Bà Tám cho rằng ông Sinh đã chuyển quyền sử dụng cho vợ chồng bà năm 1994 theo “Đơn chuyển quyền thừa kế”, chồng bà là ông Thuyên đã mất nên đối với thửa đất đất này bà là người có quyền
Trang 1BỘ TƯ PHÁP
HỌC VIỆN TƯ PHÁP
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
Môn: Kỹ năng cơ bản của Luật sư khi tham gia giải quyết vụ, việc dân sự
Mã hồ sơ: LS.DS 06/DA2.DS
(Nguyên đơn: Chu Thị Thanh, Chu Văn Sinh Bị đơn: Đinh Thị Tám) Ngày diễn: 12/01/2020
Học viên:
Mã số:
Lớp:
Trang 2PHẦN 1: TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ KIỆN
Ông Chu Khắc Trường và bà Chu Thị Cúc có 4 người con chung là Chu Thị Thanh (Chu Thị Hồng Thanh), Chu Thị Loan, Chu Khắc (Văn) Sinh, Chu Thị The Ông Trường mất năm 1945 và bà Cúc mất năm 1990 đều không có di chúc, tài sản để lại là ngôi nhà 2 gian với diện tích đất là 777 m2 tại tờ bản đồ số
2 thửa đất 40 chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu và một số cây lưu niên: nhãn, dừa và một số cây khác
Tháng 01/1994, ông Sinh có Đơn chuyển quyền thừa kế là quyền sử dụng thửa đất và toàn bộ tài sản trên đất cho ông Chu Khắc Thuyên (Kha-anh họ) kể
từ ngày 24/01/1994 với giá 1.500.000đ, đã nhận 500.000đ Sau đó, bà Thanh phát hiện sự việc này và đã khiếu nại đến UBND xã Phù Vân, UBND xã Phù Vân đã có thông báo tạm đình chỉ việc chuyển quyền thừa kế này
Tháng 4/1994, bà Thanh và bà The có “Giấy giao quyền trông nom” để ông Chu Khắc Thuyên quản lý nhà đất, thu hoạch hoa quả trong thời hạn 5 năm
kể từ ngày 15/4/1994 đến 15/4/1999 và có trách nhiệm đóng thuế nhà đất Năm
1999, ông Thuyên mất, bà Đinh Thị Tám là vợ ông Thuyên tiếp tục thu hoạch hoa quả hàng năm Cuối năm 2011, bà Tám cùng con gái là Chu Thị Mai làm nhà trên mảnh đất này Bà Thanh đã báo chính quyền địa phương xã Phù Vân can thiệp nhưng bà Tám vẫn tiếp tục xây dựng
Tranh chấp giữa bà Thanh, ông Sinh và bà Tám đã được UBND xã Phù Vân tổ chức hòa giải 02 lần nhưng không thành
Ngày 05/11/2016, ông Sinh và bà Thanh khởi kiện bà Tám tại Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Ông Sinh và bà Thanh yêu cầu Tòa
án giải quyết:
- Yêu cầu bà Tám trả lại 777m2 tại thửa đất số 40 tờ bản đồ số 02 lập năm
1998 cho 4 chị em nguyên đơn
- Buộc bà Tám phải trả nhà ,đất, cây cối trên diện tích đất và hoa màu trên đất với giá trị 50% tổng giá trị thu nhập cây lưu niên kể từ ngày 15/4/1994
Sau nhiều phiên hòa giải không thành, ngày 03/8/2017, Tòa ra quyết định
số 65/2017/QĐST-DS đưa vụ án ra xét xử.
PHẦN 2: NHẬN XÉT MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỐ TỤNG
1 Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp
Trang 3Theo bản đồ địa chính lập năm 1998 thì phần đất tranh chấp là của bà Cúc Bà Tám cho rằng ông Sinh đã chuyển quyền sử dụng cho vợ chồng bà năm
1994 theo “Đơn chuyển quyền thừa kế”, chồng bà là ông Thuyên đã mất nên đối với thửa đất đất này bà là người có quyền sử dụng Bà Thanh, bà Loan, ông Sinh, bà The cho rằng đây là tài sản của mẹ họ để lại và họ là những người thừa
kế theo pháp luật nên đất này là của họ, một mình ông Sinh không có quyền chuyển quyền sử dụng đất Do đó, đây là tranh chấp về chuyển nhượng quyền sử dụng đất
2 Quyền khởi kiện
- Trong quan hệ pháp luật tranh chấp trên, sau khi đã được hòa giải nhưng không thành, bà Thanh và ông Sinh cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình
bị xâm phậm nên đã làm Đơn khởi kiện gửi đến Tòa án để yêu cầu Tòa án bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ Việc khởi kiện là phù hợp với quy định tại Điều 186 Luật TTDS 2015;
- Ông Sinh và Bà Thanh có đủ năng lực hành vi dân sự (trên 18 tuổi), không bị Tòa án tuyên bố là người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành
vi nên ông Sinh và bà Thanh cũng có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, ông bà
đã trực tiếp ký Đơn khởi kiện là phù hợp với quy định tại Điều 69, 189 Luật TTDS 2015
3 Thời hiệu khởi kiện
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015 thì đối với tranh chấp về quyền sử dụng đất thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện
4 Thẩm quyền Tòa án
- Căn cứ Khoản 9 Điều 26 Luật TTDS 2015, tranh chấp về quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;
- Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 35 Luật TTDS 2015, tranh chấp quyền sử dụng đất được quy định tại Khoản 9 Điều 26 Luật TTDS 2015 sẽ do Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết
- Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 39 Luật TTDS 2015, trường hợp đối tượng tranh chấp là bất động sản thì Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết
Như vậy, trong trường hợp này Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh
Hà Nam có thẩm quyền giải quyết, việc Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý đã thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật
Trang 45 Thành phần và tư cách đương sự
Nguyên đơn:
1) Bà Chu Thị Hồng Thanh (tên gọi khác Chu Thị Thanh), sinh năm
1930 Địa chỉ: số 12, Tổ 16 phường Nam Thanh, TP Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên
Người đại diện theo ủy quyền của bà Thanh: Chị Chu Thị Hồng Tâm, sinh năm 1970 Địa chỉ: số 61, Tổ 16 phường Nam Thanh, TP Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên
2) Ông Chu Văn Sinh (tên gọi khác Chu Khắc Sinh), sinh năm 1936.Địa chỉ: thôn Vạn Thắng, xã Hòa Thắng, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn
Bị đơn:
1) Bà Đinh Thị Tám, sinh năm 1930 Địa chỉ: thôn 6, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1) Bà Chu Thị Loan, sinh năm 1935 Địa chỉ: tổ 3 phường Cầu Thía, thị
xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái
2) Bà Chu Thị The, sinh năm 1944 Địa chỉ: đội 1 thôn Diên Điền, xã Bình Hòa, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
Đại diện theo ủy quyền của bà Loan, bà The: ông Chu Anh Quyết, sinh năm 1952; Địa chỉ: Thôn 6, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam
3) Ông Chu Khắc Hồng, sinh năm 1956;
4) Bà Trần Thị Đắc, sinh năm 1957;
5) Bà Chu Thị Mai, sinh năm 1952
Cùng địa chỉ: Thôn 6, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam
6 Thủ tục tiền tố tụng
- Tranh chấp đất đai giữa nguyên đơn và bị đơn đã được UBND xã Phù Vân tiến hành hòa giải 02 lần nhưng không thành (BL 25, 26, 27, 28, 29) Căn
cứ Điểm b Khoản 2 Điều 203 Luật đất đai 2013, điều kiện thủ tục tiền tố tụng đã đáp ứng theo yêu cầu của pháp luật
- Tranh chấp chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
7 Văn bản pháp luật áp dụng
Trang 5- Luật đất đai 1993; 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành;
- Bộ luật dân sự năm 1995; 2015
- Pháp lệnh thừa kế năm 1990;
- Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình
PHẦN 3: TRÌNH BÀY Ý KIẾN CỦA BỊ ĐƠN
Nguồn gốc thửa đất 40 tờ bản đồ số 02 là của ông bà nội ông Thuyên (chồng bà Tám) và ông bà nội ông Sinh để lại cho bố mẹ ông Sinh, bà Thanh là ông Chu Khắc Trường và bà Chu Thị Cúc Khi bà Cúc mất năm 1990 (ông Trường mất trước đó, không nhớ rõ năm), vợ chồng bà Tám, ông Thuyên đứng
ra lo tang cho bà do các con bà thoát lý khỏi địa phương không về và quản lý, thực hiện nghĩa vụ thuế đối với thửa đất kể từ đó Năm 1994, ông Sinh về viết
“Đơn chuyển quyền thừa kế” để chuyển nhượng quyền sử dụng toàn bộ thửa đất, nhà và cây cối cho vợ chồng ông Thuyên, bà Tám với giá 1.500.000 đ, ông Sinh đã nhận 500.000 đ, số tiền còn lại sẽ trả trong năm 1994 khi ông Sinh về quê nhưng sau đó ông Sinh không về và cho đến nay cũng chưa có yêu cầu trả
số tiền còn thiếu Vợ chồng ông Thuyên, bà Tám quản lý, sử dụng, thu hoa lợi trên thửa đất và đóng thuế đầy đủ cho Nhà nước từ năm 1990 đến nay (trong đó
từ 1990 đến 1993 do vợ chồng con trai bà Tám nộp) Cuối năm 2011, bà Tám đã xây dựng mới một căn nhà cấp bốn ba gian trên thửa đất (do căn nhà cũ bị sụp đổ), tôn tạo, cải tạo đất và trồng mới nhiều cây lâu năm khác Mặc dù hiện nay thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng vợ chồng bà Tám khẳng định đã được ông Sinh chuyển quyền sử dụng đất từ năm 1994 nên
bà không chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn, bà đề nghị Tòa công nhận bà
là người có quyền sử dụng đất hợp pháp đối với thửa đất
Trang 6PHẦN 4: KẾ HOẠCH HỎI CỦA LUẬT SƯ
Tình tiết, nội dung cần
chứng minh Hỏi nguyên đơn Hỏi bị đơn
Hỏi người có quyền, lợi ích liên
quan
1 Ông Thuyên, bà Tám
quản lý thửa đất từ 1990
hay từ 1994
1 Hỏi Ông Sinh, Bà Thanh
- Trước khi mẹ ông/bà mất, ông/bà đang ở đâu, làm gì? Khi mẹ ông/bà mất ông/bà có về lo tang cho mẹ không? Ai làm chứng?
- Sau khi mẹ ông/bà mất, từ năm 1990 đến 1993, ai là người sống trên mảnh đất này?
2 Hỏi Bà Thanh
- Vì sao bà biết từ năm 1990 đến 1993, ông Sinh và anh Thành sống trên mảnh đất này (BL35)? Khi đó anh Thành bao nhiêu tuổi? Ngoài anh Thành còn
ai không?
- Trước khi bà Cúc mất năm
1990, ai là người sống cùng và chăm sóc bà Cúc Khi bà Cúc mất, ai là người lo tang cho bà Cúc?
- Ai là người đóng nghĩa vụ thuế đối với thửa đất? (trong đó có 1990-1994)?
1 Hỏi ông Hồng, bà Đắc
- Vì sao ông/bà đóng nghĩa vụ thuế đối với thửa đất từ năm
1990 đến năm 1994?
2 Hỏi bà Loan
- Vì sao bà biết từ năm 1990 đến
1993, ông Sinh và anh Thành sống trên mảnh đất này (BL35)
2 Đơn chuyển quyền thừa
kế (BL7,8) là hợp đồng
chuyển quyền sử dụng đất,
tài sản gắn liền với đất
1 Ông Sinh
- Vì sao ông làm Đơn chuyển quyền thừa kế (BL 7,8)? Các chị em ông có biết không? Trong đơn ông khẳng định
là đã trao đổi, thống nhất với các chị?
- Ông có nhận tiền từ ông Thuyên, bà
- Vợ chồng bà thỏa thuận với ông Sinh về việc chuyển quyền
sử dụng đất như nào?
- Vì sao bà chưa trả hết số tiền 1.000.000đ?
- Vợ chồng bà có nhận được
1 Hỏi bà Loan, bà The
- Bà có biết việc ông Sinh nhận tiền của ông Thuyên, bà Tám để chuyển quyền sử dụng đất không?
Trang 7Tình tiết, nội dung cần
chứng minh Hỏi nguyên đơn Hỏi bị đơn
Hỏi người có quyền, lợi ích liên
quan
Tám không? (BL52) Giấy biên nhận thể hiện ông đã nhận số tiền 500.000đ
để chuyển quyền sử dụng thửa đất?
2 Bà Thanh
- Bà có biết việc ông Sinh nhận tiền của ông Thuyên, bà Tám để chuyển quyền sử dụng đất không?
Thông báo của UBND xã Phù Vân ngày 10/4/1994 về việc tạm đình chỉ việc chuyển quyền thừa
kế không? Quan điểm của bà về nội dung thông báo này?
3 Giấy giao quyền trông
nom (BL 10) và Giấy giao
quyền sử dụng (BL13)
không có giá trị pháp lý
1 Hỏi ông Sinh
- Ông có biết việc 2 chị của ông (bà Thanh, The) đã lập giấy giao quyền trông nom ngày 15/4/1994 cho ông Thuyên không? Quan điểm của ông?
- Vì sao ông lập Giấy giao quyền sử dụng ngày 22/11/2001 cho ông Chinh?
Các chị em ông có biết không?
- Bà có biết về Giấy giao quyền trông nom (BL 10) và Giấy giao quyền sử dụng (BL13)? Quan điểm của bà về việc này như thế nào?
1 Hỏi bà Loan
- Bà có biết việc 2 chị của bà (bà Thanh, The) đã lập giấy giao quyền trông nom ngày 15/4/1994 cho ông Thuyên không? Vì sao
bà không ký vào Giấy giao quyền? Ông Sinh có biết không? (BL57, 60: ông Sinh không có mặt >< BL 36, 71: ông Sinh có mặt)
4 Công sức tôn tạo thửa
đất của bà Tám
- Tài sản bố mẹ ông bà để lại năm
1990 gồm những gì? Ông/bà biết bà Tâm xây dựng trên thửa đất khi nào?
(BL 36,58,61,72: tháng 5/2016)
- Ông/Bà có thực hiện nghĩa vụ thuế
- Từ năm 1990 khi bắt đầu quản
lý thửa đất, tài sản gồm những gì? Tài sản hiện này gồm những gì?
- Bà xây lại căn nhà cấp 4 từ khi
1 Hỏi bà The, bà Loan
- Tài sản bố mẹ ông bà để lại năm 1990 gồm những gì?
- Bà có thực hiện nghĩa vụ thuế đối với thửa đất không? Bà có
Trang 8Tình tiết, nội dung cần
chứng minh Hỏi nguyên đơn Hỏi bị đơn
Hỏi người có quyền, lợi ích liên
quan
đối với thửa đất không? Ông/bà có biết
ai đã thực hiện không?
nào? (BL 39,69: cuối 2011)?
Ngoài việc xây nhà, bà đã làm tôn tạo, cải tạo gì trên thửa đất?
- Bà có ý kiến gì về các tài sản
và giá trị tài sản trong Biên bản định giá? (BL 90, 91, 92)
biết ai đã thực hiện không?
Trang 9PHẦN 5: LUẬN CỨ BẢO VỆ BỊ ĐƠN Kính thưa Hội đồng xét xử,
Thưa vị đại diện Viện Kiểm sát,
Thưa tất cả các vị luật sư đồng nghiệp và mọi người có mặt tại phiên tòa hôm nay!
Tôi là , luật sư của Công ty Luật TNHH ABC - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội, tôi đến phiên tòa hôm nay với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Đinh Thị Tám trong phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay
Thưa Hội đồng xét xử, vị đại diện Viện kiểm sát,
Sau khi nghiên cứu hồ sơ, căn cứ kết quả hỏi và lắng nghe quan điểm trình bày của vị luật sư đồng nghiệp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn tại phiên tòa hôm nay, chúng tôi hoàn toàn bác bỏ quan điểm và yêu cầu phía nguyên đơn đã trình bày, đồng thời chúng tôi xin đưa ra những quan điểm
để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn, cụ thể như sau:
Đối với quan điểm và yêu cầu của nguyên đơn
Phía nguyên đơn đưa ra 02 yêu cầu đối với bà Tám (01) trả lại thửa đất số
40 tờ bản đồ số 2 diện tích 777m2, (2) dỡ bỏ tài sản trả lại mặt bằng trên thửa đất Cả 02 yêu cầu này được đưa ra dựa trên quan điểm cho rằng những người thừa kế của ông Trường, bà Cúc (là các ông bà Sinh, Thanh, Loan, The) chỉ giao quyền trông nom cho ông Thuyên chứ không chuyển quyền sử dụng đất Chúng tôi hoàn toàn bác bỏ quan điểm và các yêu cầu này bởi lẽ: việc giao quyền trông nom được xác lập theo Giấy giao quyền trông nom (BL 10,11) không có giá trị pháp lý, cụ thể:
- Thứ nhất, tại thời điểm xác lập Giấy giao quyền trông nôm (15/4/1994), những người giao quyền (bà Thanh, bà The) không cón quyền sử dụng đối với thửa đất bởi quyền sử dụng đối với thửa đất đã được chuyển giao hợp pháp cho ông Thuyên, bà Tám theo Đơn chuyển quyền thừa kế của ông Sinh (BL 7,8) đã được chính quyền địa phương các cấp (thôn, địa chính xã, UBND xã) chứng thực
- Thứ hai, lời khai của các nguyên đơn (bà Thanh, ông Sinh) và những người có quyền, lợi ích liên quan (bà The, bà Loan) về việc xác lập giấy giao quyền trông nom này có nhiều mâu thuẫn nhau, cụ thể: Tại BL 36, 71: bà Thanh
và ông Sinh khai rằng cả 4 chị em ông bà đã họp bàn và thống nhất lập giấy giao quyền Tuy nhiên, tại BL 57, 60: bà Loan và bà The khai rằng chỉ có 3 chị em bà họp bàn, không có mặt ông Sinh;
Trang 10Chúng tôi có cơ sở để tin rằng việc xác lập giấy trông nom ngày 15/4/1994 đã có sự gian dối khi xác lập và chỉ do một mình bà Thanh lập bởi:
+ Thứ nhất, ngay trong nội dung giấy trông nom này, bà Thanh đã nhận xét ông Sinh “là con trai nhưng thiếu trách nhiệm với cha mẹ khi sống cho đến khi chết đi cũng như ngày nay” Nhận xét này phù hợp với nội dung tại biên bản họp gia đình (BL 15) ngày 5/6/2016, bà Thanh và bà Loan đã thừa nhận: 02 bà
đã biệt tin tức không rõ ông Sinh sống chết ở đâu, biệt tin tức từ trước khi bà Cúc mất từ năm 1990 cho đến thời điểm năm 2016 Theo đó, không thể có chuyện ông Sinh đã cùng các chị của mình họp bàn, thống nhất lập Giấy giao quyền trông nom như bà Thanh, ông Sinh đã khai
+ Thứ hai, tại giấy trong nom này chỉ có chữ ký của bà Thanh, không có chữ ký bà Loan, bà The và ông Sinh Như vậy, cũng chưa có chứng cứ để khẳng định bà The, bà Loan đã họp bàn với bà Thanh để lập Giấy giao quyền trông nom
Về yêu cầu của bị đơn
Bị đơn yêu cầu Tòa xem xét tuyên bố bà Tám là người có quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất, qua nghiên cứu hồ sơ, căn cứ kết quả hỏi tại phiên tòa
và những ý kiến bác bỏ quan điểm, yêu cầu của nguyên đơn mà chúng tôi vừa trình bày, chúng tôi nhận thấy: yêu cầu của bị đơn là hoàn toàn có cơ sở bởi có căn cứ để cho rằng giao dịch chuyển quyền sử dụng đất giữa ông Sinh và vợ chồng ông Thuyên bà Tám được tạo lập bởi Đơn chuyển quyền thừa kế (BL 7,8)
và Giấy biên nhận tiền (BL 52) là “hợp đồng chuyển nhượng chuyển quyền sử dụng đất” và giao dịch này hoàn toàn hợp pháp, cụ thể như sau:
Thứ nhất, tại thời điểm tháng 01/1994, ông Sinh, ông Thuyên (Kha) hoàn toàn có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật
Thứ hai, ông Sinh, ông Thuyên hoàn toàn tự nguyện tham gia giao kết, không ai ép buộc ai, phù hợp với ý chí, nhận thức của ông Sinh, ông Thuyên về quyền được chuyển nhượng và quyền được nhận chuyển nhượng
Thứ ba, mục đích và nội dung của “hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” không trái pháp luật và đạo đức xã hội Với nhận thức rằng mình đã thoát ly khỏi địa phương, các chị em của mình đều đã xuất giá và ở xa, gia đình
và bản thân đều không có xu hướng trở về quê, vì vậy, ông Sinh và các chị em của mình có nhu cầu chuyển nhượng thửa đất Trong BL 7,8, ông Sinh đã khẳng định đã thống nhất trao đổi với các chị em mình, do đó, ông vừa nhân danh mình vừa là đại diện theo ủy quyền của các chị em của mình để thực hiện giao dịch chuyển quyền Phía ngược lại, ông Thuyên bà Tám nhận thức rằng, thửa đất này
có nguồn gốc của ông bà nội mình giao cho chú ruột của mình là ông Trường sử