Một ngân hàng hoạt động kinh doanh có hiệu quả, có năng lực tài chính mạnh và quản lý được rủi ro trong giới hạn cho phép với tỷ lệ rủi ro thấp sẽ tạo được niềm tin của khách hàng và nân
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
TRẦN THỲ HỒNG NGỌC
GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS TRƯƠNG THỊ HỒNG
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2014
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NHTM 4
1.1 Rủi ro thanh khoản 4
1.1.1 Khái niệm về thanh khoản và rủi ro thanh khoản …… ………… …4
1.1.2 Tác động của rủi ro thanh khoản đối với NHTM ……….……… 6
1.1.3 Cung và cầu về thanh khoản ……… ………6
1.1.4 Đánh giá trạng thái thanh khoản ……… ……….… 7
1.1.5 Các chiến lược quản trị thanh khoản ……… 8
1.1.5.1 Quản trị thanh khoản dựa vào Tài sản Có ………8
1.1.5.2 Quản trị thanh khoản dựa vào Tài sản Nợ …… ……9
1.1.5.3 Chiến lược cân đối thanh khoản giữa Tài sản Có và tài sản Nợ ……… ………… … 10
1.1.6 Đánh giá về quản trị RRTK tại các NHTM ……… 11
1.1.6.1 Kết quả đạt được ……… …… 11
1.1.6.2 Những điểm tồn tại ……… ……… 12
1.1.7 Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản ……… ……12
1.1.7.1 Chạy theo lợi nhuận ngắn hạn ……… …… 12
1.1.7.2 Bùng nổ cho vay và sụt giá tài sản ……… … 13
Trang 31.1.7.3 Cơ cấu khách hàng và chất lượng tín dụng kém …… 13
1.1.7.4 Mất cân đối trong cơ cấu tài sản ……… ….13
1.1.7.5 Một số nguyên nhân khác ……….……… 13
1.1.8 Các nguyên tắc quản trị RRTK theo Basel ……….……….14
1.2 Các chỉ tiêu đo lường rủi ro thanh khoản của NHTM ……… …17
1.2.1 Vốn điều lệ ……… ………… ……18
1.2.2 Hệ số CAR (tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu) ……… 18
1.2.3 Hệ số giới hạn huy động vốn (H1) ……….………18
1.2.4 Hệ số tỷ lệ giữa vốn tự có so với tổng tài sản “Có” (H2) ……….….19
1.2.5 Hệ số H3 ……….……….….… 19
1.2.6 Hệ số trạng thái tiền mặt (*H3) ……… …19
1.2.7 Hệ số năng lực cho vay H4 ……… 19
1.2.8 Hệ số H5 ……….……… 20
1.2.9 Hệ số chứng khoán thanh khoản H6 ……….……20
1.2.10 Hệ số H7 ……… ………….… … 21
1.2.11 Hệ số H8 ……….… … 21
1.2.12 Hệ số *H8 ……….… …21
1.3 Bài học kinh nghiệm về RRTK của các NHTM các nước trên thế giới và Việt Nam ……… ……… 22
1.3.1 Bài học kinh nghiệm về RRTK của các NHTM trên thế giới …… 22
1.3.1.1 Giám đốc bỏ trốn, Ngân hàng lâu đời nhất nước Anh sụp đổ ……… ………… 22
1.3.1.2 RRTK ở các NHTM Argentina năm 2001 …… …….22
1.3.1.3 RRTK của các ngân hàng Nga năm 2004 ………23
1.3.2 Bài học kinh nghiệm về RRTK của các NHTM Việt Nam…………25
1.3.2.1 Trường hợp của ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) năm 2003 ……… ……… 25
1.3.2.2 Vụ “bầu Kiên bị bắt” ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng thanh khoản của ACB vào gần cuối năm 2012 26
Trang 41.3.2.3 Vụ thiếu hụt thanh khoản tại Agribank sau vụ gây thiệt
hại của ALC II ……… 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NHNo&PTNT VIỆT NAM ……… ……….30
2.1 Giới thiệu về quá trình hình thành và phát triển của NHNo&PTNT Việt Nam ……….……… ….30
2.2 Thực trạng thanh khoản và rủi ro thanh khoản tại NHNo&PTNT Việt Nam ….37
2.2.1 Vốn điều lệ ……… .….… 37
2.2.2 Hệ số tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) ……… ….…37
2.2.3 Hệ số H1 và H2 ……… … …… 38
2.2.4 Hệ số trạng thái tiền mặt H3 ……….… ….39
2.2.5 Hệ số năng lực cho vay H4 ……….…….……40
2.2.6 Hệ số dư nợ / tiền gửi khách hàng H5 ……… … 41
2.2.7 Hệ số chứng khoán thanh khoản H6 ……….……… … 42
2.2.8 Hệ số trạng thái ròng đối với các TCTD H7 ……….………….……42
2.2.9 Hệ số (tiền mặt + tiền gửi tại các TCTD) / tiền gửi khách hàng H8 43
2.3 Đánh giá thực trạng rủi ro thanh khoản tại NHNo&PTNT Việt Nam 43
2.3.1 Những kết quả đạt được ……… …….43
2.3.2 Tình hình thanh khoản của Agribank vẫn khó khăn và tiềm ẩn rủi ro thanh khoản ……….…….…….44
2.3.3 Nguyên nhân tiềm ẩn rủi ro thanh khoản ……… ….44
2.3.3.1 Nguyên nhân chủ quan ……… … … 44
2.3.3.2 Nguyên nhân khách quan ……… 49
2.3.4 Ảnh hưởng của RRTK đến kết quả hoạt động kinh doanh của Agribank 50
Trang 52.3.4.1 Đối với Agribank ……… ….…50
2.3.4.2 Đối với nền kinh tế xã hội ……….51
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 52
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NHNo&PTNT VIỆT NAM 53
3.1 Định hướng phát triển của NHNo&PTNT Việt Nam 53
3.2 Các giải pháp của NHNo&PTNT Việt Nam 54
3.2.1 Tăng cường năng lực tài chính, cân đối cơ cấu và tỷ trọng tài sản nợ, tài sản có cho phù hợp với năng lực 55
3.2.2 Nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ 57
3.2.3 Thực hiện việc quản lý tốt chất lượng tín dụng, kỳ hạn tín dụng, rủi ro lãi suất và khe hở lãi suất 60
3.2.4 Tăng cường sự hợp tác với các NHTM khác, xây dựng cơ chế chuyển vốn nội bộ phù hợp 60
3.2.5 Xây dựng đội ngũ nhân viên có trình độ, năng lực và đạo đức nghề nghiệp 61
3.2.6 Giải pháp khác 62
3.3 Các kiến nghị đối với Chính Phủ và Ngân hàng Nhà nước 65
3.3.1 Xây dựng quy định chặt chẽ về việc đảm bảo tính thanh khoản NHTM 67
3.3.2 Nâng cao vai trò của NHNN trong việc quản lý điều hành hoạt động hệ thống ngân hàng 68
3.3.3 Quản lý và hỗ trợ hoạt động thị trường liên ngân hàng 69
3.3.4 Chuẩn bị tốt hơn cho tự do hóa tài chính 71
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 75
Trang 6KẾT LUẬN 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
AFD = French Agency for Development: Cơ quan Phát triển Pháp
nông thôn
ALCO = Assets - Liabilities Management Committee: Ủy ban quản lý tài sản Có – tài sản Nợ
APRACA = Asia Pacific Rural and Agriculture Credit Association: Hiệp hội Tín dụng Nông nghiệp Nông thôn Châu Á Thái Bình Dương
ASEAN = Association of Southeast Asian Nations: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
EIB = European Investment Bank: Ngân hàng Đầu tư Châu Âu
IFAD = International Fund for Agriculture Development: Quỹ phát triển nông nghiệp quốc tế
Trang 8M&A = Mergers & Acquisitions : Sáp nhập & Mua lại
SWIFT = Society for Wordwide Interbank Financial Telecommunication: Hiệp hội Viễn thông Tài chính Liên ngân hàng thế giới
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Bảng 2.1 Vốn điều lệ của Agribank từ năm 2008 – 2012
Bảng 2.2 Hệ số CAR của Agribank từ năm 2008 – 2012
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Kinh tế thế giới bước vào giai đoạn suy thoái từ năm 2008 tác động không nhỏ đến nền kinh tế Việt Nam, nhất là lĩnh vực tài chính Chúng ta đã từng tranh luận, tìm hiểu nguyên nhân của khủng hoảng như rủi ro vỡ nợ, khả năng thanh toán, rủi ro lãi suất, rủi ro hoạt động…mà ít quan tâm đến rủi ro thanh khoản Đặc biệt trong ngành ngân hàng, rủi ro thanh khoản cần phải được chú trọng nhiều hơn nhằm đảm bảo cho hệ thống ngân hàng được vận hành một cách tốt nhất
Thực tiễn hoạt động thanh khoản của các ngân hàng tại Việt Nam trong thời gian qua cũng cho thấy rủi ro thanh khoản chưa được kiểm soát một cách có hiệu quả và đang có xu hướng ngày một gia tăng Chính vì vậy, yêu cầu cấp bách đặt ra
là rủi ro thanh khoản phải được quản lý, kiểm soát một cách có bài bản và có hiệu quả, giảm thiểu các thiệt hại phát sinh từ rủi ro thanh khoản, góp phần nâng cao uy tín và tạo lợi thế của ngân hàng trong cạnh tranh
Một ngân hàng hoạt động kinh doanh có hiệu quả, có năng lực tài chính mạnh và quản lý được rủi ro trong giới hạn cho phép với tỷ lệ rủi ro thấp sẽ tạo được niềm tin của khách hàng và nâng cao được vị thế, uy tín của các tổ chức kinh
tế, tổ chức tín dụng trong và ngoài nước Đây là điều vô cùng quan trọng giúp ngân hàng đạt được mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững cũng như thực hiện thành công các hoạt động hợp tác, liên doanh liên kết trong xu thế hội nhập
Trong điều kiện nên kinh tế thế giới và Việt Nam có nhiều biến động, các NHTM nói chung cũng gặp nhiều rủi ro trong hoạt động, trong đó, rủi ro thanh khoản là một trong những rủi ro nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà quản trị
và nhà hoạch định chính sách của ngân hàng Agribank là một trong những NHTM
có quy mô vốn và tổng tài sản lớn nhất trong hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay nên cũng không tránh khỏi những rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động Do vậy, nghiên
Trang 11cứu về rủi ro thanh khoản tại Agribank là một đề tài ngiên cứu có ý nghĩa cho hoạt động của ngân hàng
Là một NHTM lớn tại Việt Nam, Agribank cần phải tập trung nghiên cứu và tìm ra giải pháp nhằm đưa Agribank trở thành ngân hàng hiện đại và khả năng quản
trị rủi ro ngày càng được nâng cao Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Giải pháp hạn chế rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam”
làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ kinh tế của mình với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào quá trình phát triển ngân hàng đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của Agribank trong giai đoạn hiện nay
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu các thước đo về tính thanh khoản trên thế giới, từ đó tìm hiểu và kiểm định tính thanh khoản của NHNo&PTNT Việt Nam trong thời gian qua Qua
đó, có cái nhìn tổng quan về tính thanh khoản hiện nay của NHNo&PTNT Việt Nam và đưa ra những giải pháp và kiến nghị nhằm hạn chế rủi ro thanh khoản cho NHNo&PTNT Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Agribank thông qua các chỉ tiêu đo lường khả năng thanh khoản, tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn (LLSS – Long Loan Short Saving)…
giai đoạn từ năm 2008-2012
4 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng các phương pháp: thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, phương pháp hồi quy bằng mô hình OLS… nhằm làm rõ vấn đề nghiên cứu
Trang 12- Phương pháp thu thập, xử lý số liệu: Số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo thường niên, các báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh, từ các cơ quan thống kê, báo, đài…
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về thanh khoản và rủi ro thanh khoản trong hoạt động kinh doanh của NHTM; phân tích, đánh giá thực trạng thanh khoản và rủi ro thanh khoản của Agribank Việt Nam trong giai đoạn từ năm
2008 – 2012, xác định những kết quả đạt được, những tồn tại yếu kém và những nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản Từ đó đề xuất một số giải pháp hạn chế rủi
ro thanh khoản góp phần nâng cao vị thế và tính cạnh tranh của ngân hàng trong giai đoạn hội nhập và toàn cầu hóa như hiện nay
6 Kết cấu của luận văn: gồm 3 chương
Chương 1: Lý luận chung về rủi ro thanh khoản tại NHTM
Chương 2: Thực trạng rủi ro thanh khoản tại NHNo&PTNT Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hạn chế rủi ro thanh khoản tại NHNo&PTNT Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG
VỀ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NHTM
1.1 Rủi ro thanh khoản
1.1.1 Khái niệm về thanh khoản và rủi ro thanh khoản
Thanh khoản là khả năng tiếp cận các khoản tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng để chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh
Về phía nguồn vốn: có tính thanh khoản cao khi chi phí và thời gian huy động, tiếp cận nhanh
Về phía tài sản: có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển đổi thành tiền thấp và khả năng bán hay chuyển hóa thành tiền nhanh
Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro khi ngân hàng không có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền cho nhu cầu thanh toán tức thời; hoặc cung ứng đủ nhưng với chi phí cao Nói cách khác, đây là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặc không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán Hoặc nói đơn giản, rủi ro thanh khoản xảy ra khi ngân hàng không dự trữ đủ tiền hoặc tài sản khả nhượng cao để đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng
Chúng ta có thể chia rủi ro thanh khoản làm bốn nhóm theo cấu trúc như sau:
Rủi ro thanh khoản rút tiền trước hạn: do khách hàng
rút tiền trước khi đến hạn hợp đồng theo thỏa thuận
Rủi ro thanh khoản có kỳ hạn: xảy ra ngay cả khi khách
hàng rút tiền đúng hạn
Rủi ro thanh khoản tài trợ: nếu một tài sản không được
tài trợ hợp lý, có thể sẽ phải mất chi phí cao hơn dẫn đến thâm hụt nhiều quỹ tiền mặt trong hiện tại và tương lai có thể sẽ gặp khó khăn trong việc chuyển hóa tài sản
Trang 14này
Rủi ro thanh khoản thị trường: các điều kiện thị
trường bất lợi có thể làm giảm khả năng chuyển các tài sản khả nhượng thành tiền mặt
Hoặc theo nguồn gốc dẫn tới rủi ro thanh khoản ngân hàng, các nhà nghiên cứu thống nhất có thể chia rủi ro thanh khoản thành 3 nhóm:
Rủi ro thanh khoản đến từ bên tài sản nợ: có thể phát
sinh bất cứ lúc nào khi người gửi tiền rút tiền trước hạn và cả khi đến hạn, nhưng NHTM không sẵn có nguồn vốn để thanh toán, để chi trả Với một lượng tiền gửi được yêu cầu rút ra lớn và đột ngột buộc NHTM phải đi vay bổ sung trên thị trường tiền tệ, phải huy động vốn đột xuất với chi phí vượt trội, hoặc bán bớt tài sản để chuyển hoá thành vốn khả dụng đáp ứng nhu cầu chi trả Để đáp ứng nhu cầu ngay lập tức, NHTM có thể phải bán tài sản với giá thấp hơn giá thị trường hoặc vay trên thị trường với lãi suất cao để có lượng vốn khả dụng cần thiết
Rủi ro thanh khoản từ bên tài sản có: chủ yếu phát sinh
liên quan đến việc thực hiện các cam kết tín dụng, cho vay Có cam kết tín dụng cho phép người vay vốn tiến hành rút tiền bất cứ lúc nào trong thời hạn theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng Khi một người vay yêu cầu NHTM thực hiện cam kết tín dụng thì ngân hàng phải đảm bảo đủ tiền ngay lập tức để đáp ứng nhu cầu của khách hàng nếu không ngân hàng sẽ phải đối mặt với khả năng mất uy tín trên thị trường, thậm chí đối mặt với mất khả năng thanh toán Tương tự, nguyên nhân rủi ro đến từ bên tài sản Nợ, khi đó NHTM sẽ phải huy động thêm nguồn vốn mới với chi phí cao hoặc bán tài sản với giá thấp
Rủi ro thanh khoản từ hoạt động ngoại bảng: Cùng với
sự phát triển mạnh mẽ của các công cụ tài chính phái sinh, rủi ro thanh khoản đến từ hoạt động ngoại bảng cũng ngày càng tăng Khi mà các nghĩa vụ thanh toán bất thường xảy ra như cam kết bảo lãnh (cam kết trong nước, cam kết nước ngoài – thư tín dụng), nghĩa vụ thanh toán các hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi hay hợp đồng quyền chọn Các hợp đồng đó đến hạn thì sẽ phát sinh nhu cầu
Trang 15thanh khoản Khi đó, NHTM có thể phải đối mặt với rủi ro thanh khoản nếu không có kế hoạch chuẩn bị nguồn thanh khoản kịp thời, không có những tài sản nhanh chóng hay dễ dàng chuyển thành tiền, những công cụ có thể giao dịch trên thị trường tiền tệ
1.1.2 Tác động của rủi ro thanh khoản đối với NHTM
Làm giảm lợi nhuận và khả năng cạnh tranh cũng như uy tín của ngân hàng (do phải mất nhiều chi phí huy động vốn hơn và phải hạn chế nguồn cung tín dụng)
Trong một số trường hợp nghiêm trọng, ngân hàng có thể bị dẫn đến tình trạng phá sản và sụp đổ Từ đó, làm mất lòng tin của người gửi tiền đối với các ngân hàng khác, dẫn đến rút tiền hàng loạt, kéo theo sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống ngân hàng
Tăng trưởng của nền kinh tế bị giảm sút: Khi lãi suất tiền gửi tăng, dòng tiền của người dân sẽ tập trung vào ngân hàng làm cho nền kinh tế giảm kênh huy động vốn Khi lãi suất cấp tín dụng cao, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận nguồn vốn, dẫn đến sản xuất kinh doanh kém hiệu quả
1.1.3 Cung và cầu về thanh khoản
Yêu cầu thanh khoản của một ngân hàng có thể được xem xét bằng
mô hình cung - cầu về thanh khoản
Cung về thanh khoản:
Cung thanh khoản là các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng, là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng, bao gồm:
- Các khoản tiền gửi đang đến
- Doanh thu từ việc bán các dịch vụ phi tiền gửi
- Thu hồi các khoản tín dụng đã cấp
- Bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng
- Vay mượn trên thị trường tiền tệ
Trang 16 Cầu về thanh khoản:
Cầu về thanh khoản là nhu cầu vốn cho các mục đích hoạt động của ngân hàng, các khoản làm giảm quỹ của ngân hàng Thông thường, trong lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng, những hoạt động tạo ra cầu về thanh khoản bao gồm:
- Khách hàng rút tiền từ tài khoản
- Yêu cầu vay vốn từ các khách hàng có chất lượng tín dụng cao
- Thanh toán các khoản vay phi tiền gửi
- Chi phí phát sinh khi kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ
- Thanh toán cổ tức bằng tiền
1.1.4 Đánh giá trạng thái thanh khoản
Trạng thái thanh khoản ròng NLP (net liquidity position) của một ngân hàng được xác định như sau:
NLP = Tổng cung về thanh khoản - Tổng cầu về thanh khoản
Có ba khả năng có thể xảy ra sau đây:
(NLP>0), ngân hàng đang ở trạng thái thặng dư thanh khoản Khi đó, ngân hàng phải cân nhắc đầu tư số vốn thặng dư này vào đâu để mang lại lợi nhuận cho tới khi chúng cần được sử dụng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong tương lai
(NLP<0), ngân hàng phải đối mặt với tình trạng thâm hụt thanh khoản Khi đó, ngân hàng phải xem xét, quyết định nguồn tài trợ thanh khoản lấy từ đâu, bao giờ thì có và chi phí bao nhiêu
(NLP=0), tình trạng này được gọi là cân bằng thanh khoản Tuy nhiên, đây là tình trạng rất khó xảy ra trên thực tế Vì trong thực tế, ngân hàng rất khó lường trước được cung và cầu thanh khoản của mình một cách chính xác
Trang 171.1.5 Các chiến lược quản trị thanh khoản:
1.1.5.1 Quản trị thanh khoản dựa vào tài sản Có (Dự trữ, bán các
chứng khoán và tài sản):
Đây là cách tiếp cận truyền thống để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của NHTM Chiến lược này đòi hỏi dự trữ thanh khoản dưới hình thức tài sản có tính thanh khoản cao, chủ yếu là tiền mặt và các chứng khoán Khi xuất hiện nhu cầu thanh khoản, ngân hàng bán các tài sản dự trữ để lấy tiền cho đến khi tất cả nhu cầu thanh khoản được đáp ứng đầy đủ Chiến lược quản trị thanh khoản theo hướng này thường được gọi là sự chuyển hoá tài sản bởi vì ngân hàng tăng nguồn cung cấp thanh khoản bằng cách chuyển đổi các tài sản phi tiền mặt thành tiền mặt
Tài sản có tính thanh khoản có 3 đặc điểm sau:
+ Luôn có sẵn thị trường tiêu thụ để có thể chuyển đổi thành tiền mau chóng
+ Giá cả ổn định để không ảnh hưởng đến tốc độ và doanh thu bán tài sản
+ Có thể mua lại dễ dàng với ít rủi ro mất mát giá trị để người bán có thể khôi phục khoản đầu tư
Đối với các ngân hàng, những tài sản có tính thanh khoản cao nhất là trái phiếu kho bạc, các khoản vay NHTW, trái phiếu đô thị, tiền gửi tại các ngân hàng khác, chứng khoán các cơ quan chính phủ Như vậy, trong chiến lược quản trị thanh khoản dựa trên tài sản, một ngân hàng được coi là quản trị thanh khoản tốt nếu nó có thể tiếp cận các nguồn cung cấp thanh khoản ở chi phí hợp lý, số lượng tiền vừa đủ theo yêu cầu và kịp thời vào lúc nó được cần đến
Trang 18Tuy nhiên, sự chuyển hoá tài sản không phải cách tiếp cận ít chi phí đối với quản trị thanh khoản:
- Một khi bán tài sản cũng có nghĩa là ngân hàng mất nguồn thu nhập
mà các tài sản này tạo ra Như vậy, có chi phí cơ hội để dự trữ khả năng thanh khoản bằng tài sản
- Phần lớn các tài sản đem bán cũng liên quan đến chi phí giao dịch, chẳng hạn hoa hồng phí phải trả cho người môi giới chứng khoán
- Ngân hàng sẽ bị tổn thất vốn đáng kể nếu các tài sản cần phải bán có
sự giảm giá trên thị trường
- Nhìn chung khả năng sinh lợi của các tài sản có tính thanh khoản càng cao là thấp nhất trong số các tài sản tài chính Nếu ngân hàng đầu tư nhiều vào tài sản có tính thanh khoản cao thì ngân hàng buộc phải từ bỏ lợi nhuận cao hơn tạo ra từ những tài sản khác
1.1.5.2 Quản trị thanh khoản dựa vào tài sản Nợ (đi vay):
Vào thập niên 60 và 70 nhiều ngân hàng, nhất là các ngân hàng lớn đã bắt đầu gia tăng nhiều hơn các nguồn vốn có tính thanh khoản thông qua vay mượn trên thị trường tiền tệ Yêu cầu của các ngân hàng là vay mượn tức thời nguồn vốn khả dụng để trang trải tất cả nhu cầu thanh khoản đã dự phòng Tuy nhiên, việc vay mượn thường chỉ được triển khai khi nhu cầu thanh khoản xuất hiện để tránh dự trữ quá mức cần thiết
Nguồn vay mượn thanh khoản chủ yếu đối với một ngân hàng bao gồm: chứng chỉ tiền gửi khả nhượng có giá trị lớn, tiền vay NHTW, các hợp đồng mua lại, chiết khấu tại NHTW Chiến lược quản trị thanh khoản dựa trên nguồn vốn được hầu hết các ngân hàng lớn sử dụng rộng rãi và có thể lên đến 100% nhu cầu thanh khoản của họ
Trang 19Vay mượn thanh khoản là cách tiếp cận nhiều rủi ro để một ngân hàng giải quyết vấn đề thanh khoản (nhưng cũng đồng thời đem lại lợi nhuận cao nhất do bởi dao động lãi suất trên thị trường tiền tệ và khả năng thay đổi về sự sẵn có của các khoản tín dụng)
Sẽ là vấn đề khó khăn cho các ngân hàng trên cả hai phương diện: chi phí và
sự sẵn có nguồn vốn Chi phí vay mượn thường xuyên biến động và tất nhiên là tăng thêm mức độ không ổn định của lợi nhuận Hơn nữa, một ngân hàng có khó khăn về tài chính thì hầu như thường là về nguồn thanh khoản đã vay mượn quá nhiều, nhất là khi sự khó khăn của ngân hàng được thông tin một cách lan rộng và những người gửi tiền bắt đầu rút vốn ồ ạt Đồng thời các tổ chức tài chính khác, để tránh dính líu rủi ro, sẽ thận trọng, dè dặt hơn trong việc tài trợ vốn cho ngân hàng đang có khủng hoảng thanh khoản
1.1.5.3 Chiến lược cân đối thanh khoản giữa tài sản Có và tài sản
Nợ (quản trị thanh khoản cân bằng):
Do những rủi ro vốn có khi phụ thuộc vào nguồn thanh khoản vay mượn và những chi phí dự trữ thanh khoản bằng tài sản, phần lớn ngân hàng đã dung hòa trong việc chọn chiến lược quản trị thanh khoản của họ, nghĩa là kết hợp đồng thời
cả hai loại chiến lược trên để tạo ra chiến lược quản trị thanh khoản cân bằng
Chiến lược này đòi hỏi, các nhu cầu thanh khoản có thể dự kiến, được dự trữ bằng chứng khoán khả nhượng và tiền gửi tại các ngân hàng khác; trong khi đó các nhu cầu thanh khoản đã dự phòng trước (theo thời vụ, chu kỳ, và xu hướng) được
hỗ trợ bằng các thoả thuận trước về hạn mức tín dụng từ các ngân hàng đại lý hoặc những nhà cấp vốn khác
Nhu cầu thanh khoản không thể dự kiến được đáp ứng từ vay mượn ngắn hạn trên thị trường tiền tệ Các nhu cầu thanh khoản dài hạn cần được hoạch định và nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu thanh khoản là các khoản tiền vay ngắn và trung hạn, chứng khoán sẽ chuyển hóa thành tiền khi nhu cầu thanh khoản xuất hiện
Trang 201.1.6 Đánh giá về quản trị RRTK tại các NHTM
1.1.6.1 Kết quả đạt được Thành quả lớn nhất của các NHTM Việt Nam trong việc quản trị RRTK mấy năm gần đây là đã có phối hợp kịp thời giữa NHNN và NHTM khi có RRTK phát sinh Nếu RRTK xảy ra tại một ngân hàng đơn lẻ thì NHNN sẽ ngay lập tức can thiệp và hỗ trợ thanh khoản để giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng và tránh được hiệu ứng lây lan cho toàn hệ thống
Thứ hai, các NHTM Việt Nam trong thời gian qua đã chú trọng hơn trong công tác an toàn thanh khoản Bằng chứng là hệ số CAR của các NHTM đã dần được nâng lên nhằm đạt đúng quy định tối thiểu của NHNN
là 9% Đồng thời, tỷ lệ dự trữ tiền mặt, chỉ số chứng khoán thanh khoản và lượng dự trữ thanh khoản cũng được tăng lên từ năm 2008 – 2010 cho thấy các NHTM đã chủ động hơn trong công tác quản trị RRTK
Thứ ba, các NHTM Việt Nam đã có nhận thức về tầm quan trọng của công tác quản trị RRTK Bằng chứng mỗi NHTM đã thành lập Hội đồng ALCO Việc ra đời của ALCO là một trong những yếu tố quan trọng nhằm tăng cường công tác quản trị RRTK cũng như đặt ra những yêu cầu mới cho công tác quản trị RRTK theo thông lệ quốc tế Thực hiện chiến lược quản trị RRTK phối hợp tài sản Có - tài sản Nợ giúp các NHTM cân bằng giữa mức rủi ro chấp nhận được và thu nhập dự kiến Trong đó, đặc biệt, các NHTM đã quan tâm hơn trong chiến lược phát triển thị trường bán lẻ nhằm tăng thu nhập và phân tán được rủi ro nếu có
Thứ tư, ngoài các biện pháp đo lường, phân tích và kiểm soát RRTK, các NHTM Việt Nam đã chủ động có các biện pháp tài trợ cho RRTK để đề phòng trường hợp thanh khoản xấu nhất xảy ra thì nó cũng không ảnh hưởng quá nặng nề đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng thông qua việc NHTM trích lập quỹ dự trữ thanh khoản, ký kết với quỹ bảo hiểm tiền gửi Việt Nam các điều khoản đặc biệt Bên cạnh đó, bằng việc quản lý vốn tập trung tại Hội Sở chính đã góp phần giúp NHTM giảm thiểu RRTK cho các chi nhánh
Trang 21Thứ hai, một số NHTM Việt Nam chưa áp dụng đúng nội dung của quản trị RRTK Hầu hết các NHTM Việt Nam vẫn còn nhiều thiếu sót trong quản trị rủi ro Nếu các NHTM có thể đo lường bằng các chỉ số thanh khoản thì khả năng nhận diện lại còn yếu kém, và ngược lại, một khi nhận diện được rồi nhưng vì những lý
do lợi nhuận, các NHTM vẫn chưa chủ động phòng ngừa cho rủi ro đó
Thứ ba, hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam còn bị động và chịu nhiều tác động của chu kỳ kinh doanh cũng như chính sách quản lý vĩ mô của nền kinh tế Thời điểm đầu năm 2011, khi NHNN chủ trương chính sách tiền tệ thắt chặt bằng việc quy định trần lãi suất huy động là 14%, các NHTM đã có những biện pháp chui lãi suất nhằm tăng nguồn vốn huy động cho bản thân ngân hàng Đây là một trong những dấu hiệu cho thấy các NHTM Việt Nam đang đối diện với RRTK
và là bằng chứng chứng tỏ các NHTM Việt Nam chưa chủ động trong công tác quản trị RRTK
1.1.7 Các nguyên nhân chính dẫn đến căng thẳng thanh khoản
1.1.7.1 Chạy theo lợi nhuận ngắn hạn Những bài học gần đây ở Mỹ và Châu Âu cho thấy rằng vì lợi nhuận trước mắt, các ngân hàng thay vì nên đầu tư vào danh mục an toàn với lợi nhuận thấp như trái phiếu chính phủ để có thể trở thành vật cầm cố tại ngân hàng nhà nước bù đắp thanh khoản khi cần thiết; lại lựa chọn những danh mục rủi ro cao với tỷ suất sinh
Trang 22lợi cao tương đương, như các hợp đồng cho vay thế chấp mua nhà tại thị trường
Mỹ Chính vì vậy đã tạo nên cuộc khủng hoảng kinh tế nhà đất tại Mỹ năm 2008
1.1.7.2 Bùng nổ cho vay và sụt giảm giá trị tài sản
Khủng hoảng ngân hàng xảy ra do việc cho vay với số lượng lớn và tài trợ vốn không hiệu quả trong giai đoạn mở rộng của chu kỳ kinh doanh, khó mà phân biệt được khoản tín dụng đó có rủi ro cao hay thấp khi nền kinh tế mở rộng quá nhanh bởi vì người đi vay thường có lợi nhuận và tính thanh khoản tạm thời rất cao Chính “bong bóng” bất động sản tại thị trường cho vay thế chấp mua nhà tại
Mỹ đã tạo nên cuộc khủng hoảng nghiêm trọng do giá trị tài sản thế chấp giảm đột ngột, làm hàng loạt những ngân hàng lớn phải đóng cửa như Lehman Brothers tại
Mỹ và các ngân hàng bán lẻ như Northern Rock tại Anh vào năm 2008
1.1.7.3 Cơ cấu khách hàng và chất lượng tín dụng kém Ngân hàng tập trung tín dụng vào một số khách hàng lớn hoặc tỷ trọng tín dụng cho một ngành, một địa phương nào đó chiếm phần lớn trong tổng dư nợ hoặc trong tổng huy động có một khách hàng chiếm tỷ trọng lớn, đến khi họ rút một cách bất ngờ thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn về thanh khoản
1.1.7.4 Mất cân đối trong cơ cấu tài sản Đôi khi vì theo đuổi lợi nhuận ngắn hạn mà ngân hàng quên mất những nguyên tắc trong quản trị tài sản nợ và tài sản có Trong danh mục tài sản của mình, ngân hàng có phần đầu tư vào cổ phiếu và trái phiếu, trong đó quan trọng nhất là trái phiếu chính phủ và hoặc tín phiếu kho bạc Trái phiếu chính phủ hoặc tín phiếu kho bạc mặc dù lãi suất không hấp dẫn nhưng nó lại là một nguồn cực kỳ quan trọng cho ngân hàng để nhận chiết khấu từ ngân hàng nhà nước một khi thanh khoản có vấn đề Điều này, bất cứ ngân hàng nào, đặc biệt là ngân hàng nhỏ, đều hiểu nhưng với tiềm lực tài chính yếu thì khó có thể cạnh tranh với các ngân hàng lớn hơn trong việc đấu thầu các loại tài sản trên
1.1.7.5 Một số nguyên nhân khác
để sử dụng cho vay thời hạn dài hơn hoặc đầu tư vào những tài sản dài hạn Do đó,
Trang 23nhiều ngân hàng phải đối mặt với sự không trùng khớp về thời hạn đến hạn giữa tài sản nợ và tài sản có, mà thường gặp là dòng tiền thu về từ tài sản đầu tư và các khoản cho vay dài hạn nhỏ hơn dòng tiền chi ra để trả các khoản tiền gửi đến hạn
suất tăng, nhiều người gửi tiền sẽ rút tiền ra để tìm đến những kênh đầu tư sinh lợi cao hơn Những người có nhu cầu tín dụng sẽ hoàn lại hoặc rút hết số dư hạn mức tín dụng với mức lãi suất thấp đã thỏa thuận trước đó Ngoài ra, lãi suất thay đổi sẽ ảnh hưởng đến thị giá của các tài sản mà ngân hàng đem bán để tăng thanh khoản,
và trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí đi vay trên thị trường tiền tệ của ngân hàng
kém hiệu quả như: các chứng khoán đang sở hữu có tính thanh khoản thấp, dự trữ của ngân hàng không đủ cho nhu cầu chi trả…
1.1.8 Các nguyên tắc quản trị RRTK theo Basel
Trong những năm gần đây, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và thực hiện lộ trình cam kết mở cửa thị trường tài chính, hoạt động ngân hàng đã có những biến chuyển sâu sắc cả về lượng và chất:
số lượng chi nhánh, quy mô vốn, các giao dịch liên kết chứng khoán - ngân hàng, bảo hiểm - ngân hàng, các giao dịch quốc tế ngày càng tăng Những thay đổi này vừa đem đến những tác động tích cực vừa chứa đựng nhiều rủi ro và đòi hỏi bản thân các ngân hàng phải quản trị rủi ro hiệu quả cũng như đòi hỏi các cơ quan giám sát phải đánh giá được thực trạng rủi ro cũng như việc tuân thủ nguyên tắc giám sát ngân hàng để từ đó có giải pháp giám sát hiệu quả
Theo Basel II, cơ quan quản lý nhà nước phải đảm bảo rằng ngân hàng phải
có hệ thống quản trị rủi ro có hiệu quả, bao gồm các chiến lược, chính sách, quy trình nhằm nhận dạng, đo lường và kiểm tra, kiểm soát rủi ro các loại rủi ro
Về hành lang pháp lý, NHNN đã ban hành Quyết định 36/2006/QĐ-NHNN ngày 01/8/2006 về Quy chế kiểm tra, kiểm soát nội bộ của TCTD và Quyết định 37/2006/QĐ-NHNN ngày 01/8/2006 về Quy chế kiểm toán nội bộ của TCTD Đồng
Trang 24thời, NHNN cũng ban hành các văn bản quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD gồm: (i) tỷ lệ dự trữ bắt buộc tính trên tiền gửi được NHNN thay đổi thường xuyên tùy từng thời kỳ cụ thể theo thời hạn, loại tiền, loại ngân hàng; (ii) giới hạn tín dụng được quy định trong Điều 8, Thông tư 13/2010/TT-NHNN; (iii) tỷ lệ khả năng chi trả (thanh khoản) quy định trong Điều 12, Thông tư 13/2010/TT-NHNN; (iv) tỷ lệ giới hạn góp vốn, mua cổ phần quy định trong Điều
11, Thông tư 13/2010/TT-NHNN; (v) tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động quy định trong Điều 18, Thông tư 13/2010/TT-NHNN; (vi) tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn được quy định trong Thông tư số 15/2009/TT-NHNN; (vii) tỷ lệ đủ vốn đã đề cập ở trên
Theo các văn bản này, NHNN giám sát việc tuân thủ các tỷ lệ an toàn và trao quyền cho các NHTM xây dựng chính sách, quy trình quản lý rủi ro và trình lên NHNN
Trên thực tế, các NHTM đã xây dựng hệ thống quản lý rủi ro nhưng mới ở bước ban đầu, vừa nghiên cứu tài liệu, vừa học hỏi sách vở, kinh nghiệm của những ngân hàng nước ngoài cũng như rút kinh nghiệm về quản trị rủi ro từ những biến động trên thị trường tiền tệ những năm vừa qua (ví dụ như đã chú trọng nhiều vào việc tham gia đấu thầu trái phiếu kho bạc để có hàng hóa tham gia thị trường mở) Tuy nhiên, để có hệ thống quản lý rủi ro bài bản và chắc chắc, cần
có nhiều thời gian vì để tuân thủ các nguyên tắc quản trị rủi ro của Basel II đòi hỏi chi phí khá cao, đội ngũ nhân viên, cán bộ có đủ kỹ năng, năng lực quản lý các rủi
ro của các ngân hàng, có hệ thống thông tin quản trị, có hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ
Ngày 12/9/2010, Basel III ra đời với nhiều cải tiến hơn về vốn, đòn bẩy và các tiêu chuẩn về tính thanh khoản nhằm giám sát và quản trị rủi ro của ngân hàng tốt hơn
Trang 25Thứ nhất, phải tăng mức vốn dự trữ, đặc biệt là vốn của các cổ đông hoặc của chủ sở hữu Rút kinh nghiệm từ các cuộc khủng hoảng, ngân hàng phải có lượng vốn lớn hơn nữa để tự thoát khỏi khủng hoảng thay vì phải chờ đợi vào các biện pháp giải cứu của Chính Phủ Chính vì vậy, những tiêu chuẩn về hạn mức tối thiểu về vốn của các ngân hàng sẽ phải tăng nhiều hơn trong thời gian tới Cũng theo qui định này, các ngân hàng buộc phải duy trì mức vốn phù hợp trên mức vốn tối thiểu tùy theo mức độ rủi ro, mô hình kinh doanh, điều kiện kinh tế…
Thứ hai, ngoài việc lượng vốn nhiều, các ngân hàng cũng phải chú ý nâng cao chất lượng vốn Đây là đặc điểm chính của Basel III Theo BIS (The Bank for International Settlements – Ngân hàng thanh toán quốc tế), định nghĩa về vốn rất quan trọng và cần được định nghĩa đầy đủ trước khi xác định mức vốn phù hợp Chất lượng vốn tốt hơn đồng nghĩa với việc khả năng bù đắp các khoản lỗ tốt hơn, điều này giúp cho ngân hàng “khỏe” hơn, chống lại khủng hoảng tốt hơn
Theo Basel III, vốn cổ phần thông thường được qui định chặt chẽ hơn Những loại tài sản kém chất lượng sẽ phải khấu trừ vào vốn (vốn cấp 1 + vốn cấp 2) Việc khấu trừ sẽ nghiệm ngặt hơn, khấu trừ thẳng vào vốn cổ phần thông thường Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu vẫn là 8%, nhưng tỷ lệ của loại vốn có chất lượng cao được nâng lên Cụ thể, tỷ lệ vốn cấp 1 tăng từ 4% trong Basel II lên 6% trong Basel III, tỷ lệ vốn của cổ đông thường cũng tăng từ 2% lên 4,5% Ngoài ra, những loại Tài sản “Có” với chất lượng vốn có vấn đề cũng sẽ bị loại trừ dần khỏi vốn cấp 1 và vốn cấp 2, như các khoản đầu tư vượt quá giới hạn 15% vào các tổ chức tài chính Đặc biệt, Basel III yêu cầu áp dụng bổ sung tỷ lệ đòn bẩy tối thiểu thử nghiệm ở mức 3% Đây là tỷ lệ của vốn cấp 1 so với tổng tài sản “Có” cộng với các khoản mục ngoại bảng Việc áp dụng thử nghiệm tỷ lệ này cho phép Ủy ban Basel theo dõi biến động tỷ lệ đòn bẩy thực của các ngân hàng theo chu kỳ kinh tế và mối quan hệ giữa các yêu cầu về vốn với tỷ lệ đòn bẩy
Trên tinh thần triển khai thực hiện các tiêu chuẩn trong Basel III mà không gây ảnh hưởng tới tốc độ phục hồi kinh tế của các nước, BIS đã đưa ra một lộ
Trang 26trình thực hiện bắt đầu từ tháng 01/2013 và hoàn thành vào cuối năm 2018, cụ thể như sau:
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8% vẫn được giữ nguyên
Tỷ lệ an toàn vốn cấp 1 tối thiểu được bắt đầu áp dụng vào ngày 01/01/2015 với mức tỷ lệ 4,5% và phải đạt được mức 6% trước ngày 01/01/2019
Tỷ lệ an toàn vốn cổ phần thường tối thiểu cũng được bắt đầu áp dụng vào ngày 01/01/2015 với mức tỷ lệ 3,5% và phải đạt được mức 4,5% trước ngày 01/01/2019
Tỷ lệ dự phòng bảo toàn vốn được bắt đầu tính từ ngày 01/01/2016 với mức tỷ lệ 0,625% và hoàn thành mức 2,5% trước ngày 01/01/2019
Lộ trình loại bỏ các khoản giảm trừ khỏi vốn cấp 1 được áp dụng từ ngày 01/01/2014 với mức tỷ lệ 20% và đạt mức tỷ lệ 100% trước ngày 01/01/2019
1.2 Các chỉ tiêu đo lường rủi ro thanh khoản của NHTM
Chúng ta có thể đánh giá mức độ rủi ro thanh khoản dựa trên khả năng của ngân hàng trong việc đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động của mình Những yếu tố cần xem xét bao gồm mức độ biến động của tiền gửi, mức độ phụ thuộc vào nguồn vốn nhạy cảm với rủi ro, khả năng sẵn có của những tài sản có thể chuyển đổi nhanh chóng thành tiền mặt, khả năng tiếp cận đến thị trường tiền
tệ, mức độ hiệu quả nói chung của chiến lược, chính sách quản lý tài sản nợ và tài sản có của ngân hàng, tuân thủ với các chính sách thanh khoản nội bộ ngân hàng, nội dung, quy mô và khả năng sử dụng dự kiến của các cam kết cấp tín dụng
Tuy nhiên, rất khó có thể xây dựng một thước đo duy nhất để định lượng hay bao quát được tất cả các yếu tố về rủi ro thanh khoản, mức độ đủ vốn, chất lượng tài sản có và lợi nhuận, do có nhiều khác biệt về quy mô, hoạt động giữa các ngân hàng khác nhau, cũng như do ảnh hưởng của điều kiện thị trường khu
Trang 27vực, quốc gia và quốc tế Không có một tỷ lệ nào thực sự bao hàm được các khía cạnh khác nhau của các yếu tố rủi ro thanh khoản đối với tất cả các ngân hàng với quy mô và loại hình khác nhau
1.2.1 Vốn điều lệ ( vốn đã được cấp, vốn đã góp):
Là nguồn vốn ban đầu của ngân hàng có được khi mới hoạt động và được ghi vào bản điều lệ hoạt động của ngân hàng Theo quy định của pháp luật, một tổ chức tín dụng để được phép hoạt động thì vốn điều lệ thực tế > vốn điều
lệ tối thiểu (vốn pháp định) Vốn điều lệ càng cao thì ngân hàng càng có khả năng cạnh tranh so với các ngân hàng khác trong việc huy động cũng như cho vay và các hoạt động của mình
1.2.2 Hệ số CAR (tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu):
Vốn tự có
CAR = x 100%
Tổng tài sản “ Có” rủi ro quy đổi
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là một thước đo độ an toàn của ngân hàng Tỷ lệ này thường được dùng để xác định khả năng thanh toán của ngân hàng đối với các khoản nợ có thời hạn và khả năng đối mặt với các loại rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành…Hay nói cách khác, khi ngân hàng đảm bảo được tỷ lệ này tức là nó đã tự tạo ra một tấm đệm chống lại những cú sốc tài chính, vừa tự bảo vệ mình, vừa bảo vệ những người gửi tiền
1.2.3 Hệ số giới hạn huy động vốn (H 1 ):
Vốn tự có
Tổng nguồn vốn huy động
Hệ số này đưa ra nhằm mục đích giới hạn mức huy động vốn của ngân hàng để tránh tình trạng khi ngân hàng huy động vốn quá nhiều vượt quá mức
Trang 28bảo vệ của vốn tự có làm cho ngân hàng có thể mất khả năng chi trả, ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng
1.2.4 Hệ số tỷ lệ giữa vốn tự có so với tổng tài sản “Có” (H 2 ):
số này càng cao càng đảm bỏa khả năng thanh khoản cho ngân hàng
1.2.5 Hệ số H 3 :
Tiền mặt+Tiền gửi tại các TCTD
Tổng tài sản “Có”
cao thì càng đảm bảo nhu cầu thanh khoản tức thời Hệ số này nên được duy trì ở một tỷ lệ hợp lý, do nếu quá thấp sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng, còn nếu quá cao sẽ không tối đa hóa được lợi nhuận
Trang 29Hệ số H4 phản ánh năng lực cho vay của ngân hàng, hệ số này càng cao thì thanh khoản ngân hàng càng thấp Nếu ngân hàng cho vay vượt qua khả năng tổng tài sản “Có” của mình thì rủi ro thanh khoản càng cao Chính vì vậy, Ngân hàng nên cân đối khả năng cho vay của mình sao cho vừa đảm bảo khả năng thanh khoản vừa đàm bảo khả năng sinh lời của ngân hàng
1.2.9 Hệ số chứng khoán thanh khoản H 6 :
Chứng khoán kinh doanh + Chứng khoán sẵn sàng để bán
H6 = x 100%
Tổng tài sản “ Có”
Hệ số này cho thấy trong tổng tài sản “Có” của ngân hàng thì tỷ lệ các loại chứng khoán có khả năng chuyển đổi thành tiền dễ dàng chiếm tỷ lệ bao nhiêu Hệ số này càng cao thì khả năng thanh khoản của ngân hàng càng tốt Ngân hàng nên đầu tư nhiều hơn vào các loại chứng khoán có khả năng bán lại dễ dàng và sinh lời cao hơn là đầu tư vào các tài sản cố định có giá trị lớn nhưng khả năng chuyển đổi lại thấp Vì khi gặp mất cân đối thanh khoản, ngân hàng có thể dễ dàng huy động lượng tiền từ việc chuyển nhượng các loại chứng khoán này trên thị trường
Trang 301.2.10 Hệ số H 7 :
Tiền gửi và cho vay TCTD
H7 = x 100%
Tiền gửi và vay từ TCTD
Hệ số này phản ánh trạng thái ròng của ngân hàng đối với các TCTD Hệ số này càng cao thì rủi ro thanh khoản càng thấp Ngân hàng có lượng tiền tại các TCTD dưới hình thức tiền gửi hoặc các khoản cấp tín dụng càng lớn thì độ an toàn càng cao Ngược lại ngân hàng sẽ gặp rủi ro thanh khoản do phụ thuộc quá nhiều vào tiền gửi cũng như các khoản cấp tín dụng từ các TCTD khác
1.2.11 Hệ số H 8 :
Tiền mặt + Tiền gửi tại TCTD
H8 = x 100%
Tiền gửi của khách hàng
Hệ số này cho thấy tỷ lệ giữa tiền tại các TCTD so với tiền gửi khách hàng của ngân hàng Hệ số này càng cao thì rủi ro thanh khoản càng thấp Ngân hàng không phải đứng trước nguy cơ mất thanh khoản nếu xảy ra tình trạng rút tiền hàng loạt từ khách hàng
do ngân hàng luôn dự trữ đủ tiền tại các TCTD khác
1.2.12 Hệ số *H 8 :
Tiền mặt + TGKKH tại TCTD
*H8 = x 100%
Tiền gửi của khách hàng
khoản tiền gửi không kỳ hạn tại các TCTD khác Tiền mặt và tiền gửi không kỳ hạn
là hai khoản tiền mà ngân hàng có thể rút bất cứ lúc nào để đàm bảo khả năng thanh khoản Do đó, hệ số này càng cao thì khả năng thanh khoản của ngân hàng càng tốt
Trang 311.3 Bài học kinh nghiệm về RRTK của các NHTM các nước trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Bài học kinh nghiệm về RRTK của các NHTM các nước trên thế giới
Cuộc khủng hoảng thị trường tài chính toàn cầu từ mùa hè năm 2007 một lần nữa lại làm nổi bật tầm quan trọng của việc quản trị RRTK tại các định chế tài chính ở nhiều quốc gia, nhất là các nước đang phát triển và các quốc gia có nền kinh
cố lớn đã xảy ra với Barings khi Nick Lesson - Giám đốc chi nhánh Barings tại Singapore bỏ trốn vào năm 1995 Lesson đã dùng 1,4 tỷ USD vốn của ngân hàng đáng lẽ được sử dụng cho các dự án trong tương lai vào đầu cơ mua cổ phiếu bất động sản tại Thị trường chứng khoán Tokyo Có ai ngờ, trận động đất kinh hoàng tại thành phố Kobe, Nhật Bản cùng năm đó đã khiến Lesson thua hết số tiền 1,4 tỷ USD chơi chứng khoán - tương đương với khoản lợi nhuận Barings tích luỹ hàng năm Khi Lesson bỏ trốn và sự việc bị tiết lộ, toàn bộ khách hàng của Barings đã đổ
xô tới rút tiền, dẫn tới việc ngân hàng phải tuyên bố phá sản vào ngày 26/2/1995 Đây được coi là sự kiện không chỉ chấn động hệ thống ngân hàng Anh mà còn được nhiều ngân hàng lớn trên thế giới lấy đó làm bài học kinh nghiệm
1.3.1.2 RRTK ở các NHTM Argentina năm 2001 Argentina là nền kinh tế lớn thứ ba tại Châu Mỹ La tinh Từ năm 2000, có hàng loạt sự kiện đã diễn ra tại Argentina dẫn tới RRTK như sau:
tiêu và tìm kiếm sự giúp đỡ từ Quỹ tiền tệ quốc tế IMF
các tài khoản ngân hàng của họ
Trang 32 Tháng 12/2001, CP đã can thiệp để ngăn cản các dòng tiền chảy khỏi ngân hàng bằng cách đã ra hạn mức rút tiền là 1.000 USD/tháng, thay các khoản tiền gửi bằng trái phiếu 10 năm của CP
= 1,4
100 triệu USD khỏi ngân hàng mỗi ngày CP đã ra hạn mức rút tiền mới là
500 USD/tháng
khi các khoản tiền gửi bằng USD Các ngân hàng dự tính sẽ lỗ khoảng từ 10 – 20 tỷ USD do việc chuyển đổi này Tỷ giá USD/Peso = 3,75, các ngân hàng bắt đầu thiếu tiền mặt
Chính sự kiện này đã làm các ngân hàng chịu tổn thất đáng kể HSBC tiết lộ rằng cuộc khủng hoảng ở Argentina đã làm mất 1,85 tỷ USD trong năm tài chính
2001 Ngân hàng Scotia dự định sẽ rút chi nhánh của mình khỏi Argentina vì không chịu nổi rủi ro
Sai lầm dẫn đến cuộc khủng hoảng này là do những người gửi tiền hoảng sợ rút tiền khỏi ngân hàng vì: không tin tưởng vào CP; không tin tưởng vào hệ thống ngân hàng; tính lỏng yếu của hệ thống ngân hàng; sự can thiệp của NHTW; đồng Peso mất giá và sự kéo dài việc kiểm soát ngoại tệ của CP Vì vậy, rủi ro luôn có tính cộng hưởng và tương tác
1.3.1.3 RRTK của các ngân hàng Nga năm 2004 Vào tháng 7/2004, các ngân hàng của Nga đứng trước nguy cơ RRTK rất lớn, cùng với các sự kiện sau:
thông báo tạm khóa các tài khoản tiền gửi trên toàn quốc do các khoản chi trả trong tháng 6 đã vượt 10 tỷ rúp (tương đương 345 triệu USD) Ngân hàng
đã đóng cửa 76 chi nhánh và ngừng hoạt động hơn 400 máy ATM
Trang 33 Ngày 10/7/2004: Ngay sau khi ngân hàng Guta khóa các tài khoản tiền gửi, người dân đổ xô đi rút tiền ở các ngân hàng khác để đề phòng rơi vào hoàn cảnh tương tự
lãi suất tiền gửi tăng nhưng khách hàng vẫn ồ ạt xếp hàng bên ngoài các tòa
định áp dụng biện pháp cấp bách là phạt 10% số tiền nếu khách hàng rút trước hạn Cùng lúc, báo chí trích lời một cơ quan quản lý tài chính Nga tuyên bố 10 ngân hàng nữa có thể sẽ bị đóng cửa trong nay mai Tuy nhiên, một số phương tiện thông tin đại chúng lại tiết lộ họ có trong tay danh sách đen với 27 ngân hàng đang bên bờ vực phá sản
tuyên bố không hề có danh sách đen và khủng hoảng như vậy nhất thời là do tâm lý Ông Sergei Ignatiev quyết định giảm các tỷ lệ dự trữ tiền mặt của các ngân hàng từ 7% xuống còn 3,5% nhằm tăng khả năng thanh khoản, đồng thời áp dụng hàng loạt biện pháp cứu Ngân hàng Guta
tuyên bố trong tuần, các ngân hàng sẽ thoát khỏi tình trạng tồi tệ như hiện nay
thành công trong việc tăng cường vai trò và sở hữu của Nhà nước đối với ngành ngân hàng – vốn đã bị tư nhân hóa ồ ạt sau khi Liên Xô cũ sụp đổ Các nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng tại Nga trong giai đoạn này:
ngân hàng, trong đó phần lớn là tổ chức tài chính nhỏ tồn tại bằng các hoạt động bất hợp pháp
vốn dưới 10 triệu USD
Trang 34 Ngoài biện pháp giảm tỷ lệ dự trữ tiền mặt, cơ quan quản lý tài chính Nga chưa đưa ra được các biện pháp hiệu quả khác để giải quyết vấn đề
1.3.2 Bài học kinh nghiệm về RRTK của các NHTM Việt Nam
1.3.2.1 Trường hợp của Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) năm
2003
ACB được thành lập năm 1993, và được đánh giá là một trong những ngân hàng TMCP có uy tín cao, hoạt động lành mạnh (theo Thống đốc Lê Đức Thúy) Vào ngày 04/10/2003, Tổ chức chất lượng Châu Á Thái Bình Dương (APQO) đã tiến hành trao giải thưởng chất lượng Châu Á Thái Bình Dương hạng xuất sắc cho ngân hàng này
Từ đầu tháng 10/2003, một số kẻ xấu tung tin ông Phạm Văn Thiệt, tổng giám đốc ACB tham lạm công quỹ bỏ trốn và bị bắt Thậm chí, có kẻ còn gọi điện trực tiếp đến nhiều khách hàng của ACB nói rằng ngân hàng này sắp phá sản
Từ ngày 12/10/2003 đến ngày 14/10/2003, lượng người kéo đến rút tiền tại ACB tăng vọt Trong ngày 14 và 15/10/2003, cán bộ ngân hàng ACB phải làm việc
cả ngày đến tận 20h30 Tổng số tiền chi trả trong hai ngày vượt con số 2.000 tỷ đồng
Ngày 14/10/2003, ông Trần Ngọc Minh, giám đốc NHNN TP Hồ Chí Minh
đã chủ trì cuộc họp báo công bố chính thức bác bỏ tin đồn thất thiệt liên quan đến ACB
17h30 ngày 14/10/2003, Thống đốc Lê Đức Thúy có mặt tại trụ sở ACB, thông báo về tin đồn thất thiệt gây hậu quả nghiêm trọng và đảm bảo sự an toàn cho người gửi tiền
Ngày 14/10/2003, NHNN đã điều về ACB 500 tỷ đồng và 5,6 triệu USD Ngày 15/10/2003, NHNN tiếp tục đều thêm 450 tỷ đồng, Vietcombank điều thêm 3,5 triệu USD
Từ ngày 15/10/2003, số người rút tiền tại ACB đã giảm, đã có người gửi lại Ngày 16/10/2003, song gió đối với ACB đã qua, mọi giao dịch trở lại bình thường ACB thực hiện chiến dịch hoàn lãi cho khách hàng nếu gửi lại và thưởng
Trang 35cho khách hàng không rút khỏi ACB trong giai đoạn trên Thời gian hoàn lãi chỉ thực hiện đến hết ngày 31/8/2003 ACB cũng treo giải thưởng 200 triệu đồng nếu ai cung cấp nguồn tin cho cơ quan chức năng tìm ra đối tượng tung tin thất thiệt
1.3.2.2 Vụ “bầu Kiên bị bắt” ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng thanh khoản của ACB vào gần cuối năm 2012
Kể từ vụ tin đồn thất thiệt “ Tổng giám đốc ACB bỏ trốn tháng 10/2003, tới năm 2012, một lần nữa, ACB lại đối diện với một khủng hoảng sau khi ông bầu Nguyễn Đức Kiên bị bắt tạm giữ để điều tra về những sai phạm liên quan đến hoạt động kinh tế vào chiều ngày 20/8/2012 Tiếp đó, chiều ngày 22/8, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã có quyết định khởi tố ông Lý Xuân Hải (47 tuổi), tổng giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB), về tội cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng Sáng ngày 23/8, Phó tổng giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) Nguyễn Thanh Toại cho hay, chỉ trong hai ngày (21 và 22/8), khách hàng đã rút tiền khỏi ACB khoảng 8.000 tỷ đồng, trong đó ngày 21/8 số tiền khách hàng rút là 3.000
tỷ và ngày 22/8 là 5.000 tỷ đồng Số lượng người đến rút tiền tại hội sở ACB khá đông, có người không thực hiện được giao dịch đã phải đợi đến đầu giờ mở cửa giao dịch buổi chiều Hạn mức giải ngân được căn cứ dựa vào tình hình thực tế Sáng 21/8, tạm thời ACB vẫn chưa có cụ thể về hạn mức Nhưng trưa qua, các khoản vay dưới 2 tỷ đồng, chi nhánh được tự quyết, còn trên 2 tỷ thì phải chuyển về hội sở Đến chiều, nhận thấy có nhiều người đến rút tiền hơn buổi trưa nên ACB chỉ đạo giới hạn hạn mức là 500 triệu đồng Tức là các khoản vay 500 triệu đồng vẫn giải ngân bình thường, còn trên 500 triệu thì phải trình hội sở ký duyệt Việc chuyển định mức giải ngân từ 2 tỷ đồng xuống còn 500 triệu đồng cũng là một yếu tố cho thấy mục tiêu trọng tâm của ACB là đảm bảo thanh khoản và khả năng chi trả cho khách hàng Giảm giải ngân, có nghĩa ACB đã hi sinh quyền lợi của mình để đáp ứng lợi ích của khách hàng khi gửi vào có thể rút ra
Thêm vào đó, cũng chiều ngày 22/8, ông Nguyễn Hữu Nghĩa, Chánh Thanh tra NHNN Việt Nam, nói: NHNN đang theo dõi sát diễn biến thị trường tiền tệ và
Trang 36ACB NHNN và cả hệ thống các tổ chức tín dụng cam kết sẵn sàng hỗ trợ vốn cho ACB để bảo đảm khả năng chi trả các khoản tiền gửi của các tổ chức kinh tế và dân
cư tại ngân hàng này Quyền lợi của người gửi tiền hoàn toàn được đảm bảo NHNN khuyến cáo các tổ chức và cá nhân có tiền gửi tại Ngân hàng TMCP Á Châu nên thận trọng trước các tin đồn không có căn cứ để tránh những tổn thất không đáng có
Vụ này đã làm ACB tổn thất nặng nề vào cuối năm 2012 Ông Đỗ Minh Toàn – Tổng giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) cho biết tại Đại hội cổ đông của ngân hàng này được tổ chức sáng nay (26/4/2013), mặc dù, ACB một mực khẳng định khoản nợ vay có liên quan của bầu Kiên lên đến 9.400 tỷ đồng, chiếm 75% vốn tự có của ACB và lớn hơn tỉ lệ 25% theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng, đều có đủ tài sản đảm bảo bao gồm số dư tiền gửi, cổ phiếu , bất động sản và vàng Tuy vụ bầu Kiên không ảnh hưởng đến ACB nhưng báo cáo tài chính hợp nhất năm 2012 cho thấy, lợi nhuận sau thuế của ACB đã giảm tới 77%
so với năm 2011, xuống còn 737,5 tỷ đồng so với 3.194 tỷ đồng Và theo lý giải được đưa ra tại bản Báo cáo, sự sụt giảm này là do khoản lỗ lên tới 1.863 tỷ đồng từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng cùng với khoản chi phí hoạt động lên tới 4.105 tỷ đồng
1.3.2.3 Vụ thiếu hụt thanh khoản tại Agribank sau vụ gây thiệt hại của ALC II
Vụ lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ xảy ra tại Công ty Cho thuê tài chính II (ALC II) thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) gây thiệt hại 1.600 tỷ đồng Ngay sau khi những thông tin liên quan bị rò rỉ, các tổ chức kinh tế lớn đã đồng loạt rút khoảng 30.000 tỷ đồng khiến các chi nhánh Agribank lâm vào tình trạng yếu thanh khoản nghiêm trọng, gây nguy cơ thiếu hụt thanh khoản cho toàn hệ thống ngân hàng
Công ty ALC II là doanh nghiệp Nhà nước hạch toán độc lập trực thuộc Agribank Từ tháng 1/2006 đến tháng 10/2009, ông Vũ Quốc Hảo được giao là thành viên HĐQT kiêm Tổng Giám đốc, Chủ tịch Hội đồng cho thuê Công ty
Trang 37ALCII Trong 2 năm 2008 - 2009, với mục đích giảm tỷ lệ nợ xấu, có tiền chuyển
cho các doanh nghiệp có quan hệ làm ăn và sử dụng mục đích cá nhân, ông Hảo đã
ký, thực hiện 10 hợp đồng thuê tài chính, hợp đồng mua bán đầu tư tài sản, vi phạm
pháp luật, gây thiệt hại lớn tài sản Nhà nước Qua đó, đã giải ngân hơn 795 tỷ đồng
Các hợp đồng thực chất là nghiệp vụ cho vay, trong khi Công ty ALC II không có
chức năng cho vay Đến cuối tháng 3-2011, ALC II đã cho hàng trăm doanh nghiệp
thuê thiết bị máy móc, công nghệ với dư nợ cho thuê tài chính 7.184 tỷ đồng Còn
ALC II nợ các tổ chức gần 7.950 tỉ đồng, trong đó nợ Agribank 3.953 tỷ đồng, nợ
các tổ chức khác 3.996 tỷ đồng
Hàng loạt sai phạm trong hoạt động kinh doanh tại ALC II dẫn đến thua lỗ
hàng nghìn tỷ đồng, như: Chủ tịch HĐQT Agribank đã ký quyết định phê duyệt kế
hoạch kinh doanh cho ALC II, hạn mức vay vốn trong năm 2007 là 3.770 tỷ đồng,
trong khi tại thời điểm ký quyết định, ALC II đang nợ ngân hàng 2.555 tỷ đồng,
vượt 1.325 tỷ đồng hạn mức theo quy định của NHNN và Agribank Kết quả kinh
doanh năm 2009 của ALC II đã thua lỗ số tiền gấp 8,5 lần vốn điều lệ và tiềm ẩn lỗ
lũy kế đối với khoản tiền đầu tư tài sản cho thuê khác trị giá gần 4.600 tỷ đồng
Trong hoạt động huy động vốn, ALC II đã vi phạm các quy định huy động
tiền gửi ngắn hạn Trong năm 2008-2009, ALC II huy động sáu hợp đồng tiền gửi
dưới 12 tháng, với số tiền trên 510 tỷ đồng, nhằm đáp ứng khả năng thanh toán cho
các khoản cam kết đầu tư, cho thuê của công ty Bên cạnh đó, công ty trả lãi cho
khách hàng không đúng thỏa thuận theo hợp đồng, gây thiệt hại trên 1,1 tỷ đồng
ALC II còn huy động 26 hợp đồng trị giá hơn 1.300 tỷ đồng với mức lãi suất trên
17,5%/năm, vượt trần lãi suất quy định của Agribank
Trong hoạt động kinh doanh, ALC II không những không trả nợ vay đáo hạn
cho Agribank, mà theo chỉ đạo của nguyên Tổng Giám đốc Công ty Vũ Quốc Hảo,
ALC II còn ký thêm 22 hợp đồng cho 18 khách hàng thuê tài chính với trị giá cam
kết đầu tư 693 tỷ đồng và đã giải ngân 352 tỷ đồng Tình trạng cố tình để cho khách
hàng sử dụng tiền của công ty không đúng mục đích, không đúng thỏa thuận trong
hợp đồng gây thiệt hại lớn về kinh tế, dẫn đến thua lỗ kéo dài tại công ty…
Trang 38KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, việc đương đầu với rủi ro thanh khoản là điều không thể tránh khỏi Thừa nhận một tỷ lệ rủi ro tự nhiên trong hoạt động kinh doanh ngân hàng là yêu cầu khách quan, hợp lý Vấn đề là làm thế nào để hạn chế rủi ro này ở một tỷ lệ thấp nhất có thể chấp nhận được mà vẫn đảm bảo hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Chương 1 đã trình bày tổng quan lý thuyết về rủi ro thanh khoản và các chỉ tiêu đo lường rủi ro thanh khoản ngân hàng nhằm làm cơ sở lý luận, phục vụ cho việc phân tích, đánh giá thực trạng rủi ro thanh khoản của Agribank Việt Nam ở chương tiếp theo
Trang 39CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RỦI RO THANH KHOẢN
TẠI NHNo&PTNT VIỆT NAM
2.1 Giới thiệu về quá trình hình thành và phát triển của NHNo&PTNT Việt Nam
o Tên ngân hàng: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
o Tên viết tắt: Agribank
o Tên giao dịch quốc tế: Viet Nam Bank for Agriculture And Rual Development, viết tắt là VBARD
o Logo:
o Trụ sở chính: Số 18 Trần Hữu Dực, Mỹ Đình, Từ Liêm, Hà Nội
o Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng:
- Năm 1988, Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam được thành lập theo Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)
về việc thành lập các ngân hàng chuyên doanh, trong đó có Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
- Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp hình thành trên cơ sở tiếp nhận từ NHNN: tất cả các chi nhánh NHNN huyện, Phòng Tín dụng Nông nghiệp, quỹ tiết kiệm tại các chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp
TW được hình thành trên cơ sở tiếp nhận Vụ Tín dụng Nông nghiệp Ngân hàng Nhà nước và một số cán bộ của Vụ Tín dụng Thương nghiệp, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng, Vụ Kế toán và một số đơn vị
- Ngày 14/11/1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ký Quyết định số 400/CT thành lập Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thay thế Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam Ngân hàng Nông nghiệp là NHTM đa năng, hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, là một
Trang 40pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật
- Ngày 01/03/1991, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có Quyết định số
18/NH-QĐ thành lập Văn phòng đại diện Ngân hàng Nông nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh và ngày 24/6/1994, Thống đốc có văn bản số 439/CV-TCCB chấp thuận cho Ngân hàng Nông nghiệp được thành lập văn phòng miền Trung tại Thành phố Quy Nhơn - tỉnh Bình Định
- Ngày 22/12/1992, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có Quyết định số 603/NH-QĐ về việc thành lập chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp các tỉnh thành phố trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp gồm có 3 Sở giao dịch (Sở giao dịch I tại
Hà Nội và Sở giao dịch II tại Văn phòng đại diện khu vực miền Nam và Sở giao dịch III tại Văn phòng miền Trung) và 43 chi nhánh ngân hàng nông nghiệp tỉnh, thành phố Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp quận, huyện, thị xã có 475 chi nhánh
- Ngày 30/7/1994 tại Quyết định số 160/QĐ-NHN9, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận mô hình đổi mới hệ thống quản lý của Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam, trên cơ sở đó, Tổng giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam
cụ thể hóa bằng văn bản số 927/TCCB/Ngân hàng Nông nghiệp ngày 16/08/1994 xác định: Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam có 2 cấp: Cấp tham mưu và Cấp trực tiếp kinh doanh Đây thực sự là bước ngoặt về tổ chức bộ máy của Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam và cũng là nền tảng cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam sau này
- Ngày 7/3/1994 theo Quyết định số 90/TTg của Thủ tướng Chính phủ , Ngân hàng Nông Nghiệp Việt Nam hoạt động theo mô hình Tổng công ty Nhà nước với
cơ cấu tổ chức bao gồm Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc, bộ máy giúp việc bao gòm bộ máy kiểm soát nội bộ, các đơn vị thành viên bao gồm các đơn vị hạch toán phụ thuộc, hạch toán độc lập, đơn vị sự nghiệp, phân biệt rõ chức năng quản lý và chức năng điều hành, Chủ tịch Hội đồng quản trị không kiêm Tổng Giám đốc