1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN LÃI SUẤT CHÍNH SÁCH CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC ĐẾN LÃI SUẤT BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM

123 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu Về mặt lý thuyết, theo các nghiên cứu trước đây, có nhiều kênh truyền dẫn tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế như kênh lãi suất, kênh tín

Trang 2

PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ kinh tế “Mức độ truyền dẫn lãi suất chính sách của Ngân hàng Nhà nước đến lãi suất bán lẻ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam” là công trình nghiên cứu của bản thân dưới sự hướng dẫn của PGS.TS.Trương Thị Hồng Nguồn số liệu được thu thập trung thực, chính xác Tất cả tài liệu tham khảo được trích dẫn đầy đủ và rõ ràng

TP.HCM, ngày 30 tháng 10 năm 2015

Tác giả

Trịnh Xuân Quang

Trang 4

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

Chương 1: GIỚI THIỆU LUẬN VĂN 1

1.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu 1

1.2 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu 1

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.4 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.6 Phương pháp nghiên cứu 3

1.7 Kết cấu của luận văn 3

1.8 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu 3

Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN LÃI SUẤT CHÍNH SÁCH ĐẾN LÃI SUẤT BÁN LẺ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5

2.1 Nền tảng lý thuyết về công cụ lãi suất và cơ chế truyền dẫn lãi suất 5

2.1.1 Lý thuyết về công cụ lãi suất 5

2.1.1.1 Khái quát về công cụ lãi suất 5

2.1.1.2 Nguyên tắc Taylor về điều hành công cụ lãi suất 5

2.1.1.3 Các loại lãi suất chính sách ở Việt Nam 7

2.1.1.4 Vai trò và tác động của công cụ lãi suất trong nền kinh tế 9

2.1.2 Lý thuyết về cơ chế truyền dẫn lãi suất 9

2.1.2.1 Khái niệm truyền dẫn lãi suất 9

2.1.2.2 Cơ chế truyền dẫn lãi suất chính sách đến lãi suất bán lẻ 10

Trang 5

2.1.2.5 Kinh nghiệm về truyền dẫn lãi suất tại một số nước Châu Á 14

2.2 Các nghiên cứu có liên quan về truyền dẫn lãi suất 15

2.2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về cơ chế truyền dẫn lãi suất 15

2.2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm trong nước về cơ chế truyền dẫn lãi suất 17 2.3 Đóng góp mới của đề tài 18

Tóm tắt chương 19

Chương 3: THỰC TRẠNG LÃI SUẤT CHÍNH SÁCH CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VÀ LÃI SUẤT BÁN LẺ TẠI AGRIBANK 20

3.1 Giới thiệu Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) 20

3.2 Thực trạng lãi suất chính sách do NHNN VN công bố giai đoạn 2008 – 2014 24

3.3 Thực trạng lãi suất bán lẻ tại Agribank trong mối tương quan với lãi suất chính sách giai đoạn 2008 – 2014 27

Tóm tắt chương 31

Chương 4: NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN LÃI SUẤT CHÍNH SÁCH CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐẾN LÃI SUẤT BÁN LẺ TẠI AGRIBANK 32

4.1 Mô hình nghiên cứu 32

4.2 Thu thập và xử lý dữ liệu 33

4.2.1 Thu thập dữ liệu 33

4.2.2 Xử lý dữ liệu 34

4.2.2.1 Kiểm định tính dừng và xác định bậc tích hợp 34

4.2.2.2 Kiểm định đồng liên kết 38

4.2.2.3 Chọn độ trễ tối ưu cho các biến trong mô hình 42

4.3 Trình bày kết quả đo lường 43

Trang 6

4.3.1.1 Đối với lãi suất tái cấp vốn 43

4.3.1.2 Đối với lãi suất tái chiết khấu 46

4.3.2 Đo lường mức độ truyền dẫn lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu đến lãi suất tiền gửi và cho vay trong ngắn hạn 48

4.3.2.1 Đối với lãi suất tái cấp vốn 48

4.3.2.2 Đối với lãi suất tái chiết khấu 51

4.4 Thảo luận kết quả nghiên cứu 53

4.4.1 Đối với mức độ truyền dẫn trong dài hạn 53

4.4.2 Đối với mức độ truyền dẫn trong ngắn hạn 55

Tóm tắt chương 56

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 57

5.1 Tóm tắt các kết quả chính của đề tài 57

5.2 Khuyến nghị đối với NHNN VN nhằm nâng cao mức độ truyền dẫn lãi suất chính sách 59

5.3 Khuyến nghị nhằm khắc phục những hạn chế trong điều chỉnh lãi suất bán lẻ tại Agribank 60

Hạn chế của đề tài 62 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

 Tiếng Việt

LSCB: Lãi suất cơ bản

NHNN VN: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

NHTM: Ngân hàng thương mại

NHTW: Ngân hàng Trung ương

 Tiếng Anh

Agribank: Vietnam Bank for Agriculture and Rural Development – Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

ECM: Error-Correction model – Mô hình hiệu chỉnh sai số

EU: European Union – Liên minh châu Âu

FED: Federal Reserve – Cục Dự trữ Liên bang Mỹ

GDP: Gross domestic product – Tổng sản phẩm quốc nội

OECD: Organization for Economic Co-operation and Development – Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

TR: The Taylor Rule – Nguyên tắc Taylor

Trang 8

SỐ HIỆU TÊN BẢNG TRANG

Bảng 2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về cơ chế truyền dẫn lãi suất 15 Bảng 2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm trong nước về cơ chế truyền dẫn lãi suất 17 Bảng 4.1 Kết quả kiểm định tính dừng bằng phương pháp ADF 37 Bảng 4.2 Tổng hợp kết quả kiểm định đồng liên kết Johansen 40 Bảng 4.3 Tổng hợp kết quả lựa chọn độ trễ tối ưu 43 Bảng 4.4 Kết quả truyền dẫn lãi suất tái cấp vốn trong dài hạn 45 Bảng 4.5 Kết quả truyền dẫn lãi suất tái chiết khấu trong dài hạn 47 Bảng 4.6 Kết quả truyền dẫn lãi suất tái cấp vốn trong ngắn hạn 49 Bảng 4.7 Kết quả truyền dẫn lãi suất tái chiết khấu trong ngắn hạn 52

Trang 9

SỐ HIỆU TÊN HÌNH TRANG

Hình 3.1 Diễn biến lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu giai đoạn

Trang 10

Chương 1: GIỚI THIỆU LUẬN VĂN

1.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu

Ngày nay, chính sách tài khóa không còn hoàn toàn giữ vai trò là công cụ ổn định nền kinh tế bởi nhược điểm là tác động của chính sách có độ trễ lớn và vấn đề về thâm hụt ngân sách Thay vào đó, chính sách tiền tệ đã trở thành một công cụ quan trọng để điều chỉnh và thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững với mức lạm phát thấp Để thực thi chính sách tiền tệ đạt hiệu quả như mong muốn, các nhà hoạch định chính sách cần phải có sự hiểu biết về cơ chế tác động của chính sách tiền tệ đến toàn bộ nền kinh tế thông qua các kênh truyền dẫn khác nhau, mà trong đó kênh truyền dẫn lãi suất đóng một vai trò hết sức quan trọng

1.2 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu

Về mặt lý thuyết, theo các nghiên cứu trước đây, có nhiều kênh truyền dẫn tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế như kênh lãi suất, kênh tín dụng, kênh

tỷ giá, kênh tài sản… Trong đó, lãi suất là một công cụ đặc biệt quan trọng trong việc thực thi chính sách tiền tệ vì lãi suất vừa là công cụ điều tiết vừa được xem như yếu tố phát tín hiệu định hướng thị trường Trong thời gian gần đây, đã có nhiều tài liệu nghiên cứu thực nghiệm về truyền dẫn chính sách tiền tệ thông qua kênh lãi suất ở nhiều nước phát triển trên thế giới Tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu về

cơ chế truyền dẫn tác động của chính sách tiền tệ nói chung, tuy nhiên riêng về sự truyền dẫn thông qua kênh lãi suất lại có khá ít nghiên cứu thực nghiệm và việc tiếp cận phân tích định lượng còn nhiều hạn chế

Về mặt thực tiễn, trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều sự thay đổi to lớn Tính từ năm 2008 đến nay, do chịu tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, nền kinh tế Việt Nam nói chung đã trải qua rất nhiều khó khăn, trong đó ngân hàng là một trong những ngành chịu ảnh hưởng vô cùng nặng

nề như gặp vấn đề về tình trạng thanh khoản, tỷ lệ nợ xấu có chiều hướng tăng cao, một số ngân hàng đã phải sát nhập với nhau do không đủ khả năng hoạt động hay

Trang 11

cạnh tranh với những ngân hàng khác Đối mặt với những khó khăn đó, ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN VN) đã thực hiện việc điều hành chính sách lãi suất linh hoạt nhằm mục tiêu kiềm chế lạm phát, hỗ trợ sản xuất nhằm phục hồi tăng trưởng cho nền kinh tế nói chung, từ đó giúp khắc phục những vấn đề về thanh khoản hay nợ xấu tăng cao mà ngành ngân hàng đang gặp phải

Có thể thấy với tình hình kinh tế Việt Nam như hiện nay, việc thực thi chính sách tiền tệ hợp lý, đặc biệt là sự truyền dẫn thông qua kênh lãi suất sẽ có những tác động tích cực đến sự tăng trưởng và ổn định của nền kinh tế Đó chính là lý do tác

giả muốn thực hiện luận văn thực nghiệm về “Mức độ truyền dẫn lãi suất chính

sách của Ngân hàng Nhà nước đến lãi suất bán lẻ tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank)”

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu sâu về cơ chế truyền dẫn từ lãi suất chính sách đến lãi suất bán lẻ tại các ngân hàng thương mại (NHTM)

- Đo lường mức độ và phân tích kết quả truyền dẫn từ lãi suất chính sách đến lãi suất bán lẻ trong ngắn hạn và trung dài hạn tại Agribank

- Từ kết quả nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao mức độ truyền dẫn lãi suất chính sách của NHNN VN cũng như một số khuyến nghị nhằm khắc phục những hạn chế trong điều chỉnh lãi suất bán lẻ tại Agribank

1.4 Câu hỏi nghiên cứu

- Cơ chế truyền dẫn từ lãi suất chính sách đến lãi suất bán lẻ ở các NHTM như thế nào?

- Mức độ truyền dẫn từ lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu đến lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay trong ngắn hạn và dài hạn tại Agribank giai đoạn 2008 –

2014 như thế nào?

- NHNN VN cần làm những gì để nâng cao mức độ truyền dẫn lãi suất chính sách? Agribank nên thay đổi như thế nào để khắc phục những hạn chế trong điều chỉnh lãi suất bán lẻ của mình?

Trang 12

1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu

Sự truyền dẫn từ lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu của NHNN VN đến lãi suất tiền gửi các kì hạn cũng như lãi suất cho vay ngắn hạn và trung dài hạn tại Agribank

1.6 Phương pháp nghiên cứu

Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp kiểm định nghiệm đơn vị, kiểm định đồng liên kết Johansen, chạy mô hình ECM (mô hình hiệu chỉnh sai số) để đo lường mức

độ truyền dẫn trong ngắn hạn, chạy mô hình hồi quy OLS để đo lường mức độ truyền dẫn trong dài hạn

1.7 Kết cấu của luận văn

Luận văn được kết cấu như sau:

- Chương 1: Giới thiệu luận văn

- Chương 2: Cơ sở lý thuyết về cơ chế truyền dẫn lãi suất chính sách đến lãi suất bán lẻ tại các ngân hàng thương mại

- Chương 3: Thực trạng lãi suất chính sách của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

và lãi suất bán lẻ tại Agribank

- Chương 4: Nghiên cứu mức độ truyền dẫn lãi suất chính sách của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đến lãi suất bán lẻ tại Agribank

- Chương 5: Kết luận và khuyến nghị

1.8 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu

Đề tài được thực hiện nhằm nghiên cứu sâu về cơ chế truyền dẫn chính sách tiền

tệ thông qua kênh lãi suất ở Việt Nam, cụ thể là lãi suất chính sách thay đổi thì tác

Trang 13

động như thế nào đến lãi suất bán lẻ tại Agribank Từ đó có thể đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao mức độ truyền dẫn lãi suất chính sách của NHNN VN cũng như một số khuyến nghị nhằm khắc phục những hạn chế trong điều chỉnh lãi suất bán lẻ tại Agribank

Trang 14

Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN LÃI SUẤT CHÍNH SÁCH ĐẾN LÃI SUẤT BÁN LẺ

TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.1 Nền tảng lý thuyết về công cụ lãi suất và cơ chế truyền dẫn lãi suất

2.1.1 Lý thuyết về công cụ lãi suất

2.1.1.1 Khái quát về công cụ lãi suất

Lãi suất được Ngân hàng Trung ương (NHTW) sử dụng như một công cụ

để tác động lên lượng tiền tệ trong lưu thông từ đó có thể thực thi được các chính sách tiền tệ, đó không phải là lãi suất kinh doanh mà là lãi suất chính sách NHTW

có thể ấn định các mức lãi suất chính sách bao gồm: lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn…tương ứng với từng loại hình tổ chức tín dụng, từng loại tiền gửi Căn cứ vào quy định của NHTW về lãi suất, các tổ chức tín dụng sẽ hoạch định lãi suất kinh doanh

2.1.1.2 Nguyên tắc Taylor về điều hành công cụ lãi suất

Năm 1993, nhà nghiên cứu JohnB Taylor, Giáo sư Đại học Stanford (Mỹ)

đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm đối với chính sách lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Federal Reserve - FED) trong vòng một thập niên trong giai đoạn

1980 – 1990 và phát hiện ra rằng biến động lãi suất điều hành của FED tuân thủ theo một nguyên tắc nhất định trong mối tương quan với lạm phát và tăng trưởng kinh tế Từ quan sát trên, Taylor đã mở rộng nghiên cứu và khái quát hóa thành một nguyên tắc điều hành lãi suất của NHTW gọi là Nguyên tắc Taylor (the Taylor Rule

- TR) Theo TR, lãi suất điều hành cần điều chỉnh phù hợp với thay đổi của chênh lệch sản lượng (output gap - chênh lệch giữa GDP tiềm năng và GDP thực tế trong một thời kỳ) và chênh lệch lạm phát (chênh lệch giữa mức lạm phát thực tế và mức lạm phát mục tiêu) trong nền kinh tế TR được biểu hiện bằng hàm phản ứng chính sách sau:

( ) ( ̅ )

Trang 15

Trong đó:

: là lãi suất điều hành của NHTW theo TR;

: là tỷ lệ lạm phát tính theo chỉ số GDP deflator;

: là tỷ lệ lạm phát mục tiêu;

: là lãi suất thực cân bằng giả định;

aπvà ay: là các tham số phản ứng chính sách hay trọng số đối với tăng trưởng và lạm phát;

yt : là tăng trưởng GDP;

̅ : là tăng trưởng GDP tiềm năng

Theo quy tắc Taylor, NHTW nên thay đổi lãi suất danh nghĩa để đáp ứng các thay đổi trong lạm phát, GDP hay các chỉ số kinh tế khác nhằm giúp NHTW sử dụng công cụ lãi suất một cách có hiệu quả để thực hiện những mục tiêu của chính sách tiền tệ Cụ thể là, nếu lạm phát tăng thêm 1% thì đòi hỏi NHTW phải tăng lãi suất danh nghĩa hơn 1% (bằng 1 + , trong đó > 0) Điều này có nghĩa là khi lạm phát tăng thì lãi suất thực phải tăng lên để làm giảm bớt sự tăng trưởng nóng của nền kinh tế có tỷ lệ lạm phát cao Để làm được điều này thì lãi suất phải tăng cao hơn lạm phát và diễn biến của lãi suất sẽ ngược lại trong trường hợp nền kinh tế suy thoái, giảm phát

Ưu điểm chính của TR là tính đơn giản, dễ hiểu, dễ tính toán, do đó, giúp tăng cường tính minh bạch và khả năng giải trình cho NHTW TR cho phép điều chỉnh linh hoạt trọng số của sản lượng và lạm phát phù hợp với mục tiêu trọng tâm của NHTW trong việc quyết định lãi suất điều hành Điều này có ý nghĩa với các NHTW sử dụng cơ chế điều hành chính sách tiền tệ theo mục tiêu lạm phát vì vẫn

có thể dễ dàng điều chỉnh trọng số của mục tiêu lạm phát so với mục tiêu tăng trưởng trong từng thời kỳ

Hạn chế của TR là không tính tới và đưa vào mô hình các diễn biến bất thường và các điều kiện kinh tế vĩ mô khác ngoài tăng trưởng, lạm phát có thể tác động đến lãi suất, do đó tính chỉ báo trong ngắn hạn

Trang 16

2.1.1.3 Các loại lãi suất chính sách ở Việt Nam

 Lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản (LSCB) về nguyên tắc là một loại lãi suất được NHTW của một quốc gia xác định nhằm phản ánh thực tế lãi suất kinh doanh (huy động, cho vay) trên thị trường ngân hàng Trên cơ sở đó, điều tiết lãi suất này bằng các công cụ của NHTW nhằm tác động vào cung, cầu tiền tệ thị trường

Khái niệm LSCB của Việt Nam được định nghĩa theo khoản 12, điều 9 Luật NHNN (1997) như sau: “LSCB là lãi suất do NHNN công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh” LSCB là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của NHNN VN trong ngắn hạn Theo Luật NHNN, LSCB chỉ áp dụng cho Đồng Việt Nam, do NHNN VN công bố, làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh LSCB được xác định dựa trên cơ sở lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở của NHNN VN, lãi suất huy động đầu vào của tổ chức tín dụng và xu hướng biến động cung – cầu vốn

Vào đầu năm 2008, khi xuất hiện dấu hiệu của cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới mà khởi nguồn từ cuộc khủng hoảng tín dụng ở Mỹ Tại Việt Nam, nguy cơ lạm phát đang gia tăng mạnh Khi đó, NHNN VN đã ban hành Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN theo đó lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng không được vượt quá 150% LSCB do NHNN VN công bố Điều này cũng được quy định trong điều 476 Bộ luật Dân sự Cơ chế lãi suất này đã có tác động tích cực bình ổn thị trường trong thời kỳ khủng hoảng và các cú sốc bởi những thay đổi chính sách để chống lạm phát và suy giảm kinh tế

Tuy nhiên, từ năm 2010 đến nay, NHNN VN không công bố LSCB mới, vẫn giữ ở mức 9% trong khi thị trường thay đổi rất nhanh chóng và phức tạp Chính

vì thế, LSCB hầu như không phản ánh được quan hệ cung – cầu trên thị trường và trở thành một rào cản khống chế bản chất thực của lãi suất kinh doanh theo thị trường, nên gần như chỉ là một biện pháp hành chính

Trang 17

 Lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu

- Lãi suất tái cấp vốn là lãi suất NHTW áp dụng cho các nghiệp vụ tái

cấp vốn cho các NHTM Ở Việt Nam, NHNN VN tái cấp vốn cho các NHTM qua các hình thức: cho vay lại theo hồ sơ tín dụng, chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác, cho vay lại dưới hình thức cầm cố các giấy tờ có giá ngắn hạn Chúng là những khoản vay ngắn hạn để giải quyết tình trạng mất thanh khoản tạm thời tại các NHTM hoặc để thực hiện những lý do điều hành đặc biệt khác trong hoạt động ngân hàng Các khoản vay ngắn hạn này thường được đảm bảo bằng các khoản vay hiện hữu tại NHTM mà NHTM được nắm giữ hợp pháp Ngoài ra, cho vay tái cấp vốn cũng có thể tồn tại dưới hình thức NHTM bán lại các khoản nợ vay cho NHTW và nhận lại lượng tiền mặt tương ứng

- Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất được áp dụng cho các nghiệp vụ chiết

khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác như tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán của NHTM Lãi suất này do NHTW ấn định căn cứ vào mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kì và chiều hướng biến động lãi suất trên thị trường tiền tệ Đối với NHTM, lãi suất tái chiết khấu là lãi suất gốc để từ đó ấn định lãi suất chiết khấu và lãi suất cho vay khác

Như vậy, sự khác biệt giữa lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn là các tài sản dùng để thế chấp cho việc vay mượn tiền khác nhau Lãi suất tái chiết khấu áp dụng đối với các giấy tờ có độ rủi ro thấp như trái phiếu chính phủ, thương phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn Còn lãi suất tái cấp vốn là lãi suất áp dụng cho các loại tài sản thế chấp có độ rủi ro cao hơn, trong đó có các khoản cho vay của các NHTM Đây cũng là lí do giải thích cho việc lãi suất tái chiết khấu thường thấp hơn lãi suất tái cấp vốn Hiện tại, lãi suất cơ bản hầu như không có tác dụng trong điều hành chính sách tiền tệ Thực tế, chỉ có lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn mới thực sự là công cụ lãi suất để điều hành thị trường tiền tệ của NHTW

Trang 18

2.1.1.4 Vai trò và tác động của công cụ lãi suất trong nền kinh tế

Thứ nhất, NHTW có thể sử dụng công cụ lãi suất để thực hiện điều chỉnh

lượng cung ứng tiền, từ đó tác động đến sự tăng giảm sản lượng để thực hiện điều tiết nền kinh tế (ổn định lạm phát, công ăn việc làm và phát triển sản xuất)

Thứ hai, lãi suất tác động tới tổng cung và tổng cầu thông qua tác động tới

hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đến tiêu dùng và tiết kiệm của dân cư Khi lãi suất tăng cao, người dân sẽ hạn chế tiêu dùng, gửi tiết kiệm nhiều hơn và doanh nghiệp sẽ thận trọng trong các hoạt động đầu tư vì vậy tổng cầu và tổng cung đều có

xu hướng giảm Ngược lại, lãi suất hạ thấp khuyến khích tiêu dùng, các khoản gửi tiết kiệm sẽ hạn chế hơn trong khi đó doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh Vì vậy, tổng cung và tổng cầu đều có xu hướng tăng cao

Thứ ba, lãi suất được sử dụng làm công cụ điều hòa cung cầu ngoại tệ, góp

phần cân bằng cán cân thanh toán quốc tế Nâng cao lãi suất sẽ hút ngoại tệ vào trong nước làm tăng cung ngoại tệ Hạ thấp lãi suất tín dụng sẽ đẩy ngoại tệ ra ngoài nước, làm giảm cung và tăng cầu ngoại tệ

Thứ tư, trong chừng mực nhất định, người ta có thể sử dụng lãi suất để thực

hiện điều chỉnh cơ cấu ngành, cơ cấu khu vực nhằm đảm bảo sự thích ứng của nền kinh tế với nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế Nhà nước có thể thực hiện cho vay với lãi suất ưu đãi cho những doanh nghiệp thuộc những ngành nghề, khu vực kinh tế được khuyến khích nhờ vậy có thể kích thích sự phát triển của những ngành nghề và những khu vực này nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Thứ năm, lãi suất là công cụ thực hiện các hoạt động của các trung gian tài

chính trong điều kiện cạnh tranh lành mạnh để đảm bảo tính tự chủ tài chính của các

tổ chức này, tạo ra nguồn lực tài chính để các tổ chức này tồn tại và phát triển

2.1.2 Lý thuyết về cơ chế truyền dẫn lãi suất

2.1.2.1 Khái niệm truyền dẫn lãi suất

Theo Abdul Qayyum, Khan và Khawaja (2005), truyền dẫn lãi suất là quá trình mà trong đó lãi suất bán lẻ (bao gồm lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi) của các NHTM điều chỉnh trước sự thay đổi của lãi suất chính sách hay lãi suất thị

Trang 19

trường tiền tệ, quá trình này gồm hai yếu tố đặc trưng là mức độ và tốc độ điều chỉnh của lãi suất bán lẻ

Trong nghiên cứu của Kuan-Min Wang và Yuan-Ming Lee (2009), truyền dẫn lãi suất được định nghĩa là quá trình mà khi NHTW điều chỉnh chính sách tiền

tệ thông qua việc tác động đến lãi suất chính sách, lúc này lãi suất thị trường tiền tệ

sẽ bị ảnh hưởng Khi đó, các NHTM có thể chuyển chi phí gia tăng do thay đổi lãi suất thị trường tiền tệ sang lãi suất bán lẻ

Qua hai nghiên cứu trên có thể thấy quá trình truyền dẫn lãi suất được định nghĩa tương tự nhau và nhận được sự đồng thuận nhất trí cao của các nhà nghiên

cứu trên thế giới

2.1.2.2 Cơ chế truyền dẫn lãi suất chính sách đến lãi suất bán lẻ

Cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền tệ là tác động của những thay đổi trong các công cụ của chính sách tiền tệ của NHTW đến thay đổi trong mức giá và sản lượng của một quốc gia Hiện nay, các nhà kinh tế đã thống nhất phân chia các kênh truyền dẫn của chính sách tiền tệ gồm 5 kênh: kênh lãi suất, kênh giá tài sản, kênh tín dụng, kênh kỳ vọng và kênh tỷ giá hối đoái

Trong luận văn này, tác giả tập trung vào kênh truyền dẫn lãi suất Kênh lãi suất là kênh cơ bản được đề cập tới trong nhiều lý thuyết kinh tế và là cơ chế truyền dẫn tiền tệ quan trọng trong mô hình IS – LM được Keynes mô tả như sau:

Khi khối lượng tiền M tăng thể hiện việc nới lỏng chính sách tiền tệ, mức lãi suất thực i giảm xuống làm giảm chi phí vay vốn do đó làm cho nhu cầu đầu tư I tăng lên dẫn đến tăng tổng cầu và tăng sản lượng Y

Chính vì vậy, khi muốn thực hiện chính sách thắt chặt hay nới lỏng tiền tệ, NHTW sẽ tăng hoặc giảm lãi suất chính sách gây ảnh hưởng đến các mức lãi suất khác trong nền kinh tế Lãi suất chính sách là một công cụ quan trọng được NHTW

sử dụng để định hướng các loại lãi suất trong hoạt động huy động vốn và cho vay của các NHTM Thay đổi trong lãi suất chính sách trước hết sẽ dẫn đến sự thay đổi lãi suất trên thị trường liên ngân hàng Những thay đổi của lãi suất trên thị trường

Trang 20

liên ngân hàng sau đó sẽ gây ra những thay đổi của lãi suất bán lẻ tại các NHTM Lãi suất bán lẻ bao gồm lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay các kì hạn khác nhau của NHTM

Trên cơ sở đó, các NHTM sẽ xây dựng cho mình một hệ thống lãi suất riêng, phù hợp với điều kiện huy động vốn và cho vay của mỗi ngân hàng với những mức lãi suất bán lẻ khác nhau tùy thuộc vào thời hạn, mức độ rủi ro của các khoản tiền gửi và cho vay hoặc mức độ tín nhiệm của mỗi ngân hàng đối với các khách hàng của mình

Hiệu ứng truyền dẫn lãi suất là một vấn đề được đặc biệt quan tâm trong hoạch định chính sách tiền tệ của NHTW, bởi đó là công cụ quan trọng để thực thi chính sách tiền tệ một cách hiệu quả Do đó, tốc độ và mức độ truyền dẫn từ lãi suất chính sách và lãi suất thị trường tiền tệ vào lãi suất bán lẻ của NHTM đặc trưng cho mức độ hiệu quả của chính sách tiền tệ và qua đó ảnh hưởng đến hệ thống giá cả cũng như sự ổn định của hệ thống tài chính

2.1.2.3 Độ trễ trong truyền dẫn lãi suất

Có nhiều bằng chứng thực nghiệm cho thấy tại hầu hết các quốc gia, sự truyền dẫn lãi suất có thể không hoàn toàn do nhiều yếu tố gây nên, trong đó độ trễ của quá trình truyền dẫn lãi suất được quan tâm và nghiên cứu khá nhiều Độ trễ trong truyền dẫn lãi suất có thể được hiểu là sự điều chỉnh trong lãi suất chính sách của NHTW nhằm đạt mục tiêu của chính sách tiền tệ phải mất một khoảng thời gian mới có thể tác động làm thay đổi lãi suất bán lẻ và sự tác động này có thể là không hoàn toàn Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để tìm hiểu về nguyên nhân gây ra

độ trễ trong truyền dẫn lãi suất

Nhiều nghiên cứu tin rằng nguyên nhân việc điều chỉnh lãi suất bán lẻ có độ trễ là bởi vì quá trình điều chỉnh lãi suất bán lẻ là bất cân xứng Theo Hannan và Berger (1991), Neumark và Sharpe (1992), có hai nguồn gốc cho sự bất cân xứng này xuất phát từ giả thuyết thị trường cạnh tranh không hoàn hảo: thông đồng thỏa thuận lãi suất giữa các ngân hàng và phản ứng bất lợi của khách hàng Sự thông đồng thỏa thuận lãi suất giữa các ngân hàng ngụ ý độ trễ trong việc nâng lãi suất

Trang 21

tiền gửi và giảm lãi suất cho vay để có lợi cho các ngân hàng Ngược lại, phản ứng bất lợi của khách hàng giải thích độ trễ trong việc giảm lãi suất tiền gửi và tăng lãi suất cho vay

Lowe và Rohling (1992) cho rằng các yếu tố gây ra sự tồn tại của độ trễ là chi phí đại lý, chi phí điều chỉnh, chi phí biến đổi và chia sẻ rủi ro Đa số các nghiên cứu về độ trễ của lãi suất đều tập trung vào các quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu (EU)

Dutta và cộng sự (1999) đã đưa ra lập luận về chi phí thực đơn gây nên độ trễ trong truyền dẫn lãi suất Cụ thể là các NHTM sẽ không muốn thay đổi lãi suất nếu họ nhận thấy những thay đổi trong lãi suất chính sách chỉ là tạm thời Các chi phí điều chỉnh đi kèm với sự thay đổi lãi suất có thể gây ra nhiều tốn kém cho các NHTM Do đó, trước những thay đổi nhỏ và tạm thời trong lãi suất chính sách, NHTM có thể sẽ cân nhắc một cách thận trọng trong việc thay đổi lãi suất bán lẻ

Theo giả thuyết chi phí chuyển đổi của Heffernan (1997), sẽ có chi phí phát sinh khi khách hàng chuyển đổi sản phẩm tài chính, các khoản đầu tư từ ngân hàng này qua ngân hàng khác Khách hàng sẽ tốn nhiều thời gian và hao hụt khoản tiền đáng kể để thực hiện điều này Nếu NHTM khai thác sức ì của khách hàng từ nguyên nhân chi phí chuyển đổi cao thì họ sẽ tăng lãi suất tiền gửi và giảm lãi suất cho vay chậm hơn Điều này dẫn đến sự bất cân xứng trong truyền dẫn lãi suất

Theo giả thuyết thông tin bất cân xứng của Stiglitz và Weiss (1981), các NHTM phải đối mặt với hai lựa chọn trái ngược nhau và các vấn đề rủi ro đạo đức khi họ được yêu cầu nâng cao lãi suất cho vay để tăng lãi suất thị trường Sự hiện diện của chi phí cơ hội làm cho nhiều ngân hàng muốn tăng lãi suất cho vay đáng kể trong một thời gian ngắn Lãi suất cho vay cao hơn làm cho việc thanh toán các khoản nợ trở nên khó khăn hơn cho khách hàng vay dẫn đến các khoản vay quá hạn

và trở thành nợ xấu Nếu lãi suất của các ngân hàng đang ở mức dưới qui định và lãi suất thị trường dự kiến sẽ được duy trì ở mức cao, các ngân hàng sẽ tăng lãi suất cho vay Ngược lại, các ngân hàng sẽ hạn chế số lượng tín dụng cho khách hàng vay

Trang 22

khi có sự gia tăng lên áp lực cho vay Kết quả lãi suất cho vay dự kiến sẽ thay đổi

có độ trễ theo mô hình thông tin bất cân xứng

Theo De Bondt (2002) sự kết hợp giữa các nhân tố trên có thể đóng vai trò khác nhau trong sự điều chỉnh lãi suất Trong khi chi phí chuyển đổi và chi phí thực đơn là yếu tố chính ảnh hưởng đến tốc độ điều chỉnh của lãi suất trong ngắn hạn thì thị trường cạnh tranh không hoàn hảo và thông tin bất cân xứng là yếu tố tác động đến tốc độ điều chỉnh của lãi suất trong dài hạn

2.1.2.4 Các yếu tố tác động đến truyền dẫn lãi suất

- Tính minh bạch của chính sách tiền tệ: Volker Hahn (2002) đã đề xuất

phân loại minh bạch thành ba loại: minh bạch về mục tiêu của chính sách, minh bạch về thông tin trong việc đánh giá triển vọng của hoạt động kinh tế và lạm phát

và minh bạch trong hoạt động thực thi chính sách tiền tệ Nghiên cứu của Eijffinger, Hoeberichts và Schaling (2000) cho thấy, trong trường hợp NHTW có sự không chắc chắn về lạm phát và sản lượng, minh bạch sẽ có lợi vì nó giúp sửa chữa kì vọng lạm phát, làm giảm lạm phát trung bình và phương sai lạm phát Gia tăng tính minh bạch trong chính sách tiền tệ làm giảm biến động đối với lãi suất chính thức

và làm ngành ngân hàng trở nên cạnh tranh hơn Ngoài ra điều này còn giúp tăng sự hiểu biết và ủng hộ từ người dân và các bên tham gia thị trường tài chính về chính sách tiền tệ mà NHTW đang hướng tới, từ đó làm tăng mức độ truyền dẫn của lãi suất chính sách đến lãi suất bán lẻ đồng thời góp phần gia tăng hiệu quả của chính sách tiền tệ

- Tính cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng: Hệ thống ngân hàng giữ vai

trò cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế, là một mắt xích không thể thiếu được trong quá trình tái sản xuất xã hội Harald Sander và Stefanie Kleimeier (2004) cho rằng mức độ tập trung kinh tế trên thị trường cao hơn và cạnh tranh hơn sẽ dẫn đến sự truyền dẫn nhanh hơn và mạnh hơn Theo Mojon (2000), cạnh tranh có tác động đáng kể đến sự truyền dẫn của lãi suất tiền gửi Lãi suất ngân hàng trong thị trường cạnh tranh hơn, phản ứng mạnh và nhanh hơn với sự thay đổi lãi suất thị trường Do

Trang 23

vậy tăng tính cạnh tranh để sự truyền dẫn của lãi suất chính sách đến lãi suất bán lẻ hiệu quả hơn

- Cấu trúc tài chính của ngân hàng: Ở đây chỉ xem xét sự phụ thuộc vào

nước ngoài của hệ thống tài chính quốc gia hay cụ thể là tỷ lệ nợ nước ngoài Nếu một nước có tỷ lệ nợ nước ngoài quá cao sẽ dẫn đến sự phụ thuộc lớn vào lãi suất vay của nước ngoài dẫn đến hiện tượng có thể lãi suất chính sách trong nước thay đổi nhưng lãi suất bán lẻ vẫn không đổi Ngoài ra, cấu trúc tài chính cũng có thể xem xét là nền kinh tế nước đó dựa vào ngân hàng hay dựa vào thị trường Lúc này, nền kinh tế phụ thuộc vào ngân hàng sẽ có tốc độ truyền dẫn thấp hơn, chẳng hạn như các nước thuộc khu vực EU là nước phụ thuộc vào ngân hàng còn Mỹ phụ thuộc vào thị trường nên sự truyền dẫn lãi suất của các nước trong EU sẽ thấp hơn

so với Mỹ

2.1.2.5 Kinh nghiệm về truyền dẫn lãi suất tại một số nước Châu Á

Theo Pih Nee Tai, Siok Kun Sek và Wai Mun Har (2012), nhìn chung sự truyền dẫn lãi suất ở các nước Châu Á không có sự khác biệt nhiều Trong hầu hết trường hợp, sự truyền dẫn từ lãi suất chính sách đến lãi suất bán lẻ có mức độ thấp

và khá chậm, ngoại trừ Malaysia, Hồng Kông và Singapore Mức độ truyền dẫn từ lãi suất chính sách đến lãi suất cho vay khá thấp so với lãi suất tiền gửi Các nước như Philippines, Hàn Quốc, Thái Lan đã thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát sau khủng hoảng chủ yếu thông qua công cụ lãi suất chính sách Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách tiền tệ qua kênh lãi suất này không thật sự có hiệu quả Cụ thể, sự truyền dẫn lãi suất đều ở mức độ thấp sau khủng hoảng ở các nền kinh tế này

Mức độ và tốc độ truyền dẫn lãi suất cao ở các nước Malaysia, Hồng Kông

và Singapore cho thấy sự thay đổi trong lãi suất chính sách có thể ngay lập tức truyền dẫn đến lãi suất bán lẻ Vì vậy, NHTW các nước này có thể thực hiện chính sách tiền tệ một cách có hiệu quả thông qua kênh truyền dẫn lãi suất Ngoài ra, mức

độ truyền dẫn lãi suất cao còn ngụ ý mức độ hội nhập tài chính sâu rộng hơn thông qua thị trường cạnh tranh hoàn hảo hơn

Trang 24

Những yếu tố quyết định mức độ truyền dẫn cao ở Malaysia bao gồm: mức

độ hiệu quả của hệ thống ngân hàng, sự tăng lên của các nguồn tài chính thay thế cho thương mại và các hộ gia đình, sự nổi lên của hệ thống tài chính Hồi giáo, sự tăng lên của việc mở cửa tài chính và sự ảnh hưởng của việc tài trợ cho các doanh nghiệp

Từ quan điểm của chính sách tiền tệ, kết quả nghiên cứu cho thấy khó có thể tìm ra bằng chứng về hiệu quả của chính sách tiền tệ thông qua kênh lãi suất ở các nước Châu Á nói chung bởi vì sự truyền dẫn từ lãi suất chính sách đến lãi suất tiền gửi và cho vay tại các nước đều ở mức thấp và thậm chí còn chậm lại sau khủng hoảng ở một số nước Do đó, tại các nền kinh tế này, lãi suất chính sách ít có sự ảnh hưởng tới lãi suất thị trường dẫn đến tác động đến lãi suất tiền gửi và cho vay như NHTW mong muốn Có thể thấy thị trường tài chính là không hoàn hảo và thiếu tính hội nhập

2.2 Các nghiên cứu có liên quan về truyền dẫn lãi suất

2.2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về cơ chế truyền dẫn lãi suất

Bảng 2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về cơ chế truyền dẫn lãi suất

Tác giả Phương pháp và mục tiêu nghiên cứu Kết quả nghiên cứu

ở New Zealand trong suốt thời kỳ 1994 – 2004 Đồng thời, nghiên cứu này cũng xem xét ảnh hưởng của tính minh bạch chính sách và cấu trúc tài chính đến cơ chế truyền dẫn

- Không có sự truyền dẫn dài hạn hoàn toàn cho tất cả các loại lãi suất bán

lẻ tại các NHTM

- Mức lãi suất đáp ứng lạm phát mục tiêu (OCR) đã làm gia tăng mức độ truyền dẫn lên lãi suất tiền gửi, lãi suất vay thế chấp có điều chỉnh ngoại trừ lãi suất vay thế chấp cố định

- Sự gia tăng tính minh bạch của chính sách tiền tệ đã làm giảm sự biến động tài chính và tăng hiệu quả điều hành của chính sách

Trang 25

M để xem xét cơ chế truyền dẫn lãi suất thị trường tiền tệ đến lãi suất bán lẻ của

Mỹ và tám quốc gia châu Á

- Mức độ truyền dẫn hoàn toàn chỉ có

ở lãi suất tiền gửi Mỹ

- Mối quan hệ đồng liên kết bất đối xứng tồn tại trong lãi suất tiền gửi của năm quốc gia và trong lãi suất cho vay của ba quốc gia Các mối quan hệ đồng liên kết đối xứng tồn tại ở hai quốc gia

- Ảnh hưởng của biến động lãi suất thị trường đến lãi suất bán lẻ khác nhau ở từng quốc gia

lẻ trong dài hạn và ngắn hạn, đồng thời kiểm tra tính đối xứng và bất đối xứng trong truyền dẫn lãi suất thông qua việc

sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số ECM và mô hình ECM-EGARCH (1,1)-M Điều này cho phép kiểm tra tác động của sự biến động lãi suất cùng với hiệu ứng đòn bẩy

- Sự truyền dẫn lãi suất không hoàn toàn được tìm thấy trong ngắn hạn

- Sự điều chỉnh đối xứng được tìm thấy ở lãi suất tiền gửi, trong khi sự điều chỉnh bất đối xứng được tìm thấy trong các lãi suất cho vay Tất cả những

sự điều chỉnh này hỗ trợ cho các thỏa thuận giá cấu kết

- Ảnh hưởng biến động tiêu cực và hiệu ứng đòn bẩy có ảnh hưởng chỉ trong quá trình điều chỉnh đối xứng của lãi suất tiền gửi ở Nam Phi

mô hình ECM Mục tiêu của nghiên cứu là ước lượng mức độ truyền dẫn lãi suất trong ngắn hạn và dài hạn, đồng

- Mức độ truyền dẫn lãi suất tiền gửi

và cho vay đều không hoàn toàn

- Mức độ truyền dẫn và tốc độ điều chỉnh là khác nhau giữa các loại lãi suất bán lẻ

- Sự điều chỉnh của lãi suất là bất đối

Trang 26

thời phân tích tính bất đối xứng trong hành vi của các tổ chức tài chính theo chế độ tiền tệ khác nhau

xứng, với những điều chỉnh đáng kể hơn diễn ra trong giai đoạn nới lỏng tiền

- Mức độ truyền dẫn từ lãi suất bán buôn đến lãi suất bán lẻ là không hoàn toàn và không đồng nhất giữa các ngân hàng Điều này cho thấy sự hạn chế của chính sách tiền tệ

- Lãi suất tiền gửi và cho vay ở các ngân hàng có sự điều chỉnh giảm xuống nhanh hơn tăng lên cho thấy chính sách nới lỏng tiền tệ ở Colombia hiệu quả

hơn chính sách thắt chặt tiền tệ

2.2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm trong nước về cơ chế truyền dẫn lãi suất

Bảng 2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm trong nước về cơ chế truyền dẫn lãi suất

Tác giả Phương pháp và mục tiêu nghiên cứu Kết quả nghiên cứu

- Để nhận diện tác động của điểm gãy cấu trúc, bài nghiên cứu đã phân tích cơ chế truyền dẫn tiền tệ qua hai giai đoạn trước và sau khi Việt Nam gia nhập WTO

- Kết quả nghiên cứu cho thấy có một số puzzle tồn tại trong đó có Price Puzzle

- Kênh lãi suất tạo ra phản ứng trễ đối với biến lạm phát trong khi tỷ giá hối đoái lại có phản ứng ngay tức thì trước cú sốc tỷ giá hối đoái

Trang 27

Mức độ truyền dẫn từ lãi suất thị trường sang lãi suất bán lẻ là không hoàn toàn, với

cơ chế truyền dẫn đối xứng hoặc bất đối xứng Trong một

số trường hợp, độ biến động lãi suất làm tăng biên độ truyền dẫn, nhưng cũng có một số trường hợp cho thấy kết quả ngược lại

- Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy đồng liên kết đề xuất bởi Phillips &

Loretan (1991) và mô hình ARDL để xác định mối quan hệ cân bằng dài hạn của các chuỗi lãi suất Ngoài ra, để phân tích phản ứng tức thời của lãi suất, tốc độ điều chỉnh về trạng thái cân bằng, độ trễ điều chỉnh trung bình, nghiên cứu sử dụng mô hình ECM

Kết quả nghiên cứu tìm thấy mức độ truyền dẫn không hoàn toàn từ lãi suất liên ngân hàng

và lãi suất chính sách đến lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi Nghiên cứu cũng nhấn mạnh ảnh hưởng của minh bạch chính sách tiền tệ đến truyền dẫn lãi suất bán lẻ giai đoạn 1999 – 2012

2.3 Đóng góp mới của đề tài

Nghiên cứu sâu về cơ chế truyền dẫn lãi suất ở Việt Nam, cụ thể là đo lường mức

độ truyền dẫn lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu của NHNN VN đến lãi suất tiền gửi và cho vay nhiều kì hạn khác nhau tại Agribank là hoàn toàn hay không hoàn toàn Nếu mức độ truyền dẫn lãi suất là không hoàn toàn, tác giả sẽ đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao mức độ truyền dẫn lãi suất chính sách của NHNN VN Đồng thời trên cơ sở kết quả thu được, luận văn cũng phân tích những hạn chế trong

Trang 28

điều chỉnh lãi suất bán lẻ tại Agribank để từ đó đưa ra những khuyến nghị giúp khắc phục hạn chế này

Trang 29

Chương 3: THỰC TRẠNG LÃI SUẤT CHÍNH SÁCH CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VÀ LÃI SUẤT BÁN

- Nhân sự: gần 40.000 cán bộ, nhân viên

Agribank luôn chú trọng đầu tư đổi mới và ứng dụng công nghệ ngân hàng phục

vụ đắc lực cho công tác quản trị kinh doanh và phát triển màng lưới dịch vụ ngân hàng tiên tiến Agribank là ngân hàng đầu tiên hoàn thành Dự án Hiện đại hóa hệ thống thanh toán và kế toán khách hàng (IPCAS) do Ngân hàng Thế giới tài trợ Với hệ thống IPCAS đã được hoàn thiện, Agribank đủ năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại, với độ an toàn và chính xác cao đến mọi đối tượng khách hàng trong và ngoài nước Hiện nay, Agribank đang có hàng triệu khách hàng là hộ sản xuất, hàng chục ngàn khách hàng là doanh nghiệp

Trang 30

Agribank là một trong số các ngân hàng có quan hệ ngân hàng đại lý lớn nhất Việt Nam với trên 1.000 ngân hàng đại lý tại gần 100 quốc gia và vùng lãnh thổ Agribank là Chủ tịch Hiệp hội Tín dụng Nông nghiệp Nông thôn Châu Thái Bình Dương (APRACA) nhiệm kỳ 2008 - 2010, là thành viên Hiệp hội Tín dụng Nông nghiệp Quốc tế (CICA) và Hiệp hội Ngân hàng Châu (ABA); đăng cai tổ chức nhiều hội nghị quốc tế lớn như: Hội nghị FAO vào năm 1991, Hội nghị APRACA vào năm 1996 và năm 2004, Hội nghị tín dụng nông nghiệp quốc tế CICA vào năm 2001, Hội nghị APRACA về thuỷ sản vào năm 2002

Agribank là ngân hàng hàng đầu tại Việt Nam trong việc tiếp nhận và triển khai các dự án nước ngoài Trong bối cảnh kinh tế diễn biến phức tạp, Agribank vẫn được các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu (ADB), Cơ quan phát triển Pháp (AFD), Ngân hàng Đầu tư châu u (EIB)… tín nhiệm, ủy thác triển khai trên 123 dự án với tổng số vốn tiếp nhận đạt trên 5,8 tỷ USD Agribank không ngừng tiếp cận, thu hút các dự án mới: Hợp đồng tài trợ với Ngân hàng Đầu tư châu u (EIB) giai đoạn II; Dự án tài chính nông thôn III (WB);

Dự án Biogas (ADB); Dự án JIBIC (Nhật Bản); Dự án phát triển cao su tiểu điền (AFD) v.v

Luận văn nghiên cứu về sự truyền dẫn lãi suất chính sách đến lãi suất bán lẻ tại Agribank trong giai đoạn 2008 – 2014 nên sẽ giới thiệu một số điểm đáng chú ý trong hoạt động và những thành tích đạt được của Agribank trong giai đoạn này dựa theo thông tin được đăng tải trên website của Agribank

Năm 2008 là năm ghi dấu chặng đường 20 năm xây dựng và trưởng thành của Agribank và cũng là năm có tính quyết định trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế theo chủ trương của Đảng, Chính phủ Trong chiến lược phát triển của mình, Agribank sẽ trở thành một Tập đoàn tài chính đa nghành, đa sở hữu, hoạt động đa lĩnh vực Theo đó, toàn hệ thống xác định những mục tiêu lớn phải ưu tiên, đó là: Tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, chủ lực trên thị trường tài chính nông thôn, luôn là người bạn đồng hành tin cậy của 10 triệu hộ gia đình; đẩy mạnh tái cơ cấu ngân hàng, giải quyết triệt để vấn đề nợ xấu, đạt hệ số an toàn vốn theo tiêu chuẩn quốc

Trang 31

tế, phát triển hệ thống công nghệ thông tin, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ, chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao, đảm bảo các lợi ích của người lao động và phát triển thương hiệu - văn hóa Agribank

Trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại và nhận thức rõ vai trò của các sản phẩm dịch vụ ngoài tín dụng truyền thống, năm 2009 Agribank chú trọng giới thiệu

và phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tiện ích tiên tiến, điển hình là các dịch vụ Mobile Banking như: SMS Banking, VnTopup, ATransfer, Apaybill, VnMart; kết nối thanh toán với Kho bạc, Hải quan trong việc phối hợp thu ngân sách; phát hành được trên 4 triệu thẻ các loại 2009 cũng là năm Agribank ưu tiên

và chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của cạnh tranh và hội nhập Triển khai thành công mô hình đào tạo trực tuyến; Tuyển thêm trên 2000 cán bộ trẻ, được đào tạo căn bản, có ngoại ngữ và tin học nhằm chuẩn bị nguồn lực cho các năm tiếp theo Đến cuối năm 2009, tổng tài sản của Agribank đạt xấp xỉ 470.000 tỷ đồng, tăng 22% so với năm 2008; tổng nguồn vốn đạt 434.331 tỷ đồng, tổng dư nợ nền kinh tế đạt 354.112 tỷ đồng, trong đó cho vay nông nghiệp nông thôn đạt 242.062 tỷ đồng Năm 2009, Agribank vinh dự được Đảng, Nhà nước, Chính phủ, ngành ngân hàng, nhiều tổ chức uy tín trên thế giới trao tặng các bằng khen cùng nhiều phần thưởng cao quý: TOP 10 giải Sao Vàng Đất Việt, TOP

10 Thương hiệu Việt Nam uy tín nhất, danh hiệu “Doanh nghiệp phát triển bền vững” do Bộ Công thương công nhận, TOP 10 Doanh nghiệp Việt Nam theo xếp hạng của VNR500

Năm 2010, Agribank là Top 10 trong 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam Thực thi Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và triển khai Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM, năm 2010, HĐQT Agribank đã ban hành và triển khai Điều lệ mới về tổ chức và hoạt động của Agribank thay thế Điều lệ ban hành năm 2002 Cũng trong 2010, Agribank được Chính phủ cấp bổ sung 10.202,11 tỷ đồng, nâng tổng vốn điều lệ của Agribank lên 20.810 tỷ đồng, tiếp tục là Định chế tài chính có vốn điều lệ lớn nhất Việt Nam Luôn tiên phong thực thi các chủ trương của Đảng, Nhà nước, chính sách tiền tệ của

Trang 32

Ngân hàng Nhà nước, Agribank tích cực triển khai Nghị định số 41/2010/ NĐ-CP trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg về Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, tiếp tục khẳng định vai trò chủ lực trong đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn với tỷ trọng cho vay “Tam nông” luôn chiếm 70% tổng dư nợ toàn hệ thống Năm 2010, Agribank chính thức vươn lên là Ngân hàng số 1 Việt Nam trong lĩnh vực phát triển chủ thẻ với trên 6,38 triệu thẻ, bứt phá trong phát triển các sản phẩm dịch vụ tiên tiến, đặc biệt là các sản phẩm thanh toán trong nước v.v… Ngày 28/6/2010, Agribank chính thức khai trương Chi nhánh nước ngoài đầu tiên tại Campuchia Agribank chính thức công bố thành lập Trường Đào tạo Cán bộ (tiền thân là Trung tâm Đào tạo) vào dịp 20/11/2010 2010 cũng là năm Agribank tổ chức thành công Đại hội Đảng bộ lần thứ VIII (nhiệm kỳ

2010 – 2015), Hội nghị điển hình tiên tiến lần thứ III

Năm 2011, thực hiện Quyết định số 214/QĐ-NHNN, ngày 31/01/2011, của Thống đốc NHNN VN, Agribank chuyển đổi hoạt động sang mô hình Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu 100% vốn điều

lệ Tháng 11/2011, Agribank được Chính phủ phê duyệt cấp bổ sung 8.445,47 tỷ đồng, nâng tổng số vốn điều lệ của Agribank lên 29.605 tỷ đồng, tiếp tục là NHTM

có vốn điều lệ lớn nhất Việt Nam, đảm bảo hệ số CAR đạt trên 9% theo quy định của NHNN VN Năm 2011 là năm Agribank đầu tư cho "Tam nông" đạt mốc 300.000 tỷ đồng, dẫn đầu các tổ chức tín dụng trong việc cho vay thí điểm xây dựng nông thôn mới, qua đó góp phần vào thành công bước đầu của Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010- 2020 của Chính phủ Cũng trong năm 2011, Agribank được bình chọn là "Doanh nghiệp có sản phẩm dịch vụ tốt nhất", được Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam trao tặng Cúp "Ngân hàng xuất sắc trong hoạt động thẻ", ghi nhận những thành tích, đóng góp xuất sắc của Agribank trong hoạt động phát triển thẻ nói riêng và thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt nói chung

Năm 2012, vượt lên khó khăn của tình hình kinh tế thế giới và trong nước, hoạt động kinh doanh của Agribank tiếp tục phát triển ổn định Tổng tài sản có của

Trang 33

Agribank đạt 617.859 tỷ đồng (tương đương 20% GDP), tăng 10% so với năm

2011, là NHTM có quy mô tổng tài sản lớn nhất, các tỷ lệ an toàn hoạt động kinh doanh được đảm bảo, tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát giảm dần Trong năm 2012, Agribank được trao tặng các giải thưởng: Top 10 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam - VNR500; Doanh nghiệp tiêu biểu ASEAN; Thương hiệu nổi tiếng ASEAN…

Năm 2013, Agribank kỷ niệm 25 năm ngày thành lập và đã vinh dự được đón nhận phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước trao tặng - Huân chương Lao động hạng Ba về thành tích xuất sắc phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong thời kỳ đổi mới, góp phần vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội

và bảo vệ Tổ quốc

Năm 2014, Agribank quyết liệt triển khai Đề án tái cơ cấu; bổ sung, hoàn thiện

cơ chế, quy trình nghiệp vụ; đồng thời công bố thay đổi Logo và sắp xếp lại địa điểm làm việc Cũng trong năm 2014, lần thứ 5 liên tiếp, Agribank là Ngân hàng Thương mại duy nhất thuộc Top 10 VNR500

Với vị thế là NHTM – Định chế tài chính lớn nhất Việt Nam, có qui mô, thị phần lớn trong nền kinh tế Việt Nam, Agribank đã, đang không ngừng nỗ lực, đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, đóng góp to lớn vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế của đất nước Đó cũng là lý do tác giả chọn

số liệu lãi suất từ Agribank để đo lường mức độ truyền dẫn

3.2 Thực trạng lãi suất chính sách do NHNN VN công bố giai đoạn 2008 –

2014

- Năm 2008, trong bối cảnh lạm phát tăng cao, NHNN VN đã thực hiện việc thắt chặt tiền tệ đầu năm nhằm kiểm soát lạm phát và nới lỏng dần cuối năm đã tạo nên tần suất điều chỉnh lãi suất chính sách nhiều chưa từng có trong lịch sử Đó là 5 lần điều chỉnh lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu; 5 lần điều chỉnh dự trữ bắt buộc và lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc; 3 lần nới biên độ tỷ giá, 2 lần tăng mạnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng Từ đầu cho đến hết quí III năm

2008, NHNN VN thực hiện việc thắt chặt tiền tệ khiến cho lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu tăng lên rất cao, cụ thể lãi suất tái cấp vốn tháng 1/2008 chỉ là 6,5%

Trang 34

nhưng đến tháng 6 đã là 15% và giữ ở mức này cho đến cuối tháng 10/2008, lãi suất tái chiết khấu cũng có diễn biến tương tự với mức 4,5% vào tháng 1/2008 và 13% vào tháng 6/2008 Trong 2 tháng cuối năm, NHNN VN mới bắt đầu nới lỏng dần và điều chỉnh lãi suất tái cấp vốn về mức 11% và tái chiết khấu về mức 9% trong tháng 12/2008

- Xét về tần suất điều chỉnh đó, năm 2009 chính sách tiền tệ có sự ổn định hơn do mức lạm phát đã giảm nhiều so với năm 2008 Cụ thể, trong năm NHNN

VN chỉ một lần giảm lãi suất cơ bản từ 8,5% xuống 7%/năm và duy trì đến hết tháng 11 để rồi tăng trở lại 8%/năm từ 1/12 đến cuối năm Riêng lãi suất tái cấp vốn

và lãi suất tái chiết khấu có 3 lần điều chỉnh, 2 lần giảm trong tháng 1 và 4, 1 lần tăng đầu tháng 12

- Năm 2010, một năm đầy biến động của thị trường tiền tệ trong nước cũng như trên thế giới, một năm mà nền kinh tế nước ta gặp rất nhiều khó khăn trong giai đoạn phục hồi sau những ảnh hưởng từ biến động kinh tế thế giới 2008 – 2009 Trước những biến động đó, để thực hiện đồng bộ với các giải pháp của Chính phủ, NHNN VN thực hiện điều hành chính sách tiền tệ thận trọng, linh hoạt nhằm tạo điều kiện hỗ trợ tích cực cho thị trường tiền tệ - tín dụng hoạt động ổn định, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát gia tăng những tháng cuối năm một cách hiệu quả Theo đó, NHNN VN đã duy trì lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu ổn định lần lượt ở mức 8% và 6% trong suốt 10 tháng đầu năm và thực hiện điều chỉnh lên lần lượt mức 9% và 7% trong hai tháng cuối năm trước sức ép của lạm phát

- Trong năm 2011, lạm phát ở Việt Nam đã từng vọt lên mức 18,13%, cao nhất kể từ năm 2008 và đây cũng là mức cao nhất so với các nước trong khu vực ASEAN Trong bối cảnh đó, các mức lãi suất chính sách được điều chỉnh tăng phù hợp với chính sách tiền tệ thắt chặt để kiểm soát lạm phát, theo đó lãi suất tái cấp vốn tăng từ 9 – 15%/năm, lãi suất tái chiết khấu từ 7 – 13%/năm; quy định mức lãi suất huy động vốn tối đa bằng VND 14%/năm, ban hành quy định cụ thể việc áp dụng lãi suất trong trường hợp tổ chức, cá nhân rút tiền gửi trước hạn, kết hợp với

Trang 35

công tác thanh tra, giám sát và xử lý nghiêm các vi phạm lãi suất để ổn định mặt bằng lãi suất thị trường

- Nhờ chính sách tiền tệ thắt chặt, tỉ lệ lạm phát của Việt Nam đã liên tục giảm vào năm 2012 và 2013, trong đó có đóng góp không nhỏ từ chính sách điều hành lãi suất của NHNN VN Trong quý 1/2012, trước xu hướng giảm tốc của chỉ

số giá tiêu dùng và lạm phát kỳ vọng, NHNN VN đã bắt đầu kéo giảm đồng loạt các lãi suất chính sách và trần lãi suất huy động Một số yếu tố cộng hưởng khác cũng giúp ủng hộ quan điểm này là thanh khoản ở một số ngân hàng lớn dần được cải thiện; các kênh đầu tư vàng, ngoại hối không còn thu hút dòng tiền… Tính từ đầu năm đến nay ngày 17/12/2012, lãi suất tái cấp vốn đã giảm từ 15% xuống còn 10%, lãi suất tái chiết khấu đã giảm từ 13% xuống còn 8% Có thể thấy, việc giảm chi phí vốn vay là yêu cầu cấp thiết của nền kinh tế và NHNH VN đã thể hiện tốt vai trò định hướng này Gánh nặng lãi vay từng bước giảm xuống, và tạo tiền đề cho các hoạt động kinh doanh sản xuất có thể được cải thiện trong thời gian tới

- Trước tình hình kinh tế vĩ mô khó khăn, chính sách tiền tệ năm 2013 tiếp tục được thực hiện theo hướng đảm bảo ổn định các cân đối vĩ mô đồng thời NHNN

VN điều chỉnh giảm mặt bằng lãi suất trong đó: các mức lãi suất chính sách của NHNN VN được điều chỉnh giảm hai lần với mức giảm là 2% (lãi suất tái cấp vốn từ 9% giảm còn 7% và lãi suất tái chiết khấu từ 7% giảm còn 5%), giảm 3% trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên (Thống đốc NHNN VN đã ban hành Thông tư số 16/2013/TT-NHNN Quy định lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng Việt Nam của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế)

Có thể thấy, chính sách lãi suất được điều hành phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, đặc biệt là diễn biến của lạm phát Tính chủ động của công cụ lãi suất trong việc truyền dẫn tín hiệu tới thị trường đã được cải thiện rõ nét Đồng thời từ tháng 6/2013, NHNN VN đã cho phép các tổ chức tín dụng tự ấn định lãi suất tiền gửi có

kỳ hạn từ 6 tháng trở lên Đây là bước đi cần thiết để NHNN VN hướng tới thực hiện

tự do hóa lãi suất

Trang 36

- Ngày 15/01/2014, NHNN VN đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-NHNN về tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ và đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả trong năm 2014 Một nội dung quan trọng được đưa ra trong Chỉ thị 01 đó là, Thống đốc yêu cầu các tổ chức tín dụng tiếp tục triển khai quyết liệt các giải pháp tháo gỡ khó khăn trong quan hệ tín dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng, như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giảm lãi suất của các khoản vay cũ; xem xét miễn, giảm lãi vốn vay… Để thực hiện mục tiêu đó, NHNN VN tiếp tục điều chỉnh giảm các loại lãi suất chính sách, cụ thể là lãi suất tái cấp vốn giảm từ 7% xuống còn 6,5%/năm

và lãi suất tái chiết khấu giảm từ 5% xuống còn 4,5%/năm

Bảng số liệu và nguồn số liệu về lãi suất chính sách của NHNN VN được thể hiện trong phụ lục 01 và 02 của luận văn

Hình 3.1 Diễn biến lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu giai đoạn 2008 – 2014 3.3 Thực trạng lãi suất bán lẻ tại Agribank trong mối tương quan với lãi suất chính sách giai đoạn 2008 – 2014

Tại các NHTM, trong đó có Agribank, lãi suất bán lẻ bao gồm lãi suất tiền gửi

và cho vay được ấn định dựa trên cơ sở cơ chế điều hành lãi suất của NHNN VN,

xu hướng cung - cầu vốn thị trường, lạm phát, mức độ rủi ro và lãi suất thị trường

Trang 37

quốc tế Do đó, trước những thay đổi của lãi suất chính sách do NHNN VN công bố trong giai đoạn 2008 – 2014, Agribank đã có những điều chỉnh trong lãi suất bán lẻ bao gồm lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay để đáp ứng với sự thay đổi này Cụ thể như sau:

- Trong năm 2008, lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay của Agribank đã có những biến động liên tục Khoảng thời gian tháng 7 và tháng 8/2008 là lúc đỉnh điểm của lạm phát cũng là lúc NHNN VN thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ mạnh mẽ nhất khi nâng lãi suất tái cấp vốn lên 15% và lãi suất tái chiết khấu lên 13% Lúc này, Agribank đã có sự điều chỉnh chính sách lãi suất thích hợp bằng cách nâng lãi suất tiền gửi lên mức 17,5%/năm cho tất cả các kì hạn (lãi suất tiền gửi lúc này không biến động theo qui luật đường cong lãi suất) Song song đó, lãi suất cho vay được nâng lên đến mức tối đa trong giới hạn cho phép là 20,5% cũng cho tất cả các khoản vay ngắn, trung và dài hạn Trong giai đoạn này, Agribank luôn tuân thủ đúng những quy định của NHNN VN về các mức trần lãi suất huy động và cho vay, trong khi đó có một số NHTM nhỏ do thiếu hụt thanh khoản đã tăng lãi suất tiền gửi

và cho vay lên rất cao bằng cách lách luật tăng thêm các loại phí khi khách hàng giao dịch với các ngân hàng này

- Đến năm 2009 khi lạm phát có dấu hiệu giảm xuống, tình hình kinh tế ổn định hơn, các loại lãi suất chính sách được NHNN VN điều chỉnh giảm xuống đáng

kể khiến cho Agribank cũng hạ các mức lãi suất tiền gửi và cho vay xuống tương ứng Lãi suất tiền gửi các kì hạn thấp nhất là khoảng 6,2%/năm và cao nhất chỉ là 10,5%/năm Tương tự, các mức lãi suất cho vay cũng chỉ dao động trong khoảng từ

9 – 12%/năm Lãi suất tiền gửi và cho vay đã giảm khá nhiều so với năm 2008

- Trong năm 2010, khi lạm phát có dấu hiệu tăng trở lại, NHNN VN đã chủ động tăng các mức lãi suất chính sách lên 1% Lúc này, Agribank đã điều chỉnh lãi suất tiền gửi và cho vay của mình tăng lên tương ứng Điều đáng chú ý trong giai đoạn này là tiền gửi tất cả các kì hạn đều cao hơn lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu (lãi suất tái cấp vốn cao nhất trong năm là 9%/năm) Lãi suất cho vay ngắn hạn đến cuối năm được Agribank nâng lên đến 16%/năm, lãi suất cho vay trung, dài

Trang 38

hạn cũng tăng lần lượt đến mức 16,5% và 17%/năm, cao hơn cùng kì năm 2009 khoảng 5%

- Năm 2011 trước tình hình lạm phát tăng cao, NHNN VN đã thắt chặt tiền tệ

ở mức tối đa khiến cho hai loại lãi suất chính sách được điều chỉnh tăng cao như ở năm 2008 Lúc này, diễn biến các loại lãi suất cho vay của Agribank cũng tăng theo tương ứng và cũng có nhiều điểm giống với năm 2008 Tuy nhiên lãi suất tiền gửi các kì hạn trong năm 2011 lại thấp hơn năm 2008 khá nhiều, mức cao nhất của lãi suất tiền gửi chỉ là 14%/năm Nguyên nhân là vào ngày 3/3/2011, NHNN VN lần đầu tiên áp dụng trần lãi suất huy động ớ mức 14%/năm theo thông tư số 02/2011/TT-NHNN Có thể thấy Agribank đã có những điều chỉnh và tuân thủ khá tốt những qui định của NHNN VN về điều hành lãi suất

- Trong năm 2012, trên cơ sở diễn biến kinh tế vĩ mô, đặc biệt là lạm phát và thị trường tiền tệ như đã nêu ở mục 3.1, NHNN VN đã điều chỉnh giảm mạnh đồng

bộ các loại lãi suất chính sách và trần lãi suất tiền gửi và cho vay Điều này khiến cho Agribank điều chỉnh giảm từ 3 – 5%/năm lãi suất tiền gửi các kì hạn Đồng thời lãi suất cho vay cũng có mức giảm đáng kể từ 5 – 6%/năm so với cuối năm 2011

- Trong năm 2013 và 2014, NHNN VN đã điều chỉnh giảm các mức lãi suất chính sách từ 7%/năm xuống còn 4,5%/năm đối với lãi suất tái chiết khấu và từ 9%/năm xuống còn 6,5% đối với lãi suất tái cấp vốn Chính vì thế lãi suất tiền gửi

và cho vay các kì hạn của Agribank cũng giảm liên tục trong hai năm nay Đến cuối năm 2014, lãi suất tiền gửi các kì hạn của Agribank chỉ ở mức từ 5% - 6%/năm, trong khi lãi suất cho vay ổn định ở mức 9,5% - 10%/năm

Bảng số liệu về lãi suất tiền gửi và cho vay tại Agribank được thể hiện trong phụ lục 03 của luận văn

Trang 39

Hình 3.2 Diễn biến lãi suất cho vay tại Agribank trong mối tương quan với

lãi suất tái chiết khấu và tái cấp vốn giai đoạn 2008 – 2014

Hình 3.3 Diễn biến lãi suất tiền gửi tại Agribank trong mối tương quan với

lãi suất tái chiết khấu và tái cấp vốn giai đoạn 2008 – 2014

Trang 40

 Tóm tắt chương

Chương 3 tác giả giới thiệu đôi nét về Agribank, trình bày thực trạng hai loại lãi suất chính sách đang được NHNN VN sử dụng chủ yếu để điều hành chính sách tiền tệ là lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu trong giai đoạn 2008 – 2014 cũng như

có một số nhận xét chung về chính sách tiền tệ của NHNN VN trong giai đoạn này Bên cạnh đó, tác giả cũng nêu lên thực trạng lãi suất tiền gửi các kì hạn và lãi suất cho vay ngắn hạn và trung dài hạn của Agribank trong mối tương quan với hai loại lãi suất chính sách của NHNN VN Từ đó có thể có cái nhìn tổng quan về sự biến động của lãi suất chính sách theo mục tiêu của chính sách tiền tệ và những sự điều chỉnh trong lãi suất tiền gửi và cho vay tại Agribank đáp ứng với thay đổi trong lãi suất chính sách

Ngày đăng: 31/08/2020, 13:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Eijffinger, S.C.W., Hoeberichts, M.M., & Schaling, E., 2000. “Why money talks and wealth whispers: Monetary uncertainty and mystique”. Journal of Money, Credit and Banking, 32(2), 218-235 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Why money talks and wealth whispers: Monetary uncertainty and mystique”
6. Engle, R., Granger, C., 1987. “Co-integration and error correction: representation, estimation and testing”. Econometrica 55 (2), 251-276 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Co-integration and error correction: "representation, estimation and testing”
7. Gideon O.Fadiran, 2011. “South African money market volatility, asymmetry and retail interest rates pass-through”. Department of Economics, Rhodes University, Grahamstown Sách, tạp chí
Tiêu đề: South African money market volatility, asymmetry and retail interest rates pass-through”
8. Granger, C.W.J. and Newbold, P., 1974. “Spurious Regressions In Econometrics”. Journal of Econometrics, 2, 111-120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Spurious Regressions In Econometrics
9. Gujarati, D. N., 2003. “Basic econometrics”. Fourth edition, McGraw-Hill, New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Basic econometrics
10. Hannan, T. and A. Berger, 1991. “The rigidity of prices: evidence from the banking industry”. American Economic Review, 81, 938-945 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The rigidity of prices: evidence from the banking industry”
11. Harald Sander and Stefanei Kleimeier, 2004. “Expected versus Unexpected Monetary Policy Impulses and Interest Rate Pass-Through in Eurozone Retail Banking”. Journal of Banking and Finance, 30, 1839-1870 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Expected versus Unexpected Monetary Policy Impulses and Interest Rate Pass-Through in Eurozone Retail Banking”
12. Heffernan, S.A., 1997. “Modern Banking in Theory and Practice”. London: John Wiley & Sons Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Modern Banking in Theory and Practice”
13. Johansen, S., 1991. “Estimation and hypothesis testing of cointegration vectors in Gaussian vector autoregressive models”. Econometrica 59, 1551-1580 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Estimation and hypothesis testing of cointegration vectors in Gaussian vector autoregressive models
14. Kuan-Min Wang and Yuan-Ming Lee, 2009. “Market volatility and retail interest rate pass-through”. Economic Modelling 26, 1270-1282 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Market volatility and retail interest rate pass-through”
15. Lowe, P. and T. Rohling, 1992. “Loan rate stickiness: theory and evidence”. Research Discussion Paper, 9206, Reserve Bank of Australia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loan rate stickiness: theory and evidence
16. Mark J. Holmes, Ana María Iregui and Jesús Otero, 2015. “Interest rate pass through and asymmetries in retail deposit and lendingrates: An analysis using data from Colombian banks”. Economic Modelling 49, 270-277 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Interest rate pass through and asymmetries in retail deposit and lendingrates: An analysis using data from Colombian banks”
18. Mojon, B., 2000. “Financial structure and the interest rate channel of the ECB monetary policy”. Working paper No. 40, European Central Bank Working Paper Series Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial structure and the interest rate channel of the ECB monetary policy”
19. Muhamed Zulkhibri, 2012. “Policy rate pass-through and the adjustment of retail interest rates: Empirical evidence from Malaysian financial institutions”.Journal of Asian Economics 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Policy rate pass-through and the adjustment of retail interest rates: Empirical evidence from Malaysian financial institutions”
20. Neuwark, D., Sharpe, S., 1992. “Market structure and the nature of price rigidity: Evidence from the market of consumer deposits”. Quarterly Journal of Economics 107, 657–680 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Market structure and the nature of price rigidity: Evidence from the market of consumer deposits
21. Pih Nee Tai, Siok Kun Sek and Wai Mun Har, 2012. “Interest Rate Pass- Through and Monetary Transmission in Asia”. International Journal of Economics and Finance Vol 4 No.2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Interest Rate Pass-Through and Monetary Transmission in Asia”
22. Stiglitz, Joseph E. and Andrew Weiss, 1981. "Credit Rationing in Markets with Imperfect Information". American Economic Review, June 1981,71,393-410 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Credit Rationing in Markets with Imperfect Information
23. Volker Hahn, 2002. “Transparency in Monetary Policy: A Survey”. In ifo Studien, Zeitschrift für empirische Wirtschaftsforschung, Jg. 48, Nr. 3, 2002, S.429 – 455 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Transparency in Monetary Policy: A Survey”

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w