Nổi bậc là việc điều hành chính sách lãi suất linh hoạt của ngân hàng nhà nước nhằm mục tiêu kiềm chế lạm phát hay hỗ trợ sản xuất nhằm phục hồi tăng trưởng, tuy nhiên thời gian qua lãi
Trang 1ĐOÀN DUY KHÁNH
MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN LÃI SUẤT CƠ BẢN CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VÀO LÃI SUẤT TIỀN GỬI VÀ LÃI SUẤT CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG
TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp.Hồ Chí Minh, năm 2014
Trang 2ĐOÀN DUY KHÁNH
MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN LÃI SUẤT CƠ BẢN CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VÀO LÃI SUẤT TIỀN GỬI VÀ LÃI SUẤT CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG
TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
Chuyên ngành : Kinh tế Tài chính – Ngân hàng
Mã số : 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Hoàng Ngân
Tp.Hồ Chí Minh, năm 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 3
4 Đối tượng nghiên cứu 3
5 Phạm vi nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Kết cấu luận văn 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SỰ TRUYỀN DẪN LÃI SUẤT CƠ BẢN CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VÀO LÃI SUẤT TIỀN GỬI VÀ LÃI SUẤT CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Cơ sở lý thuyết của truyền dẫn lãi suất 5
1.1.1 Lập luận của Taylor về cách tính lãi suất danh nghĩa 5
1.1.2 Các khái niệm truyền dẫn lãi suất và cơ chế truyền dẫn lãi suất 6
1.1.3 Các kênh truyền dẫn tác động của chính sách tiền tệ 6
1.2 Tổng quan về lãi suất cơ bản 10
1.2.1 Lãi suất cơ bản ở Việt Nam 10
1.2.2 Lãi suất cơ bản tại một số quốc gia trên thế giới 11
1.3 Cơ chế truyền dẫn lãi suất cơ bản tại Việt Nam 13
1.4 Mối quan hệ truyền dẫn giữa lãi suất cơ bản và lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay 14
Trang 4Tóm tắt chương 1 21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DIỄN BIẾN VÀ MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA LÃI SUẤT CƠ BẢN CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VÀ LÃI SUẤT TIỀN GỬI, LÃI SUẤT CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 23
2.1 Dữ liệu nghiên cứu 25
2.2 Diễn biến lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước giai đoạn 2007-2013 25 2.3 Diễn biến lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay của Vietcombank trong mối tương quan với lãi suất cơ bản 28
2.4 Phân tích thống kê mô tả mối quan hệ giữa lãi suất cơ bản, lãi suất huy động và cho vay 31
2.5 Diễn biến lãi suất huy động và cho vay của Vietcombank trong mối tương quan với trần lãi suất huy động 35
2.6 Diễn biến lãi suất huy động và cho vay của Vietcombank trong mối tương quan với lãi suất tái chiết khấu 39
Tóm tắt chương 2 43
CHƯƠNG 3: ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN LÃI SUẤT CƠ BẢN CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VÀO LÃI SUẤT TIỀN GỬI VÀ LÃI SUẤT CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 44
3.1 Mô hình nghiên cứu 44
3.1.1 Kiểm định tính dừng và xác định bậc tích hợp 47
3.1.2 Kiểm định đồng liên kết 51
3.1.3 Chọn bước trễ tối ưu cho các biến trong mô hình 55
3.2 Kế quả truyền dẫn lãi suất cơ bản 55
Trang 53.3.1 Đo lường mức độ truyền dẫn lãi suất tái chiết khấu trong dài hạn 62
3.3.2 Đo lường mức độ truyền dẫn lãi suất tái chiết khấu trong ngắn hạn 63
Tóm tắt chương 3 64
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6CVNH : Lãi suất cho vay ngắn hạn
CVTDH : Lãi suất cho vay trung dài hạn
ECM (Error Corrected Model): Mô hình hiệu chỉnh sai số
LSCB : Lãi suất cơ bản
LSTCK : Lãi suất tái chiết khấu
NHNN : Ngân hàng nhà nước
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHTW : Ngân hàng trung ương
OLS (Ordinary least square): Phương pháp bình phương bé nhất
PP (Phillips Perron) : Kiểm định tính dừng theo phương pháp PP
TCTD : Tổ chức tín dụng
TG12T : Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng
TG18T : Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 18 tháng
TG1T : Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 1 tháng
TG24T : Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 24 tháng
TG6T : Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 6 tháng
TLSHD : Trần lãi suất huy động
Vietcombank : Ngân hàng TCMP Ngoại Thương Việt Nam
Trang 7Bảng 2.1 Kết quả thống kê mô tả lãi suất cơ bản, lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay 31 Bảng 2.2 Ma trận tương quan giữa lãi suất cơ bản, lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay 33 Bảng 3.1 Kết quả kiểm định tính dừng bằng phương pháp ADP 49 Bảng 3.2 Kết quả kiểm định tính dừng bằng phương pháo PP 50 Bảng 3.3 Tổng hợp kết quả kiểm định đồng liên kết Johansen 53 Bảng 3.4 Kết quả lựa chọn độ trễ 55 Bảng 3.5 Kế quả truyền dẫn lãi suất cơ bản trong dài hạn 55 Bảng 3.6 Kế quả truyền dẫn lãi suất cơ bản trong ngắn hạn 58 Bảng 3.7 Kết quả truyền dẫn lãi suất tái chiết khấu trong dài hạn 62 Bảng 3.8 Kết quả truyền dẫn lãi suất tái chiết khấu trong ngắn hạn 63
Trang 8Trang Hình 2.1 Biến động lãi suất cơ bản 21
Hình 2.2 Biến động lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay trong mối
tương quan với lãi suất cơ bản 22
Hình 2.3 Biến động lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay trong mối
tương quan với trần lãi suất huy động 29 Hình 2.4 Biến động lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay trong mối
tương quan với lãi suất tái chiết khấu 33
Trang 9Hình 2.1 Biến động lãi suất cơ bản 27
Hình 2.2 Biến động lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay trong mối
tương quan với lãi suất cơ bản 28
Hình 2.3 Biến động lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay trong mối
tương quan với trần lãi suất huy động 36
Hình 2.4 Biến động lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay trong mối
tương quan với lãi suất tái chiết khấu 41
Trang 10Trang Hình 2.1 Biến động lãi suất cơ bản 21
Hình 2.2 Biến động lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay trong mối
tương quan với lãi suất cơ bản 22
Hình 2.3 Biến động lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay trong mối
tương quan với trần lãi suất huy động 29 Hình 2.4 Biến động lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay trong mối
tương quan với lãi suất tái chiết khấu 33
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
- Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 đã có những tác động tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam Nền kinh tế Việt Nam đã trải qua nhiều khó khăn trong những năm qua như: Hàng tồn kho tăng cao, thị trường bất động sản đóng băng, hệ thống ngân hàng gặp khó khăn về thanh khoản và tỷ nợ xấu tăng cao Kết thúc năm 2013 nền kinh tế Việt Nam đã dần đi vào ổn định, vấn đề lạm pháp được kiểm soát, tuy nhiên nền kinh tế vẫn đang phải đối mặt với những khó khăn và thách thức như tỷ lệ tăng trưởng GDP còn thấp (năm 2013 khoảng 5,42%), vấn đề tái cấu trúc nền kinh tế chưa đạt yêu cầu, hàng loạt doanh nghiệp đóng cửa ngừng hoạt động, tăng trưởng tín dụng không đạt mục tiêu (12%), hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thấp Nổi bậc là việc điều hành chính sách lãi suất linh hoạt của ngân hàng nhà nước nhằm mục tiêu kiềm chế lạm phát hay hỗ trợ sản xuất nhằm phục hồi tăng trưởng, tuy nhiên thời gian qua lãi suất huy động và cho vay trên thị trường tiền tệ đã có những biến động hết sức phức tạp, cụ thể là vào những tháng cuối năm 2008 ngân hàng nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm chống lạm phát, do đó ngân hàng nhà nước đã nâng lãi suất cơ bản lên mức 14%/năm, một số ngân hàng thương mại đã lách luật đẩy lãi suất huy động lên mức từ 17,5%/năm đến 20%/năm, lãi suất cho vay ở mức
từ 25%/năm đến 27%/năm, hay vào những tháng giữa năm 2011 khi lạm phát có dấu hiệu quay trở lại ngân hàng nhà nước đã qui định mức trần lãi suất huy động là 14%/năm, một số ngân hàng thương mại gặp khó khăn về thanh khoản đã phá rào trần lãi suất huy động bằng mọi cách như chi hoa hồng, chi tiền mặt ngoài sổ sách, nhận ủy thác đầu tư trá hình…Đặc biệt là vào những tháng cuối năm 2013 nổi lên vấn đề một số ngân hàng thương mại cho vay với mức lãi suất thấp hơn lãi suất huy động
- Với tình hình nền kinh tế Việt Nam như nay nay, việc hoạch định cơ chế điều hành chính sách tiền tệ hợp lý sẽ có những tác động tích cực đến nền
Trang 12kinh tế Lãi suất là một công cụ đặt biệt quan trong trong việc thực thi chính sách tiền tệ Lãi suất vừa là công cụ điều tiết vừa được xem như yếu tố phát tín hiệu định hướng thị trường Sự biến động của lãi suất thị trường tác động đến quá trình lưu thông và phân bổ vốn đến với các chủ thể của nền kinh Lãi suất hiện là một chỉ báo kinh tế quan trọng luôn thu hút sự quan tâm của cộng đồng doanh nghiệp, các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước
- Tại Việt Nam, đã có một số nghiên cứu về cơ chế truyền dẫn tiền tệ nói chung tuy nhiên vấn đề truyền dẫn lãi suất cơ bản đến lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay tại các ngân hàng thương mại chưa thu hút được sự quan tâm nghiên cứu trong thời gian qua Dựa trên bài nghiên cứu của nhóm 3 tác giả Ming Hua Liu - Dimitri Margaritis và Alireza Tourani Rad (2005) về tính minh bạch của chính sách tiền tệ và cơ chế dẫn truyền từ lãi suất chính sách sang lãi suất thị trường và lãi suất tiền gửi-tiền vay tại New Zealand giai đoạn 1994-2004, tác giả thực hiện bài nghiên cứu thực nghiệm về mức độ truyền dẫn lãi suất cơ bản của Ngân hàng nhà nước vào lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank) nhằm mục đích tìm hiểu sâu hơn về cơ chế truyền dẫn lãi suất và góp phần
có thêm những nghiên cứu thực nghiệm vấn đề này cũng như đưa những kiến nghị nhằm nhằm nâng cao tính hiệu quả của truyền dẫn lãi suất tại Vietcombank
- Bên cạnh đó, trong bài luận văn này tác giả cũng đo lường thêm mức độ truyền dẫn lãi suất tái chiết khấu của Ngân hàng nhà nước làm cơ sở để so sánh, đánh giá với mức độ truyền dẫn của lãi suất cơ bản Ngoài ra tác giả còn phân tích đánh giá hiệu quả của cơ chế điều hành trần lãi suất huy động của Ngân hàng nhà nước trong thời gian qua Vì cơ chế điều hành trần lãi suất huy động được xem như sự tiếp nối của cơ chế điều hành lãi suất cơ bản
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu rõ về cơ chế truyền dẫn từ lãi suất cơ bản vào lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay tại các ngân hàng thương mại
Trang 13- Đo lường mức độ và phân tích kết quả truyền dẫn lãi suất trong ngắn hạn, trung và dài hạn tại Vietcombank
- Từ kết quả nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị về chính sách điều hành lãi suất và một số kiến nghị đối với Vietcombank nhằm nâng cao tính hiệu quả của truyền dẫn lãi suất cũng như hiệu quả hoạt động của Vietcombank
3 Câu hỏi nghiên cứu:
- Cơ chế truyền dẫn từ lãi suất cơ bản vào lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay tại ngân hàng thương mại hiện nay như thế nào?
- Diễn biến thực trạng lãi suất cơ bản, lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay tại Vietcombank thời gian qua ra sao?
- Mức độ truyền dẫn và chiều hướng tác động của lãi suất cơ bản đến lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay trong ngắn hạn, trung dài hạn tại Vietcombank như thế nào?
4 Đối tượng nghiên cứu
- Lãi suất cơ bản của NHNN Việt Nam
- Lãi suất tái chiết khấu chiết khấu của NHNN Việt Nam
- Trần lãi suất huy động của NHNN Việt Nam
- Lãi suất tiền gửi các kỳ hạn tại Vietcombank
- Lãi suất cho vay ngắn hạn, trung dài hạn tại Vietcombank
6 Phương pháp nghiên cứu
- Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả, kiểm định nghiệm đơn
vị, kiểm định đồng liên kết Johansen, chạy mô hình hình ECM (mô hình hiệu
Trang 14chỉnh sai số) để đo lường mức độ truyền dẫn trong ngắn hạn, chạy mô hình hồi quy OLS để đo lường mức độ truyền dẫn trong dài hạn
7 Kết cấu luận văn
Luận văn được kết cấu như sau:
- Chương 3: Đo lường mức độ truyền dẫn lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước vào lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam
- Phần kết luận và kiến nghị
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SỰ TRUYỀN DẪN LÃI SUẤT CƠ BẢN CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VÀO LÃI SUẤT TIỀN GỬI
VÀ LÃI SUẤT CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Cơ sở lý thuyết của truyền dẫn lãi suất
1.1.1 Lập luận của Taylor 1 về cách tính lãi suất danh nghĩa
Một trong những lý thuyết để tính toán lãi suất được đưa ra bởi nhà kinh tế học John Taylor Ông đưa ra cách tính toán lãi suất danh nghĩa phù hợp với điều kiện tăng trưởng và lạm phát Theo đó các ngân hàng xác định lãi suất trong ngắn hạn khi các điều kiện kinh tế thay đổi để đạt được mục tiêu là ổn định kinh tế trong ngắn hạn và kiểm soát lạm phát trong dài hạn.Khi chính sách tiền tệ phản ứng đủ mạnh với lạm phát, sự cân bằng của nền kinh tế dần được xác định Lãi suất danh nghĩa cần được điều chỉnh đủ lớn với một sự gia tăng trong lạm phát nhằm làm tăng lãi suất thực, do đó lãi suất danh nghĩa phải được điều chỉnh ít nhất là bằng với thay đổi trong tỷ lệ lạm phát (kỳ vọng), nhằm xác định được sự cân bằng nền kinh tế một cách ổn định Nếu lãi suất danh nghĩa điều chỉnh không đủ lớn thì kỳ vọng về lạm phát gia tăng dẫn đến lãi suất thực giảm lúc đó nền kinh tế sẽ biến động và không đạt được trạng thái cân bằng xác định, xuất phát từ hiệu ứng “tự đáp ứng các thay đổi kỳ vọng” (self-fulfilling revisions in expectations) Lãi suất giảm
sẽ làm giảm chi phí vốn, dẫn đến tăng chi tiêu cho đầu tư và tiêu dùng qua
đó làm tăng tổng cầu, tổng cầu tăng sẽ làm lạm phát thực tế tăng theo Nguyên tắc Taylor được mô phỏng theo phương trình
it = πt+ r*t + aπ (πt + πt*) + ay (yt - yt*) Trong đó:
_
(1) Dựa theo bài nghiên cứu: Woodford (2003), Interest and prices: Foundations of a theory of monetary policy;Stability, Claudia Kwapil and Johann Scharler, (2006) Interest Rate Pass-Through, Monetary Policy Rules and MacroeconomicStability
Trang 16it: Lãi suất danh nghĩa ngắn hạn mục tiêu của Ngân hàng trung ương πt: tỷ lệ lạm phát thực tế
r*t: Lãi suất thực tại điểm cân bằng của thị trường
πt*: Tỷ lệ lạm phát mục tiêu của Ngân hàng trung ương yt: logarit của tổng sản lượng GDP thực tế
yt*: Logarit của tổng sản lượng GDP tiềm năng
1.1.2 Các khái niệm truyền dẫn lãi suất và cơ chế truyền dẫn lãi suất
Kênh lãi suất là kênh cơ bản được đề cập đến trong nhiều lý thuyết kinh tế trong nhiều năm qua Việc định nghĩa “quá trình truyền dẫn lãi suất” trong nền kinh tế, nhìn chung, nhận được sự đồng thuận nhất trí cao của các nhà nghiên cứu trên thế giới Trong nghiên cứu này, quá trình truyền dẫn lãi suất được định nghĩa theo Qayyum và Khawaya (2005) là quá trình mà trong đó lãi suất bán lẻ (lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi) của các ngân hàng điều chỉnh trước sự thay đổi của lãi suất chính sách hay lãi suất thị trường tiền tệ, quá trình này gồm hai yếu tố đặc trưng là mức độ và tốc độ điều chỉnh của lãi suất bán lẻ
Khái niệm “mức truyền dẫn hoàn toàn” hàm ý rằng khi lãi suất chính sách tăng lên (hay giảm đi) bao nhiêu phần trăm thì lãi suất bán lẻ cũng tăng lên (hay giảm đi) bấy nhiêu phần trăm Tương tự, thuật ngữ “mức truyền dẫn
Trang 17không hoàn toàn” hàm ý rằng lãi suất bán lẻ thay đổi một lượng ít hơn so với
sự thay đổi của lãi suất chính sách
1.1.3 Các kênh truyền dẫn tác động của chính sách tiền tệ
Cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền tệ được định nghĩa là tác động của những thay đổi trong các công cụ chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương đến thay đổi trong mức giá và sản lượng một quốc gia Có nhiều quan điểm khác nhau về cách thức phân chia các kênh truyền dẫn của chính sách tiền tệ Theo Mishkin (1996), có ba kênh truyền dẫn cơ bản của chính sách tiền tệ: kênh lãi suất truyền thống, kênh giá tài sản và kênh tín dụng Tuy nhiên, nhiều nhà kinh tế khác lại thống nhất chia làm năm kênh truyền dẫn: kênh lãi suất, giá tài sản, tín dụng, kỳ vọng và tỷ giá hối đoái
Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung vào kênh truyền dẫn lãi suất Tuy nhiên, để có thể hiểu rõ hơn quá trình này, chúng ta cần nắm rõ được sự vận hành của các kênh tác động cụ thể khi lãi suất chính sách thay đổi
Kênh lãi suất
Kênh lãi suất là kênh cơ bản được đề cập tới trong nhiều lý thuyết kinh tế trong hơn năm mươi năm qua và là cơ chế truyền dẫn tiền tệ quan trọng trong mô hình IS - LM của phái Keynes, một nền tảng cho lý thuyết kinh tế học vĩ mô hiện nay Có thể khái quát kênh truyền dẫn lãi suất theo sơ đồ:
irY
M thể hiện việc nới lỏng chính sách tiền tệ, khiến lãi suất thực giảm ( ir ),
do đó làm giảm chi phí vốn, dẫn đến tăng chi tiêu cho đầu tư (I ), từ đó dẫn đến tăng tổng cầu và tăng sản lượng (Y)
Cụ thể, khi chính sách tiền tệ cần được thắt chặt (hay nới lỏng), ngân hàng trung ương hay nhà chức trách trong lĩnh vực tiền tệ sẽ tăng (hay giảm) lãi suất điều hành (lãi suất chính sách) các ngân hàng và các định chế tài chính khác sẽ tuân theo bằng cách tăng (hay giảm) lãi suất của các khoản tiền gửi
Trang 18và lãi suất cho vay của họ Khi đó, để đối mặt với chi phí vốn cao hơn (hay thấp hơn), người tiêu dùng và các doanh nghiệp sẽ theo đó điều chỉnh mức tiêu dùng và chi tiêu vốn đầu tư, do đó ảnh hưởng đến sản lượng và mức độ lạm phát
Thay đổi trong lãi suất chính sách sẽ dẫn đến sự thay đổi lãi suất trên thị trường liên ngân hàng đầu tiên Những thay đổi của lãi suất trên thị trường liên ngân hàng sau đó sẽ gây ra những thay đổi của lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi của các ngân hàng Những thay đổi này có thể được giải thích một phần bằng hoạt động quản lý danh mục của các định chế tài chính nhằm mục đích duy trì sự canh tranh và tạo ra lợi nhuận
Tốc độ và mức độ truyền dẫn từ lãi suất chính sách và lãi suất thị trường tiền tệ đến lãi suất bán lẻ của ngân hàng đặc trưng cho mức độ hiệu quả của chính sách tiền tệ và qua đó ảnh hưởng đến hệ thống giá cả cũng như sự ổn định của hệ thống tài chính Kênh lãi suất được coi là một kênh hết sức quan trọng trong việc truyền dẫn tác động của chính sách tiền tệ tới thị trường tiền
tệ Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng để đạt được tác động mong muốn, chỉ tác động đến lãi suất thị trường liên ngân hàng hay lãi suất của trái phiếu chính phủ là chưa đủ mà thay vào đó, cần tác động vào tất cả các loại lãi suất bán lẻ khác nhau của các ngân hàng vì các loại lãi suất này chính là điều kiện cần thiết để thay đổi hành vi tiêu dùng và đầu tư của các chủ thể kinh tế
Như vậy, bằng chính sách tiền tệ, ngân hàng trung ương điều chỉnh lãi suất ngắn hạn Qua đó tác động đến lãi suất thị trường theo nguyên lý cấu trúc kỳ hạn của lãi suất Nhìn chung, hiệu quả kênh truyền dẫn này phụ thuộc vào
mức độ phát triển của thị trường tài chính
Kênh tín dụng
Bernanke và Gertler (1995) xác định hai con đường mà qua đó kênh tín dụng vận hành và tác động đến nền kinh tế Con đường thứ nhất thông qua hoạt động cho vay của ngân hàng hay cung về vốn vay của các định chế tài chính
Trang 19nhận tiền gửi Con đường thứ nhất thông qua bảng cân đối kế toán của các hãng, tức chính sách tiền tệ gây ảnh hưởng đến bảng cân đối kế toán của những người đi vay Bernanke và Gertle nhấn mạnh rằng kênh tín dụng có tác dụng bổ trợ và tăng cường tính hiệu quả cho kênh lãi suất
Khi lãi suất chính sách giảm, các nghĩa vụ nợ của người đi vay giảm đi và do
đó, các ngân hàng sẵn lòng cho vay nhiều hơn vì rủi ro của khách hàng đã giảm đi nhiều Hệ quả là hoạt động đầu tư tăng lên làm tăng tốc độ phát triển kinh tế đồng thời cũng gây ra áp lực lạm phát
Kênh tỷ giá
Chính sách tiền tệ có thể gây ra sự thay đổi trong tỷ giá và từ đó dẫn đến sự thay đổi trong giá cả, hoạt động thương mại và đầu tư (Coricelli và cộng sự, 2006) Việc giảm lãi suất chính sách sẽ làm các loại lãi suất nói chung giảm xuống Lợi tức thu được từ các khoản đầu tư trong nước giảm tương đối so với các khoản đầu tư ở nước ngoài, dẫn đến dòng vốn chảy ra nước ngoài
Do vậy, đồng nội tệ sẽ mất giá so với đồng ngoại tệ làm cho xuất khẩu tăng lên, nhập khẩu giảm xuống cùng với đó là tổng cầu tăng lên dẫn đến tăng trưởng kinh tế cao hơn
Kênh tài sản
Lãi suất giảm làm cho việc đầu tư vào các loại cổ phiếu trở nên hấp dẫn hơn
so với việc đầu tư vào các loại trái phiếu hay các loại tài sản hưởng lãi suất
cố định khác Việc mọi người đồng loạt tăng đầu tư vào cổ phiếu sẽ làm tăng giá của loại tài sản này
Kênh kỳ vọng
Kỳ vọng đóng vai trò quan trọng trong cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền
tệ Tác động của chính sách tiền tệ thông qua kênh kỳ vọng là kém chắc chắn nhất trong tất cả các kênh do nó phụ thuộc vào cách hiểu của công chúng về
sự thay đổi trong chính sách tiền tệ Những thay đổi được coi chỉ là tạm thời, diễn ra trong thời gian ngắn sẽ ít có tác động trong khi đó những thay đổi
Trang 20được cho là kéo dài trong tương lai sẽ có những tác động mạnh đến hành vi của doanh nghiệp và hộ gia đình (Kazaziovas, 2010)
1.2 Tổng quan về lãi suất cơ bản
Các ngân hàng thương mại (NHTM) ấn định lãi suất kinh doanh (huy động
và cho vay vốn) dựa trên cơ sở cơ chế điều hành lãi suất của ngân hàng nhà nước (NHNN), xu hướng cung - cầu vốn thị trường, lạm phát, mức độ rủi ro
và lãi suất thị trường tiền tệ quốc tế Trong những năm gần đây, thị trường tài chính - tiền tệ thế giới có sự phát triển vượt bậc về quy mô và chiều sâu, cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng trung ương (NHTW) các nước thay đổi theo hướng tự do hoá Tuy nhiên, ở mỗi nước, NHTW căn cứ vào luật định, địa vị pháp lý của NHTW, điều kiện bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội, thị trường tài chính - tiền tệ và mục tiêu của chính sách tiền tệ (lạm phát hoặc đa mục tiêu) để áp dụng cơ chế điều hành lãi suất phù hợp trong từng thời kỳ nhằm giúp thị trường tiền tệ ổn định và phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng và sự phân bổ có hiệu quả các nguồn vốn đến với các chủ thể trong nền kinh tế
1.2.1 Lãi suất cơ bản ở Việt Nam
Khái niệm lãi suất cơ bản của Việt Nam được định nghĩa theo Khoản 12 Điều 9 Luật NHNN (1997) như sau: “Lãi suất cơ bản là lãi suất do NHNN công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh” Luật NHNH (2010) không đưa ra khái niệm cụ thể về lãi suất cơ bản
Như vậy lãi suất cơ bản là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Lãi suất cơ bản chỉ áp dụng cho Đồng Việt Nam, do Ngân hàng Nhà nước công bố, làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng
ấn định lãi suất kinh doanh Lãi suất cơ bản được xác định dựa trên cơ sở lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động đầu vào của tổ chức tín dụng và xu hướng biến động cung - cầu vốn trên thị trường
Trang 211.2.2 Lãi suất cơ bản đối với một số quốc gia trên thế giới
- Tại Mỹ: Hiện nay, Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) đang điều hành lãi suất thông qua hai công cụ quan trọng là lãi suất chiết khấu và lãi suất quỹ dự trữ liên bang Mỹ (FFR), cụ thể như sau:
Lãi suất chiết khấu: Lãi suất FED cho các trung gian tài chính vay để đáp ứng các nhu cầu đảm bảo thanh khoản và an toàn thanh toán chi trả của mình Lãi suất tái cấp vốn của Việt Nam hiện nay có tính chất giống với lãi suất chiết khấu của Mỹ
Lãi suất quỹ dự trữ liên bang: Là lãi suất FED cho các trung gian tài chính vay qua đêm để đảm bảo đủ dự trữ bắt buộc theo quy định Nguồn tiền để cho vay lấy từ quỹ dự trữ liên bang, nguồn tiền này được hình thành bởi số tiền dự trữ bắt buộc của tất cả các trung gian tài chính có nhận tiền gửi Lãi suất tái chiết khấu của Việt Nam hiện nay có tính chất giống với lãi suất quỹ dự trữ liên bang của Mỹ
Lãi suất quỹ dự trữ liên bang là lãi suất thấp nhất mà các trung gian tài chính nhận tiền gửi có thể vay được từ FED, vì vậy lãi suất này đôi khi được gọi là lãi suất cơ bản hay lãi suất chuẩn Về nguyên tắc, lãi suất liên ngân hàng thông thường sẽ thấp hơn lãi suất chiết khấu vì nếu không, các trung gian tài chính sẽ không vay liên ngân hàng mà sẽ vay từ FED để hưởng lãi suất chiết khấu thấp hơn Lãi suất chiết khấu thường cao hơn lãi suất quỹ dự trữ liên bang FED giữ lãi suất chiết khấu đã ấn định thông qua việc cho vay chiết khấu và giữ lãi suất quỹ dự trữ liên bang thông qua nghiệp vụ thị trường mở Cách điều hành này của FED sẽ khiến cho lãi suất liên ngân hàng luôn có xu hướng biến động giữa lãi suất quỹ dự trữ liên bang (có vai trò như lãi suất sàn) và lãi suất chiết khấu (có vai trò như lãi suất trần) mà không phải đặt ra các giới hạn về lãi suất bằng các biện pháp hành chính
Căn cứ vào hai loại lãi suất do FED công bố như trên, các NHTM sẽ xác định lãi suất cho vay của mình đối với khách hàng trên cơ sở tính toán các chi phí quản lý và mức chấp nhận rủi ro Mức lãi suất cho vay tối thiểu để có
Trang 22thể bù đắp các chi phí về vốn và quản lý của các NHTM lớn tại Mỹ gọi là lãi suất chủ chốt (prime rate) Trên thị trường liên ngân hàng Mỹ có niêm yết lãi suất cho vay bình quân của hơn 30 ngân hàng lớn nhất của Mỹ áp dụng cho các khách hàng là công ty Lãi suất chủ chốt có tính cả chi phí và rủi ro nên
có sự chênh lệch so với lãi suất chiết khấu và lãi suất quỹ dự trữ liên bang, mức chênh lệch này dao động trong khoảng từ 2% - 3%
- Tại Anh: Hiện nay Ngân hàng Trung ương Anh (BOE) công bố lãi suất chính thức, đây là lãi suất mà BOE trả cho khoản tiền dự trữ của các ngân hàng thương mại gửi tại BOE Mức dự trữ là tự nguyện và các thành viên xác định mức cân bằng theo mục tiêu riêng của mình nhưng không thấp hơn mức trung bình trong kỳ bắt buộc phải duy trì Các NHTM được phép vay có bảo đảm hoặc gửi tiền tại BOE với lãi suất nằm trong biên độ +/-1% so với lãi suất chính thức do BOE công bố BOE sử dụng nghiệp vụ thị trường mở để tác động nhằm duy trì lãi suất qua đêm, lãi suất các kỳ hạn khác dưới ba tháng luôn nằm trong biên độ so với lãi suất chính thức Lãi suất của các khoản vay có kỳ hạn từ 3-12 tháng được xác định bởi các thành viên và không phụ thuộc vào biên độ so với lãi suất chính thức Lãi suất chính thức
mà BOE công bố ở đây là lãi suất mang tính mục tiêu chứ không mang tính
ấn định cụ thể và BOE sẽ giữ lãi suất đã công bố bằng nghiệp vụ thị trường
Trang 23ECB giữ lãi suất cho hoạt động tái cấp vốn bằng nghiệp vụ thị trường mở thông qua phương thức đấu thầu khối lượng hoặc đấu thầu lãi suất Cùng với
đó, NHTW của các quốc gia thành viên ECB có trách nhiệm giữ hai lãi suất chủ chốt còn lại thông qua hoạt động cho vay và nhận tiền gửi để lãi suất cho các phương tiện tiền gửi thường xuyên đóng vai trò lãi suất sàn, còn lãi suất cho các phương tiện vay giới hạn đóng vai trò lãi suất trần, lãi suất cho vay qua đêm sẽ dao động trong biên độ này Như vậy, các lãi suất chủ chốt của ECB công bố đều mang tính chất mục tiêu, ECB sẽ bảo vệ lãi suất mục tiêu thông qua các công cụ chính sách tiền tệ của mình để hướng về lãi suất mục tiêu
- Tại Nhật: Ngân hàng Trung Ương Nhật Bản (BOJ) đặt ra lãi suất định hướng cho hoạt động thị trường tiền tệ Hiện tại, BOJ lấy lãi suất cho vay qua đêm đối với những khoản vay không thế chấp làm lãi suất định hướng
Để điều hành lãi suất định hướng này, BOJ sử dụng các công cụ chính sách của mình để tác động vào các yếu tố hình thành nên lãi suất, chủ yếu là những yếu tố tác động đến cung và cầu về nguồn vốn trên thị trường tiền tệ Các hoạt động trên được thực hiện qua thị trường mở Thông qua thị trường
mở BOJ tác động đến lãi suất thị trường tiền tệ, qua đó tác động đến các mức lãi suất trên thị trường tài chính khác và lãi suất mà các ngân hàng áp dụng đối với các khoản vay cho các cá nhân và công ty
1.3 Cơ chế truyền dẫn lãi suất cơ bản tại Việt Nam
Lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước là một công cụ quan trọng của chính sách tiền tệ quốc gia, nhắm đến những mục tiêu kinh tế vĩ mô như thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả, hướng đến nền kinh
tế cân bằng toàn dụng Ngân nhà nước còn sử dụng công cụ lãi suất để định hướng hoạt động huy động vốn và cho vay của hệ thống NHTM đối với nền kinh tế Việc ấn định lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước về bản chất là một quyết định tài định, phản ánh nhận định của về tình hình kinh tế vĩ mô của quốc gia, không phải là một tính toán dựa trên chi phí và lợi nhuận
Trang 24Vì là một công cụ tiền tệ vĩ mô, mức lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước được các NHTM xem như một tín hiệu rõ ràng nhất của một chính sách tiền
tệ mở rộng (nhằm chống suy thoái, hỗ trợ sản xuất) hay thắt chặt (nhằm kiểm soát lạm phát)
Trên cơ sở đó, các NHTM sẽ xây dựng cho mình một hệ thống lãi suất riêng, phù hợp với điều kiện huy động tiền gửi tiết kiệm và cho vay của mỗi ngân hàng, với những mức lãi suất khác nhau tùy thuộc vào thời hạn, mức độ rủi
ro cao hay thấp của các khoản huy động và cho vay, mức độ tín nhiệm của mỗi ngân hàng đối với khách hàng của mình Thị trường huy động tiền gửi
và cho vay của các NHTM là một thị trường có cạnh tranh, nhưng trong khuôn khổ do ngân hàng nhà nước điều tiết bằng công cụ lãi suất cơ bản, nhằm đảm bảo rằng sự bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo sự sự an toàn của hệ thống ngân hàng và đồng tiền tiết kiệm của người dân gửi tiền Hiệu ứng truyền dẫn từ lãi suất cơ bản sang lãi suất huy động và lãi suất cho vay là một vấn đề được đặc biệt quan tâm trong việc hoạch định chính sách của Ngân hàng nhà nước, bởi đó chính là nhân tố quan trọng trong quá trình truyền dẫn tiền tệ, và truyền dẫn tiền tệ lại là nền tảng thiết yếu để thực thi một chính sách tiền tệ hiệu quả Do vậy, tính hiệu quả của chính sách tiền tệ phụ thuộc vào tính hiệu quả của kênh truyền dẫn về cả mức độ và tốc độ truyền dẫn từ lãi suất chính sách sang lãi suất huy động và lãi suất cho vay
1.4 Mối quan hệ truyền dẫn giữa lãi suất cơ bản và lãi suất tiền gửi, lãi suất
cho vay
Dựa theo bài nghiên cứa của Ming-Hua Liu và các cộng sự, mối quan hệ dài hạn giữa lãi suất huy động, lãi suất cho vay và lãi suất cơ bản có thể được diễn đạt bằng phương trình sau:
Y t = α 0 + α t X t + ε t (1)
Trong đó:
- Yt : Lãi suất huy động hoặc lãi suất cho vay
Trang 25- Xt : Lãi suất cơ bản
- εt : Sai số thống kê
- α0 : Trung độ gốc
- αt :Hệ số truyền dẫn trong dài hạn
Dựa theo bài nghiên cứa của Ming-Hua Liu và các cộng sự, mối quan hệ ngắn hạn giữa lãi suất huy động, lãi suất cho vay và lãi suất cơ bản theo mô hình ECM có thể được diễn đạt bằng phương trình sau:
Trong đó:
- yt : Sai phân bậc 1 của biến phụ thuộc là các loại lãi suất huy động và lãi suất cho vay
- yt-i : Sai phân bậc 1 của lãi suất huy động và lãi suất cho vay lấy độ trễ i
- xt : Sai phân bậc 1 của biến độc lập là lãi suất cơ bản hoặc lãi suất tái chiết khấu
- xt-i : Sai phân bậc 1 của lãi suất cơ bản hoặc lãi suất tái chiết khấu lấy độ trễ i
- : Đo lường độ lớn của sự mất cân bằng tại thời điểm (t – 1) và nó là phần dư dài hạn trong phương trình
- : Sai số thống kê
- : Đo lường mức độ tác động của sự truyền dẫn lãi suất trong ngắn hạn
- & : Hệ số điều chỉnh biến động
- : Độ điều chỉnh sai số khi lãi suất lệch so với lãi suất cân bằng (
thường mang giá trị âm vì lãi suất có xu hướng trở lại lãi suất cân bằng)
Tuy nhiên, trong thực tế tùy vào điều kiện hoạt động kinh doanh của từng ngân hàng mà các NHTM không chỉ huy động vốn từ nguồn tiền gửi của người dân mà còn có thể vay từ ngân hàng nhà nước dưới hình thức tái chiết khấu, tái cấp vốn hoặc vay mượn lẫn nhau trên thị trường tiền tệ liên
Trang 26ngân hàng, thường là với một thời hạn ngắn (có khi chỉ qua đêm) theo một mức lãi suất liên ngân hàng (interbank rate) thay đổi liên tục mỗi ngày tùy thuộc vào nguồn cung cầu vốn ngắn hạn trên thị trường Ngân hàng nhà nước thường xuyên can thiệp trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng nhằm
hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống ngân hàng đồng thời duy trì một mức lãi suất liên ngân hàng phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền tệ Từ các nguồn vốn huy động đầu vào này mà các NHTM tính toán, cân đối để công bố lãi suất cho vay đầu ra đối với từng đối tượng khách hàng nhằm đạt được mức lợi nhuận theo kế hoạch của mỗi ngân hàng
1.5 Nghiên cứu thực nghiệm về cơ chế truyền dẫn lãi suất
1.5.1 Các nghiên cứu trong nước
Trần Hưng Thịnh và Nguyễn Công Tuấn (2012) nghiên cứu về sự truyền dẫn không hoàn toàn đối với lãi suất bán lẻ trong dài hạn sẽ ảnh hưởng như thế nào đến tính cân bằng xác định và ổn định trong nền kinh tế vĩ mô: quan sát thực nghiệm ở Mỹ và khu vực EURO, từ đó vận dụng vào phân tích thực nghiệm mức độ truyền dẫn lãi suất tại Việt Nam giai đoạn 2000-2012 Tác giả sử dụng mô hình ADL, ECM cùng với kiểm định nghiệm đơn vị các chuỗi thời gian và đồng liên kết Kết quả thực nghiệm cho thấy: Truyền dẫn
từ lãi suất chính sách đến lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 1 năm thì cao trong ngắn hạn; tuy nhiên trong dài hạn, sự truyền dẫn ở mức thấp hơn Truyền dẫn từ lãi suất chính sách đến lãi suất liên ngân hàng: Trong ngắn hạn, sự truyền dẫn trực tiếp ở mức khá thấp và không đồng nhất Ngược lại, trong dài hạn, sự truyền dẫn ở mức cao hơn nhưng vẫn chưa hoàn toàn Truyền dẫn từ lãi suất trái phiếu và lãi suất liên ngân hàng đến lãi suất bán lẻ: Nhìn chung, sự truyền dẫn ngắn hạn thì khá thấp nhưng sự truyền dẫn dài hạn lại khá cao, gần như hoàn toàn
Nghiên cứu về cơ chế truyền dẫn tiền tệ dưới góc độ phân tích định lượng, Nguyễn Phi Lân (2010) đã sử dụng mô hình SVAR để phân tích cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ Kết quả cho thấy: Thứ nhất, kinh tế tăng
Trang 27trưởng tốt hơn khi có sự tác động từ cung tiền M2 Tuy nhiên, mức độ tác động của cung tiền M2 tới khu vực sản xuất công nghiệp còn chưa lớn mặc
dù cung tiền M2 và tín dụng đã tăng trong một thời gian từ sau khủng hoảng tài chính năm 1997, điều này có thể do một phần tín dụng ngân hàng đã không được một số tổ chức kinh tế và dân cư sử dụng đúng mục đích sản xuất kinh doanh mà thay vào đó là đầu tư vào các lĩnh vực có mức độ rủi ro cao như chứng khoán hay bất động sản ; thứ hai, sự biến động của tỷ giá phụ thuộc rất lớn vào công tác điều hành chính sách tiền tệ thông qua các công cụ lãi suất và lượng tiền cung ứng ra lưu thông, các nhân tố bên ngoài nền kinh tế cũng tác động tới sự biến động của tỷ giá nhưng không quá lớn; thứ ba, khu vực tiền tệ - ngân hàng trong nước tương đối nhạy cảm và chịu tác động rất lớn bởi các cú sốc bên ngoài nền kinh tế, đặc biệt là sự biến động của giá cả hàng hóa thế giới và dấu hiệu suy thoái hay phục hồi của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Hoa Kỳ nói riêng cũng như các động thái điều hành chính sách tiền tệ của FED; thứ tư, việc thay đổi lãi suất VND trên thị trường tiền tệ thông qua sử dụng các công cụ tiền tệ như OMO hay tái cấp vốn sẽ mất thời gian khoảng là 3 - 5 tháng để có hiệu lực
Bùi Tá Anh Hoài (2012) nghiên cứu thực nghiệm truyền dẫn lãi suất nhằm xác định mức độ và tốc độ truyền dẫn trong ngắn hạn và dài hạn giai đoạn từ tháng 01/2000 đến 06/2012 tại Việt Nam Tác giả tiến hành kiểm định nghiệm đơn vị các chuỗi dữ liệu thời gian, kiểm định tính đồng liên kết của các cặp lãi suất từ đó đưa ra phương pháp phù hợp để xác định hệ số truyền dẫn Cụ thể, tác giả sử dụng mô hình OLS để đo lường hiệu ứng truyền dẫn trong dài hạn và mô hình hiệu chỉnh sai số ECM để ước lượng hệ số truyền dẫn trong ngắn hạn với tất cả các cặp lãi suất Tuy nhiên, đối với cặp lãi suất tái cấp vốn và lãi suất liên ngân hàng, tác giả sử dụng mô hình ADL Kết quả cho thấy hiệu ứng truyền dẫn từ lãi suất chính sách đến lãi suất thị trường tiền tệ thì không hoàn toàn, hệ số truyền dẫn trong ngắn hạn lớn hơn trong dài hạn, riêng chỉ có hệ số truyền dẫn từ lãi suất tái chiết khấu đến lãi suất thị
Trang 28trường liên ngân hàng có hệ số truyền dẫn trong dài hạn lớn hơn trong ngắn hạn Hiệu ứng truyền dẫn từ lãi suất thị trường đến lãi suất bán lẻ thì hoàn toàn trong dài hạn, tuy nhiên ở mức thấp trong ngắn hạn
Đinh Thị Thu Hồng và Phan Đình Mạnh (2013) nghiên cứu cơ chế truyền dẫn lãi suất từ lãi suất chính sách qua lãi suất thị trường đến lãi suất bán lẻ ở Việt Nam và một số nền kinh tế mới nổi khác ở Châu Á Tác giả sử dụng mô hình ECM để kiểm tra tính đối xứng và tính bất đối xứng trong truyền dẫn lãi suất và mô hình ECM-EGARCH-M để kiểm tra tác động của độ bất ổn lãi suất, tính cứng nhắc trong quá trình điều chỉnh và hiệu ứng đòn bẩy lên truyền dẫn Các kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ truyền dẫn từ lãi suất thị trường đến lãi suất bán lẻ là không hoàn toàn, với cơ chế truyền dẫn đối xứng hoặc bất đối xứng Trong một số trường hợp, độ biến động của lãi suất làm tăng biên độ truyền dẫn, nhưng trong một số trường hợp khác cho thấy kết quả ngược lại
1.5.2 Các nghiên cứu trên thế giới
Bộ ba tác giả Ming-Hua Liu, Dimitri Margaritis và Alireza Tourani-Rad dựa trên mô hình mối quan hệ dài hạn giữa lãi suất chính sách và lãi suất bán lẻ (lãi suất huy động và lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại) tiến hành nghiên cứu thực nghiệm mức độ truyền dẫn và tốc độ điều chỉnh lãi suất bán lẻ khi lãi suất chính sách (lãi suất cơ bản) thay đổi trong giai đoạn 1994-2004 tại New Zealand Các tác giả chọn New Zealand để thực hiện nghiên cứa là do là New Zealand là quốc gia đầu tiên của Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Âu (OECD) áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu với cơ chế minh bạch và trách nhiệm giải trình cao Sự minh bạch về chính sách được nâng lên bởi trong năm 1999 New Zealand đã chuyển dịch từ phương thức điều hành định lượng sang vận hành trên cơ sở lãi suất bằng việc đưa vào áp dụng lãi suất tiền gửi qua đêm (overnight cash interest rate – OCR)
Trang 29Hệ thống OCR đơn giản và dể hiểu, nó vận hành như sau: Khi OCR được công bố, Ngân hàng Trung Ương New Zealand (RB) sẵn sàng trả cho các định chế tài chính một mức lãi suất dưới mức OCR 0,25% điểm cho các khoản tiền gửi của họ tại RB và sẵn sàng cho vay qua đêm đối với các ngân hàng dựa vào tài sản bảo đảm tại mức lãi suất cao hơn OCR 25 điểm
cơ bản Quan trọng hơn, không có giới hạn về lượng tiền mặt sẵn sàng đưa vào hay lấy ra tại mức 25 điểm trên hoặc dưới lãi suất OCR Ngân hàng trung ương giữ vai trò như một nhà tạo lập thị trường trong thị trường tiền
tệ ngắn hạn mà không có bất kỳ một hạn chế nào áp đặt lên khối lượng giao dịch, không một NHTM có mức lãi suất cho vay ngắn hạn cao hơn đáng kể so với OCR Vì trong một thị trường tài chính cạnh tranh, các ngân hàng khác sẽ hạ mức lãi suất bởi vì họ vay mượn từ RB Tương tự, một định chế tài chính cũng không thể vay ngắn hạn tại mức lãi suất thấp hơn OCR vì nó có thể vay RB tại mức OCR, mà không có bất kỳ một rủi
ro tín dụng nào
Bằng cách cho các ngân hàng thương mại vay mượn tiền qua đêm với khối lượng không giới hạn, RB có thể duy trì một mức lãi suất ngắn hạn liên ngân hàng mục tiêu tại mức lãi suất tiền mặt qua đêm ORC Thông qua việc ấn định lãi suất OCR, thì RB có thể tác động một cách đáng kể lên các dạng lãi suất ngắn hạn khác Ví dụ: Hối phiếu 90 ngày, các khoản vay thả nổi… RB còn có thể tác động đến các loại lãi suất bán lẻ khác của các NHTM và các định chế tài chính trên thị trường Kết quả là, thay đổi OCR sẽ ảnh hưởng đến các hoạt động của kinh tế và chỉ số lạm phát của một quốc gia
Ming-Hua Liu và các cộng sự đã sử dụng mô hình Phillips Loretan và mô hình hiệu chỉnh sai số ECM để đo lường mức độ truyền dẫn của lãi suất chính sách sang lãi suất huy động và lãi suất cho vay của hệ thống ngân hàng thương mại New Zealand Kết quả bài nghiên cứu cho thấy rằng hiệu
Trang 30ứng truyền dẫn dài hạn là hoàn toàn đối với môt số loại lãi suất huy động
và cho vay Mức độ truyền dẫn trong dài hạn của lãi suất thị trường đến những lãi suất bán lẻ khác nhau tùy theo các sản phẩm tài chính khác nhau Một số lãi suất thì có độ truyền dẫn hoàn toàn, một số thì không Hiệu ứng truyền dẫn ngắn hạn và tốc độ điều chỉnh cũng khác nhau cho từng loại sản phẩm
Việc ngân hàng trung ương New Zealand đưa vào áp dụng lãi suất tiền gửi qua đêm (OCR) làm tăng hiệu ứng truyền dẫn dài hạn của lãi suất tiền gửi
cố định và lãi suất tiền gửi thả nổi nhưng không ảnh hưởng đến các lãi suất khác Ngoài ra, tác giả đưa còn đưa vào hô mình biến giả D để xem xét sự thay đổi của tốc độ truyền dẫn so với khi chưa thay đổi chính sách OCR Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc công bố OCR làm tăng hiệu ứng truyền dẫn đến lãi suất tiền gửi nhưng lãi suất cho vay thế chấp
cố định thì không có tác động đáng kể Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả xác nhận rằng lãi suất cơ bản của chính sách tiền tệ có nhiều ảnh hưởng đối với lãi suất bán lẻ ngắn hạn và khi tính minh bạch ngày càng gia tăng đã góp phần làm giảm tính dễ biến động của các công cụ điều hành và làm tăng hiệu quả của chính sách lãi suất
De Bondt, G., 2005 “Retail bank interest rate pass-through: New evidence
at the euro erea level” Bài nghiên cứu trình bày mô hình hồ qui hiệu chỉnh sai số (ECM-erro correction model) của quá trình truyền dẫn lãi suất thị trường đến lãi suất bán lẻ Dựa trên cơ chế định giá chi phí biên, bao gồm chi phí chuyển tiếp thông tin và chi phí cho sự bất cân xứng thông tin, qua đó trình bày kết quả ước lượng với khu vực đồng Euro Bài nghiên cứu cho thấy mức độ truyền dẫn từ lãi suất thị trường sang lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay ngắn hạn (1 tháng) ở mức 50%, mức độ truyền dẫn lãi suất trong dài hạn thì cao hơn đặc biệt là ở lãi suất cho vay dài hạn mức truyền dẫn gần như hoàn toàn (100%)
Trang 31Theo Kleimeier và Sander (2006) kiểm tra sự dẫn truyền trong thị trường
bán lẻ của ngân hàng đối với khu vực đồng Euro và thấy rằng lãi suất cho vay phản ánh nhanh hơn đối với sự thay đổi trong chính sách tiền tệ dự đoán Bài này cũng đã rút ra được một số kết luận như sau: Lãi suất ngân hàng có “tính cứng” và có sự khác nhau cần xem xét trong sự dẫn truyền giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gởi ở các ngân hàng khác nhau, cụ thể
là lãi suất cho vay sẽ dẫn truyền nhanh hơn Dẫn truyền là hoàn chỉnh nhất trong cho vay ngắn hạn doanh nghiệp và có sự khác nhau trong cơ chế dẫn truyền của các nước trong khu vực đồng tiền chung châu Âu
Chong và các cộng sự (2005) kiểm tra lãi suất huy động ở các kỳ hạn
khác nhau và lãi suất cho vay ở cả NHTM và công ty tài chính ở Singapore và thấy rằng định chế tài chính điều chỉnh lãi suất của họ tăng lên chậm hơn so với điều chỉnh giảm Họ cũng thấy rằng tốc độ điều chỉnh khác nhau qua các sản phẩm tài chính và khác nhau giữa các ngân hàng và công ty tài chính Họ không tìm thấy sự dẫn truyền hoàn toàn của lãi suất
Theo Sarno L., Thornton, D.L, (2003) cho thấy có sự ổn định đáng kể
trong mối quan hệ giữa lãi suất quỹ liên bang (lãi suất chính sách) và lãi suất tín phiếu kho bạc (lãi suất thị trường) trong suốt giai đoạn nghiên cứu mặc dù trải qua các thay đổi trong quy trình hoạt động chính sách tiền tệ Các tác giả cũng lý luận sự hợp lý trong mô hình hiệu chỉnh sai số VECM phi tuyến tính và bất cân xứng Các tác giả sử dụng mô hình này để định lượng cho mối quan hệ dài hạn ổn định giữa lãi suất quỹ liên bang và lãi suất tín phiếu kho bạc 3 tháng, đồng thời đo lường tốc độ điều chỉnh về trạng thái cân bẳng của lãi suất quỹ liên bang Kết quả bài nghiên cứu cho thấy sự điều chỉnh về mức cân bằng đối với lãi suất ở dưới mức cân bằng thì nhanh hơn so với lãi suất ở trên mức cân bằng
Trang 32Tóm tắt chương 1
Chương này trình bày nền tảng lý thuyết về truyền dẫn lãi suất dựa trên lập luận của Taylor về lãi suất danh nghĩa, các khái niệm về truyền dẫn lãi suất và cơ chế truyền dẫn lãi suất Tiếp đến là trình bảy các kênh truyền dẫn của chính sách tiền tệ như kênh lãi suất, kênh tín dụng, kênh tỷ giá, kênh tài sản, kênh kỳ vọng Kế đến là trình bày về lãi suất cơ bản tại một
số quốc gia trên thế giới và tại Việt Nam
Phần tiếp theo là trình bày cơ chế truyền dẫn lãi suất cơ bản tại Việt Nam cũng như mối quan hệ giữa truyền dẫn lãi suất cơ bản và lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay
Phần cuối cùng là trình bày các nghiên cứu thực nghiệm về truyền dẫn lãi suất tại Việt Nam, và trình bày kết quả nghiên cứu của Ming-Hua Liu cùng các công sự (2005) về tính minh bạch trong chính sách tiền tệ và mức độ truyền dẫn của lãi suất chính sách đến lãi suất bán lẻ cũng như kết quả nghiên cứu của một số tác giả khác trên thế giới về cơ chế và mức độ truyền dẫn của lãi suất chính sách
Trang 33CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DIỄN BIẾN VÀ MỖI TƯƠNG QUAN GIỮA LÃI SUẤT CƠ BẢN CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VÀ LÃI SUẤT TIỀN GỬI, LÃI SUẤT CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
Giới thiệu Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank)
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), được thành lập và chính thức đi vào hoạt động ngày 01/4/1963, với tổ chức tiền thân
là Cục Ngoại hối (trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) Là ngân hàng thương mại nhà nước đầu tiên được Chính phủ lựa chọn thực hiện thí điểm cổ phần hoá, Vietcombank chính thức hoạt động với tư cách là một ngân hàng TMCP vào ngày 02/6/2008 sau khi thực hiện thành công kế hoạch cổ phần hóa thông qua việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng Ngày 30/6/2009, cổ phiếu Vietcombank (mã chứng khoán VCB) chính thức được niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán TPHCM
Trải qua hơn 50 năm xây dựng và phát triển, Vietcombank đã có những đóng góp quan trọng cho sự ổn định và phát triển của kinh tế đất nước, phát huy tốt vai trò của một ngân hàng đối ngoại chủ lực, phục vụ hiệu quả cho phát triển kinh tế trong nước, đồng thời tạo những ảnh hưởng quan trọng đối với cộng đồng tài chính khu vực và toàn cầu
Từ một ngân hàng chuyên doanh phục vụ kinh tế đối ngoại, Vietcombank ngày nay đã trở thành một ngân hàng đa năng, hoạt động đa lĩnh vực, cung cấp cho khách hàng đầy đủ các dịch vụ tài chính hàng đầu trong lĩnh vực thương mại quốc tế; trong các hoạt động truyền thống như kinh doanh vốn, huy động vốn, tín dụng, tài trợ dự án…cũng như mảng dịch vụ ngân hàng hiện đại: kinh doanh ngoại tệ và các công vụ phái sinh, dịch vụ thẻ, ngân hàng điện tử…
Trang 34Sở hữu hạ tầng kỹ thuật ngân hàng hiện đại, Vietcombank có nhiều lợi thế trong việc ứng dụng công nghệ tiên tiến vào xử lý tự động các dịch vụ ngân hàng, phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng điện tử dựa trên nền tảng công nghệ cao Các dịch vụ: VCB Internet Banking, VCB Money, SMS Banking, Phone Banking,…đã, đang và sẽ tiếp tục thu hút đông đảo khách hàng bằng sự tiện lợi, nhanh chóng, an toàn, hiệu quả, tạo thói quen thanh toán không dùng tiền mặt cho đông đảo khách hàng Sau hơn nửa thế kỷ hoạt động trên thị trường, Vietcombank hiện có gần 14.000 cán bộ nhân viên, với hơn 400 Chi nhánh/Phòng Giao dịch/Văn phòng đại diện/Đơn vị thành viên trong và ngoài nước, gồm 1 Hội sở chính tại Hà Nội, 1 Sở Giao dịch, 1 Trung tâm Đào tạo, 90 chi nhánh và hơn 350 phòng giao dịch trên toàn quốc, 2 công ty con tại Việt Nam, 2 công ty con và 1 văn phòng đại diện tại nước ngoài, 6 công ty liên doanh, liên kết Bên cạnh đó, Vietcombank còn phát triển một hệ thống Autobank với hơn 2.100 máy ATM và trên 49.500 điểm chấp nhận thanh toán thẻ (POS) trên toàn quốc Hoạt động ngân hàng còn được hỗ trợ bởi mạng lưới hơn 1.800 ngân hàng đại lý tại trên 155 quốc gia và vùng lãnh thổ Với bề dày hoạt động và đội ngũ cán bộ có năng lực, nhạy bén với môi trường kinh doanh hiện đại, mang tính hội nhập cao…Vietcombank luôn
là sự lựa chọn hàng đầu của các tập đoàn, các doanh nghiệp lớn và của đông đảo khách hàng cá nhân
Trong hơn một thập kỷ trở lại đây, trên nhiều lĩnh vực hoạt động quan trọng, Vietcombank liên tục được các tổ chức uy tín trên thế giới bình chọn và đánh giá là “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam”
Tác giả chọn số liệu lãi suất từ Vietcombank để đo lường mức độ truyền dẫn vì Vietcombank là ngân hàng cổ phần tuy nhiên nhà nước vẫn còn nắm giữ tỷ sở hữu khá lớn vì vậy Vietcombank là ngân hàng vừa mang
Trang 35tính cổ phần vừa mang tính nhà nước, ngoài ra Vietcombank là ngân hàng
có qui mô, thị phần lớn trong nền kinh tế Việt Nam
2.1 Dữ liệu nghiên cứu
Để đo lường mức độ truyền dẫn của chính sách tiền tệ mà cụ thể là lãi suất
cơ bản và lãi suất tái chiết khấu tới lãi suất huy động và lãi suất cho vay, tác giả sử dụng dữ liệu chuỗi các loại lãi suất hàng tháng từ 03 nguồn:
- Lãi suất cơ bản: Do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố
- Lãi suất tái chiết khấu: Do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố
- Lãi suất huy động, lãi suất cho vay: Lãi suất huy động tiền gửi và lãi suất cho vay do Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam công bố
Như vậy các biến sẽ sử dụng để đo lường mức độ truyền dẫn trong bài nghiên cứu sẽ bao gồm 9 biến gồm: LSCB, LSTCK, TG1T, TG6T, TG12T, TG18T, TG24T, CVNH, CVTDH Trong đó:
- LSCB : Lãi suất cơ bản
- LSTCK : Lãi suất tái chiết khấu
- TG1T : Lãi suất tiền gửi VND kỳ hạn 1 tháng
- TG6T : Lãi suất tiền gửi VND kỳ hạn 6 tháng
- TG12T : Lãi suất tiền gửi VND kỳ hạn 12 tháng
- TG18T : Lãi suất tiền gửi VND kỳ hạn 18 tháng
- TG24T : Lãi suất tiền gửi VND kỳ hạn 24 tháng
- CVNH : Lãi suất cho vay ngắn hạn
- CVTDH : Lãi suất cho vay trung hạn
Thời gian lấy mẫu: Từ tháng 01/2007 đến tháng 12/2013
Cỡ mẫu : 84 tháng
2.2 Diễn biến lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước giai đoạn 2007-2013
Lãi suất cơ bản lần đầu tiên được NHNN công bố vào ngày 2/8/2000, theo quyết định số 242/2000/QĐ-NHNN lãi suất cơ bản ở mức 7,2%/năm
Các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất cho vay đối với khách hàng tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng theo lãi suất cho vay cố định (fixed) hoặc lãi
Trang 36suất cho vay có điều chỉnh (floating) nhưng không vượt quá mức lãi suất cơ bản cộng các biên độ như sau:
- Đối với cho vay ngắn hạn: 0,3%/tháng;
- Đối với cho vay trung hạn và dài hạn: 0,5%/tháng;
Đến cuối tháng 5/2002, NHNN lại thay đổi cơ chế cho vay theo hướng không áp dụng lãi suất cơ bản cộng biên độ, mà cho phép các NHTM áp dụng lãi suất thỏa thuận với khách hàng Lãi suất cơ bản vẫn tiếp tục được duy trì, nhưng chỉ để tham khảo và định hướng đối với lãi suất thị trường
Từ tháng 5/2008 đến tháng 2/2011, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN)
áp dụng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản Danh sách các tổ chức tín dụng được lựa chọn để cung cấp thông tin cho NHNN lên đến 25 ngân hàng, trong
đó có 20 NHTM cổ phần, 2 ngân hàng liên doanh và 3 ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam, cơ chế điều hành lãi suất cơ bản được thực hiện như sau:
- Thực hiện cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, mà theo đó, các NHTM ấn định lãi suất cho vay tối đa bằng 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố trong từng thời kỳ Đây là công cụ trực tiếp để kiểm soát lãi suất kinh doanh của NHTM Lãi suất cơ bản được xác định và công bố trên cơ sở xu hướng biến động cung - cầu vốn thị trường, mục tiêu của chính sách tiền tệ và các nhân
tố tác động khác của thị trường tiền tệ, ngoại hối ở trong và ngoài nước
- Thiết lập một hành lang lãi suất thị trường liên ngân hàng với biên độ chênh lệch khoảng 2% để điều tiết lãi suất thị trường:
“Trần” là lãi suất tái cấp vốn, “sàn” là lãi suất tái chiết khấu (5% - 7%/năm) Lãi suất cơ bản và lãi suất nghiệp vụ thị trường mở biến động trong phạm vi hành lang này
Lãi suất nghiệp vụ thị trường mở đóng vai trò định hướng và thực hiện việc “bơm” tiền ra hoặc “hút” tiền về, từ đó tác động đến cung - cầu vốn,
Trang 37lãi suất thị trường liên ngân hàng và lãi suất huy động, cho vay của NHTM
- Từ tháng 5 – 9/2008, NHNN điều hành chính sách tiền tệ “thắt chặt” chống lạm phát, các mức lãi suất chủ đạo được điều chỉnh tăng, lãi suất cơ bản từ 12%/năm lên 14%/năm, lãi suất tái cấp vốn từ 13%/năm lên 15%/năm, lãi suất tái chiết khấu từ 11%/năm lên 13%/năm, lãi suất nghiệp vụ thị trường
mở từ 11,7%/năm lên 15%/năm
- Từ tháng 10/2008 đến tháng 11/2009, NHNN chuyển hướng điều hành chính sách tiền tệ từ “thắt chặt” để chống lạm phát sang “nới lỏng” nhằm mục tiêu hàng đầu là ngăn chặn suy giảm kinh tế, điều chỉnh giảm mạnh lãi suất cơ bản từ 14% - 13% - 11% - 8,5% - 7%/năm, lãi suất tái cấp vốn từ 15% - 13%
- 12% - 9,5% - 8% - 7%/năm, lãi suất tái chiết khấu từ 13% - 11% - 12% - 10% - 7,5% - 6%/năm, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở từ 15% - 14,3% - 13,5% - 11% - 9% - 8% - 7,5% - 7%/năm
- Từ tháng 12/2009 đến tháng 2/2011, do lạm phát có dấu hiệu tăng trở lại nên lãi suất cơ bản được điều chỉnh tăng dần từ 7% lên đến 9%
- Từ tháng 3/2011 đến hiện nay lãi suất cơ bản được duy trì ở mức 9%
6 7 8 9 10
Trang 38Nguồn: Tác giả vẽ từ phần mền Eviews 6.0 2.3 Diễn biến lãi suất huy động tiền gửi và lãi suất cho vay của Vietcombank
trong mối tương quan với lãi suất cơ bản
4 6 8 10
6 8 10 12 14 16 18
Trang 39Hình 2.2: Biến động lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay trong mối tương quan
với lãi suất cơ bản
Nguồn: Tác giả vẽ từ phần mền Eviews 6.0
Trước sự biến động động của lãi suất cơ bản, Vietcombank đã có những điều chỉnh lãi suất huy động, lãi suất cho vay đảm bảo tuân thủ luật các tổ chức tín dụng, các qui định của ngân hàng nhà nước Việt Nam, qui định của Bộ luật dân sự về mức lãi suất cho vay không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố đồng thời đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền và người đi vay, cụ thể:
- Trong giai đoạn năm 2007, lãi suất huy động của Vietcombank biến động theo quy luật của đường cong lãi suất đó là lãi suất huy động kỳ hạn càng dài thì càng cao, cụ thể lãi suất huy động kỳ hạn 1 tháng và 6 tháng thấp hơn lãi suất cơ bản ở mức từ 6%/năm đến 7,56%/năm, riêng lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng xấp xĩ lãi suất cơ bản ở mức 8,25%/năm, trong khi đó lãi suất huy động dài hạn trong giai đoạn này cao hơn lãi suất cơ bản ở mức từ 8,4%/năm đến 8,52%/năm Trong giai đoạn này lãi suất cho vay được
Trang 40Vietcombank giữ khá ổn định với mức chênh lệch so với lãi suất cơ bản là khoảng 1,75% đối với cho vay ngắn hạn và 3,75%/năm đối với cho vay trung dài hạn
- Khoảng thời gian tháng 7-8/2008 là khoảng thời gian đỉnh điểm chính sách chống lạm phát của ngân hàng nhà nước, lãi suất cơ bản được nâng lên ở mức 14%/năm, trong khoảng thời gian này Vietcombank đã có điều chỉnh chính sách lãi suất thích hợp bằng cách nâng lãi suất huy động lên 17,5%/năm cho tất cả các kỳ hạn (lãi suất huy động đã không biến động theo qui luật đường cong lãi suất), riêng lãi suất cho vay Vietcombank đã nâng lên đến mức trần cho phép là 21%/năm đối với cả cho vay ngắn hạn và cho vay trung dài hạn Trong giai đoạn này Vietcombank luôn tuân thu qui định của Ngân hàng nhà nước về mức trần lãi suất cho vay không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố, trong khi đó một số ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ do thiết hụt thanh khoản đã tăng lãi suất huy động lên đến 20-21%/năm đồng thời lách luật đẩy lãi suất cho vay lên đến 25-27%/năm bằng hình thức cộng thêm phí các loại phí như: Phí thu xếp vốn, phí tư vấn tài chính, phí phẩm định…
- Trong giai đoạn năm 2009 khi lãi lạm phát có dấu hiệu giảm, lãi suất cơ bản được NHNN điều chỉnh giảm xuống còn khoảng 7%/năm, dẫn đến lãi suất huy động và lãi suất suất cho vay của Vietcombank giảm tương ứng với mức lãi suất huy động ngắn hạn dao động trong khoảng từ 6,6%/năm đến 7,56%/năm, lãi suất huy động trung dài hạn khoảng 8,04%/năm đến 8,56%/năm, riêng lãi suất cho vay ngắn hạn ở mức 10,44%/năm và lãi suất cho vay trung dài hạn ở mức 10.5%/năm, chênh lệch khoảng 3%/năm so với lãi suất cơ bản
- Trong năm 2010 khi lạm phát có dấu hiệu tăng trở lại do đó NHNN đã tăng lãi suất cơ bản dần lên 8%/năm và đến cuối năm 2010 là 9%/năm Vietcombank đã điều chỉnh lãi suất huy động tăng tương ứng lên khoảng từ 10,49%/năm đến 11%/năm Nổi bật ở giai đoạn này là lãi suất huy động tất