên do tiến

độ thi công kéo dài gây lãng phí vốn đầu tư thì đó là biểu hiện không tốt

2.2 Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn.

Tài sản lưu động tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh có thời gian luân chuyển ngắn Giá trị các loại tài sản lưu động của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thường chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản của chúng Quản lý sử dụng hợp lý các loại tài sản lưu động có ảnh hưởng rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp Tài sản lưu động tăng lên về số

Trang 13

tuyệt đối, giảm về tỷ trọng trong tổng giá trị tài sản là xu hướng chung của sự phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Điều này thể hiện sự biến động của tài sản lưu động phù hợp với sự gia tăng tài sản tài sản cố định, thể hiện trình độ tổ chức tốt, dự trữ vật tư hợp lý Tuy nhiên để đánh giá tính hợp

lý sự biến động của tài sản lưu động và tài sản cố định, kết hợp với phân tích các bộ phận cấu thành tài sản lưu động, tốc độ luân chuyển vốn lưu động.

Vốn bằng tiền mà chủ yếu là tiền gửi ngân hàng: Tỷ trọng loại vốn này tăng lên cho thấy doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong kinh doanh, đáp ứng khả năng thanh toán kịp thời Doanh nghiệp có thể dùng tiền để thoả mãn mọi nhu cầu kinh doanh một cách nhanh chóng Tuy nhiên không nên dự trữ tiền mặt và số dư tiền gửi ngân hàng quá lớn mà phải giải phóng nó đưa vào sản xuất kinh doanh tăng vòng quay vốn và trả nợ.

Các khoản phải thu: Là giá trị tài sản của doanh nghiệp bị các đơn vị khác chiếm dụng, các khoản phải thu giảm thì doanh nghiệp tránh được ứ đọng vốn và việc sử dụng vốn có hiệu quả Tuy nhiênkhông phải lúc nào các khoản thu tăng lênlà đánh giá không tích cực mà có trường hợp doanh nghiệp

mở rộng mối quan hệ kinh tế thì khoản này tăng lên là điều tất yếu Vấn đề là xem số vốn chiếm dụng là có hợp lý không.

Tài sản lưu động khác giảm chứng tỏ doanh nghiệp đã thu hồi tạm ứng

xử lý tài sản thiếu.

3 Phân tích kết cấu nguồn vốn

Vốn là điều kiện không thể thiếu được để doanh nghiệp được lập và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Vì vậy quản lý vốn của doanh nghiệp

có ý nghĩa quan trọng trong quản lý tài chính doanh nghiệp Tuỳ theo mỗi loại hình doanh nghiệp và các đặc điểm cụ thể, mỗi doanh nghiệp có thể có các phương thức huy động vốn khác nhau Vốn và nguồn vốn là hai mặt trong một thể thống nhất, đó là tài sản trong doanh nghiệp Do đó ngoài việc phân tích

Ngày đăng: 18/10/2013, 00:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. - cơ sở lý luận về phân tích tài chính
Bảng 1. (Trang 6)
Bảng 2: - cơ sở lý luận về phân tích tài chính
Bảng 2 (Trang 7)
Cỏc số liệu ở bảng trờn lấy từ bảng cõn đối kế toỏn của số đầu năm và số cuối kỳ. - cơ sở lý luận về phân tích tài chính
c số liệu ở bảng trờn lấy từ bảng cõn đối kế toỏn của số đầu năm và số cuối kỳ (Trang 7)
Cỏc số liệu ở bảng trờn lấy từ bảng cõn đối kế toỏn của số đầu năm và số cuối kỳ. - cơ sở lý luận về phân tích tài chính
c số liệu ở bảng trờn lấy từ bảng cõn đối kế toỏn của số đầu năm và số cuối kỳ (Trang 9)
Bảng 3: - cơ sở lý luận về phân tích tài chính
Bảng 3 (Trang 9)
Cỏc số liệu ở bảng trờn lấy từ bảng cõn đối kế toỏn của số đầu năm và số cuối kỳ. - cơ sở lý luận về phân tích tài chính
c số liệu ở bảng trờn lấy từ bảng cõn đối kế toỏn của số đầu năm và số cuối kỳ (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w