BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH Nguyễn Thị Phux MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN LÃI SUẤT CHÍNH SÁCH ĐẾN LÃI SUẤT TIỀN GỬI VÀ LÃI SUẤT CHO VAY TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG M
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Phux
MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN LÃI SUẤT CHÍNH SÁCH ĐẾN LÃI SUẤT TIỀN GỬI VÀ LÃI SUẤT CHO VAY TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp.Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Phux
MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN LÃI SUẤT CHÍNH SÁCH ĐẾN LÃI SUẤT TIỀN GỬI VÀ LÃI SUẤT CHO VAY TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS.TRƯƠNG THỊ HỒNG
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ kinh tế “Mức độ truyền dẫn lãi suất chính sách đến lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” là công trình nghiên cứu của bản thân được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS.Trương Thị Hồng Nguồn số liệu sử dụng trong luận văn được thu thập trung thực từ các nguồn hợp pháp và đáng tin cậy
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, biểu đồ
MỞ ĐẦU
Chương 1 – Giới thiệu 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 3
1.6 Kết cấu luận văn 4
1.7 Ý nghĩa khoa học của đề tài 4
Chương 2 – Cơ sở lý thuyết về sự truyền dẫn lãi suất chính sách đến lãi suất tiền gửi và cho vay tại các ngân hàng thương mại 6
2.1 Tổng quan về lãi suất 6
2.1.1 Cơ sở lý thuyết về lãi suất 6
2.1.2 Các loại lãi suất 6
2.1.3 Khái quát về công cụ lãi suất 8
2.1.4 Nguyên tắc Taylor về điều hành công cụ lãi suất 8
2.2 Lý thuyết về truyền dẫn lãi suất 10
2.2.1 Các kênh trong truyền dẫn chính sách tiền tệ 10
2.2.2 Cơ chế truyền dẫn lãi suất 11
Trang 52.2.2.1 Khái niệm truyền dẫn lãi suất 11
2.2.2.2 Cơ chế truyền dẫn lãi suất chính sách đến lãi suất bán lẻ 13
2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến truyền dẫn lãi suất 13
2.4 Lược khảo các nghiên cứu trước có liên quan đến truyền dẫn lãi suất 15
2.4.1 Nghiên cứu nước ngoài 15
2.4.2 Nghiên cứu trong nước 17
Tóm tắt chương 2 22
Chương 3 - Thực trạng lãi suất chính sách của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất tiền gửi và cho vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam 23
3.1 Diễn biến GDP Việt Nam giai đoạn 2000 –2016 23
3.2 Diễn biến CPI Việt Nam giai đoạn 2000 –2016 25
3.3 Diễn biến lãi suất tại Việt Nam giai đoạn quý 1/2000 – quý 3/2016 26
3.3.1 Diễn biến lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn giai đoạn từ năm 2000 – 2016 26
3.3.2 Diễn biến lãi suất bình quân liên ngân hàng giai đoạn quý 1/2000 – quý 3/2016 27
3.3.3 Diễn biến lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay tại các NHTM Việt nam giai đoạn quý 1/2000 – quý 3/2016 29
Tóm tắt chương 3 31
Chương 4 - Đo lường mức độ truyền dẫn lãi suất chính sách đến lãi suất tiền gửi và cho vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam 32
4.1 Mô hình nghiên cứu 32
4.2 Phương pháp nghiên cứu 34
4.3 Kết quả nghiên cứu 37
4.3.1 Phân tích thống kê mô tả 37
4.3.2 Kiểm định giả thiết định lượng 38
4.3.2.1 Kiểm định tính dừng 38
4.3.2.2 Kiểm định đồng liên kết 40
4.3.3 Độ trễ tối đa cho mô hình VECM 41
Trang 64.3.4 Kiểm định nhân quả GRANGER test 43
4.3.5 Kiểm định tính ổn định mô hình 47
4.3.6 Thảo luận kết quả ước lượng mô hình VECM 48
4.3.6.1 Hàm phản ứng xung (impulse response) 49
4.3.6.2 Phân rã phương sai (Variance decomposition) 52
Tóm tắt chương 4 57
Chương 5 - Kết luận và khuyến nghị 58
5.1 Tóm tắt các kết quả chính của đề tài 58
5.2 Một số khuyến nghị 59
5.3 Hạn chế của đề tài và gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo 60
Tóm tắt chương 5 62
Kết luận 63
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Tiếng Việt
CSTT : Chính sách tiền tệ
NHNN VN : Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHTW : Ngân hàng Trung ương
VND : Việt nam đồng
Tiếng Anh
CPI : Consumer Price Index – Chỉ số giá tiêu dùng
FED : Federal Reserve - Cục Dự trữ Liên bang Mỹ
GDP : Gross domestic product – Tổng sản phẩm quốc nội
IFS : International Financial Statistics - Dữ liệu thống kê tài chính quốc tế IRF : Impulse Response Function – Hàm phản ứng xung
PP : Phillips và Perron
SVAR : Structual Vector Autoregression – Mô hình vector tự hồi quy cấu trúc
TR : The Taylor Rule - Nguyên tắc Taylor
VAR : Vector Autoregression – Mô hình vectơ tự hồi quy
VECM : Mô hình vectơ hiệu chỉnh sai số
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
đến sự thay đổi của lãi suất tiền gửi 53-54 Bảng 4.11 Kết quả phân rã phương sai mức giải thích của các biến
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 2.1 Cơ chế truyền dẫn lãi suất
Hình 3.1 Diễn biến GDP Việt Nam giai đoạn 2000 – 2016
Hình 3.2 Diễn biến CPI Việt Nam giai đoạn 2000 –2016
Hình 3.3 Diễn biến lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn giai đoạn 2000 – 2016 Hình 3.4 Diễn biến lãi suất bình quân liên ngân hàng giai đoạn quý quý 1/2000 – quý 3/2016
Hình 3.5 Diễn biến lãi suất tiền gửi, cho vay giai đoạn quý 1/2000 – quý 3/2016 Hình 4.1 Kiểm định tính ổn định mô hình lãi suất tiền gửi
Hình 4.2 Kiểm định tính ổn định mô hình lãi suất cho vay
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1: IRF lãi suất tiền gửi
Biểu đồ 4.2: IRF lãi suất cho vay
Trang 10Chương 1: GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài:
So với nhiều chính sách kinh tế vĩ mô khác thì chính sách tiền tệ có tác động khá
rõ nét và có uy lực tới nền kinh tế nói chung và thị trường tài chính nói riêng trong suốt quá trình vận hành của nền kinh tế Vì vậy chính sách tiền tệ được xem là một công cụ chính sách quan trọng nhằm tác động đến nền kinh tế để đạt được các mục tiêu như ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát giá cả Tuy nhiên để có một chính sách tiền tệ phù hợp thì đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách phải có một sự hiểu biết rõ ràng về cơ chế truyền dẫn tiền tệ và tầm quan trọng của các kênh truyền dẫn khác nhau như tín dụng, lãi suất, tỷ giá hối đoái… Trong những kênh truyền dẫn đó thì kênh truyền dẫn lãi suất đóng vai trò hết sức quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế
Về phương diện lý thuyết, mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất của phần lớn Ngân hàng Trung ương (NHTW) của các nước trên thế giới cũng như Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) là ổn định giá trị đồng tiền quốc gia - thông qua việc kiểm soát lạm phát Trong đó lãi suất là một trong những công cụ điều hành chính sách tiền tệ của NHTW để đạt được mục tiêu đó Các nghiên cứu nước ngoài và trong nước nghiên cứu mối quan hệ truyền dẫn lãi suất có thể kể như Kok SØrensen
& Werner (2006), Karagiannis & cộng sự (2010), Blot & Labondance (2011), Hansen & Welz (2011), Van Leuvensteijn & cộng sự (2013); Đinh Thị Thu Hồng & Phan Đình Mạnh (2013), Nguyễn Ngọc Trang & Nguyễn Hữu Tuấn (2014),… Với
sự đa dạng về phương pháp nghiên cứu và các nhân tố kiểm soát như cạnh tranh ngân hàng, rủi ro tín dụng, sức khỏe tài chính ngân hàng, sự phát triển thị trường tài chính và hệ thống pháp lý Tuy nhiên, ở mỗi nước NHTW căn cứ vào luật định, điều kiện và bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội, thị trường tài chính – tiền tệ ở mỗi nước, cũng như mục tiêu của chính sách tiền tệ để áp dụng cơ chế điều hành lãi suất phù hợp trong từng thời kỳ nhằm ổn định và phát triển thị trường tiền tệ, tạo điều
Trang 11kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng và sự phân bổ có hiệu quả các nguồn vốn trong nền kinh tế Vì vậy nghiên cứu về truyền dẫn lãi suất là cần thiết
Về mặt thực tiễn, khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 đã có những ảnh hưởng nhất định đến nền kinh tế Việt Nam nói chung và hệ thống ngân hàng Việt Nam nói riêng Tuy nhiên việc áp dụng kịp thời cơ chế điều hành lãi suất đã ngăn chặn được nguy cơ xáo trộn trên thị trường tiền tệ và mất khả năng thanh toán của các Ngân hàng thương mại (NHTM) trong những tháng đầu năm 2008, an toàn hệ thống ngân hàng được đảm bảo, củng cố lòng tin của các nhà đầu tư, doanh nghiệp và người dân đối với hệ thống ngân hàng Năm 2008 và những tháng đầu năm 2009, tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng phù hợp với diễn biến tình hình thực tế Và đến năm 2015-2016 hoạt động ngân hàng đã có sự phục hồi và phát triển vượt bậc về nhiều mặt và đạt được kết quả tích cực Trên cơ sở diễn biến vĩ mô, tiền
tệ, lạm phát, NHNN duy trì ổn định các mức lãi suất điều hành và thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ để đảm bảo thanh khoản, tín dụng tăng trưởng ở mức hợp lý Những kết quả tích cực trên đã góp phần quan trọng vào việc tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Để đạt được kết quả trên là do NHNN Việt Nam đã thực hiện việc điều hành chính sách lãi suất một cách linh hoạt nhằm thực thi chính sách tiền tệ hợp lý Đó chính là lý do tác giả
muốn thực hiện luận văn thực nghiệm về “Mức độ truyền dẫn lãi suất chính sách
đến lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu:
Bài luận văn này được thực hiện với mục tiêu nghiên cứu là:
- Đo lường mức độ truyền dẫn và phân tích kết quả truyền dẫn lãi suất chính sách đến lãi suất tiền gửi và cho vay tại các Ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam
- Từ kết quả nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị về điều hành lãi suất đến lãi suất tiền gửi và cho vay tại các NHTM Việt Nam
1.3 Câu hỏi nghiên cứu:
Trang 12Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, hai câu hỏi nghiên cứu được đặt ra:
(1) Mức độ truyền dẫn lãi suất chính sách đến lãi suất tiền gửi và cho vay tại các NHTM Việt Nam giai đoạn 2000-2016 như thế nào?
(2) Những khuyến nghị nào có thể được đề xuất về điều hành lãi suất đến lãi suất tiền gửi và cho vay tại các NHTM Việt Nam?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Bài nghiên cứu về mức độ truyền dẫn lãi suất chính sách của Ngân hàng nhà nước đến lãi suất tiền gửi và cho vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu: các NHTM tại Việt Nam
Thời gian nghiên cứu: dữ liệu nghiên cứu được thu thập trong khoảng thời gian
từ quý 1/2000 – quý 3/2016
1.5 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện luận văn những phương pháp nghiên cứu được thực hiện nhằm làm rõ các mục tiêu nghiên cứu bao gồm:
- Tổng hợp và phân tích số liệu lấy từ nhiều nguồn tin cậy như: dữ liệu thống kê tài chính quốc tế (IFS) và NHNN Việt Nam, Tổng cục thống kê
- Thu thập tài liệu và kế thừa những kết quả và phương pháp từ các nghiên cứu thực nghiệm trước đây để giải thích và so sánh
- Sử dụng mô hình vector tự hồi quy (VAR/VECM) dựa trên mô hình nghiên cứu của Nikolay Hristov và cộng sự (2014) để đo lường mức độ truyền dẫn của lãi suất chính sách đến lãi suất tiền gửi và cho vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn từ quý 1/2000 – quý 3/2016 Lần lượt kiểm định tính dừng, đồng liên kết,
độ trễ tối đa cũng như độ ổn định của mô hình Tác giả sử dụng hàm phản ứng xung
Trang 13đo lường cú sốc lãi suất chính sách tác động tới lãi suất bán lẻ, và phân rã phương sai trong đo lường tỷ trọng ảnh hưởng đến phương sai lãi suất bán lẻ tại Việt Nam
1.6 Kết cấu luận văn:
Luận văn được kết cấu như sau:
Chương 1: Giới thiệu Trong chương này tác giả trình bày lý do chọn đề tài, xác
định mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, kết cấu của đề tài và ý nghĩa khoa học của đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về sự truyền dẫn lãi suất chính sách đến lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay tại các NHTM Trong chương này tác giả trình bày cơ
sở lý thuyết chính của cơ chế truyền dẫn lãi suất, tổng quan các nghiên cứu trước đây
Chương 3: Thực trạng lãi suất chính sách của NHNN, lãi suất tiền gửi và cho vay tại các NHTM Việt Nam.Trong chương này tác giả trình bày diễn biến lãi
suất chính sách và lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay tại các NHTM Việt Nam giai đoạn từ quý 1/2000 – quý 3/2016
Chương 4: Đo lường mức độ truyền dẫn lãi suất chính sách đến lãi suất tiền gửi và cho vay tại các NHTM Việt Nam Trong chương này tác giả sẽ làm rõ
phương pháp nghiên cứu như cách thu thập số liệu, mô hình nghiên cứu, phương pháp ước lượng và trình bày kết quả nghiên cứu từ mô hình thực nghiệm nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị: Trong chương này tác giả sẽ tổng kết các
kết quả mà đề tài đạt được và đề xuất một số khuyến nghị
1.7 Ý nghĩa khoa học của đề tài:
Với phương pháp tiếp cận dựa trên nghiên cứu của Nikolay Hristov & cộng sự (2014) đã kiểm định độ ổn định phù hợp với dữ liệu Việt Nam, đề tài đóng góp bằng chứng thực nghiệm về mức độ truyền dẫn lãi suất chính sách của NHNN Việt Nam đến lãi suất tiền gửi và cho vay tại các NHTM Việt Nam, cụ thể là khi có sự
Trang 14thay đổi lãi suất chính sách thì sẽ làm cho lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay tại các NHTM Việt Nam sẽ có biến động ra sao trong giai đoạn quý 1/2000 – quý 3/2016, khi cập nhật thời gian nghiên cứu so với các đề tài trước
Từ bằng chứng thực nghiệm, đề tài thực hiện nhằm củng cố kết quả một số nghiên cứu trước đây tại Việt Nam, từ đó đưa ra các khuyến nghị trong phạm vi kết quả nghiên cứu đến điều hành chính sách lãi suất
Trang 15Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ TRUYỀN DẪN LÃI SUẤT CHÍNH SÁCH ĐẾN LÃI SUẤT TIỀN GỬI VÀ CHO VAY TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI 2.1 Tổng quan về lãi suất
2.1.1 Cơ sở lý thuyết về lãi suất
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, một trong những biến số được xem là quan trọng, có ảnh hưởng và quan hệ mật thiết đến từng cá nhân, tổ chức trong xã hội đó là lãi suất Có nhiều quan điểm khác nhau về lãi suất, chẳng hạn như:
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại: “Lãi suất là giá cả cho vay, là chi phí của việc sử dụng vốn và các dịch vụ tài chính khác”
Theo quan điểm của K.Mark: “Lãi suất là một phần của giá trị thặng dư mà nhà
tư bản sản xuất phải trả cho nhà tư bản tiền tệ vì việc đã sử dụng vốn trong một khoản thời gian nhất định”
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học về lượng cầu tài sản: “Lãi suất là cơ sở
để xác định chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền”
Theo quan điểm của Ngân hàng Thế giới: “Lãi suất là tỷ lệ phần trăm của tiền lãi
so với tiền vốn”
Tóm lại, lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn vay trong một thời gian
nhất định mà người sử dụng trả cho người sở hữu nó Hay nói cách khác, lãi suất là
tỷ lệ phần trăm giữa tiền lãi (hay chi phí phải trả) trên một số lượng tiền nhất định
để được sở hữu và sử dụng số tiền đó trong một khoảng thời gian đã thỏa thuận trước
2.1.2 Các loại lãi suất
Tùy theo mục đích, tiêu chí phân loại sẽ có nhiều loại lãi suất khác nhau, trong nền kinh tế thị trường tồn tại một vài lãi suất như sau:
Trang 16Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất được áp dụng cho các nghiệp vụ chiết khấu, tái
chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác như tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán của NHTM Lãi suất này do NHTW ấn định căn cứ vào mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ và chiều hướng biến động lãi suất trên thị trường tiền tệ Đối với NHTM, lãi suất tái chiết khấu là lãi suất gốc để từ đó ấn định lãi suất chiết khấu và lãi suất cho vay khác
Lãi suất tái cấp vốn là lãi suất NHTW áp dụng cho các nghiệp vụ tái cấp vốn cho
các NHTM Ở Việt Nam, NHTW tái cấp vốn cho NHTM qua các hình thức: cho vay lại theo hồ sơ tín dụng, chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác Chúng là những khoản vay ngắn hạn để giải quyết tình trạng mất thanh khoản tạm thời tại các NHTM hoặc để thực hiện những lý do điều hành đặc biệt khác trong hoạt động ngân hàng Các khoản vay ngắn hạn này thường được đảm bảo bằng các khoản vay hiện hữu tại NHTM mà NHTM được nắm giữ hợp pháp
Như vậy, sự khác biệt giữa lãi suất tái chiết khấu và tái cấp vốn là các tài sản dùng để thế chấp cho việc vay mượn tiền khác nhau Lãi suất tái chiết khấu áp dụng đối với các giấy tờ có độ rủi ro thấp như trái phiếu chính phủ, thương phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn Còn lãi suất tái cấp vốn là lãi suất áp dụng cho các loại tài sản thế chấp có độ rủi ro cao hơn, trong đó có các khoản cho vay của các NHTM
Lãi suất tiền gửi là lãi suất ngân hàng trả cho các khoản tiền gửi vào ngân hàng
Lãi suất tiền gửi ngân hàng có nhiều mức khác nhau tùy thuộc vào loại tiền gửi (không kỳ hạn, tiết kiệm ), thời hạn gửi và quy mô tiền gửi, loại tiền tệ
Lãi suất thị trường liên ngân hàng là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi cho
vay trên thị trường liên ngân hàng Lãi suất liên ngân hàng thường được ấn định bởi quan hệ cung cầu vốn vay trên thị trường liên ngân hàng và chịu sự chi phối bởi lãi suất mà Ngân hàng Trung ương cho các ngân hàng trung gian vay Mức độ chi phối phụ thuộc vào sự phát triển của hoạt động thị trường mở và tỷ trọng sử dụng vốn vay Ngân hàng trung ương của các ngân hàng trung gian Ngân hàng Trung ương là
Trang 17tổ chức công bố thông tin sẽ tập hợp số liệu của các ngân hàng, tính toán và đưa ra một con số bình quân (lãi suất bình quân liên ngân hàng)
Lãi suất cho vay là lãi suất mà người đi vay phải trả cho ngân hàng khi đi vay từ
ngân hàng để được sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định Lãi suất cho vay
có nhiều loại khác nhau tùy theo loại tiền tệ, thời hạn, phương thức thanh toán, mục đích sử dụng vốn vay,
2.1.3 Khái quát về công cụ lãi suất
Ngân hàng Trung ương sử dụng lãi suất như một công cụ để tác động đến lượng tiền trong lưu thông nhằm đạt được mục tiêu của chính sách tiền tệ, không phải là lãi suất kinh doanh các ngân hàng thương mại áp dụng mà đó là lãi suất chính sách
Để điều hành chính sách tiền tệ thông qua công cụ lãi suất, Ngân hàng Trung ương
sẽ ấn định và công bố một số lãi suất chính sách như sau: lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn,…Trên cơ sở đó, các ngân hàng thương mại sẽ xây dựng cho mình một hệ thống lãi suất riêng, phù hợp với điều kiện huy động tiền gửi tiết kiệm và cho vay của mỗi ngân hàng, với những mức lãi suất khác nhau tùy thuộc vào thời hạn, mức độ rủi ro cao hay thấp của các khoản huy động và cho vay, mức độ tín nhiệm của mỗi ngân hàng đối với khách hàng của mình Ngoài ra các ngân hàng thương mại không chỉ huy động vốn trong dân mà còn có thể vay mượn lẫn nhau trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, thường là với một thời hạn ngắn có khi chỉ qua đêm theo một mức lãi suất liên ngân hàng thay đổi liên tục mỗi ngày tùy thuộc vào nguồn cung cầu vốn ngắn hạn trên thị trường Ngân hàng trung ương thường xuyên can thiệp trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng nhằm hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống ngân hàng đồng thời duy trì một mức lãi suất liên ngân hàng phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền tệ.
2.1.4 Nguyên tắc Taylor về điều hành công cụ lãi suất
Việc ra quyết định trong điều hành chính sách tiền tệ nói chung và lãi suất nói riêng của Ngân hàng Trung ương liên quan đến một vấn đề cố hữu là tính tự quyết hay quyết định có nguyên tắc Với xu thế minh bạch hóa và giải trình ngày càng cao
Trang 18đối với các quyết định chính sách, các NHTW nói chung đều đưa ra các nguyên tắc
cơ sở để điều hành lãi suất
Năm 1993, nhà nghiên cứu John B Taylor, Giáo sư Đại học Stanford (Mỹ) đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm đối với chính sách lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Federal Reserve - FED) trong vòng một thập niên trong giai đoạn 1980-
1990 và phát hiện ra rằng biến động lãi suất điều hành của FED tuân thủ theo một nguyên tắc nhất định trong mối tương quan với lạm phát và tăng trưởng kinh tế Từ quan sát trên, Taylor đã mở rộng nghiên cứu và khái quát hóa thành một nguyên tắc điều hành lãi suất của NHTW gọi là Nguyên tắc Taylor (the Taylor Rule - TR) Theo TR, lãi suất điều hành cần điều chỉnh phù hợp với thay đổi của chênh lệch sản lượng (chênh lệch giữa GDP tiềm năng và GDP thực tế trong một thời kỳ) và chênh lệch lạm phát (chênh lệch giữa mức lạm phát thực tế và mức lạm phát mục tiêu) trong nền kinh tế TR được hiện bằng hàm phản ứng chính sách sau:
Trong đó:
it : lãi suất điều hành của NHTW theoTR;
πt : là tỷ lệ lạm phát tính theo chỉ số GDP deflator;
πt* : là tỷ lệ lạm phát mục tiêu;
rt* : là lãi suất thực cân bằng giả định;
aπ và ay : là các tham số phản ứng chính sách hay trọng số đối với tăng trưởng và lạm phát;
yt : tăng trưởng GDP;
𝑦̅: tăng trưởng GDP tiềm năng
Theo nguyên tắc Taylor, Ngân hàng Trung ương nên thay đổi lãi suất danh nghĩa ra sao để đáp ứng các thay đổi của lạm phát, GDP hay các điều kiện kinh
tế khác Theo đó, nguyên tắc này nói rằng nếu lạm phát tăng thêm 1% thì Ngân
Trang 19hàng Trung ương nên tăng lãi suất danh nghĩa thêm hơn 1%
Ưu điểm của nguyên tắc Taylor:
Hạn chế của TR là không tính tới và đưa vào mô hình các diễn biến bất thường
và các điều kiện kinh tế vĩ mô khác ngoài tăng trưởng, lạm phát có thể tác động đến lãi suất; do đó, tính chỉ báo trong ngắn hạn
2.2 Lý thuyết về truyền dẫn lãi suất
2.2.1 Kênh lãi suất trong truyền dẫn chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ được xem như các hành động được thực hiện bởi Ngân hàng trung ương nhằm tác động đến lượng cung tiền hoặc lãi suất của nền kinh tế (Lico Reis, Roberto de Paula, 2008) Với mục tiêu ổn định mức giá, thúc đẩy kinh tế phát triển, NHTW sử dụng các công cụ của CSTT như: Lãi suất điều hành, hoạt động thị trường mở, dự trữ bắt buộc để tác động đến các biến số trong nền kinh tế Quá trình tác động đó chính là quá trình truyền dẫn lãi suất của CSTT (Trầm Thị Xuân Hương
và cộng sự, 2014) Các nghiên cứu cho thấy CSTT truyền dẫn thông qua nhiều kênh khác nhau, những kênh truyền dẫn chính bao gồm: Kênh lãi suất, kênh tỷ giá hối đoái, kênh tài sản, kênh tín dụng, kênh kỳ vọng
Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung vào kênh truyền dẫn lãi suất
Trang 20Theo trường phái kinh tế học Keynes, kênh lãi suất là kênh truyền dẫn chính của chính sách tiền tệ (Friedman, 1956) Theo lý thuyết Keynes, khi chính sách tiền tệ thay đổi làm tăng giảm cung tiền, từ đó làm thay đổi mức lãi suất thực và làm thay đổi sản lượng của nền kinh tế Quan điểm này có thể được mô tả bằng sơ đồ sau đây
về ảnh hưởng của sự mở rộng tiền tệ:
M tăng → r giảm → I tăng → Y tăng
Trong đó: M là cung tiền, M tăng chỉ ra rằng chính sách tiền tệ mở rộng dẫn tới
sự giảm sút của lãi suất thực (r giảm), sự suy giảm lãi suất thực lại làm giảm chi phí đầu tư, làm gia tăng chi tiêu vào các khoản mục đầu tư (I tăng), qua đó làm tăng mức tổng cầu và sản lượng (Y tăng) của nền kinh tế
Mặc dù Keynes nhấn mạnh quyết định đầu tư của doanh nghiệp phụ thuộc vào mức lãi suất thực, nhưng quyết định tiêu dùng của các hàng hóa thiết yếu lâu bền của hộ gia đình, cá nhân cũng bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi trong mức lãi suất thực
Do đó, kênh truyền dẫn của chính sách tiền tệ là kênh truyền dẫn ảnh hưởng bởi các
cú sốc liên quan đến đầu tư của doanh nghiệp và tiêu dùng cá nhân hàng thiết yếu lâu bền trong khu vực cá nhân
Điều quan trọng trong truyền dẫn của chính sách tiền tệ qua kênh lãi suất là quan tâm đến lãi suất thực chứ không phải mức lãi suất danh nghĩa Bởi vì lãi suất thực sẽ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp và quyết định tiêu dùng của cá nhân
2.2.2 Cơ chế truyền dẫn lãi suất
2.2.2.1 Khái niệm truyền dẫn lãi suất
Truyền dẫn lãi suất đóng vai trò quan trọng trong quá trình truyền tải chính sách tiền tệ và là vấn đề xuất hiện khá nhiều trong các bài nghiên cứu trên thế giới trong thời gian qua Khi đề cập đến truyền dẫn lãi suất, người ta muốn nhấn mạnh đến sự tác động của lãi suất chính sách, lãi suất thị trường đến lãi suất bán lẻ của của ngân hàng (Kazaziova, 2010) Mỗi nhà nghiên cứu đưa ra một cách nhìn và
Trang 21định nghĩa về truyền dẫn lãi suất khác nhau, tuy nhiên về cơ bản các định nghĩa đó
về bản chất đều giống nhau
Theo Qayyum và Khawaya (2005), Ozdemir (2009), quá trình truyền dẫn lãi suất là quá trình trong đó lãi suất bán lẻ (lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay) của các ngân hàng điều chỉnh trước sự điều chỉnh của lãi suất chính sách hay lãi suất thị trường tiền tệ, quá trình này gồm hai yếu tố đặc trưng là mức độ và tốc độ điều chỉnh của lãi suất bán lẻ
Theo Rehman (2009), truyền dẫn lãi suất được xem là mức độ và tốc độ thay đổi của lãi suất bán lẻ khi lãi suất chính sách được điều chỉnh Truyền dẫn lãi suất
có thể chia thành hai giai đoạn: giai đoạn một đo lường sự thay đổi của lãi suất chính sách đến lãi suất thị trường tiền tệ trong ngắn hạn, dài hạn và giai đoạn hai đo lường sự thay đổi của lãi suất thị trường tiền tệ đến lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay của các ngân hàng
Theo Wang và Lee (2009), Wang và Nguyen (2010), quá trình truyền dẫn lãi suất là quá trình khi Ngân hàng trung ương điều chỉnh chính sách tiền tệ (chẳng hạn như lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu), khi đó lãi suất thị trường (chẳng hạn như lãi suất liên ngân hàng) sẽ bị ảnh hưởng Theo đó, ngân hàng thương mại sẽ chuyển chi phí gia tăng do thay đổi lãi suất thị trường sang lãi suất bán lẻ (chẳng hạn như lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay)
Theo Sebastian (2012), khi lãi suất chính sách tăng, các ngân hàng sẽ tăng lãi suất cho vay một cách tương đối nhanh với một tỷ lệ tương đương Tuy nhiên, khi lãi suất chính sách giảm, lãi suất cho vay của ngân hàng sẽ điều chỉnh chậm hơn và không hoàn toàn Nếu tồn tại điều kiện ràng buộc về vốn và tính thanh khoản sẽ dẫn đến lãi suất cho vay tăng (giảm) cao (thấp) hơn lãi suất chính sách khi lãi suất chính sách tăng (giảm)
Tóm lại, truyền dẫn lãi suất là quá trình mà sự điều chỉnh của lãi suất chính
sách ảnh hưởng đến lãi suất thị trường, những thay đổi trong trong lãi suất thị trường sẽ sau đó sẽ gây ra những thay đổi của lãi suất tiền gửi và cho vay của các
Trang 22ngân hàng Trong đó, truyền dẫn hoàn toàn hàm ý rằng khi lãi suất chính sách tăng
lên (hay giảm đi) bao nhiêu phần trăm thì lãi suất bán lẻ cũng tăng lên (hay giảm đi)
bấy nhiêu phần trăm Tương tự, truyền dẫn không hoàn toàn hàm ý rằng lãi suất bán
lẻ điều chỉnh một lượng ít hơn so với sự điều chỉnh của lãi suất chính sách Tuy nhiên vẫn có khả năng xảy ra trường hợp đặc biệt là lãi suất bán lẻ thay đổi một lượng lớn hơn so với thay đổi của lãi suất chính sách (Wang và Lee, 2009)
2.2.2.2 Cơ chế truyền dẫn lãi suất chính sách đến lãi suất bán lẻ
Theo Nguyễn Khắc Quốc Bảo & Nguyễn Hữu Huy Nhựt (2013), nguyên tắc Taylor do tác giả John Brian Taylor lần đầu tiên công bố nghiên cứu của mình vào năm 1993 cũng đưa ra một nguyên tắc làm tiền đề cho các nghiên cứu về truyền dẫn lãi suất sau này Nguyên tắc này là một hàm phản ứng liên kết sự biến động trong lãi suất danh nghĩa với sự biến động trong các biến nội sinh Bằng cách ước lượng một mô hình đơn giản về hàm phản ứng của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, Taylor đã giúp một NHTW xác định lãi suất danh nghĩa trong ngắn hạn khi điều kiện kinh tế thay đổi để đạt được hai mục tiêu là ổn định kinh tế trong ngắn hạn và kiểm soát lạm phát trong dài hạn
Theo Sebastian (2012), khi lãi suất chính sách tăng, các ngân hàng sẽ tăng lãi suất cho vay một cách tương đối nhanh với một tỷ lệ tương đương Tuy nhiên, khi lãi suất chính sách giảm, lãi suất cho vay của ngân hàng sẽ được điều chỉnh chậm hơn và không hoàn toàn Nếu tồn tại điều kiện ràng buộc về vốn và tính thanh khoản sẽ dẫn đến lãi suất cho vay tăng (giảm) cao (thấp) hơn lãi suất chính sách khi lãi suất tăng (giảm)
Lãi suất thị trường
Hình 2.1 Cơ chế truyền dẫn lãi suất
Nguồn: Ming-Hua Liu, Dimitri Margaritis, Alireza Tourani-Rad (2008)
2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến truyền dẫn lãi suất
Trang 23Hiệu lực tác động từ lãi suất điều hành của NHTW đến lãi suất tiền gửi và lãi
suất cho vay của hệ thống ngân hàng được đo lường bởi mức độ và tốc độ điều chỉnh của lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay của hệ thống ngân hàng thương mại trước những điều chỉnh trong lãi suất điều hành của NHTW Sau đây là một số nhân
tố ảnh hưởng đến truyền dẫn lãi suất
Nhóm nhân tố ảnh hưởng từ thị trường quốc tế bao gồm cơ chế tỷ giá mà quốc gia đó theo đuổi; tình trạng đô la hóa nền kinh tế Tùy vào mỗi cơ chế tỷ giá sẽ có ảnh hưởng nhất định đến việc truyền dẫn chính sách tiền tệ của NHTW thông qua kênh lãi suất, nếu quốc gia theo đuổi cơ chế tỷ giá thả nổi trong điều kiện khả năng tiếp cận nguồn vốn từ nước ngoài dễ dàng cho phép tỷ giá phản ứng ngay lập tức trước những thay đổi về lãi suất và từ đó ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu ròng Còn khi mức độ đô la hóa cao có thể làm giảm ảnh hưởng của sự thay đổi lãi suất điều hành của NHTW đến lãi suất nội tệ của hệ thống ngân hàng Mức độ mà các ngân hàng có thể truyền tải sự gia tăng của lãi suất điều hành NHTW đưa ra đến lãi suất kinh doanh nội tệ của các ngân hàng có thể bị giới hạn do người đi vay có thể sử dụng “khả năng chuyển đổi đồng tiền” Ví dụ khi NHTW sử dụng CSTT thắt chặt, tăng các mức lãi suất điều hành (lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, thực hiện các nghiệp vụ mua vào trên OMO, …) Các động thái này sẽ có tác động làm tăng lãi suất cho vay nội tệ của hệ thống ngân hàng Trong trường hợp nền kinh tế bị đô
la hóa, sự gia tăng lãi suất nội tệ sẽ có sự dịch chuyển giữa đồng nội tệ và ngoại tệ, các khách hàng của ngân hàng chuyển sang vay bằng ngoại tệ với lãi suất tương đối thấp hơn, và do đó làm giảm hiệu lực tác động từ lãi suất điều hành đến lãi suất cho vay nội tệ của hệ thống ngân hàng
Nhóm nhân tố về chất lượng bảng cân đối kế toán của hệ thống ngân hàng bao gồm tỷ lệ thanh khoản; chất lượng tài sản của ngân hàng… Khi thanh khoản của hệ thống ngân hàng dồi dào, sự thay đổi trong lãi suất điều hành của NHTW dù có tác động làm thay đổi trong lãi suất cho vay của hệ thống ngân hàng thì cũng ít có tác động làm thay đổi cung hoặc cầu vốn ngân hàng Các ngân hàng có chất lượng tài sản thấp có thể phản ứng với chính sách tiền tệ mở rộng bằng cách củng cố thanh
Trang 24khoản hơn là mở rộng tín dụng khi NHTW thực hiện CSTT mở rộng, giảm lãi suất điều hành Do đó, sự thay đổi trong lãi suất điều hành của NHTW có thể chỉ tác động hạn chế đến lãi suất thị trường Về bản chất, các khoản vay mới tiềm năng bị
“thoái lui” bởi sự hiện diện của các khoản nợ xấu trên bảng cân đối của NHTM Hơn nữa, các ngân hàng phải tuân thủ các yêu cầu của NHTW, ngụ ý rằng năng lực của họ để mở rộng cho vay phụ thuộc mức độ đầy đủ vốn của bản thân ngân hàng Thêm vào đó các ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao thường phải trích lập dự phòng rủi
ro lớn và thậm chí phải sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu, và do đó, khi NHTW mở rộng CSTT, lãi suất cho vay sẽ khó giảm
Nhóm nhân tố về đặc điểm môi trường vận hành hệ thống tài chính bao gồm mức
độ cạnh tranh của hệ thống ngân hàng; sự phát triển của hệ thống tài chính; môi trường pháp lý… Mức độ cạnh tranh kém của hệ thống Ngân hàng làm giảm phản ứng của các ngân hàng đối với sự điều chỉnh lãi suất của NHTW, và do đó có thể làm giảm hiệu lực cơ chế truyền dẫn lãi suất
Nhóm nhân tố khác như các nhân tố vĩ mô; tính độc lập của NHTW
2.4 Lược khảo các nghiên cứu trước có liên quan đến truyền dẫn lãi suất
2.4.1 Nghiên cứu nước ngoài
Minh-Hua Liu và các cộng sự (2005) nghiên cứu mức độ truyền dẫn và tốc độ
điều chỉnh của lãi suất bán lẻ khi lãi suất chính sách thay đổi trong giai đoạn
1994-2004 tại New Zealand Tác giả đã sử dụng phương pháp Phillip Loretan trong dài hạn và mô hình hiệu chỉnh sai số ECM trong ngắn hạn để đo lường mức độ truyền dẫn từ lãi suất chính sách đến lãi suất bán lẻ Các kết quả thực nghiệm cho thấy: một là, mức độ truyền dẫn trong dài hạn là khác nhau đối với từng loại lãi suất bán lẻ; hai là, lãi suất ngắn hạn có mức độ truyền dẫn và tốc độ điều chỉnh nhanh hơn lãi suất dài hạn; ba là, có một vài bằng chứng về bất đối xứng trong việc điều chỉnh lãi suất bán lẻ
Nghiên cứu mức độ truyền dẫn lãi suất tại các tổ chức tài chính ở Malaysia,
Muhamed Zulkhibri (2010) sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số ECM để nghiên
Trang 25cứu mức độ truyền dẫn lãi suất chính sách và sự điều chỉnh lãi suất bán lẻ trong ngắn hạn và dài hạn Kết quả cho thấy cả truyền dẫn lãi suất tiền gửi và cho vay đều không hoàn toàn Tuy nhiên, mức độ truyền dẫn và tốc độ điều chỉnh khác nhau giữa các tổ chức tài chính và các lãi suất bán lẻ Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng những điều chỉnh lãi suất là bất đối xứng, những điều chỉnh sẽ có ý nghĩa hơn khi
áp dụng chính sách nới lỏng tiền tệ Những kết quả cung cấp sự hỗ trợ cho sự tồn tại kênh lãi suất của chính sách tiền tệ tại Malaysia
Tại một số quốc gia khu vực Châu á như Thailand, Singapore, Philippines,
Malaysia, Korea, Indonesia, Hongkong, Pih Nee Tai và Cộng sự (2011) xem xét
hiệu quả của cơ chế truyền dẫn lãi suất từ lãi suất thị trường tiền tệ đến lãi suất ngân hàng bán lẻ Đặc biệt, tác giả dự định điều tra những sự khác nhau trong mức độ truyền dẫn từ lãi suất chính sách đến lãi suất tiền gửi và cho vay thông qua các quốc gia và giữa thời kỳ trước và sau khủng hoảng năm 1997 Bài nghiên cứu sử dụng phương trình hồi quy SUR (hồi quy gần như không liên quan) Kết quả cho thấy tốc
độ truyền dẫn từ lãi suất thị trường tiền tệ đến lãi suất tiền gửi và cho vay là chậm
và yếu qua các nền kinh tế Không có sự khác biệt nhiều giữa tốc độ truyền dẫn đến lãi suất tiền gửi và cho vay nhưng tốc độ truyền dẫn vào lãi suất tiền gửi khá cao so với lãi suất cho vay Hầu hết các quốc gia có tốc độ điều chỉnh chậm hơn sau cuộc khủng hoảng 1997, cho thấy hiệu quả thấp của chính sách tiền tệ, thị trường tài
chính bất hoàn hảo và thiếu hội nhập tài chính
Nghiên cứu của Nikolay Hristov và các cộng sự (2014) sử dụng mô hình tự hồi
quy vector (VAR) các quốc gia thành viên ở khu vực châu âu để khám phá những ngân hàng đã điều chỉnh lãi suất bán lẻ như thế nào để phản ứng lại sự thay đổi của lãi suất thị trường tiền tệ giai đoạn 2003-1011 Kết quả tìm thấy truyền dẫn lãi suất
là hoàn toàn trong giai đoạn trước khủng hoảng và chỉ một phần trong thời kỳ khủng hoảng Sự suy giảm trong truyền dẫn lãi suất có thể liên quan đến sự thay đổi trong đặc tính cấu trúc của nền kinh tế và gia tăng quy mô của những cú sốc cấu trúc như chính sách tiền tệ, tổng cầu, tổng cung
Trang 26Anil Perera và J Wickrammanayake (2014) nghiên cứu những yếu tố quyết
định đến sự điều chỉnh lãi suất bán lẻ của các ngân hàng thương mại dựa trên mô hình dữ liệu bảng của 122 quốc gia Các yếu tố này gồm các yếu tố vĩ mô, các yếu
tố khu vực tài chính hay ngân hàng cũng như các yếu tố then chốt liên quan đến chất lượng tổ chức và thống trị Trong thực tế, mức độ phát triển của thị trường tài chính vẫn là yếu tố vĩ mô then chốt, trong khi đó mức độ cạnh tranh trong khu vực ngân hàng được phản ánh trong sức mạnh thị trường tồn tại như một yếu tố đặc biệt khu vực ngân hàng và tài chính then chốt Thêm vào đó, những yếu tố chất lượng tổ chức và thống trị giữ vai trò quan trọng
2.4.2 Nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu về cơ chế truyền dẫn dưới góc độ phân tích định lượng của tác giả
Nguyễn Phi Lân (2010) Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp mô hình vector tự
hồi quy cấu trúc (SVAR) để mô hình hóa khuôn khổ chính sách tiền tệ của một nền kinh tế thị trường với độ mở lớn như Việt Nam trong giai đoạn sau khủng hoảng tài chính khu vực 1997 Các phương pháp SVAR được xem là linh hoạt vì nó có thể chứa nhiều mối quan hệ giữa các biến số kinh tế vĩ mô dựa trên lý thuyết kinh tế và lần lượt cho phép chúng ta xác định được những cú sốc tiền tệ trực giao Kết quả cho thấy: thứ nhất, việc thay đổi lãi suất Việt Nam đồng (VND) trên thị trường tiền
tệ thông qua sử dụng các công cụ tiền tệ như thị trường mở hay tái cấp vốn sẽ mất thời gian khoảng là 3 - 5 tháng để có hiệu lực Việc VND bị mất giá cũng khiến lãi suất VND trên thị trường tiền tệ giảm xuống nhưng sẽ mất khoảng thời gian từ 5 đến 10 tháng; thứ hai, trước các cú sốc về tăng trưởng kinh tế, cụ thể là nền kinh tế đang ở trạng thái tăng trưởng nóng, chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price – CPI) có
xu hướng tăng nhanh và liên tục trong khoảng thời gian 5 - 10 tháng Tuy nhiên, chỉ
số CPI tương đối nhạy cảm và phản ứng mạnh trước động thái thắt chặt chính sách tiền tệ, cụ thể là giảm mạnh trong khoảng thời gian 6 - 9 tháng kể từ khi thực hiện
chính sách tiền tệ thắt chặt
Trang 27Cũng nghiên cứu cơ chế truyền dẫn lãi suất từ lãi suất chính sách qua lãi suất thị
trường đến lãi suất bán lẻ nhóm tác giả Đinh Thị Thu Hồng và Phan Đình Mạnh
(2013) đã thực hiện nghiên cứu ở Việt Nam và một số nền kinh tế mới nổi khác ở
Châu á Tác giả sử dụng mô hình ECM để kiểm tra tính đối xứng và tính bất dối xứng trong truyền dẫn lãi suất và mô hình ECM-EGARCH(1,1)-M để kiểm tra tác động của độ bất ổn lãi suất, tính cứng nhắc trong quá trình điều chỉnh và hiệu ứng đòn bẩy lên truyền dẫn Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ truyền dẫn từ lãi suất thị trường sang lãi suất bán lẻ là không hoàn toàn, với cơ chế truyền dẫn đối xứng hoặc bất đối xứng Trong một số trường hợp, độ biến động của lãi suất làm tăng biên độ truyền dẫn, nhưng trong một số trường hợp khác lại cho thấy kết quả ngược lại
Nguyễn Khắc Quốc Bảo & Nguyễn Hữu Huy Nhựt (2013) nghiên cứu tìm
kiếm bằng chứng và các yếu tố giải thích cho các mối quan hệ bất cân xứng trong truyền dẫn lãi suất ở Việt Nam Nghiên cứu được thực hiện trên mẫu dữ liệu gồm 6 NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2009-2012 Kết quả nghiên cứu cho thấy những điều kiện ràng buộc về vốn và tính thanh khoản của các NHTM chính là nguyên nhân của hiện tượng bất cân xứng trong truyền dẫn lãi suất ở Việt Nam Các ngân hàng bị giới hạn về nguồn vốn cho vay với lãi suất cao hơn so với ngân hàng không bị giới hạn; sự truyền dẫn từ lãi suất chính sách sang lãi suất cho vay thì không rõ ràng đối với cả hai nhóm ngân hàng bị giới hạn và không bị giới hạn; và lãi suất cho vay của ngân hàng bị giới hạn về vốn thì nhạy cảm hơn đối với sự thay đổi trong tổng cầu
Bằng việc sử dụng phương pháp hồi quy đồng liên kết đề xuất bởi Phillips & Loretan (1991) và mô hình ARDL để xác định mối quan hệ cân bằng dài hạn của
các chuỗi lãi suất, Nguyễn Thị Ngọc Trang và Nguyễn Hữu Tuấn (2014) nghiên
cứu sự truyền dẫn từ lãi suất chính sách (lãi suất tái cấp vốn) và lãi suất liên ngân
hàng đến lãi suất bán lẻ (lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay) ở Việt Nam Ngoài ra,
để phân tích phản ứng tức thời của lãi suất, tốc độ điều chỉnh về trạng thái cân bằng,
độ trễ điều chỉnh trung bình, sử dụng mô hình ECM Kết quả nghiên cứu tìm thấy
Trang 28mức độ truyền dẫn không hoàn toàn từ lãi suất liên ngân hàng và lãi suất chính sách đến lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi
Trầm Thị Xuân Hương và cộng sự (2014) nhóm tác giả sử dụng mô hình VAR
nghiên cứu tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế thông qua kênh truyền dẫn lãi suất và mức độ truyền dẫn giai đoạn trước và sau khủng hoảng năm 2008 Kết quả nghiên cứu cho thấy tại Việt Nam giai đoạn trước khủng hoảng tài chính, kênh lãi suất tồn tại đúng với lý thuyết tại Việt Nam thông qua cả lãi suất cho vay lẫn lãi suất huy động của NHTM Lạm phát sẽ giảm khi lãi suất điều hành tăng Giai đoạn khủng hoảng, lãi suất điều hành không còn truyền dẫn mạnh qua lãi suất cho vay và huy động của NHTM như lý thuyết Khi có cú sốc tăng trong lãi suất điều hành, lãi suất huy động tăng mạnh, lãi suất cho vay cũng tăng, tuy nhiên lạm phát lại không giảm mà lại tăng
Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu trước
Minh-Hua Liu và
các cộng sự (2005)
Mức độ truyền dẫn và tốc độ điều chỉnh của lãi suất bán lẻ khi lãi suất chính sách thay
đổi
Mức độ truyền dẫn trong dài hạn là khác nhau đối với từng loại lãi suất bán lẻ Lãi suất ngắn hạn có mức độ truyền dẫn và tốc độ điều chỉnh nhanh hơn lãi suất dài hạn
Có một vài bằng chứng về bất đối xứng trong việc điều chỉnh lãi suất bán lẻ
Trang 29Muhamed
Zulkhibri (2010)
Mức độ truyền dẫn lãi suất chính sách và sự điều chỉnh lãi suất bán lẻ
Cả truyền dẫn lãi suất tiền gửi và cho vay đều không hoàn toàn
Mức độ truyền dẫn và tốc độ điều chỉnh khác nhau giữa các tổ chức tài chính và các
ngân hàng bán lẻ
Tốc độ truyền dẫn từ lãi suất thị trường tiền tệ đến lãi suất tiền gửi và cho vay là chậm Không có sự khác biệt nhiều giữa tốc độ truyền dẫn đến lãi suất tiền gửi và cho vay
Nikolay Hristov và
các cộng sự (2013)
Sự điều chỉnh của lãi suất bán lẻ khi có sự thay của lãi suất thị trường tiền tệ giai đoạn 2003-1011
Truyền dẫn lãi suất là hoàn toàn trong giai đoạn trước khủng hoảng và chỉ một phần trong thời kỳ khủng hoảng
Anil Perera và J
Wickrammanayake
(2014)
Những yếu tố quyết định đến sự điều chỉnh lãi suất bán lẻ
Các yếu tố này gồm các yếu
tố vĩ mô, các yếu tố khu vực tài chính hay ngân hàng cũng như các yếu tố then chốt liên quan đến chất lượng tổ chức và thống trị
Nguyễn Phi Lân
Trang 30Mức độ truyền dẫn từ lãi suất thị trường sang lãi suất bán lẻ là không hoàn toàn
Những điều kiện ràng buộc
về vốn và tính thanh khoản của các NHTM chính là nguyên nhân của hiện tượng bất cân xứng trong truyền dẫn lãi suất ở Việt Nam
Sự truyền dẫn từ lãi suất chính sách sang lãi suất cho vay thì không rõ ràng đối với cả hai nhóm ngân hàng
bị giới hạn và không bị giới hạn
Mức độ truyền dẫn không hoàn toàn từ lãi suất liên ngân hàng và lãi suất chính sách đến lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi
Giai đoạn trước khủng hoảng kênh lãi suất tồn tại đúng với lý thuyết Lạm phát giảm khi lãi suất điều hành tăng
Giai đoạn khủng hoảng, lãi suất điều hành không còn truyền dẫn mạnh qua lãi suất cho vay và huy động của NHTM như lý thuyết
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
Trang 31Tóm tắt chương 2
Trong chương này, tác giả trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết về sự truyền dẫn lãi suất chính sách đến lãi suất tiền gửi và cho vay tại các ngân hàng thương mại Đồng thời lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến truyền dẫn lãi suất
Trang 32Chương 3: THỰC TRẠNG LÃI SUẤT CHÍNH SÁCH CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC, LÃI SUẤT TIỀN GỬI VÀ CHO VAY TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Trong chương này, tác giả với công cụ phân tích biểu đồ, xem xét tổng quan giá
trị dữ liệu nhằm mục đích xem xét xu hướng biến động, cũng như các sự kiện thay đổi nổi bật của các nhân tố nghiên cứu Chương sau với phương pháp nghiên cứu định lượng kiểm định dữ liệu tin cậy hơn trong nghiên cứu mối quan hệ truyền dẫn lãi suất và các yếu tố vĩ mô
3.1 Diễn biến GDP Việt Nam giai đoạn 2000 –2016
Hình 3.1: Diễn biến GDP Việt Nam giai đoạn 2000–2016
Nguồn: tác giả tổng hợp từ nguồn dữ liệu Tổng cục thống kê
Trang 33Các số liệu thống kê cho thấy, GDP nước ta tăng liên tục từ năm 2000 đến 2005, đạt mức 8,44% năm 2005, giảm nhẹ xuống còn 8,23% trong năm 2006 và tăng trở lại ở mức 8,48% năm 2007
Giai đoạn 2008-2009 GDP có sự sụt giảm mạnh năm 2008 ở mức 6,18% và 2009
là 5,32% Năm 2008 thế giới cũng như Việt Nam đã chứng kiến diễn biến phức tạp
và những hậu quả nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Với độ mở cửa nền kinh tế lớn, kinh tế Việt Nam không tránh khỏi chịu tác động bởi những diễn biến phức tạp của môi trường kinh tế thế giới Trong nước, kinh tế vĩ mô phải đối mặt với nhiều yếu tố không thuận lợi như tình trạng lạm phát và nhập siêu tăng mạnh, tình trạng tăng trưởng kinh tế tăng chậm lại, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn do kinh tế toàn cầu suy giảm Năm 2009, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới đã tác động tiêu cực đến cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế, đồng thời thiên tai, dịch bệnh trong nước liên tiếp xảy ra… làm suy giảm đà tăng trưởng kinh tế
Năm 2010 lại tăng lên 6,78%, hai năm tiếp theo 2011 và 2012 lại tiếp tục sụt giảm và ở mức 5,89% và 5,03% Năm 2012 có tỷ lệ tăng GDP thấp nhất trong vòng nhiều năm.Bình quân thời kỳ 2006-2010, tăng trưởng kinh tế đạt 7,01%/năm, trong
đó bình quân giai đoạn 2006-2007 đạt 8,34%; bình quân giai đoạn 2008-2010 đạt 6,14% do ảnh hưởng của lạm phát tăng cao và suy thoái kinh tế thế giới
Tổng sản phẩm trong nước năm 2015 ước tính tăng 6,68% so với năm 2014, mức tăng trưởng năm nay cao hơn mức tăng của các năm từ 2011-2014, cho thấy nền kinh tế phục hồi rõ nét Mức tăng trưởng GDP năm 2016 đạt 6,21%, theo Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê đánh giá: “Mức tăng trưởng GDP năm nay tuy thấp hơn mức tăng 6,68% của năm 2015 và không đạt mục tiêu tăng trưởng 6,7% đề ra, nhưng trong bối cảnh kinh tế thế giới không thuận, giá cả và thương mại toàn cầu giảm, trong nước gặp nhiều khó khăn do thời tiết, môi trường diễn biến phức tạp thì đạt được mức tăng trưởng trên là một thành công, khẳng định tính đúng đắn, kịp
Trang 34thời, hiệu quả của các biện pháp, giải pháp được Chính phủ ban hành, chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành, các địa phương cùng thực hiện“
3.2 Diễn biến CPI Việt Nam giai đoạn 2000 –2016
Hình 3.2: Diễn biến CPI Việt Nam giai đoạn 2000 –2016
Nguồn:tác giả tổng hợp từ nguồn dữ liệu Tổng cục thống kê
Mức lạm phát tính theo chỉ số giá tiêu dùng năm 2004 tăng 9,5% so với năm trước là mức cao nhất từ năm 2000, nguyên nhân quan trọng làm chỉ số giá tiêu dùng tăng trong năm 2004 là kinh tế thế giới tăng trưởng mạnh làm gia tăng cầu của nước ngoài đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam Trong năm 2004 cùng với các chính sách tích cực về mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu, sự tăng trưởng của kinh tế thế giới, đặc biệt là những nền kinh tế lớn, đã làm tăng nhu cầu nhập khẩu về lượng và kéo theo tăng giá có lợi cho các nước xuất khẩu, trong đó có Việt Nam
Mức tăng CPI năm 2005 giảm nhẹ nhưng vẫn đứng ở mức cao 8,4% và giảm còn 6,6% tháng 12 năm 2006 Năm 2008 chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, lạm phát tăng mạnh, chỉ số giá tiêu dùng tăng 19,89% cao hơn nhiều
Trang 35so với mức tăng 12,63% của năm 2007, chính phủ đã thắt chặt chính sách tiền tệ để kiềm chế lạm phát Đến cuối năm 2008 và 2009 CPI đã giảm tốc mạnh ở mức 6,52%
Lạm phát năm 2010 tăng cao so với năm 2009, thể hiện chỉ tiêu lạm phát CPI tăng 11,75% và tiếp tục tăng lên 18,13% trong năm 2011 là do kinh tế Việt Nam đối mặt với nhiều rủi ro thách thức do kinh tế thế giới biến động phức tạp dưới tác động của cuộc khủng hoảng nợ công Châu âu
Bước sang năm 2012, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu tăng chậm lại, kinh tế Việt Nam tiếp tục giữ được sự ổn định, lạm phát được kiềm chế thể hiện mức tăng CPI giảm từ 18,13% cuối năm 2011 xuống còn 6,81% cuối năm 2012 và tiếp tục giảm cuối năm 2015 chỉ tăng 0,6% Năm 2015, trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động phức tạp kể từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, kinh tế trong nước lại có sự phục hồi tích cực CPI của năm 2016 tăng ở mức độ thấp cụ thể tháng 12/2016 tăng 4,74% so với tháng 12/2015 Nguyên nhân khách quan là do CPI năm 2016 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới có những diễn biến phức tạp, kinh tế thế giới dần phục hồi tuy nhiên vẫn ở mức chậm và tiềm ẩn nhiều rủi ro cũng đã gây ảnh hưởng nhất định thị trường trong nước
3.3 Diễn biến lãi suất Việt Nam giai đoạn quý 1/2000 – quý 3/2016
3.3.1 Diễn biến lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn giai đoạn năm 2000-2016
Trang 36Hình 3.3: Diễn biến lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn giai đoạn
2000 – 2016
Nguồn: tác giả tổng hợp từ nguồn dữ liệu Ngân hàng Nhà nước
Tại Việt Nam, NHTW điều hành chính sách lãi suất thông qua 3 loại lãi suất là: lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn Tuy nhiên NHNN đã ngừng công bố lãi suất cơ bản kể từ cuối năm 2010 Theo đó lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn có độ biến động tương đương nhau và hầu như không biến động qua một thời gian dài Cụ thể NHNN ban hành một mức lãi suất và áp dụng mức lãi suất này trong vài năm như mức lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn đã được công bố và áp dụng lần lượt là 4,5%/năm; 6,5%/năm kể từ ngày 18/03/2014 đến nay
3.3.2 Diễn biến lãi suất bình quân liên ngân hàng giai đoạn quý 1/2000 – quý 3/2016
LÃI SUẤT TÁI CHIẾT KHẤU LÃI SUẤT TÁI CẤP VỐN
Trang 37Hình 3.4: Diễn biến lãi suất bình quân liên ngân hàng bình quân 3 tháng giai
đoạn quý 1/2000 – quý 3/2016
Nguồn: tác giả tổng hợp từ nguồn dữ liệu IMF
Tại Việt Nam việc đo lường lãi suất Ngân hàng Trung Ương dựa trên lãi suất liên ngân hàng, tiếp cận dựa trên nhiều nghiên cứu trước đây Cụ thể trích trong nghiên cứu Trầm Thị Xuân Hương, Võ Vinh Xuân và Nguyễn Phúc Cảnh (2014) cho rằng
“Về mặt lãi suất chính sách, tại Việt Nam có ba lãi suất chính: lãi suất bình quân liên ngân hàng, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu Tuy nhiên, cửa chiết khấu và vay tái cấp vốn tại Việt Nam hoạt động không nhiều và hiệu quả, trong khi
đó hoạt động trên thị trường liên ngân hàng là kênh điều hành chính của Ngân hàng Trung ương trong thực thi chính sách tiền tệ, do đó nhóm tác giả sử dụng lãi suất bình quân liên ngân hàng đại diện cho lãi suất của chính sách tiền tệ tại Việt Nam” Trong các năm 2000 và 2007, lãi suất bình quân liên ngân hàng đã ở mức dao động thấp từ 6,47 – 8,85% Năm 2008, nền kinh tế thế giới trải qua nhiều sự kiện phức tạp, khó lường xuất phát từ cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ, trong nước lạm phát và nhập siêu tăng mạnh đe dọa đến sự ổn định kinh tế vĩ mô, cùng với các giải pháp thắt chặt tiền tệ NHNN đã điều chỉnh tăng các lãi suất chính sách Trong
Trang 38đó sự leo thang của lãi suất bình quân liên ngân hàng với đỉnh điểm là mức lãi suất 18,19% trong tháng đầu quý 3/2008 nhưng từ giữa quý 3/2008 đến quý 2/2009 liên tục giảm từ 18,19% xuống còn 7,97% Tiếp tục tăng nhẹ đến quý 4/2010 đạt 13,50% và giữ ổn định ở mức 13,50% trong suốt năm 2011
Bước sang năm 2012, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu tăng chậm lại, kinh tế Việt Nam tiếp tục giữ được sự ổn định, lãi suất giảm liên tục phù hợp với diễn biến kinh
tế vĩ mô, tiền tệ đặc biệt là diễn biến lạm phát Đến quý 3/2016 lãi suất bình quân trên thị trường liên ngân hàng đã giảm xuống mức 3,68%/năm, đây là mức thấp kỷ lục của lãi suất này trong rất nhiều năm qua
3.3.3 Diễn biến lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay tại các NHTM Việt Nam giai đoạn quý 1/2000 – quý 3/2016
Hình 3.5 Diễn biến lãi suất tiền gửi, cho vay giai đoạn quý 1/2000 – quý 3/2016
Nguồn: tác giả tổng hợp từ nguồn dữ liệu IMF
• Lãi suất tiền gửi:
Trang 39Lãi suất tiền gửi giai đoạn từ năm 2000-2007 không theo một xu hướng biến động nhất định với biên độ nhỏ, như từ lãi suất 3,54%/năm trong quý 3 năm 2000
có xu hướng tăng qua các quý nhưng trong một vài thời điểm thì có sự biến động giảm nhẹ và đến cuối năm 2007 thì lãi suất ở mức 7,28%/năm
Từ sau năm 2007, trong công tác điều hành chính sách tiền tệ nói chung và cơ chế điều hành lãi suất nói riêng của NHNN, lãi suất trên thị trường huy động vốn từ dân cư và tổ chức kinh tế có nhiều biến động Chính sách thắt chặt tiền tệ đầu năm
2008 của Ngân hàng Nhà nước gắn liền với sự căng thẳng về thanh khoản của các ngân hàng thương mại Lãi suất huy động VND có kỳ biến động mạnh nhất từ trước tới nay Trong đó, ở nhiều thời điểm lãi suất huy động tăng cao đột biến và cùng với
nó là những cuộc chạy đua lãi suất giữa các NHTM với nhau, điển hình là quý 3 năm 2008 lãi suất đạt mức 16,99%/năm Trong những quý năm 2009 lãi suất huy động giảm mạnh so với năm 2008, tăng nhẹ trong năm 2010 Phù hợp với xu hướng điều hành chặt chẽ về tiền tệ của NHNN, giảm lượng cung tiền, tăng lãi suất điều hành, lãi suất tiền gửi chịu áp lực gia tăng trong nửa năm đầu 2011 và duy trì ở mức 14%/năm trong nửa cuối năm
Giai đoạn 2012 đến quý 3 năm 2015 lãi suất tiền gửi có xu hướng giảm qua các năm từ 13,65%/năm trong quý 1 năm 2012 xuống còn 4,72%/năm trong quý 3 năm
2015 Trong 3 quý năm 2016, lãi suất tiền gửi có xu hướng biến động tăng nhẹ trong quý 2 và giảm nhẹ trong quý 3 đạt 5,10%/năm
• Lãi suất cho vay:
Dưới tác động của cơ chế điều hành lãi suất của NHNN, theo xu hướng tăng giảm của lãi suất huy động, lãi suất cho vay trên thị trường trong nhiều thời điểm cũng có những biến động mạnh, đã có những tác động không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của các NHTM cũng như các đối tượng có nhu cầu tiếp cận vốn vay ngân hàng trong nền kinh tế Trong đó lãi suất cho vay trên thị trường có xu hướng dịch chuyển khá nhịp nhàng theo xu hướng biến động của lãi suất tiền gửi
Trang 40Năm 2008 là thời điểm mà hoạt động cho vay của nhiều ngân hàng thương mại cầm chừng, doanh nghiệp vay vốn khó khăn cả về lãi suất cao lẫn khả năng tiếp cận vốn, tín dụng tiêu dùng gần như bị cắt bỏ, tốc độ tăng trưởng tín dụng bước vào vùng thấp nhất trong năm Lãi suất cho vay tăng cao, có thời điểm lên mức trên 20%/năm như trong quý 3 năm 2008 nhưng sau đó giảm mạnh và tăng nhẹ trở lại kể
từ quý 3 năm 2009 Trong 6 tháng đầu năm 2011 lãi suất cho vay chịu áp lực gia tăng phù hợp với xu hướng điều hành chặt chẽ về tiền tệ của NHNN giảm lượng cung tiền, tăng lãi suất điều hành, quý 2 đạt 18,02%/năm và kể từ quý 2 năm 2011 đến quý 4 năm 2015, lãi suất cho vay có xu hướng giảm qua từng quý và duy trì ổn định ở mức 6,96%/năm trong 3 quý đầu năm 2016 Năm 2015, NHNN điều hành lãi suất ổn định, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường tiền tệ; định hướng các
tổ chức tín dụng phấn đấu giảm lãi suất cho vay trung và dài hạn, góp phần hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh