1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dien an dan su ho so 07 2020 nguyen thi hao nguyen van nguyet

11 211 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 139,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, việc chung sống không thể duy trì được, ngày 02/01/2016 chị Hảo làm Đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: + Việc ly hôn với anh Nguyệt, + C

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP

HỌC VIỆN TƯ PHÁP

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN

Môn: Kỹ năng cơ bản của Luật sư khi tham gia giải quyết vụ, việc dân sự

Mã hồ sơ: LS.DS 07/DA1.HNGD

Ngày diễn: 05/01/2020

Học viên:

Mã số:

Lớp:

Trang 2

PHẦN 1: TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ KIỆN

Chị Nguyễn Thị Hảo (Sinh năm 1978, địa chỉ: thôn Nam Giang, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương) và anh Nguyễn Văn Nguyệt (sinh năm 1976, Địa chỉ: thôn Thượng Triệt I, xã Thượng Đạt, TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương) kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 26/3/1999 tại UBND xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách (nay là TP Hải Dương) tỉnh Hải Dương Trong thời gian chung sống, Chị Hảo và anh Nguyệt có 02 con chung: Nguyễn Thị Nhi (Nữ, sinh ngày 04/1/2000, đang sống cùng mẹ) và Nguyễn Đức Anh (Nam, sinh ngày 13/6/2007, đang sống cùng bố)

Sau khi kết hôn được khoảng 02 năm thì chị Hảo, anh Nguyệt phát sinh mâu thuẫn, đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, việc chung sống không thể duy trì được, ngày 02/01/2016 chị Hảo làm Đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

+ Việc ly hôn với anh Nguyệt,

+ Chị được nuôi 2 con chung, không yêu cầu anh Nguyệt cấp dưỡng + Chia đôi tài sản chung là nhà đất tại thửa số 496, tờ bản đồ số 1, diện tích 216 m2 tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

Trên cơ sở đơn khởi kiện của chị Hảo, ngày 10/01/2016, TAND TP Hải Dương đã có thông báo về việc thụ lý vụ án số 02/TB-TLVA

PHẦN 2: NHẬN XÉT MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỐ TỤNG

1 Về quyền khởi kiện, người khởi kiện

Về quyền khởi kiện

Chị Hảo và anh Nguyệt là vợ chồng, đã đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể tồn tại, chị Hảo và anh Nguyện không thuận tình ly hôn do không thỏa thuận được việc nuôi con và chia tài sản chung Do vậy, chị Hảo hoặc anh Nguyệt đều

có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2013; Điều 186 Luật Tố tụng dân sự 2015

Trang 3

Về năng lực chủ thể người khởi kiện

Tại thời điểm khởi kiện, Chị Hảo trên 18 tuổi, không bị Tòa án tuyên bố

là người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi do đó, Chị Hảo đủ năng lực hành vi dân sự, năng lực tố tụng dân sự; chị Hảo trực tiếp làm đơn khởi kiện và

ký đơn khởi kiện là phù hợp với quy định tại Điều 69, 189 Luật Tố tụng dân sự 2015

2 Về thẩm quyền Tòa án

Yêu cầu khởi kiện liên quan đến tranh chấp về hôn nhân và gia đình, TAND TP Hải Dương thụ lý vụ án là phù hợp về thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 Luật Tố tụng dân sự 2015

3 Về thời hiệu khởi kiện và điều kiện tiền tố tụng

- Việc giải quyết ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung giữa chị Hảo và anh Nguyệt chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án

- Pháp luật hiện hành không có điều kiện bắt buộc hòa giải, điều kiện khác trước khi khởi kiện; không có quy định về thời hiệu khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung

Như vậy, xét các điều kiện khởi kiện của vụ án việc TAND TP.Hải Dương thụ lý vụ án theo thông báo số 02/TB-TLVA là đúng với quy định của pháp luật

4 Về quan hệ pháp luật và văn bản pháp luật áp dụng

Về quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly

hon

Về văn bản pháp luật áp dụng

- Luật tố tụng dân sự 2015;

- Luật hôn nhân và gia đình 2013;

- Luật đất đai 2003; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai

Trang 4

5 Xác định tư cách đương sự

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hảo – Thôn Nam Giàng, xã Thượng Đạt,

TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương;

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Nguyệt – Thôn Thượng Triệt 1, xã Thượng

Đạt, TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

+ UBND thành phố Hải Dương;

+ Bà Nguyễn Thị Thoa và ông Nguyễn Văn Can, cùng tại địa chỉ: Khu dân cư số 2, Thôn Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương

PHẦN 3: TRÌNH BÀY Ý KIẾN CỦA BỊ ĐƠN

Với những yêu cầu khởi kiện của chị Hảo – nguyên đơn, anh Nguyệt – bị đơn có quan điểm trình bày như sau:

Về việc ly hôn:

Tôi và cô Hảo được tự do tìm hiểu nhau và tự nguyện đăng ký kết hôn; sau khi kết hôn, chúng tôi chỉ chung sống thực sự hạnh phúc được khoảng 03 tháng thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn Nguyên nhân mâu thuẫn là do cô Hảo ghen tuông, bỏ về nhà đẻ ở; sau đó có quay lại về sống cùng tôi nhưng vẫn thường xuyên xảy ra mâu thuẫn Từ khoảng đầu năm 2015, cô Hảo lại bỏ về nhà

đẻ, chúng tôi sống ly thân luôn từ đó cho đến nay Tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục duy trì nên tôi nhất trí ly hôn

Về việc nuôi con chung

Ban đầu tôi có nguyện vọng được nuôi cả 2 con (Nhi và Đức Anh), không cần cô Hảo cấp dưỡng vì cô Hảo không đủ điều kiện để nuôi con, hiện cháu Nhi đang ở với cô Hảo nhưng không được đi học Tuy nhiên, theo nguyện vọng của cháu Nhi được ở với mẹ, tôi cũng nghĩ cháu là con gái, đang trong độ tuổi phát triển tâm sinh lý nên việc cháu ở với cô Hảo có thể sẽ tốt hơn cho sự phát triển của cháu Tại phiên tòa hôm nay, tôi đồng ý để cô Hảo nuôi cháu Nhi nhưng đề nghị Quý Tòa cho tôi được nuôi cháu Đức Anh (hiện cháu đang ở với tôi)

Trang 5

Về chia tài sản chung

Tôi đồng ý chia đôi tài sản là nhà và các công trình trên đất là tài sản chung của hai vợ chồng; thống nhất về giá trị các tài sản này, không yêu cầu thẩm định giá

Tôi không đồng ý chia đôi thửa đất tại thửa số 496, tờ bản đồ số 1, diện tích 216 m2 vì phần đất đó là của bố mẹ và các anh em trai tôi đóng góp tiền mua của UBND xã Thượng Đạt vào năm 1991, gia đình tôi cho vợ chồng tôi mượn đất để ở Năm 2005 xã Thượng Đạt và UBND huyện Nam Sách tự làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng tôi là không đúng đối tượng, tôi đề nghị Quý Tòa hủy GCN QSD đất đã được cấp

PHẦN 4: KẾ HOẠCH HỎI CỦA LUẬT SƯ

Câu hỏi

I Việc nuôi con chung

Hỏi nguyên

đơn (Chị

Hảo)

1 Hiện tại chị có cho cháu Nhi đi học cấp 3 không?

2 Ngày 16/5/2016 chị khai chị đang làm công nhân với thời gian từ 8 – 12 tiếng/ngày, mức lương 4-6tr/tháng, đang ở nhờ nhà của mẹ đẻ Với khoản thu nhập như vậy có đủ trang trải cuộc sống cho chị và cháu Nhi không?

3 Nếu được nuôi cháu Đức Anh thì chị có kế hoạch tài chính nào để nuôi dạy tốt cho cả 2 con?

II Việc phân chia tài sản chung

Hỏi nguyên

đơn (Chị

Hảo)

1 Chị cho biết, việc gia đình anh Nguyệt mua mảnh đất tại thửa

số 496 tờ bản đồ số 1 trước hay sau khi anh chị kết hôn?

2 Chị có chứng cứ gì về việc gia đình anh Nguyệt cho anh chị mảnh đất mà chị yêu cầu chia đôi khi ly hôn không?

3. Chị có làm đơn xin cấp GCN QSDĐ hay không?

Hỏi bị đơn

(anh Nguyệt)

4 Anh có đóng góp về tiền trong việc cùng gia đình anh mua mảnh đất tại thửa số 496, tờ bản đồ số 1 không?

Trang 6

5. Gia đình anh có lập văn bản hay giấy tờ gì khẳng định cho vợ chồng anh chị sở hữu quyền sử dụng đất tại thửa số 496 tờ bản đồ số 1 không?

6. Anh có làm đơn xin cấp GCN QSDĐ hay không?

Hỏi người có

quyền lợi,

nghĩa vụ liên

quan (bà

Thoa)

7 Bà cho biết, gia đình bà có lập văn bản hay giấy tờ gì về việc cho vợ chồng anh Nguyệt, chị Hảo sở hữu quyền sử dụng đất tại thửa số 496, tờ bản đồ số 1 không?

8 Gia đình bà mua thửa đất số 496 từ năm nào? Mua từ ai?

Hỏi người có

quyền lợi,

nghĩa vụ liên

quan (UBND

thành phố

Hải Dương)

9 Theo ý kiến của UBND thành phố tại buổi họp hòa giải ngày 17/6/2016 (BL 199) thì đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận QSD đất của hộ anh Nguyệt, chị Hảo bị thất lạc, vậy việc thất lạc đơn chỉ xảy ra với hộ anh Nguyệt hay thất lạc đơn đề nghị của cả 30 hộ

10.UBND thành phố có niêm yết công khai thông báo cấp GCNQSD đất cho anh Nguyệt, chị Hảo tại khu dân cư nơi có đất không?

PHẦN 5: LUẬN CỨ BẢO VỆ BỊ ĐƠN Kính thưa Hội đồng xét xử,

Thưa vị đại diện Viện Kiểm sát,

Thưa tất cả các vị luật sư đồng nghiệp và mọi người có mặt tại phiên tòa hôm nay!

Tôi là , luật sư của Công ty Luật TNHH ABC - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội, tôi đến phiên tòa hôm nay với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Nguyễn Văn Nguyệt trong vụ án dân sự sơ thẩm số 20/2016/TLST-HNGĐ ngày 06/01/2016 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con

và chia tài sản chung khi ly hôn giữa nguyên đơn - chị Nguyễn Thị Hảo và bị đơn - anh Nguyễn Văn Nguyệt

Trang 7

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án và căn cứ kết quả phần tranh tụng tại phiên tòa hôm nay, tôi trân trọng gửi tới Hội đồng xét xử những quan điểm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Nguyệt như sau:

Thứ nhất về việc ly hôn

Anh Nguyễn Văn Nguyệt và chị Nguyễn Thị Hảo được tự do tìm hiểu, kết hôn tự nguyện năm 1999 tại UBND xã Thượng Đạt, TP Hải Dương và có 2 con chung (cháu Nhi, nữ, sinh năm 2000 và cháu Đức Anh, nam, sinh năm 2007) Trong quá trình chung sống, chị Hảo hay ghen tuông quá mức dẫn đến không hòa hợp được, chị Hảo đã có những ứng xử không tôn trọng anh Nguyệt, sau mỗi lần mâu thuẫn lại tự ý bỏ về nhà mẹ đẻ gây ảnh hưởng tâm lý tình cảm chung cả hai vợ chồng Mặc dù anh Nguyệt đã tha thứ hàn gắn nhiều lần, nhưng

từ năm 2014 đến nay, chị Hảo đã về ở hẳn nhà mẹ đẻ Vì vậy, tôi có chung quan điểm với vị luật sư đồng nghiệp phía nguyên đơn rằng: mâu thuẫn trong cuộc sống gia đình anh Nguyệt, chị Hảo đã dẫn đến hai bên không thể tiếp tục chung sống, tình cảm hai bên không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân trầm trọng kéo dài, đề nghị Tòa tuyên xử ly hôn cho anh Nguyệt và chị Hảo, tạo điều kiện cho 2 anh chị có cơ hội tạo lập cuộc sống mới tốt hơn

Thứ hai về nuôi con chung và yêu cầu cấp dưỡng

Chị Hảo hiện đang nuôi dưỡng cháu Nhi và yêu cầu được nuôi dưỡng cả 2 cháu Nhi và Đức Anh Đây sẽ là gánh nặng rất khó khăn cho chị Hảo và không đảm bảo cho sự phát triển về vật chất, tinh thần cho cả 2 cháu bởi:

- Chị Hảo hiện là công nhân tại Công ty Trấn An (TP Hải Dương) với mức lương trung bình chỉ dưới 6 triệu/tháng, thời gian làm việc đến 12 giờ một ngày, chưa có nơi ở cố định, ổn định (phải ở nhờ nhà mẹ đẻ) Với mức thu nhập, thời gian làm việc và điều kiện sống như vậy, chị Hảo sẽ không đủ chi phí sinh hoạt cho cả 3 mẹ con, không đáp ứng được nhu cầu cả về vật chất, tinh thần và học tập cho 2 cháu đang trong độ tuổi phát triển Thực tế hiện nay cháu Nhi đã không được tiếp tục đi học cấp 3, cuộc sống của 2 mẹ con vốn cũng đang rất khó khăn, vất vả; và trong thời gian tới, chị Hảo cũng không kế hoạch gì khác có thể

Trang 8

đảm bảo chắc chắn cuộc sống tốt hơn khi phải nuôi dưỡng thêm cháu Đức Anh, đảm bảo cháu đủ điều kiện ăn học, phát triển cả về thể chất và tinh thần

- Nếu cháu Đức Anh về ở với chị Hảo, về mặt lý thuyết mẹ con có thể được gần gũi nhau nhưng thực tế chị Hảo phải làm việc nhiều giờ/ngày (12 giờ), tất yếu sẽ không có thời gian quan tâm, chăm sóc, dạy bảo cháu Đức Anh Mẹ

đẻ chị Hảo chỉ có thể giúp chị chăm cháu phần nào chứ không thể thay thế được

sự chăm sóc bằng tình thương của bố, mẹ Nhất là trong giai đoạn cháu là nam giới, đang trong độ tuổi phát triển tâm sinh lý, nếu không có sự gần gũi, quan tâm chăm sóc, quản lý của bố, mẹ cháu rất có thể sẽ ham chơi, bị bạn bè xấu rủ

rê lôi kéo

Hơn nữa, trong thời gian ly thân, có lần mẹ chị Hảo, cùng chị và em gái đến nhà anh Nguyệt để chửi bới đập phá gây thiệt hại về tinh thần và vật chất cho anh Nguyệt Nếu cháu Đức Anh về ở cùng chị Hảo sẽ bị ảnh hưởng nhân cách bạo lực của gia đình chị, điều đó là không tốt cho sự phát triển của cháu

Từ những lý lẽ trên, để đảm bảo tốt nhất cho sự phát triển về thể chất, tinh thần, học tập của cháu Đức Anh và cũng là để giảm bớt gánh nặng, vất vả cho chị Hảo, tôi không thống nhất quan điểm với vị luật sư đồng nghiệp phía nguyên đơn về việc giao cháu Đức Anh cho chị Hảo nuôi dưỡng sẽ tốt hơn như vị luật

sư đã trình bày, tôi đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh Nguyệt, để anh Nguyệt được quyền nuôi cháu Đức Anh, còn cháu Nhi giao cho chị Hảo nuôi dưỡng như hiện tại, không ai phải cấp dưỡng cho ai

Thứ ba về phân chia tài sản chung

Đối với tài sản chung là công trình trên đất

Anh Nguyệt và Chị Hảo đã thống nhất được về số tài sản, giá trị tài sản và

đề nghị Tòa chia đôi theo quy định của phát luật Vì vậy đề ngị Quý Tòa chấp thuận sự thống nhất của anh chị

Đối với tài sản là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 496

Chị Hảo cho rằng tài sản là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 496, tờ bản

đồ số 01, diện tích 216m2 địa chỉ tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách, nay là

Trang 9

TP Hải Dương (GCNQSDĐ số H497 cấp ngày 31/12/2005) là tài sản chung vợ chồng và yêu cầu chia đôi là không có căn cứ Bởi lẽ:

Về nguồn gốc thửa đất: Qua hồ sơ vụ án cho thấy: năm 1991, UBND xã

Thượng Đạt đã bán đất cho ông Cang, bà Thoa Ông bà đã nộp tiền mua đất với giá 1.500.000đ/suất 200m2 theo đúng quy định, gia đình ông bà đã tôn tạo, san lấp 1/3 diện tích Chị Hảo cũng đã thừa nhận nguồn gốc thửa đất là của bố mẹ và gia đình anh Nguyệt Như vậy khẳng định nguồn gốc đất là của bố mẹ anh Nguyệt mua

Về quá trình sử dụng đất: Cả hai vợ chồng tham gia vào quá trình cải tạo,

san lấp đất từ năm 1999, sau khi anh chị kết hôn, nhưng chị Hảo tham gia không đáng kể bởi lúc đó có sự giúp sức của các anh trai anh Nguyệt và hàng xóm Chị Hảo đã không đóng góp gì nhiều trong việc tôn tạo giá trị mảnh đất

Các tài liệu cũng thể hiện ông Cang, bà Thoa khẳng định là chỉ cho anh Nguyệt và chị Hảo xây dựng trên đất để có nhà để ở chứ không tặng cho quyền

sử dụng đất Việc chị Hảo cho rằng bố mẹ chồng cho 2 vợ chồng mảnh đất trên

là không có căn cứ bởi chị Hảo không có bất kỳ tài liệu nào chứng minh việc tặng cho này Việc tặng cho quyền sử dụng đất không được xác lập thể hiện ý chí ông Cang bà Thoa khẳng định không cho đất, và pháp luật luôn tôn trọng ý chí của chủ thể tặng cho

Quá trình cấp GCNQSDĐ: Mặc dù UBND TP Hải Dương khẳng định đã

thực hiện quy trình thủ tục cấp GCN theo đúng quy định của pháp luật nhưng lại không thể cung cấp được bộ hồ sơ cấp để chứng minh với lý do hồ sơ đã thất lạc Liệu đây chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên hay sự lấp liếm để che đậy sai sót

về quy trình cấp GCN? Chúng tôi tin rằng đó không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên, bởi: Theo quy định của pháp luật, thủ tục đầu tiên và quan trọng nhất trong trình tự cấp GCN QSDĐ là Đơn xin cấp GCN QSDĐ (điểm a khoản 1 Điều 135 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật đất đai) Trong trường hợp này, chị Hảo và anh Nguyệt mặc dù đã được cấp GCN QSDĐ số H497 nhưng thực tế lại đều không thuộc đối tượng được cấp GCN

Trang 10

nhận không làm đơn xin cấp GCN QSDĐ, chị Hảo khai không tự đứng ra xin cấp GCN QSDĐ và không biết ai là người đứng ra kê khai (bút lục số 62), thế nhưng GCN QSDĐ vẫn được cấp cho anh Nguyệt và chị Hảo vào năm 2005 Như vậy, rõ ràng việc cấp Giấy CNQ SDĐ cho anh Nguyệt và chị Hảo là không đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật

Với nguồn gốc đất đã được các bên thừa nhận, sự sai sót về trình tự thủ tục cấp GCN QSDĐ đã được chỉ ra, chúng tôi có căn cứ để khẳng định rằng: đối với tài sản là quyền sử dụng đất tại GCN QSDĐ số H 497 tại xã Thượng Đạt là tài sản có nguồn gốc do ông Cang, bà Thoa là người tạo lập tài sản và cho vợ chồng anh Nguyệt và chị Hảo mượn để xây nhà trên đất; việc UBND huyện Nam Sách cấp cho vợ chồng anh Nguyệt, chị Hảo là trái pháp luật Vì vậy đề nghị Tòa xác định đây không phải là tài sản chung của anh Nguyệt và chị Hảo, đồng thời, đề nghị Tòa tuyên hủy GCN QSDĐ số H 497 đã cấp cho anh Nguyệt, chị Hảo và kiến nghị UBND TP Hải Dương xem xét cấp GCN QSDĐ cho ông Cang, bà Thoa khi có yêu cầu

Kính thưa Hội đồng xét xử, vì những lẽ trên, tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử quyết định theo hướng:

1 Chấp thuận yêu cầu ly hôn của chị Hảo;

2 Bác yêu cầu về nuôi 2 con chung của chị Hảo; tuyên cháu Đức Anh giao cho anh Nguyệt nuôi dưỡng, cháu Nhi giao cho chị Hảo nuôi, anh chị không phải cấp dưỡng nuôi cháu còn lại.

3 Bác yêu cầu chia đôi tài sản chung là GCN QSDĐ H 497 của chị Hảo; tuyên hủy GCN QSD đất số H 497 do cấp sai đối tượng, trình tự, thủ tục

và yêu cầu UBND TP Hải Dương thẩm định, làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất lại cho đúng đối tượng theo quy định của pháp luật;

4 Chấp thuận yêu cầu chia đôi tài sản trên đất theo tỷ lệ 50 – 50 cho anh Nguyệt, chị Hảo; anh Nguyệt nhận hiện vật và phải trả phần chênh lệch cho chị Hảo theo giá trị 2 bên đã thống nhất.

Tôi xin cảm ơn Hội đồng xét xử và những người có mặt trong phiên tòa

đã chú ý lắng nghe!

Ngày đăng: 29/09/2020, 13:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w