1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

27 825 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ sở lý luận về phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 71,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Gắn liền với quátrình tạo lập, phân phối, sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp là các quan hệkinh tế biểu hiện dưới hình thái giá trị đó là các quan hệ tài chính trong doanhnghiệp..

Trang 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH

NGHIỆP

I BẢN CHẤT VÀ NỘI DUNG CỦA TÀI CHÍNH DOANH

NGHIỆP

1 Bản chất của tài chính doanh nghiệp.

Tài chính là một bộ phận cầu thành trong các hoạt động kinh tế của doanhnghiệp Nó có mối liên hệ hữu cơ và tác động qua lại với các hoạt động kinh tếkhác Mối quan hệ tác động qua lại này phản ánh và thể hiện sự tác động gắn bó,thường xuyên giữa phân phối với sản xuất và trao đổi, lại vừa là điều kiện cho sảnxuất và trao đổi có thể tiến hành bình thường và liên tục

Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, bất cứ doanh nghiệp nào cũngphải có một lượng vốn tiền tệ nhất định Lượng vốn đó được vân động, luânchuyển không ngừng qua các giai đoạn mua hàng, dự trữ, bán hàng và thanh toántiền hàng Doanh thu từ hoạt động kinh doanh phải bù đắp được các khoản chi phí

đã bỏ ra và mang lại lợi nhuận cho các doanh nghiệp từ đó hình thành nên cácnguồn tài chính

Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình hìnhthành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Gắn liền với quátrình tạo lập, phân phối, sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp là các quan hệkinh tế biểu hiện dưới hình thái giá trị đó là các quan hệ tài chính trong doanhnghiệp Mối quan hệ tài chính chứa đựng những nội dung kinh tế khác nhau songchúng đều mang những đặc trưng cơ bản sau :

 Phản ánh những luồng chuyển dịch giá trị, sự vận động của các nguồn tài chínhnảy sinh và gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 2

 Sự vận động chuyển hóa của các nguồn lực trong kinh doanh không phải là hỗnloạn mà được điều chỉnh bằng hệ thống các quan hệ phân phối thông qua việctạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ, các loại hình vốn kinh doanh nhất định tronghoạt động của các doanh nghiệp.

 Động lực của sự vận động và chuyển hóa các nguồn tài lực nhằm mục tiêu thuđược các khoản doanh lợi trong khuôn khổ cho phép của luật kinh doanh

Như vậy, bản chất của tài chính doanh nghiệp là hệ thống các mối quan hệkinh tế biểu hiện dưới hình thái giá trị phát sinh trong quá trình hình thành và sửdụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp để phục vụ cho mục đích kinh doanh và giảiquyết các nhu cầu xã hội Hay nói cách khác: Tài chính doanh nghiệp là hệ thốngcác mối quan hệ tiền tệ gắn trực tiếp với việc tổ chức, huy động, phân phối sử dụng

và quản lý vốn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh

2. Nội dung của tài chính doanh nghiệp :

Nội dung của tài chính doanh nghiệp được thể hiện thông qua các mối quan

hệ phát sinh trong doanh nghiệp bao gồm các mối quan hệ sau:

2.1 Quan hệ tài chính giữa các doanh nghiệp với ngân sách nhà nước :

Thể hiện trong lĩnh vực doanh nghiệp thực hiện sản xuất kinh doanh theođịnh hướng phát triển kinh tế – xã hội của nhà nước, hoặc được nhà nước giao chỉtiêu kế hoạch thực hiện

Doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, phí, lệ phí cho ngân sách nhànước và ngược lại trong một số trường hợp cần thiết Nhà nước có thể can thiệp,bảo vệ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nó thể hiện mối quan hệ tácđộng qua lại Nhà nước giúp doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong hành lang

Trang 3

pháp lý cho phép và doanh nghiệp cũng có nghĩa vụ duy trì hoạt động của bộ máynhà nước.

Ở nước ta, do còn thành phần kinh tế quốc doanh nên sự tài trợ của nhà nướcđược thể hiện bằng việc đảm bảo một phần vốn pháp định cho các doanh nghiệp.Trong quá trình hoạt động trong lĩnh vực then chốt của nền kinh tế sẽ được nhànước chú trọng đầu tư vốn nhằm giúp cho doanh nghiệp phát triển tốt hơn

2.2 Quan hệ tài chính doanh nghiệp với chủ thể kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường

Đó là quan hệ giữa các doanh nghiệp phát sinh trong quá trình thanh toáncác sản phẩm dịch vụ, góp vốn liên doanh, vốn cổ phần và chia lợi nhuận do vốn

cổ phần, vốn liên doanh mang lại

Đó là mối quan hệ giữa doanh nghiệp và các tổ chức tài chính trung giannhư: ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty bảo hiểm… thể hiện việcvay và trả nợ, mua bảo hiểm và được đền bù thiệt hại, mua và bán cổ phiếu, tráiphiếu

Ngoài ra, doanh nghiệp còn có mối quan hệ với thị trường sức lao động, thịtrường tài chính, thị trường hàng hóa nhằm mua bán, trao đổi các yếu tố phục vụquá trình sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp

2.3 Quan hệ tài chính phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp

Là những quan hệ phân phối, điều hòa cơ cấu thành phần vốn kinh doanh,phân phối thu nhập giữa các thành viên, thanh toán hợp đồng lao động giữa cácchủ doanh nghiệp và công nhân viên chức

Các mối quan hệ này phát sinh một cách thường xuyên liên tục, đan xennhau và hình thành nên hoạt động tài chính của doanh nghiệp

Trang 4

Trong nền kinh tế thị trường, tài chính doanh nghiệp có vai trò rất quantrọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nó đảm bảo cho doanhnghiệp có đủ vốn cần thiết để tham gia vào quá trình tái sản xuất cũng như tái sảnxuất mở rộng Tình hình tài chính ổn định và phát triển cho phép doanh nghiệpthực hiện chế độ hạch toán đầy đủ, tăng sức cạnh tranh trên thị trường, hoạt động

có hiệu quả, đem lại uy tín với bạn hàng và khách hàng

3. Chức năng của tài chính doanh nghiệp

Là khả năng khách quan phát huy tác dụng xã hội hay là sự cụ thể hóa bản chất củatài chính doanh nghiệp

3.1 Chức năng chu chuyển vốn tiền tệ

Mỗi doanh nghiệp đều cần phải có một lượng vốn tiền tệ đủ lớn để hoạt động

và có quyền sử dụng nguồn vốn đó một cách chủ động nhằm đảm bảo thực hiện tốtnhiệm vụ sản xuất kinh doanh Mặt khác, trong quá trình hoạt động của doanhnghiệp luôn nảy sinh các nhu cầu về vốn ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động kinhdoanh thường xuyên của doanh nghiệp cũng như cho đầu tư phát triển Do vậy,chức năng này sẽ giúp doanh nghiệp xác định được nhu cầu vốn cần thiết cho từngthời kỳ và giúp cho các nhà quản lý, đầu tư nắm được tình hình tài chính để tổchức nguồn vốn nhằm đầu tư đúng hướng và kịp thời

Với cơ chế hiện nay, nguồn tài chính không chỉ giới hạn ở nguồn cấp phátngân sách, nguồn vốn tự có của doanh nghiệp hay nguồn vốn tín dụng của ngânhàng mà còn có thể được hình thành từ thị trường vốn, huy động vốn nhàn rỗitrong nhân dân và các khoản đầu tư của nước ngoài Việc hình thành thị trường tàichính song song với thị trường hàng hóa, tạo ra cơ chế “bơm - hút” vốn một cáchhợp lý và đẩy nhanh tấc độ luân chuyển vốn trong các doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt

Trang 5

động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phát triển Điều đó cho thấy chức năngchu chuyển vốn tiền tệ là một chức năng quan trọng của tài chính doanh nghiệp vì

nó tạo động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tác động trực tiếp đến sự tồn tại vàphát triển của doanh nghiệp

3.2 Chức năng phân phối

Phân phối là một chức năng quan trọng của tài chính doanh nghiệp, dựa trên

cơ sở sản xuất kinh doanh, khi chu kỳ kinh doanh kết thúc, sản phẩm hàng hóađược tiêu thụ trên thị trường, doanh nghiệp có thu nhập vì tiền thu bán hàng hoặcdịch vụ Chức năng phân phối là cái vốn có nằm sẵn trong phạm trù tài chính vàbiểu hiện bản chất của tài chính trong đời sống kinh tế – xã hội khi phân phối củacải vật chất dưới hình thức giá trị

Hình thức phân phối được thể hiện như sau:

 Bù đắp vốn đã bỏ ra để mua hàng và nhằm bảo toàn vốn lưu động

 Bù đắp một phần chi phí thuộc các yếu tố vật chất đã sử dụng trong quá trìnhsản xuất kinh doanh như chi phí bù đắp hao mòn tài sản cố định, chi phí vậtliệu, nhiên liệu, chi phí lao động trong đó bao gồm cả chi phí tiền lương, chiphí vận tải, bốc dỡ hàng hóa….tất cả các chi phí này là phải là những chi phíhợp lý theo chế độ quản lý tài chính ở nước ta qui định

 Thanh toán thuế và các khoản phải nộp Ngân sách nhà nước: thuế VAT, thuếtiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu, phí và lệ phí

 Phần còn lại sau khi đã bù đắp ba khoản trên gọi là lợi nhuận trước thuế củacác doanh nghiệp, lợi nhuận này sau khi đã trừ đi thuế thu nhập doanh nghiệpcòn lại là lợi nhuận sau thuế Lợi nhuận sau thuế sau khi đã trừ đi các khoảnchi phí không hợp lệ như: tiền nộp phạt, tiền lãi vay quá hạn… sẽ được doanh

Trang 6

nghiệp phân phối vào các quỹ như quỹ đầu tư phát triển sản xuất quỹ dự phòngtài chính, quỹ khen thưởng phúc lợi, quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm.

Phân phối là một chức năng vốn có của tài chính doanh nghiệp, nó tác độngtới toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại vàphát triển trong nền kinh tế thị trường Đồng thời, nó đáp ứng yêu cầu của quy luậttái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng nền kinh tế cũng như chính bản thândoanh nghiệp

3.3 Chức năng giám đốc tài chính

Chức năng giám đốc tài chính hay còn gọi là chức năng kiểm tra – kiểm soát

là một thuộc tính tất yếu, khách quan của tài chính doanh nghiệp Nó phản ánh tínhchất khách quan của hoạt động tài chính, thông qua đó để phản ánh trình độ sửdụng vốn vào hoạt động kinh doanh, quá trình tạo lập các quỹ và sử dụng các quỹtiền tệ của doanh nghiệp hướng vào việc thực hiện các yêu cầu của các qui luậtkinh tế của nền kinh tế thị trường Trong đó đặc điểm cơ bản nhất của giám đốc tàichính là giám đốc bằng đồng tiền các hoạt động kinh doanh một cách thườngxuyên, liên tục và có hiệu quả nhất

Nội dung của giám đốc tài chính được thực hiện thông qua các chỉ tiêu sửdụng vốn, chi phí, lợi nhuận…

Qua kiểm tra, kiểm soát các chỉ tiêu về hoạt động tài chính, doanh nghiệp cóthể phát hiện ra hiện tượng sử dụng vốn bất hợp lý, chi phí kinh doanh kém hiệuquả từ đó có những quyết định đúng đắn về tài chính đảm bảo cho kinh doanh mởrộng, phát triển đúng hướng, chủ động, đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn, thực hiệnyêu cầu của chế độ hạch toán kinh tế, nâng cao đới sống của người lao động, tránhtham ô lãng phí và những tổn thất không đáng có gây nên

Trang 7

4 Vai trò của tài chính doanh nghiệp

4.1 Đảm bảo huy động đầy đủ, kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp luôn nẩy sinh các nhu cầu về vốnngắn hạn và dài hạn Tài chính doanh nghiệp đã xác định đúng đắn các nhu cầuvay vốn cần thiết trong từng thời kỳ, đồng thời lựa chọn các phương pháp và hìnhthức vay vốn từ bên trong và bên ngoài cho phù hợp Ngày nay, cùng sự phát triểncủa nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp càng có nhiều cơ hội, hình thức lựa chọnnguồn vốn

Do vậy, tài chính doanh nghiệp càng có vai trò quan trọng trong việc chủđộng lựa chọn hình thức và phương pháp huy động đảm bảo cho doanh nghiệphoạt động nhịp nhàng liên tục với chi phí huy động vốn ở mức thấp nhất

4.2 Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu qủa

Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong vào việc đánh giá vàlựa chọn dự án đầu tư, trên cơ sở phân tích khả năng sinh lời và mức độ rủi ro của

dự án để lựa chọn dự án đầu tư tối ưu

Từ khả năng tài chính của doanh nghiệp ta có thể đánh giá được cơ hội kinhdoanh Mặt khác việc huy động tối đa số vốn hiện có giúp giảm bớt và tránh thiệthại do ứ đọng vốn gây ra, đồng thời giảm bớt được nhu cầu vay vốn, từ đó giảmkhoản tiền trả lãi vay Việc hình thành và sử dụng thưởng phạt vật chất một cáchhợp lý góp phần quan trọng thúc đẩy công nhân viên gắn bó với doanh nghiệp, tíchcực nâng cao năng suất lao động, cải tiến sản xuất kinh doanh, góp phần quantrọng nâng cao hiệu quả sử dụng tiền vốn

Trang 8

4.3 Giám sát, kiểm tra chặt chẽ các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Thông qua các chỉ tiêu kế hoạch tài chính và thực hiện các chỉ tiêu đó, ngườilãnh đạo và các nhà quản lý doanh nghiệp có thể đánh giá khái quát và kiểm soátđược các mặt hoạt động của doanh nghiệp, phát hiện kịp thời những vướng mắc, từ

đó ta có thể đưa ra các quyết định điều chỉnh các hoạt động phù hợp với diễn biếnthực tế kinh doanh

5. Khái niệm, mục đích, ý nghĩa của việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.

5.1 Khái niệm và mục đích phân tích tình hình tài chính doanh

nghiệp.

Trước hết, phân tích được hiểu là sự bóc tách, phân chia, các hiện tượng, sựvật thành các bộ phận hoặc yếu tố cấu thành của chúng, qua đó nhận thức về hìnhdáng, kích thước, tính chất của chúng trong đối tượng nghiên cứu và thấy đượcmối liên hệ tác động qua lại giữa chúng Đồng thời, qua phân tích cũng nhằm thấyđược sự vận động và xu hướng phát triển mang tính quy luật của sự vật hiện tượng

Hoạt động tài chính là một trong những nội dung cơ bản thuộc hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp nhằm giải quyết các mối quan hệ phát sinh trong quátrình kinh doanh được thể hiện dưới hình thái tiền tệ

Phân tích tình hình tài chính là quá trình xem xét kiểm tra, đối chiếu và sosánh số liệu về tài chính hiện thời với quá khứ Qua đó có thể nhận thức và đánhgiá tiềm năng, hiệu quả cũng như những rủi ro trong tương lai và triển vọng củadoanh nghiệp Phân tích tài chính đưa ra một cái nhìn đúng đắn và toàn diện tìnhhình tài chính doanh nghiệp, giúp chủ doanh nghiệp và nhà quản lý đưa ra quyết

Trang 9

định quản trị một cách chính xác trong quản lý kinh tế nói chung trong đó có quản

lý tài chính

5.2 Mục đích của phân tích tài chính doanh nghiệp

Nhận thức và đánh giá một cách đúng đắn toàn diện và thật khách quan tìnhhình tài chính và quản lý tài chính của doanh nghiệp, qua đó thấy được

 Những thuộc tính, kết quả đó đạt được trong công tác các quản lý tài chính

 Những mâu thuẫn tồn tại về những nguyên nhân ảnh hưởng không tốt đếntình hình tài chính

 Đánh giá chính xác, toàn diện và khách quan tình hình tài chính trên cácmặt: Huy động các nguồn vốn phân phối, sử dụng và quản lý vôn trong sảnxuất kinh doanh

 Đánh giá công nợ phải thu, phải trả, khả năng thanh toán nợ, bảo toàn vàtăng trưởng vốn kinh doanh của doanh nghiệp

 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụngtừng bộ phận nói riêng

 Cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời các thông tin kinh tế cần thiết cho chủdoanh nghiệp, nhà đầu tư và những người sử dụng thông tin tài chính khác củadoanh nghiệp

 Cung cấp thông tin về tình hình sử dụng vốn, khả năng khai thác vốn, khảnăng thanh toán, hiệu qủa sản xuất kinh doanh giúp doanh nghiệp khắc phụcnhững thiếu sót tồn tại

 Cung cấp các thông tin về tình hình công nợ, khả năng tiêu thụ sản phẩm,hàng hóa và khả năng sinh lời cũng như ảnh hưởng làm thay đổi những điều

Trang 10

kiện sản xuất kinh doanh giúp cho doanh nghiệp dự đoán chính xác tương laicủa mình.

Tóm lại, mục đích quan trọng nhất của phân tích tình hình tài chính là giúpngười ra quyết định lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu và đánh giá chính xácthực trạng tài chính và tiềm năng của doanh nghiệp

6 Ý nghĩa của phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp

Việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng đốivới việc thu thập thông tin của Ban Giám Đốc, nhà đầu tư, nhà cho vay tín dụng,các nhà quản lý…thông qua đó, mỗi nhóm người này đều có thể có cái nhìn đúngđẵn về bức tranh tài chính của doanh nghiệp cũng như từng khía cạnh trong bứctranh tổng thể đó

6.1 Đối với các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh

nghiệp:

Mối quan tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ.Bên cạnh đó, họ còn có những mục tiêu khác như tạo việc làm, nâng cao chấtlượng sản phẩm, cung cấp nhiều sản phẩm hàng hóa với chi phí hấp dẫn, bảo vệmôi trường….Do đó, các chủ doanh nghiệp và nhà quản trị rất quan tâm đến tìnhhình tài chính của doanh nghiệp để có thể hiểu rõ và đánh giá chính xác khả năngtài chính giúp họ có những quyết định đúng đắn, kịp thời cho hoạt động kinh doanhPhân tích tài chính doanh nghiệp thường xuyên sẽ:

 Tạo thành chu kỳ đánh giá đều đặn về các hoạt động kinh doanh, cân đối tàichính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, trả nợ, rủi ro tài chính

Trang 11

 Định hướng cho các quyết định của Ban Giám Đốc cũng như giám đốc tàichính: quyết định đầu tư, tài trợ, phân chia lợi tức cổ phần.

 Là cơ sở cho dự báo tài chính: kế hoạch đầu tư ngân sách tiền mặt

 Là công cụ để kiểm soát các hoạt động quản lý

6.2 Đối với chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng:

Mối quan tâm chủ yếu của họ là khả năng trả nợ của doanh nghiệp, do đó họchú ý đến số lượng tiền và khả năng chuyển đổi thành tiền nhanh của tài sản, sốlượng vốn chủ sở hữu là bảo hiểm khi kinh doanh gặp rủi ro

+ Việc phân tích tình hình tài chính đối với các khoản vay ngắn hạn thường đượcngười cho vay quan tâm tới khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp.+ Đối với các khoản vay dài hạn thì người cho vay đặc biệt quan tâm tới khảnăng thanh toán và sinh lời mà việc hoàn trả gốc và lãi sẽ phụ thuộc vào khảnăng này, bên cạnh những tài sản mà doanh nghiệp đã thế chấp

6.3 Đối với nhà cung cấp vật tư, dịch vụ

Cũng giống như những nhà cho vay tín dụng hoặc chủ ngân hàng, nhómngười này cũng rất quan tâm đến khả năng thanh toán, đặc biệt trong trường hợpmua chịu hàng hóa, liệu có đủ tin cậy hay không

6.4 Đối với nhà đầu tư

Họ quan tâm đến: sự rủi ro, thời gian luân chuyển vốn, thời gian hoàn vốn,giá trị hiện tại, ròng của vốn đầu tư, sức sinh lời….do vậy họ cần thông tin về điềukiện tài chính, hoạt động và kết quả kinh doanh, tiềm năng tăng trưởng Sự quantâm đến việc điều hành hoạt động và tính hiệu qủa của công tác quản lý đảm bảo

Trang 12

sự an toàn và tính hiệu qủa của công tác quản lý đảm bảo sự an toàn và tính hiệuquả cho đầu tư.

* Ngoài ra, còn rất nhiều nhóm khác nhau quan tâm đến tình hình tài chínhdoanh nghiệp: cơ quan tài chính, thuế, những người lao động, cơ quan quản lý nhànước và công ty kiểm toán

Tóm lại, mỗi nhóm do những mục đích khác nhau sẽ xem xét những thôngtin tài chính trên những mặt những khía cạnh khác nhau Như vậy phân tích tìnhhình tài chính không chỉ quan trọng với nội bộ doanh nghiệp mà còn rất có ý nghĩađối với các đối tượng khác có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến doanh nghiệp

7 Nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp: 7.1 Phân tích khái quát tình hình biến động tài sản và nguồn vốn :

Nhằm mục đích nhận thức đánh giá khái quát tình hình huy động các nguồnvốn và phân phối vốn, sử dụng và quản lý vốn trong quá trình hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp

Để phân tích phải căn cứ vào số liệu tổng hợp về vốn, nguồn vốn trên bảngcân đối kế toán và các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh như: doanh thu bánhàng, lợi nhuận bán hàng, các khoản thu nhập và lợi nhuận khác (nếu có)

Phương pháp phân tích thường được sử dụng là so sánh Các nhà phân tích

có thể tính chỉ tiêu tỷ lệ tăng giảm, số chênh lệch tăng giảm, và các hệ số phản ánhtổng quát tình hình tài chính ở các kỳ

Trang 13

7.1.1 Phân tích khái quát tình hình biến động tài sản của doanh nghiệp

Vốn là biểu hiện bằng tiền của tài sản, đồng thời nó được đưa vào hai bộphận chủ yếu: TSLĐ và ĐTNH, TSCĐ và ĐTDH Vì vậy phân tích tình hình biếnđộng tài sản cũng là phân tích tình hình biến động kinh doanh

Phân tích tình hình biến động tài sản (vốn) cho phép đánh giá tổng quát vềnăng lực và trình dộ sử dụng tài sản Nếu đến cuối kỳ báo cáo, vốn kinh doanh tăng

so với đầu thời kỳ chứng tỏ quy mô và khả năng hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp tăng và ngược lại

Mặt khác, để đánh giá một doanh nghiệp quản lý, sử dụng vốn hợp lý không

ta phải xem xét sự biến dộng của tài sản (vốn) trong mối quan hệ với doanh thu vàlợi nhuận Việc quản lý và sử dụng tài sản có hiệu quả nếu tài sản tăng, doanh thu

và lợi nhuận cũng tăng Ngược lại, nếu tài sản tăng song doanh thu, lợi nhuận giảmchứng tỏ quản lý và sử dụng tài sản chưa tốt, kém hiệu quả

Ngoài ra, ta còn đi phân tích chỉ tiêu hệ số đầu tư vào TSCĐ hay còn gọi là

tỷ suất đầu tư

Tài sản cố định và đầu tư dài hạn

Tổng tài sản

Chỉ tiêu này phụ thuộc vào tính chất ngành nghề kinh doanh của doanhnghiệp Nó phản ánh mức độ trong thiết bị cơ sở vật chất và khả năng hiện đại hóamáy móc phục vụ sản xuất kinh doanh Do vậy cách phản ánh của nó cũng giốngchỉ tiêu tỷ trọng TSCĐ và ĐTDH

Tỷ suất đầu tư =

Ngày đăng: 30/10/2013, 02:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w