1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn chuyển nhượng hợp đồng trong hoạt động kinh doanh tại việt nam

105 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 138,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ví dụ, địa điểm giao tàisản bất động sản đối tượng của hợp đồng mua bán nhà chung cư là tại nơi thực tếtồn tại tài sản đó nếu người mua đã trả tiền và trong hợp đồng các bên không thỏath

Trang 1

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BLDS : Bộ luật Dân sự

GDP : Thu nhập bình quân

WTO : Tổ chức thương mại thế giới

VCCI : Phòng công nghiệp Việt Nam

USAID: Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ

Trang 2

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới(WTO), đây là một sự kiện đánh dấu bước tiến quan trọng trong quá trình hội nhập kinh

tế quốc tế của Việt Nam Việt Nam đã thực hiện nhiều cải cách quan trọng trong cáclĩnh vực kinh tế, xã hội Thể chế kinh tế chính là lĩnh vực thể hiện rõ nét hơn cả nhữngthay đổi trong quá trình hội nhập Quan hệ tương tác giữa việc xây dựng và hoàn thiệncác cơ chế, chính sách kinh tế, cải cách bộ máy, thủ tục hành chính với tiến trình hộinhập kinh tế quốc tế ngày càng chặt chẽ hơn và Luật Doanh nghiệp 2014 được coi làcuộc đột phá thể chế, thể hiện đúng tinh thần Hiến pháp 2013 về quyền tự do kinhdoanh của công dân, của doanh nghiệp, theo đó, những gì luật pháp không cấm thìngười dân, doanh nghiệp được tự do đầu tư, kinh doanh

Sự đột phá của thể chế kinh tế về quyền tự do kinh doanh của công dân đãtạo điều kiện cho các chủ thể được tham gia các quan hệ kinh tế một cách chủ động

và mạnh mẽ hơn Từ sự tham gia mạnh mẽ này, các quan hệ kinh tế liên quan xuấthiện và đặt ra một yêu cầu mới là phải làm thế nào để đảm bảo cho các quan hệkinh tế này được đi vào thực tiễn và hoạt động có hiệu quả cũng như đảm bảo sựtuân thủ pháp luật của nó Do đó pháp luật Việt Nam phải tạo ra được cơ sở pháp lý

để đảm bảo cho những vấn đề này

Luật Doanh nghiệp 2014 tạo ra khung pháp lý cơ bản, hướng tới sự phù hợpvới thực tế kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp và tháo gỡ nhiều khó khăn, hạnchế góp phần tạo điều kiện mở ra một môi trường kinh doanh thuận lợi phù hợpvới xu hướng chung của thế giới, nhằm hấp dẫn nhà đầu tư, tăng cường thu hút đầu

tư và huy động tốt mọi nguồn lực và vốn đầu tư vào sản xuất, kinh doanh Trong

đó, đã quy định một cách chi tiết và cụ thể về vấn đề Hợp đồng, Chuyển nhượnghợp đồng Tuy nhiên, trong thực tế việc áp dụng những quy định của pháp luật vềvấn đề này vẫn còn nhiều vướng mắc cần được giải quyết

Trang 3

Về mặt lý luận cho thấy còn nhiều sai sót về kỹ thuật pháp lý, cũng như tưtưởng pháp lý liên quan tới việc điều chỉnh hợp đồng trong các văn bản quy phạmpháp luật Việt Nam, nhất là trong Bộ luật Dân sự 2015 Thực tiễn giao kết hợpđồng trong hoạt động kinh doanh, thương mại ở Việt Nam thời gian qua cho thấy:Hợp đồng được giao kết hầu hết thông qua thói quen, mà không có độ thuần thục

về kỹ năng pháp lý Trong khi đó, xu hướng hội nhập đang mở ra rất nhiều cơ hội

và cả thách thức cho thương nhân Việt Nam Những hợp đồng giao kết cả trongnước và ngoài nước ngày càng gia tăng, vì vậy, sự không hiểu biết trong một chừngmực nào đó về pháp luật hợp đồng có thể dẫn đến những hậu quả đáng tiếc về kinh

tế, cũng như về mối quan hệ kinh doanh, thương mại Trong các vấn đề pháp lý cần

có trong giao thương kinh tế, sự thỏa thuận hay thống nhất ý chí thiết lập hợp đồngkinh doanh cũng như chuyển nhượng hợp đồng kinh doanh có ý nghĩa rất quantrọng

Với những lý do nêu trên, tôi quyết định chọn đề tài "Chuyển nhượng hợp đồng trong hoạt động kinh doanh tại Việt Nam" làm đề tài luận văn thạc sĩ với

mong muốn giúp cho mọi người hiểu rõ và sâu sắc hơn về bản chất, thủ tục chuyểnnhượng hợp đồng trong hoạt động kinh doanh tại Việt Nam

2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu tổng quát

Mục đích của Luận văn là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn, từ đóđưa ra giải pháp để khắc phục và hoàn thiện chuyển nhượng hợp đồng tronghoạt động kinh doanh tại Việt Nam

2.2 Mục tiêu cụ thể

Để thực hiện mục tiêu trên, Luận văn đề ra các mục tiêu cụ thể sau:

• Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về chuyểnnhượng hợp đồng;

• Phân tích những nội dung cơ bản của pháp luật vềchuyển nhượng hợp đồng;

Trang 4

• Đánh giá những ưu điểm và những hạn chế củapháp luật Việt Nam hiện hành về chuyển nhượnghợp đồng khi áp dụng thực tế;

• Đưa ra giải pháp để khắc phục và hoàn thiện vấn

đề chuyển nhượng hợp đồng trong hoạt động kinhdoanh tại Việt Nam

3. Tính mới và những đóng góp của đề tài

Tính mới của đề tài: Luận văn là công trình khoa học ở cấp độ thạc sĩ đề

cập đến vấn chuyển nhượng hợp đồng phân tích ưu điểm, nhược điểm thủ tụchành chính, bản chất về chuyển nhượng hợp đồng và khắc phục nhược điểm,hoàn thiện pháp luật chuyển nhượng hợp đồng trong kinh doanh tương lai

Đóng góp đề tài về mặt khoa học cũng như thực tiễn:

Xây dựng quan điểm pháp lý tiến bộ và hiện đại về Hợp đồng, chuyểnnhượng hợp đồng và vai trò của chuyển nhượng hợp đồng trong hoạt động kinhdoanh trong mối quan hệ với các lĩnh vực pháp luật khác của Hệ thống pháp luật,kinh tế Việt Nam

Chỉ rõ bất cập, quy định không phù hợp với thực tiễn, gây khó khăn, phiền

hà, ảnh hưởng đến hoạt động thường ngày của doanh nghiệp nên làm giảm hiệuquả và nguồn vốn GDP thúc đẩy kinh doanh

Đề xuất quan điểm tiến bộ và hiện đại về pháp luật chuyển nhượng hợpđồng trong hoạt động kinh doanh tại Việt Nam

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn: Các quan điểm, tư tưởng luật học về

Hợp đồng; Các văn bản pháp luật ở Việt Nam điều chỉnh về Hợp đồng, chuyểnnhượng Hợp đồng, hoạt động kinh doanh, Doanh nghiệp Việt Nam; Thực tiễn việcxây dựng, sửa đổi về Hợp đồng theo quy định của pháp luật hiện nay, những ưuđiểm và mặt hạn chế khi áp dụng vào thực tiễn

Trang 5

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những nội dung cơ

bản về Hợp đồng, chuyển nhượng Hợp đồng trong hoạt động kinh doanh của cácchủ thể đủ điều kiện kinh doanh, điều kiện nhận chuyển nhượng hợp đồng, điềukiện chuyển nhượng Hợp đồng theo quy định pháp luật

5. Phương pháp nghiên cứu

Để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu nêu trên, Luận văn sử dụng nhiềuphương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau, như phương pháp tổng hợp và phântích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh và đối chiếu, kết hợp nghiên cứu

lý luận và thực tiễn … Các phương pháp nghiên cứu trong Luận văn được thựchiện trên nền tảng của phương pháp duy vật lịch sử, duy vật biện chứng; trên cơ sởcác quan điểm, đường lối về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của Đảng Cộngsản Việt Nam

6. Tình hình nghiên cứu

Hoạt động chuyển nhượng Hợp đồng là một nội dung quan trọng trong hệthống pháp luật cũng như thực tế tại Việt Nam Hàng ngày, rất nhiều người thựchiện các giao dịch, Hợp đồng với mục đích kinh doanh và các các hoạt độngchuyển nhượng hợp đồng nhưng chưa được cụ thể hóa về bản chất và thủ tục Vìvậy nội dung về “Chuyển nhượng hợp đồng” là vấn đế rất mới mẻ, cần đượcnghiên cứu để hạn chế các rủi ro trong việc giao kết, chuyển nhương hợp đồng

Vấn đề về Hợp đồng có nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhauquan tâm và nghiên cứu Ở các phạm vi và mức độ khác nhau, có một số công trìnhnghiên cứu đến một vài khía cạnh của pháp luật về Hợp đồng như: Hiệu lực củachấp nhận giao kết hợp đồng theo Bộ luật Dân sự 2005 – Nhìn từ góc độ luật Sosánh của PGS.TS Ngô Huy Cương; Tạp trí nguyên cứu lập pháp số 24(185) tháng12/2010; Sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến đề nghị giao kết hợp đồngtrong Bộ luật Dân sự của Ths Nguyễn Văn Phái; Tạp trí nguyên cứu lập pháp số24(185) tháng 12/2010… Trong những công trình nghiên cứu này, các tác giảnghiên cứu so sánh về Hoạt động chuyển nhượng hợp đồng ở Việt Nam và một số

Trang 6

quốc gia trên thế giới và nghiên cứu hoạt động kinh doanh tại Việt Nam để áp dụngpháp luật về hoạt động chuyển nhượng hợp đồng tại Việt Nam.

Luận văn này là công trình đầu tiên nghiên cứu về Chuyển nhượng hợp đồngtrong hoạt động kinh doanh tại Việt Nam với cấp độ luận văn thạc sĩ luật học

7. Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụlục, Luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về hợp đồng

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn chuyển nhượng hợp đồng trong hoạt động kinh doanh tại Việt Nam

Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về chuyển nhượng hợp đồng trong hoạt động kinh doanh tại Việt Nam

Trang 7

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG VÀ CHUYỂN NHƯỢNG HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

1.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng

1.1.1 Khái niệm của hợp đồng

Hợp đồng là một phương tiện quan trọng trong đời sống xã hội của mỗi conngười, giúp con người thiết lập được các mối quan hệ xã hội nhằm đáp ứng cácnhu cầu vật chất và tinh thần của mình thông qua việc trao đổi các vật phẩm, dịch

vụ và các hoạt động khác Nó là yếu tố quan trọng để xây dựng xã hội chung vàthúc đẩy nền kinh tế, xã hội phát triển Chúng ta có thể thấy, những quy định củapháp luật về quan hệ hợp đồng này thường xuyên xuất hiện trong các đạo luậtthuộc lĩnh vực luật tư

Dưới cái nhìn pháp lý, các hoạt động xã hội mà con người thực hiện thôngthường đều thông qua hợp đồng, đơn giản như việc mua sắm đồ dùng, thuê dịch

vụ, vay tiền, thuê nhà, thuê thực hiện công việc… đây đều được coi là hợp đồng.Thậm chí, Hiến pháp cũng có thể được xem như là một hợp đồng bởi ở đây có sựthống nhất ý chí của tất cả nhân dân nhằm thiết lập nên một cộng đồng xã hội, traoquyền lực cho một nhóm người và quy định về các quyền con người, quyền côngdân, tuy nhiên thì hậu quả của nó có nhiều điểm không tương đồng

Hợp đồng còn có nhiều tên gọi khác như thỏa thuận, khế ước, thỏa ước, giaokèo, ước định, hiệp định… Có thể thấy những tên gọi này rất gần gũi và thân thuộcvới cuộc sống hàng ngày của chúng ta, nhưng không phải ai cũng sẽ đưa ra đượcđịnh nghĩa về hợp đồng Ngay cả những luật gia cũng có nhiều định nghĩa khácnhau về vấn đề này Mặc dù vậy thì tất cả các định nghĩa đều có thể khái quát đượccác đặc điểm chung và cơ bản của Hợp đồng

Trong cuốn từ điển pháp luật nổi tiếng của Hoa Kỳ “Deluxe Black’s Law

Dictionary” [18,43] có đưa ra hai định nghĩa khác nhau về hợp đồng như sau: 1 “Hợp

Trang 8

đồng là sự thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều người mà tạo lập nên một nghĩa vụ làm hoặc

không làm một việc cụ thể” 2 “Hợp đồng là một sự hứa hẹn hoặc một tập hợp sự hứa

hẹn đối với việc vi phạm nó, pháp luật đưa ra một chế tài, hoặc đối với sự thực hiện nó,pháp luật, trong một số phương diện, thừa nhận như là một trách nhiệm”

Bộ luật Dân sự Québec (Canada) 1994 thì định nghĩa rằng: “Hợp đồng làmột sự thỏa thuận của các ý chỉ bởi nó, một hoặc một số người tự ràng buộc mìnhvới một hoặc một số người khác để thực hiện một cam kết” (Điều 1378)

Theo Bộ luật Dân sự Pháp 1804 thì, “Hợp đồng là sự thỏa thuận theo đó mộthoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác chuyển giao một vật,làm hoặc không làm một việc nào đó” (Điều 1101) Và chịu sự ảnh hưởng về tưduy pháp lý này của Pháp, thì vào những năm 30 của thế kỷ 20, Việt Nam cũng cónhững định nghĩa tương tự tại Bộ luật Dân sự Bắc kỳ 1931(Điều 664) và Bộ luậtDân sự Trung Kỳ 1936 (Điều 680)[2,3,18]

Bộ luật Dân sự Liên bang Nga 1994 cho rằng: “Hợp đồng được thừa nhậnnhư một sự thỏa thuận được giao kết bởi hai hoặc nhiều người về việc phát sinh,thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự” (Điều 420, khoản 1)

Bộ luật Dân sự Việt Nam định nghĩa: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa cácbên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” (Điều 385).Đây là điểm mới cần lưu ý ở Bộ luật Dân sự mới 2015 trong chế định hợp đồng, tạiBLDS 2005 các nhà làm luật Việt Nam không dùng thuật ngữ “Hợp đồng” mà sửdụng thuật ngữ “Hợp đồng dân sự”

Các định nghĩa về hợp đồng của các học giả nước ngoài được tìm thấy đã

nêu như sau: (1) “Thực chất, hợp đồng là sự thỏa thuận mà tòa án cũng chế thi hành”[18,42] của Daniel Khoury và Yvonne S Yamouni, (2) “Hợp đồng là một thỏa

thuận có thể được thi hành về mặt pháp lý, rõ ràng hoặc ngầm định” Robert

W.Emerson và Jonh W Hardwick[18,44], (3) Thuật ngữ hợp đồng còn được hiểu là

“Một sự trao đổi các lời hứa bị ràng buộc pháp lý hoặc sự thỏa thuận giữa các bên

mà pháp luật cưỡng chế Thuật ngữ “Hợp đồng” ngày nay được hiểu theo hai cách

Trang 9

thông thường, coi nó như là một “thỏa ước” hoặc coi nó như là một “quan hệ phápluật”[22] Từ đó có thể hiểu, hợp đồng là một căn cứ làm phát sinh các quan hệpháp luật hoặc làm thay đổi, phát sinh, chấm dứt quyền và nghĩa vụ hoặc quan hệpháp luật của các bên.

Như vậy, qua các định nghĩa trên về hợp đồng ở trên ta có thể nhận thấy hai

điểm cốt yếu mà hợp đồng nào cũng cần phải có đó là: Thứ nhất, sự trao đổi và thống nhất ý chí của các bên chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng Thứ hai, việc

thiết lập hợp đồng tạo ra một hậu quả pháp lý nhất định Và có thể đưa ra một định

nghĩa về hợp đồng như sau: “Hợp đồng là sự thống nhất ý chí giữa các bên chủ thể, nhằm thiết lập một quan hệ hợp đồng, từ đó tạo nên sự ràng cuộc giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ này về việc thực hiện ý chí đã được thống nhất.”

1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng

Hợp đồng là hình thức thể hiện của sự thống nhất ý chí, do đó nó mang bảnchất là một sự thỏa thuận có hiệu lực bắt buộc đối với các bên, tạo nên sự ràngbuộc pháp lý giữa các bên bằng cách xác lập quyền và nghĩa vụ tương ứng cho mỗichủ thể tham gia quan hệ hợp đồng này Nó được hiểu là sự biểu hiện ý chí của cácbên bằng việc thỏa thuận và đi đến thống nhất với nhau về các quyền, nghĩa vụ củacác bên, xác định điều kiện và thời điểm làm căn cứ cho các quyền và nghĩa vụ nàyphát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt

Theo luật Anh - Mỹ, để có hiệu lực thì hợp đồng phải tuân thủ các yêu cầu:(1) Có sự đề nghị; (2) Có sự chấp nhận đề nghị; (3) Lợi ích đối ứng(consideration);(4) Các bên phải có ý định thực sự muốn giao kết hợp đồng; (5) Cam kết chắc chắn

và sự thỏa thuận hoàn chỉnh; hoặc (6) Phải tuân thủ các quy định khác về: (a) Cácbên phải có năng lực chủ thể để giao kết hợp đồng, (b) Không thiếu những yếu tố

mà thiếu nó có thể làm cho hợp đồng bị vô hiệu, bị hủy bỏ, hoặc không có giá trịpháp lý Về nguyên tắc, một hợp đồng được lập thiếu một trong các điều kiện trênthì có thể bị xem là không có hiệu lực Tuy vậy, trong một số trường hợp riêng biệt,các hợp đồng thiếu yếu tố đối ứng có thể được tòa án công nhận là có giá trị thực

Trang 10

thi, vì một bên bị tước quyền hủy bỏ hợp đồng, do tòa án căn cứ vào thuyết khôngđược rút lại lời nói hay hành vi đã cam kết (promissory estoppel)[48].

Theo quy định trong BLDS Pháp, hợp đồng được thừa nhận là có hiệu lựcthì phải thỏa mãn bốn điều kiện chủ yếu (Điều 1108): Các bên giao kết hợp đồngphải hoàn toàn tự nguyện (Điều 1109-22); Các bên giao kết phải là người có nănglực (hành vi dân sự) để giao kết hợp đồng (Điều 1123-5); Đối tượng và nội dungchủ yếu của hợp đồng phải xác định (Điều 1126-30); Mục đích, căn cứ của hợpđồng phải hợp pháp (Điều 1131-3)

Do đó có thể thấy Hợp đồng là đặc trưng cho ngành luật tư và cũng là sự thểhiện cho quan hệ xã hội cơ bản do đó nó có những đặc điểm nhất định để có thểnhận biết Những đặc điểm đó được thể hiện qua các yếu tố: Sự tồn tại thực tế củathỏa thuận, Chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng, Nội dung của hợp đồng, Hình thứcgiao kết hợp đồng, và Nguyên tắc khi giao kết hợp đồng

* Sự tồn tại thực tế của một thỏa thuận

Như chúng ta đã tìm hiểu, “sự trao đổi và thống nhất ý chí”[18] hay còn gọi

là sự thỏa thuận của các bên chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng là một trong haivấn đề lớn nhất và cốt yếu nhất mà hợp đồng nào cũng phải có “Hiểu rằng hợpđồng là một loại giao ước có đặc điểm chung là thống nhất ý chí”[18] Do đó sựtrao đổi và thống nhất ý chí có vai trò cực kỳ quan trọng đối với hợp đồng

Để có thể thiết lập được một quan hệ hợp đồng, một đòi hỏi bắt buộc chocác bên là phải đi đến được sự thống nhất về mặt ý chí giữa các chủ thể về vấn đềchung mà họ hướng tới Do đó có thể thấy, sự thống nhất ý chí là một yêu cầukhông thể thiếu để tạo lập nên quan hệ hợp đồng Bên trong sự thống nhất này, nóchứa đựng ý chí của các bên có nguyện vọng thiết lập quan hệ hợp đồng, nhữngnguyện vọng của các chủ thể được thể hiện thông qua ý chí của họ, được họ biểuđạt ra bên ngoài bằng các phương thức truyền đạt thông tin nhất định nào đó Từ sựthể hiện ý chí của mỗi bên, để đi đến được sự thống nhất, các bên chủ thể cần tiến

Trang 11

hành các bước thỏa thuận nhằm tìm ra tỷ lệ cân bằng nhất về quyền và nghĩa vụgiữa các bên mà họ đồng ý và có thể chấp nhận được.

Tuy hợp đồng luôn được coi là sự thỏa thuận nhưng không phải bất cứ sựthỏa thuận nào cũng được coi là hợp đồng[15] Chỉ những thỏa thuận hợp pháp,đáp ứng đủ những điều kiện về xác lập quan hệ giữa các chủ thể mới có thể đượccoi là hợp đồng Và cũng không cần sự thỏa thuận trực tiếp mới có được quan hệhợp đồng Thỏa thuận có thể được ngầm định xét theo từng hoàn cảnh cụ thể Bởivậy sự thỏa thuận ngoài việc thống nhất ý chí ra còn phải xem xét đến các vấn đềliên quan đến địa điểm, thời gian, hoàn cảnh, các bên tham gia… tất cả những gìgắn liền với thỏa thuận

Một sự thỏa thuận hay thống nhất ý chí luôn có hai thành tố là đề nghị vàchấp nhận đề nghị Do đó, trong hợp đồng người ta luôn xem xét tới đề nghị giaokết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Hai thành tố của sự thỏathuận này luôn được pháp luật quy định một cách cụ thể và chặt chẽ Tuy nhiên,hợp đồng được coi là hình thành bởi thỏa thuận khi mà các thỏa thuận ở nhữngđiều khoản cơ bản đã được các bên thống nhất Các vấn đề mấu chốt của thỏathuận phải được các bên xác định rõ ràng, từ đó thỏa thuận sâu hơn vào những điềukhoản nhằm hướng tới hình thành và bảo vệ các mục tiêu trong hợp đồng mà cácchủ thể hướng tới Sự thỏa thuận này không được chung chung, thỏa thuận vềnhững vấn đề thứ yếu sẽ khiến cho các bên tiêu tốn thời gian và công sức

Đối tượng của hợp đồng hay còn gọi là mục tiêu của sự thỏa thuận chính lànhững mong muốn mà các bên hướng tới trong quan hệ hợp đồng Và “đối tượngcủa hợp đồng là tài sản phải giao hoặc công việc phải làm hoặc không đượclàm”[36] Như vậy chủ đích của sự thỏa thuận bao gồm tài sản và hành vi Mộtthỏa thuận hướng đến đối tượng như vậy sẽ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứtquyền và nghĩa vụ của các bên trong thỏa thuận Đáp ứng những nhu cầu hay lợiích vật chất hoặc lợi ích tinh thần mà chủ thể mong muốn đạt được khi tham giathỏa thuận Đây là mục đích của thỏa thuận và cũng chính là cơ sở xác lập mục

Trang 12

đích của hợp đồng Mục đích này sẽ được biểu hiện thông qua chính nội dung đượcthỏa thuận và áp đặt lên các đối tượng mà được thỏa thuận hướng tới.

* Chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng

Quan hệ hợp đồng như chúng ta đã tìm hiểu luôn được biết đến với hai cáchhiểu, cách hiểu thứ nhất xem “hợp đồng” như là một sự “thỏa ước” giữa các chủthể, cách hiểu thứ hai thì xem “hợp đồng” như “một quan hệ pháp luật”[22] với cấuthành không thể thiếu trong quan hệ pháp luật này là chủ thể Dù được hiểu theocách nào đi chăng nữa thì chúng ta cũng có thể thấy rằng, thành tố chủ thể là một

bộ phận không thể thiếu trong quan hệ hợp đồng

Hợp đồng luôn được xem như sự thỏa thuận thống nhất ý chí, vậy ý chí đóbắt nguồn từ đâu? Sự bắt nguồn của ý chí trong sự thỏa thuận của quan hệ hợpđồng luôn xuất phát từ ý chí nội tại bên trong một chủ thể, và sự thể hiện ý chí đó

ra bên ngoài chính là việc chủ thể biểu đạt ý chí chủ quan của mình nhằm mongmuốn tham gia một cách tích cực vào quan hệ hợp đồng Sự thỏa thuận chính làcầu nối giúp ý chí của các bên chủ thể gặp nhau, dung hòa với nhau bằng cách tìm

ra tỷ lệ cân bằng nhất giữa quyền và lợi ích của các bên mà được các bên chủ thểđồng ý Như vậy, chủ thể có thể được coi là nguồn cội chứa đựng ý chí để tham giathỏa thuận xác lập quan hệ hợp đồng Và nó có thể được coi là thành phần cốt yếukhông thể thiếu trong quan hệ hợp đồng hay bất cứ quan hệ pháp luật nào khác

Bên cạnh đó, việc thống nhất ý chí trong quan hệ hợp đồng này tạo nên sựràng buộc pháp lý giữa các bên chủ thể tham gia, bởi chính sự thỏa thuận thốngnhất ý chí của các bên đã tạo ra những quyền và nghĩa vụ nhất định gắn với từngchủ thể và sự ràng buộc này gắn liền với chủ thể cũng như sự tồn tại của hợp đồng

Và do đó, “chủ thể” cùng với “sự thỏa thuận” luôn là hai yếu tố cơ bản xuyên suốt

trong toàn bộ thời gian tồn tại của hợp đồng

Chủ thể của hợp đồng (hay chủ thể của quan hệ hợp đồng) là những ngườitham gia xác lập, thực hiện hợp đồng, có quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng

Trang 13

và phải có trách nhiệm về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ hợpđồng đó[30].

Bất kỳ hệ thống pháp luật nào cũng vậy, họ luôn có những quy định về việcchủ thể phải có năng lực chủ thể nhất định mới có thể tham gia, thực hiện quan hệ

hợp đồng Theo đó, yêu cầu về chủ thể tham gia hợp đồng “có năng lực hành vi dân sự” là một trong những điều kiện tiên quyết để hợp đồng có hiệu lực Pháp luật Việt Nam quy định chủ thể tham gia giao dịch dân sự (hợp đồng dân sự) phải “có năng lực hành vi dân sự” (Điều 122, khoản 1, điểm a) Cũng theo các quy định của

Bộ luật Dân sự Việt Nam, chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng bao gồm các cánhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác Mặt khác, năng lực hành vi dân sự đểtham gia xác lập, thực hiện hợp đồng của các chủ thể khác nhau là không giốngnhau Đối với cá nhân: Tư cách chủ thể của cá nhân khi tham gia vào hợp đồng phụthuộc vào mức độ năng lực hành vi dân sự của họ Theo quy định của Bộ luật Dân

sự Việt Nam, cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì được tự mình xác lập,thực hiện các hợp đồng dân sự (Điều 19); người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổithì việc xác lập, thực hiện các hợp đồng của họ phải được người đại diện theo phápluật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp vớilứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác; người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi

có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiệngiao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (Điều 21); người dưới

6 tuổi là người không có năng lực hành vi dân sự và mọi giao dịch liên quan tớingười này đều phải được xác lập, thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp(Điều 21)[11]; người bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự thì phải cóngười giám hộ và mọi giao dịch liên quan đều phải được xác lập, thực hiện thôngqua người giám hộ (Điều 22); người bị tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vidân sự thì các giao dịch liên quan tới tài sản của họ phải được sự đồng ý của ngườiđại diện theo pháp luật, trừ các giao dịch phục vụ nhu cầu hàng ngày (Điều 23).Đối với pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác: Pháp nhân là những tổ chức có đủ các

Trang 14

điều kiện được quy định tại Điều 74 BLDS 2015 Các pháp nhân là chủ thể đầy đủcủa quan hệ pháp luật dân sự, có năng lực chủ thể mang tính chuyên biệt, đượctham gia xác lập, thực hiện các giao dịch phù hợp với mục đích và phạm vi hoạtđộng của pháp nhân Mục đích và phạm vi hoạt động của pháp nhân được thể hiệntrong điều lệ, hoặc quyết định thành lập pháp nhân (Điều 77) Hộ gia đình và tổhợp tác là chủ thể hạn chế của BLDS Hai loại chủ thể này tham gia các giao dịchphù hợp với phạm vi hoạt động của nó Pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác là nhữngthực thể xã hội chứ không phải là một con người tự nhiên, nên năng lực hành vidân sự của các chủ thể này không biểu hiện trực tiếp bằng hành vi và ý chí của mộtcon người cụ thể nào đó, mà được thể hiện bởi ý chung của các thành viên và đượcthực hiện thông qua hành vi của người đại diện, nếu hành vi đó được thực hiệnnhân danh chủ thể, trong phạm vi đại diện, và tương ứng với phạm vi hoạt độngcủa chủ thể đó

Nhìn chung, để có thể xác lập, thực hiện các hợp đồng, chủ thể là cá nhânphải có năng lực hành vi dân sự thích ứng với loại giao dịch hoặc loại hợp đồng màchủ thể đó tham gia Pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác xác lập, thực hiện hợp đồngthông qua người đại diện hợp pháp, nhưng phải đúng “phạm vi đại diện” và phảiphù hợp với giới hạn về “lĩnh vực hoạt động” của các chủ thể Và như vậy, phápluật Việt Nam cũng có sự thống nhất về tư duy pháp lý giống như các nước khác vềvấn đề này

* Nội dung của hợp đồng

Khái niệm nội dung của hợp đồng là một khái niệm rất rộng Thông thườngnội dung bên trong một hợp đồng luôn có các điều khoản về: đối tượng của hợpđồng là tài sản hay hành vi, số lượng và chất lượng, giá cả và phương thức thanhtoán, thời gian và địa điểm thực hiện hợp đồng, phạt vi phạm,… và tất cả các điềukhoản này phải tuân thủ theo quy định của pháp luật

“Tùy theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận về những nội dung sau đây:

Trang 15

1 Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không được làm;

2 Số lượng, chất lượng;

3 Giá, phương thức thanh toán;

4 Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;

5 Quyền, nghĩa vụ của các bên;

6 Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;

7 Phạt vi phạm hợp đồng

8 Các nội dung khác“.[20]

Có thể phân chia các điều khoản trong hợp đồng thành 3 loại:

Điều khoản cơ bản

Các điều khoản cơ bản xác định nội dung chủ yếu của hợp đồng Đó lànhững điều khoản không thể thiếu được đối với mỗi loại hợp đồng Nếu khôngthỏa thuận được những điều khoản cơ bản này thì hợp đồng không thể giao kếtđược Điều khoản cơ bản có thể do tính chất của từng loại hợp đồng quyết địnhhoặc do pháp luật quy định Tùy theo từng loại hợp đồng mà điều khoản cơ bản cóthể là đối tượng, giá cả, địa điểm…Và có những điều khoản đương nhiên là điềukhoản cơ bản vì nếu thiếu nó thì không thể hình thành hợp đồng (điều khoản về đốitượng luôn là điều khoản trong hợp đồng mua bán tài sản) Ngoài ra, có những điềukhoản mặc dù không có tính chất cơ bản nhưng do nhận thấy cần phải thỏa thuậnđược điều khoản đó mới giao kết hợp đồng, thì các chủ thể cho những điều khoảnnày trở thành điều khoản cơ bản của hợp đồng sẽ giao kết

Điều khoản thông thường

Là những điều khoản được pháp luật quy định trước Trong quá trình giaokết hợp đồng, các bên không thỏa thuận những điều khoản này, thì những điềukhoản này đương nhiên được công nhận và thực hiện Khác với điều khoản cơ bản,các điều khoản thông thường không làm ảnh hưởng tới quá trình giao kết hợpđồng Đối với các điều khoản này các bên có thể thỏa thuận trong hợp đồng hoặc

Trang 16

không thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng khi có tranh chấp xảy ra cơ quan có thẩmquyền căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết Ví dụ, địa điểm giao tàisản bất động sản (đối tượng của hợp đồng mua bán nhà chung cư) là tại nơi thực tếtồn tại tài sản đó nếu người mua đã trả tiền và trong hợp đồng các bên không thỏathuận gì khác.

Các điều khoản tùy nghi

Ngoài các điều khoản mà theo quy định của pháp luật bắt buộc phải có thìkhi giao kết hợp đồng các bên còn có thể thỏa thuận để xác định thêm một số điềukhoản khác nhằm làm cho nội dung của hợp đồng được cụ thể hoặc tạo điều kiệnthuận lợi cho các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng Các điều khoản này đượcgọi là các điều khoản tùy nghi Trong quan hệ hợp đồng pháp luật cho phép cácchủ thể giao kết hợp đồng thỏa thuận các điều khoản ngoài những điều khoản cơbản nhưng không được trái với pháp luật và đạo đức xã hội

Nội dung của hợp đồng chính là kết quả của sự thống nhất ý chí của các bênchủ thể, các điều khoản mà các bên thống nhất là các yếu tố giúp thúc đẩy các bênthực hiện sự thỏa thuận một cách đúng đắn và cùng hướng tới mục tiêu chung củacác bên Những điều khoản bên trong nội dung của hợp đồng là cơ sở xác lậpquyền và nghĩa vụ của các bên, hay đây chính là căn cứ cho sự ràng buộc pháp lýcủa các bên chủ thể trong quan hệ hợp đồng

Để hợp đồng có hiệu lực thì mục đích của hợp đồng cũng phải không viphạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội Bởi nội dung của hợpđồng là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể tham gia hợp đồngđược thể hiện trong các điều khoản của hợp đồng Mục đích của của giao dịch dân

sự (hay hợp đồng) là “lợi ích hợp mà chủ thể mong muốn đạt được khi xác lập giaodịch đó” (Điều 118)[20] Tuy nhiên, để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích tập thể vàlợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì một số tự dothỏa thuận của chủ thể phải bị hạn chế nhằm cân bằng quyền lợi giữa cá nhân vàlợi ích chung của cộng đồng Do đó, nhà nước phải ban hành những quy định được

Trang 17

coi là điều cấm, bắt buộc các chủ thể khi giao kết hợp đồng không được làm hoặckhông được vi phạm Điều cấm của pháp luật “là những quy định của pháp luậtkhông cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định” Và “đạo đức xã hội lànhững chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận

Thông thường, hình thức luôn được hiểu theo nghĩa là nơi chứa đựng nộidung và là cái bên ngoài bao bọc cho nội dung Ở góc độ triết học, nội dung vàhình thức của các sự vật, hiện tượng là cặp phạm trù cơ bản, thể hiện “những yếu

tố, những quá trình tạo nên sự vật” và là “phương thức tồn tại và phát triển của sựvật” Do đó hình thức của hợp đồng luôn tồn tại đó là “Hình thức bên ngoài” và

“Hình thức bên trong” Có thể hiểu đơn giản “Hình thức bên trong của hợp đồng”

là sự thể hiện ra bên ngoài của các quyền và nghĩa vụ của chủ thể, dưới dạng cácđiều khoản cụ thể của hợp đồng.”[30] Còn “Hình thức bên ngoài của hợp đồng”thì đơn giản và dễ hiểu hơn, bởi chúng ta luôn có thể nhận biết được nó thông quacác cơ quan giác quan của cơ thể con người BLDS 2015 không quy định về hìnhthức của hợp đồng, và dường như ở đây, các nhà làm luật đã đồng nhất giữa hìnhthức hợp đồng chính là hình thức giao dịch dân sự

Theo quy định tại Điều 119, BLDS 2015, hình thức của giao dịch dân sựbao gồm các loại sau: bằng lời nói (hợp đồng miệng), bằng văn bản, bằng hành vi

cụ thể và bằng thông điệp dữ liệu (hợp đồng điện tử)

Trang 18

1 Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp

dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.

2 Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.

Như vậy, quy định của BLDS năm 2015 pháp luật quy định hợp đồng có thểđược xác lập dưới bất kỳ hình thức nào như lời nói, văn bản hay hành động cụ thểtuỳ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên tham gia xác lập giao dịch dân sự

Tuy nhiên, các hình thức hợp đồng phổ biến ta thường thấy:

Tóm lại, hình thức hợp đồng là sự biểu hiện ra bên ngoài của nội dung hợp đồng,gồm tổng hợp các cách thức, thủ tục, phương tiện để thể hiện và tuyên bố ý chí của cácbên, ghi nhận nội dung hợp đồng và là biểu hiện cho sự tồn tại của hợp đồng

* Nguyên tắc khi giao kết hợp đồng

Trang 19

Hợp đồng được giao kết nhằm thống nhất ý chí thông qua sự thỏa thuận củacác bên chủ thể, kèm theo đó, sự ràng buộc của ý chí đã được thống nhất đối vớimỗi bên chủ thể tham gia quan hệ là bắt buộc Để đảm bảo cho quan hệ hợp đồngnày được xác lập và tồn tại một cách mạnh mẽ và phát triển tích cực thì các nguyêntắc của giao kết hợp đồng ra đời Việc quy định điều kiện giao kết hợp đồng nhằmbảo đảm sự an toàn pháp lý cho các bên tham gia giao kết, hướng dẫn xử sự củacác chủ thể trong quá trình giao kết và thiết lập quan hệ hợp đồng hợp pháp.

Hai nguyên tắc cơ bản nhất và xuyên suốt quá trình giao kết hợp đồng là: 1 Tự

do giao kết hợp đồng nhưng không được trái với quy định của pháp luật và đạo đức xãhội; 2 Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng

Nguyên tắc thứ nhất: Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội

Đặc điểm chung của mọi hợp đồng đó là sự thống nhất ý chí, do đó ý chí cóvai trò cực kỳ quan trọng đối với hợp đồng Nó được xem là cực kỳ quan trọng bởi

nó là yếu tố cốt yếu và không thể thiếu được khi xác lập quan hệ hợp đồng, từ đólàm phát sinh ra các nghĩa vụ pháp lý[18,41] Vì vậy, mọi hệ thống pháp luật nàotrên thế giới cũng đều thừa nhận rằng nền tảng của hợp đồng là tự do ý chí, cónghĩa là tự do ý chí là vấn đề tiên quyết cho việc xác lập quan hệ hợp đồng

Học thuyết tự do ý chí phát triển mạnh mẽ ở Pháp vào Thế kỷ XVIII, theo

đó cá nhân có thể bị ràng buộc bởi chính ý chí của mình đã được tuyên bố mộtcách trực tiếp dựa trên hợp đồng hoặc gián tiếp thông qua pháp luật Học thuyếtnày nhắm tới mục đích công bằng giữa các cá nhân thông qua tự do thương thuyết,

và phát triển kinh tế thông qua tự do cạnh tranh (laisser faire)[18,40], có thể đượchiểu là “để cho muốn làm gì thì làm”

Ngày nay, các điều kiện của hợp đồng được giải thích căn bản trên cơ sở họcthuyết tự do ý chí Người ta thừa nhận rằng: ý chí là tự do, và ý chí của các bên làyết tố duy nhất hình thành hợp đồng, làm phát sinh các hậu quả pháp lý[18,41].Nhưng do sự phát triển của xã hội, tính cộng đồng ngày càng được đề cao thì sự tự

Trang 20

do ý chí phần nào bị hạn chế nhằm một phần bảo đảm cho lợi ích chung của xã hội.Tuy nhiên, trong sự hạn chế này, các đạo luật thay bộ luật pháp điển hóa về hợpđồng vẫn luôn có các quy định về tự do ý chí khi xác lập quan hệ hợp đồng.

Pháp luật về hợp đồng ra đời và thừa nhận về ý chí tự do thiết lập quan hệhợp đồng như một yếu tố hiển nhiên cần phải có Nó tạo ra khung pháp lý đảm bảocho các quan hệ hợp đồng được thiết lập dựa trên sự tự do ý chí, cũng như việcđảm bảo cho hợp đồng được thực hiện trên thực tế Tuy nhiên, để có được sự đảmbảo này, ý chí tự do của các chủ thể không còn toàn vẹn như xưa nữa Để nhà nướccan thiệp vào quan hệ hợp đồng giống như việc các chủ thể ngầm hiểu rằng mình

đã trao quyền cho Nhà nước được phép hạn chế một số quyền tự do ý chí củamình, sau đó sự thỏa thuận và thống nhất ý chí của mình sẽ được nhà nước bảođảm cho đến khi quan hệ hợp đồng đó chấm dứt

Bên cạnh đó, sự phát triển của kinh tế và xã hội ngày càng lớn, tác động củaquan hệ hợp đồng không chỉ dừng lại ở sự ảnh hưởng đến đời sống của các chủ thểtham gia mà có thể vô tình hoặc cố ý, sự thống nhất ý chí của các bên có tác độngxấu đến lợi ích của người thứ ba hay một người khác ngoài hợp đồng Để đảm bảocho sự cân bằng quyền tự do ý chí và lợi ích công cộng cũng như lợi ích của ngườithứ ba, Nhà nước buộc phải ra tay can thiệp vào sự thỏa thuận này, với mục đíchđảm bảo cho sự phát triển chung của toàn xã hội Và sự can thiệp này là cần thiết

và thích đáng, bởi các cá thể trong xã hội này đều cần được bảo đảm những quyềnlợi của mình không bị người khác xâm hại một cách vô căn cứ và xã hội cũng cần

có sự bảo đảm cho quá trình phát triển lành mạnh và bền vững

Ngoài việc tự do ý chí trong hợp đồng không được vi phạm quy định củapháp luật thì việc không được vi phạm đạo đức xã hội cũng là vấn đề cần được chú

ý Mỗi xã hội có một cách nhìn riêng về đạo đức, mà đạo đức ở đây được hiểu làquy cách ứng xử đạt đến mức chuẩn mực và được đưa ra xem xét với những quycách ứng xử trong trường hợp tương tự Đạo đức xã hội trừu tượng cả trên mặt lýluận và thực tiễn bởi đặc tính vô hình vô lượng của nó Do đó, những quan điểm về

Trang 21

đạo đức xã hội vẫn còn nhiều tranh cãi Nhưng có thể dễ dàng nhận thấy rằng đạođức xã hội là mức độ thừa nhận của đại đa số cá thể trong một tập thể về quy cáchứng xử giữa người với người Do đó, không vi phạm đạo đức xã hội tức là không

vi phạm những quy chuẩn ứng xử chung của xã hội và tập thể

Nguyên tắc thứ hai: Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng

Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng lànguyên tắc được xác định dựa trên cơ sở bản chất pháp lý của hợp đồng, là tự do ýchí nhằm bảo đảm hiệu lực của hợp đồng trên thực tế phù hợp với ý chí đích thựccủa các bên Nếu khác đi thì không còn là hợp đồng.[17]

Nguyên tắc này được bảo đảm bằng chế định giao dịch dân sự vô hiệu vàbằng các quy định khác Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân

sự năm 2015 về điều kiện cần thiết để một giao dịch dân sự có hiệu lực là "chủ thểtham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện" Như vậy, một hợp đồng được hình thànhtrên cơ sở ý chí của các chủ thể và ý chí đó phải hoàn toàn tự nguyện

Nguyên tắc các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự nói chung và hợpđồng nói riêng bình đẳng với nhau cũng là một nguyên tắc cơ bản Đặc trưng và cơ

sở của các quan hệ trao đổi là được thực hiện theo nguyên tắc ngang giá trị Giá trịtrao đổi chính là thước đo để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham giacác quan hệ cụ thể Nhưng để có được sự thỏa thuận trong quan hệ trao đổi thìpháp luật phải thừa nhận tiền đề cần thiết

Nguyên tắc thiện chí, hợp tác trong giao kết hợp đồng không ngoài mục đíchbảo đảm được bản chất pháp lý của hợp đồng là sự thỏa thuận nhằm thiết lập quan

hệ hợp đồng để thỏa mãn những nhu cầu vật chất, tinh thần của các bên Sự giaolưu ý chí đi đến thống nhất đòi hỏi thái độ thiện chí, hợp tác từ hai phía Có nhưvậy mới nhanh chóng đạt được thỏa thuận

Trang 22

Điểm cuối cùng của nguyên tắc thứ hai đòi hỏi trong giao kết hợp đồng làcác bên phải trung thực, ngay thẳng Việc thực hiện nguyên tắc này nhằm mục đíchbảo đảm hợp đồng đã giao kết.

Về mặt pháp lý, hậu quả của sự thiếu trung thực, thiếu ngay thẳng là sự giandối, lừa lọc khi giao kết hợp đồng, làm thiệt hại đến quyền lợi của một bên sẽ cóthể khiến cho hợp đồng bị coi là vô hiệu

Về mặt kinh tế, thiếu sự trung thực trong giao kết hợp đồng sẽ là nguyênnhân dẫn đến sự thiếu tin tưởng của bên cùng tham gia giao kết hợp đồng và bảnthân bên thiếu trung thực, thiếu ngay thẳng có thể được lợi tại một thời điểm,nhưng sẽ đến lúc họ sẽ phải chịu thiệu hại về kinh tế do khách hàng của mình kýhợp đồng với người khác

Tựu chung lại, sự thống nhất ý chí hay bất kỳ hợp đồng nào cũng là sự thỏathuận và ràng buộc pháp lý với các bên chủ thể Kèm theo đó, để cho những hợpđồng này có hiệu lực và sự ràng buộc được đi vào thực tiễn, các điều kiện về cácthành tố: Sự tồn tại thực tế của một thỏa thuận, chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng,nội dung hợp đồng, hình thức hợp đồng, nguyên tắc giao kết hợp đồng đều phảituân thủ theo những điều kiện cần thiết để từ đó làm căn cứ và cơ sở cho hiệu lựccủa hợp đồng

1.2 Lý luận chung về Chuyển nhượng hợp đồng trong hoạt động kinh doanh

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng kinh doanh

* Khái niệm

Sự phát triển của xã hội tạo nên mối liên hệ ngày càng nhiều giữa các chủthể trong xã hội, sự liên kết xã hội ấy được thể hiện phổ biến thông qua hình thứchợp đồng Mỗi hợp đồng đều hướng tới mục đích riêng biệt mà các chủ thể có cùngmong muốn đạt được Ở mỗi khía cạnh và lĩnh vực khác nhau, hợp đồng luônmang những đặc điểm và tính chất đặc trưng cho từng lĩnh vực và chuyên ngành

Trang 23

đó Nó ban đầu cũng xuất phát từ căn cứ xác lập hợp đồng và cũng phải đáp ứngnhững thành tố cơ bản để tạo lập nên quan hệ hợp đồng.

Dựa trên sự phân chia độc lập của các ngành và lĩnh vực trong xã hội, hợpđồng dần cũng có sự phân định khá rạch ròi giữa các tính chất riêng cho từng loạihợp đồng Ở đó, mỗi quan hệ xã hội riêng biệt lại có thể thiết lập nên một quan hệhợp đồng đặc trưng phục vụ cho mục đích và tính chất của hợp đồng Thuật ngữ

“Hợp đồng” luôn được hiểu theo nghĩa hợp đồng dân sự nghĩa rộng tức là nókhông chỉ có sự thống nhất ý chí trong lĩnh vực dân sự thông thường mà nó cònbao bồm cả những thỏa thuận ý chí trong lĩnh vực đầu tư, thương mại, kinh doanh,lao động, ngân hàng …

Trong lĩnh vực kinh doanh, hợp đồng được xem là yếu tố quan trọng nhấtthiết lập nên nền tảng cho một nền kinh tế, bởi hợp đồng trong hoạt động kinhdoanh, thương mại là sự gắn kết giữa các chủ thể với hoạt động kinh doanh, thúcđẩy cho việc đầu tư, giao thương buôn bán, cung ứng dịch vụ,… hình thành vàphát triển, từ đó mở rộng thêm cho sự phát triển ngành kinh tế và phát triển xã hộicủa quốc gia Do đó, có thể thấy hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh là vấn đề cốtyếu và không thể thiếu cho lĩnh vực mà nó phục vụ Và những hợp đồng này đượcmang tên là Hợp đồng kinh doanh hay Hợp đồng kinh tế, nó mang những đặc điểmriêng biệt giúp ta dễ dàng có thể nhận biết được

Việc định nghĩa của Hợp đồng kinh doanh cũng giống như định nghĩa vềHợp đồng, chưa có một khái niệm vào chính thức và thống nhất về vấn đề này.Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25 tháng 9 năm 1989 hết hiệu lực kể từ ngày Bộluật Dân sự có hiệu lực từng đưa ra khái niệm chung về hợp đồng trong hoạt độngkinh doanh thương mại Trước đây, hợp đồng nào được các doanh nghiệp ký kếtcũng mang tên “Hợp đồng kinh tế” Tên đó được đặt ngay dưới Quốc hiệu “Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Bây giờ, khi không còn Pháp lệnh hợp đồng kinh

tế nữa thì về mặt pháp lý không còn tồn tại khái niệm “Hợp đồng kinh tế” Nhưngtrên thực tế, mọi người vẫn gọi là “Hợp đồng kinh tế”, nghe có vẻ như là chính

Trang 24

thức hơn, đúng hơn, quan trọng hơn Thực ra, nếu đó chỉ là thói quen trong việcgọi tên thì không vấn đề gì, cũng giống như nhiều doanh nghiệp vẫn cứ nói vớingười lao động của họ là “cảnh cáo”, “ cho thôi việc” là những hình thức xử lý kỷluật áp dụng trong quan hệ pháp luật hành chính, lĩnh vực công chức với Nhà nướcchứ không được quy định để áp dụng trong quan hệ pháp luật lao động Tuy nhiên,trên văn bản chính thức và đặc biệt là căn cứ để áp dụng pháp luật thì cần có sựchính xác và đúng quy định của pháp luật Do đó, cùng với việc bỏ căn cứ vào

“Pháp lệnh hợp đồng kinh tế”, thì khi ký kết hợp đồng các doanh nghiệp cũngkhông nên dùng tên “Hợp đồng kinh tế”[31] nữa mà thay vào đó các doanh nghiệpthay thế bằng tên khác phù hợp với đối tượng chuyển nhượng trong hợp đồng đãthỏa thuận

Pháp luật Việt Nam không có khái niệm Hợp đồng kinh doanh, nhưng có thể

hiểu Hợp đồng thương kinh doanh là hình thức pháp lý của hành vi kinh doanh, đầu tư, thương mại, sở hữu trí tuệ… , là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên (ít nhất một trong các bên phải là thương nhân hoặc các chủ thể có tư cách của chủ thể kinh doanh) nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh Khái niệm này dường như đã bao quát

hết được các đặc điểm để nhận biết các hợp đồng với từng lĩnh vực kinh doanh,cũng như hợp đồng kinh doanh nói chung

* Đặc điểm của Hợp đồng kinh doanh

Quan hệ kinh doanh được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lýchủ yếu là hợp đồng Theo Luật Doanh nghiệp, Luật thương mại, Luật đầu tư, LuậtNhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản, …, Hợp đồng kinh doanh có bản chất củahợp đồng nói chung, là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt cácquyền và nghĩa vụ trong quan hệ kinh doanh

Dù có lý luận như thế nào đi chăng nữa thì Hợp đồng kinh doanh vẫn mangnhững đặc điểm chung của hợp đồng đó là sự thống nhất ý chí của các bên và sựràng buộc pháp lý với họ bởi các quyền và nghĩa vụ đã được thỏa thuận Bên cạnh

Trang 25

đó, nó được gọi là hợp đồng kinh doanh bởi nó mang đặc tính riêng cho loại hợpđồng này Sự riêng biệt đó được thể hiện qua nội dung của hợp đồng hay tính chấtcủa hành vi giao kết hợp đồng và chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng này.

Hoạt động kinh doanh mang bản chất là hành vi hoặc chuỗi các hành viđược thực hiện nhằm mục đích sản sinh lợi nhuận Sự kết hợp giữa các chủ thểnhằm tạo ra giá trị thực tế về mặt kinh tế, đáp ứng nhu cầu và mong muốn của cácbên khi tạo ra lợi nhuận Hoạt động kinh doanh bao gồm các hành hạot động: Hoạtđộng thương mại: mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thươngmại (gồm hoạt động khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày giới thiệu sảnphẩm, hàng hóa, dịch vụ và hội trợ triển lãm thương mại); Hoạt động đầu tư: đầu

tư tài chính, ngân hàng, chứng khoán …; Hoạt động xây dựng, thầu công trình;Hoạt động kinh doanh liên quan đến sở hữu trí tuệ và các hoạt động nhằm mụcđích sinh lời khác Do đó, Hợp đồng kinh doanh, là sự thỏa thuận về thực hiện hoạtđộng kinh doanh làm căn cứ phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụcủa các bên trong quan hệ kinh doanh

Hợp đồng kinh doanh tuy mang những đặc điểm cơ bản của hợp đồng dân sựnhưng nó lại luôn có những điểm riêng khác biệt có thể khiến chúng ta dễ dàngnhận biết là loại hợp đồng này Những điểm riêng biệt ấy thể hiện qua: Nội dungcủa hợp đồng, chủ thể tham gia giao kết hợp đồng và hình thức của hợp đồng.Ngoài ra những đặc điểm và cấu thành khác của hợp đồng này cũng không có gìkhác so với những điểm cơ bản của một hợp đồng thông thường

- Về nội dung của hợp đồng

Như chúng ta đã biết bản chất của hợp đồng kinh doanh là sự thỏa thuậnthống nhất ý chí liên quan đến vấn đề thực hiện hoạt đông kinh doanh và mục đíchcủa kinh doanh luôn hướng tới là lợi nhuận của các bên Do đó, mục đích của sựthỏa thuận trong kinh doanh luôn là tìm kiếm lợi nhuận Việc tìm kiếm lợi nhuậnnày không nhất thiết phải sản sinh giá trị Tuy nhiên, về mục đích giao kết hợpđồng để tìm kiếm lợi nhuận có thể xuất phát từ hai bên nhưng điều đó là không bắt

Trang 26

buộc, bởi một hành vi đối với từng cá thể khác nhau lại mang ý nghĩa và vai tròkhác nhau, đối với hành vi bán sản phẩm của một công ty A cho một người dùng Bthì hành vi bán hàng được coi là hành vi có tính chất thương mại, nhưng hành vimua sản phẩm của B lại chỉ là hành vi phục vụ mục đích sinh hoạt cá nhân, vàtrong trường hợp này, việc trao đổi sản phẩm giữa họ vẫn phải chịu sự ràng buộccủa hợp đồng kinh doanh thương mại Do đó, mục đích hướng tới lợi nhuận kinh tế

có thể xuất phát từ cả hai bên hoặc từ một trong hai bên khi thỏa thuận về thực hiệnhoạt động kinh doanh

Vì phải có ít nhất một bên chủ thể phải có mục đích kinh doanh vì lợi nhuận,

do đó nếu cả hai bên chủ thể không có mục đích lợi nhuận, hợp đồng được coi làhợp đồng dân sự đơn thuần Ngược lại, nếu cả hai bên đều có mục đích lợi nhuậnthì được coi là hợp đồng kinh doanh Tuy nhiên, vấn đề sẽ trở nên phúc tạp hơnnếu một bên có mục đích lợi nhuận và một bên không có mục đích lợi nhuận.Trường hợp này giống như tình huống vừa được nêu trên giữa công ty A và ngườidùng B, nó được coi là giao dịch hỗn hợp

Trên thực tế, nếu như không nắm chắc lý thuyết về hợp đồng, thì khó có thểphân biệt được hợp đồng kinh doanh hỗn hợp với hợp đồng dân sự trao đổi muabán tài sản Để xác định xem đâu là hợp đồng dân sự hay thương mại chúng ta cóthể sử dụng phương pháp sau:

- Nếu bên có mục đích lợi nhuận không phải là chủ thể kinh doanh thì hợpđồng giao kết được coi là hợp đồng dân sự;

- Nếu bên có mục đích lợi nhuận là chủ thể kinh doanh thì việc xác định hợpđồng dựa vào ý chí của bên không có mục đích lợi nhuận Cụ thể là:

+ Bên không có mục đích lợi nhuận chọn áp dụng quy định của Bộ luật Dân

sự thì đó là hợp đồng dân sự

+ Bên không có mục đích lợi nhuận chọn áp dụng quy định của luật chuyênngành thì đó là hợp đồng kinh doanh

- Về chủ thể

Trang 27

Căn cứ vào mục đích hợp đồng và nội dung thỏa thuận, một yêu cầu tất yếucủa hợp đồng kinh doanh hay bất kỳ hợp đồng nào khác đó là sự tham gia của cácchủ thể Trong quan hệ hợp đồng này, sự tham gia của các chủ thể cũng phải có ítnhất hai bên Một yêu cầu bắt buộc đối với hai chủ thể này là một trong hai bênphải là chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh và thực hiện hợp đồng vì mục đíchtìm kiếm lợi nhuận Do đó, thông thường các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồngkinh doanh sẽ là hai doanh nghiệp hoặc hai tổ chức hoạt động kinh doanh, nhưngtrường hợp một bên là tổ chức, cá thể kinh doanh và một bên là chủ thể dân sựthông thường cũng có thể tham gia giao kết hợp đồng kinh doanh, chỉ cần yêu cầumục đích tìm kiếm lợi nhuận của một bên là chủ thể kinh doanh xuất hiện.[9]

Chủ thể của hợp đồng dân sự nói chung và hợp đồng kinh doanh nói riêng

có thể là cá nhân hoặc tổ chức với điều kiện các chủ thể này phải có năng lực hành

vi dân sự Chủ thể của hợp đồng có thể trực tiếp tham gia giao kết hợp đồng hoặcthông qua người đại diện là đại diện hợp pháp và đại diện theo ủy quyền

Trong giao kết hợp đồng kinh doanh, đại diện theo pháp luật thường xảy rakhi chủ thể hợp đồng là các doanh nghiệp Khi đó giám đốc doanh nghiệp hoặcngười mà theo quy định của Điều lệ doanh nghiệp là đại diện hợp pháp của doanhnghiệp đó sẽ giao kết hợp đồng Đại diện theo ủy quyền xảy ra khi chủ thể hợpđồng hoặc người đại diện theo pháp luật ủy quyền cho người khác thay mình thựchiện giao kết hợp đồng Người được ủy quyền giao kết hợp đồng chỉ được ủyquyền lại nếu người ủy quyền đồng ý hoặc pháp luật có quy định cho phép ủyquyền lại

Từ những vấn đề trên cho thấy chủ thể của hợp đồng chưa chắc đã là chủ thểgiao kết hợp đồng trên thực tế Do đó, không thể đồng nhất hai loại chủ thể nàytrong quan hệ hợp đồng kinh doanh Quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng chỉ phátsinh và ràng buộc với chủ thể hợp đồng mà không phát sinh với chủ thể giao kếthợp đồng

- Hình thức hợp đồng

Trang 28

Hợp đồng kinh doanh là hợp đồng dân sự phát sinh trong hoạt động kinhdoanh của các chủ thể nên cũng giống như hợp đồng dân sự thông thường, hợpđồng kinh doanh có thể tồn tại dưới các hình thức bằng văn bản, bằng lời nói hoặcbằng hành vi cụ thể Trong thực tế, hợp đồng bằng văn bản có thể được thực hiệndưới dạng các tài liệu giao dịch hoặc thông điệp dữ liệu điện tử Hơn nữa, hợpđồng bằng văn bản có thể được công chứng hoặc chứng thực theo quy định củapháp luật hoặc theo ý chí của các bên.

Trên thực tế, hình thức hợp đồng phổ biến nhất là hợp đồng bằng văn bảnbởi những lý do sau:

- Việc thể hiện giao kết bằng văn bản sẽ ghi nhận một cách đầy đủ, rõ ràngcác cam kết của các bên, đảm bảo tính không thể phủ nhận được của hợp đồng;

- Để các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra tính hợp pháp của mối quan hệkinh tế, giải quyết các tranh chấp, xử lý các vi phạm (nếu có)

Như vậy, việc thực hiện giao kết hợp đồng kinh doanh phải có sự rõ ràng vàđầy đủ, đáp ứng những quy định chặt chẽ của pháp luật về hoạt động này Mụcđích của yêu cầu trên nhằm tạo ra sự bảo đảm chắc chắn cho hoạt động kinh doanhcủa các chủ thể, tránh xảy ra những thiệt hại không mong muốn, hoặc có chế tài,biện pháp xử lý hậu quả khi có thiệt hại gây ra một các minh bạch và có căn cứ.Bên cạnh đó còn đáp ứng yêu cầu xã hội về quản lý kinh tế, hạn chế những viphạm không đáng có gây tác động xấu đến quan hệ kinh tế cũng như nền kinh tếcủa quốc gia

1.2.2 Khái niệm, đặc điểm của chuyển nhượng hợp đồng trong hoạt động kinh doanh

* Khái niệm và bản chất.

Chuyển nhượng hợp đồng trong hoạt động kinh doanh là một khái niệmhoàn toàn mới xuất hiện trong nghiên cứu về hợp đồng và chuyển nhượng hợpđồng Việc xuất hiện khái niệm chuyển nhượng hợp đồng này xuất phát từ hoàncảnh thực tiễn của xã hội, thực trạng kinh doanh của các chủ thể trong quan hệ

Trang 29

kinh doanh thương mại Khi mà trong quá trình thực hiện hoạt động đã được thốngnhất trong hợp đồng, một trong hai bên không còn giữ được ý chí đã được thốngnhất, không có thiện chí thực hiện hợp đồng đến cùng nữa và có mong muốn thoát

ra khỏi quan hệ hợp đồng nhưng không muốn kết thúc hoạt động thực hiện tronghợp đồng Do đó, việc ý chí thực hiện hợp đồng không còn nữa tạo ra sự vi phạm

về mặt khách quan trong quan hệ hợp đồng đó là thiếu đi sự thống nhất ý chí,không còn mong muốn chung mà các chủ thể hướng tới Khi mặt khách quan trongquan hệ pháp luật này không còn tồn tại nữa, một yêu cầu tất yếu được đặt ra làphải thay thế, sửa đổi quan hệ sao cho có thể đáp ứng được mong muốn ban đầucủa hợp đồng mà không làm chấm dứt quan hệ hợp đồng khi kết thúc quan hệ giữacác chủ thể

Một giải pháp được đề ra đó là thay thế đi bên chủ thể không còn ý chí thựchiện hợp đồng đến cùng nữa Chủ thể này được thay thế bằng một chủ thể khác cócùng ý chí ban đầu với chủ thể được thay thế, chủ thể thay thế có thể gánh vácnhững quyền và nghĩa vụ đã được giao kết trong hợp đồng ban đầu và có mongmuốn, tự nguyện, thiện trí thực hiện hợp đồng kinh doanh đó đến cùng Khi đó,mặt khách quan của quan hệ hợp đồng đã được bù đắp một cách đầy đủ và chọnvẹn để cho quan hệ này có thể tiếp tục được tồn tại và vận động Và việc thực hiệnhoạt động thay đổi thủ thể trong quan hệ hợp đồng kinh doanh này chính là thựctiễn cho hoạt động Chuyển nhượng hợp đồng kinh doanh

Chuyển nhượng hợp đồng (Assignment of contract) được hiểu là sự dịchchuyển một phần hoặc toàn bộ quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mình trong quan

hệ hợp đồng sang cho một chủ thể khác có sự đồng ý việc chấp nhận các quyền vànghĩa vụ được dịch chuyển[45] Chỉ riêng thuật ngữ “Chuyển nhượng cũng có thểcho ta thấy được rằng, hành vi chuyển nhượng là việc dịch chuyển đối tượng đượcchuyển nhượng từ chủ thể này sang chủ thể khác nhằm một mục đích nhất địnhnào đó Do đó, “Chuyển nhượng hợp đồng” là hành vi chuyển nhượng xuất hiệnkhi người đề nghị chuyển nhượng chuyển giao những quyền và nghĩa vụ hợp pháp

Trang 30

của mình sang cho người nhận chuyển nhượng thông qua lời chấp nhận chuyểnnhượng một các hợp pháp Sự chuyển nhượng này không làm giảm đi trách nhiệmpháp lý đã được thỏa thuận trong hợp đồng ban đầu[46].

Như vậy, Chuyển nhượng hợp đồng kinh doanh có thể được hiểu là hành vi của chủ thể trong quan hệ hợp đồng kinh doanh, dịch chuyển một phần hoặc toàn

bộ quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mình được quy định trong hợp đồng kinh doanh sang cho một chủ thể nhận chuyển nhượng đã đáp ứng đầy đủ những điều kiện để tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý bên trong hợp đồng kinh doanh đã được xác lập Và vì vậy, hành vi chuyển nhượng này được thực hiện dựa

trên căn cứ là sự thỏa thuận chuyển nhượng giữa các bên có liên quan đến hoạtđộng chuyển nhượng và hợp đồng kinh doanh

* Mục đích

Như đã tìm hiểu trong phần khái niệm về chuyển nhượng hợp đồng kinhdoanh, ta có thể thấy, mục đích của chuyển nhượng hợp đồng kinh doanh là thaythế một bên chủ thể trong quan hệ hợp đồng kinh doanh để duy trì sự tồn tại củaquan hệ hợp đồng này cũng như việc tiếp tục tiến hành các hoạt động liên quan đếnquan hệ hợp đồng

Như đã nói, mặt khách quan của quan hệ hợp đồng kinh doanh chính làmong muốn chung mà các bên chủ thể muốn đạt được về giá trị và hiệu quả củahợp đồng Nhưng khi một trong hai bên không còn giữ và duy trì được ý chí thựchiện hợp đồng nữa thì mặt khách quan đã bị ảnh hưởng bởi ở đây không còn tồn tại

sự thống nhất ý chí thực hiện hợp đồng và dĩ nhiên, việc duy trì quan hệ hợp đồngnày nhất định bị ảnh hưởng Tuy nhiên, do trước đó đã có sự thống nhất ý chí củacác bên về hoạt đồng này, nên một giải pháp tình thế và hiệu quả nhất đó là thaythế chủ thể không còn ý chí duy trì quan hệ kinh doanh bằng một chủ thể khác đápứng đủ các yêu cầu về chủ thể và mặt khách quan của quan hệ hợp đồng

Khi chủ thể nhận chuyển nhượng được thay thế chủ thể chuyển nhượng, mọiquyền và nghĩa vụ trước đó được xác lập trong quan hệ hợp đồng bắt đầu có hiệu

Trang 31

lực và ràng buộc đối với chủ thể này Sự ràng buộc này chính là sự duy trì cho hoạtđộng thực hiện hợp đồng kinh doanh và tiếp tục quan hệ giữa các chủ thể trongquan hệ hợp đồng kinh doanh.

* Đặc điểm

Chuyển nhượng hợp đồng như đã được định nghĩa ở trên, cấu thành củachuyển nhượng có thể thấy cũng mang những đặc điểm như một sự thỏa thuận Sựthỏa thuận trong hoạt động chuyển nhượng này cũng xuất phát từ đề nghị chuyểnnhượng của bên chuyển nhượng và lời chấp nhận đề nghị chuyển nhượng của bênnhận chuyển nhượng Do có sự thống nhất ý chí này, việc chuyển nhượng hợpđồng cũng tạo nên sự ràng buộc pháp lý nhất định đối với các chủ thể có liên quan

Từ đó ta có thể khái quát được đặc điểm của hoạt động chuyển nhượng dựa trêncác vấn đề sau:

- Chuyển nhượng hợp đồng là hành vi thỏa thuận

Có thể thấy, để có một hoạt động chuyển nhượng hợp đồng trên thực tế, mộtyêu cầu khách quan và bắt buộc là phải có căn nguyên dẫn đến sự tồn tại của hoạtđồng này Căn nguyên ấy bắt nguồn từ hành vi thỏa thuận của các bên tham giahoạt động chuyển nhượng Hay có thể hiểu rõ hơn sự thống nhất ý chí ở đây bắtnguồn từ sự trao đổi và gặp gỡ giữa ý chí chủ quan của Người chuyển nhượng vàNgười nhận chuyển nhượng Một trong hai bên đưa ra lời đề nghị chuyển nhượnghợp đồng, bên còn lại cũng cung cấp một sự duy ý chí rằng mình cũng có nguyệnvọng tham gia một cách tự nguyện, thiện chí vào hoạt động chuyển nhượng này

Sự gặp gỡ ý chí này giúp các chủ thể có thể tìm ra mong muốn chung nhất

mà họ hướng tới chính và hoạt động chuyển nhượng hợp đồng kinh doanh Bằngphương pháp thỏa thuận, các bên đưa ra những yêu cầu và đề nghị nhằm xác lậpkhung pháp lý cho hoạt động chuyển nhượng được hình thành và tiến tới xuất hiệntrong thực tiễn Những thỏa thuận này là cầu nối giữa ý chí của các bên để đưa họđến một hoạt động cụ thể đó là thể hiện sự thỏa thuận này ra ngoài thực tế bằng các

Trang 32

hình thức pháp lý như ký hợp đồng bằng văn bản, hợp đồng miệng hay bằng hành

vi cụ thể

Những thỏa thuận thông qua thống nhất ý chí này mang đến cho các bên chủ thể

sự ràng buộc pháp lý nhất định Sự ràng buộc ấy tạo nên giới hạn về trách nhiệm, quyền

và nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện hoạt động chuyển nhượng này, nhằmhướng tới xây dựng một quan hệ chuyển nhượng tự nguyện, thiện chí, trung thực và tạođược hiểu quả nhất định về mục đích của chuyển nhượng

- Đối tượng của hoạt động chuyển nhượng là quyền và nghĩa vụ

Nếu hiểu theo nghĩa thông thường của thuật ngữ “chuyển nhượng hợp đồng”

ta dễ hiểu theo nghĩa rằng đây là hành vi dịch chuyển một “hợp đồng” dịch chuyển

“một ý chí chung đã được thống nhất” từ chủ thể này sang chủ thể kia Nhưng theocách hiểu của tác giả thì “Chuyển nhượng hợp đồng” là sự dịch chuyển một phầnhoặc toàn bộ quyền và nghĩa vụ hợp pháp của một bên có trong hợp đồng kinhdoanh sang cho người nhận chuyển nhượng Sự dịch chuyển đó thể hiện rằng trongquan hệ hợp đồng kinh doanh, sự thay thế xuất hiện giữa chủ thể được thay thế (làngười chuyển nhượng) và chủ thể thay thế (là người nhận chuyển nhượng) Theo

đó, chủ thể thay thế sẽ gánh vác toàn bộ quyền và nghĩa vụ trước đó của chủ thểđược thay thế đối với chủ thể còn lại trong quan hệ hợp đồng kinh doanh ban đầu

Việc chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng kinh doanh này khônglàm thay đổi giá trị và mức độ trách nhiệm về quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể.Tức là, quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng kinh doanh sau khi được chuyển nhượng vẫntồn tại và nguyên vẹn Sự ràng buộc pháp lý của chúng vẫn còn đầy đủ để buộc các chủthể phải tuân thủ theo hợp đồng thỏa thuận ý chí ban đầu

Quyền và nghĩa vụ được chuyển nhượng cũng được phát sinh từ ý chí mongmuốn đạt được mục đích của hợp đồng kinh doanh Khi mà chủ thể nhận chuyểnnhượng mong muốn thay chủ thể chuyển nhượng gánh vác các quyền và nghĩa vụthì họ cũng đã có một ý chí chủ quan rằng họ mong muốn được tham gia xác lậpmột quan hệ hợp đồng kinh doanh như vậy Nhưng do sự ra đi của chủ thể được

Trang 33

thay thế, nên không nhất thiết chủ thể thay thế phải thiết lập một quan hệ hợp đồngkhác như vậy mà họ có thể thỏa thuận với chủ thể được thay thế để có thể tham giavào quan hệ hợp đồng kinh doanh ban đầu đã được ký kết.

- Mục đích của chuyển nhượng hợp đồng kinh doanh là sự duy trì quan hệ hợp đồng kinh doanh

Như đã tìm hiểu trong phần khái niệm và bản chất, mục đích của chuyểnnhượng hợp đồng kinh doanh, ta có thể thấy, mục đích của chuyển nhượng hợpđồng kinh doanh là thay thế một bên chủ thể trong quan hệ hợp đồng kinh doanh

để duy trì sự tồn tại của quan hệ hợp đồng này cũng như việc tiếp tục tiến hành cáchoạt động liên quan đến quan hệ hợp đồng Khi chủ thể nhận chuyển nhượng đượcthay thế chủ thể chuyển nhượng, mọi quyền và nghĩa vụ trước đó được xác lậptrong quan hệ hợp đồng bắt đầu có hiệu lực và ràng buộc đối với chủ thể này Sựràng buộc này chính là sự duy trì cho hoạt động thực hiện hợp đồng kinh doanh vàtiếp tục quan hệ giữa các chủ thể trong quan hệ hợp đồng kinh doanh

- Hoạt động chuyển nhượng xuất hiện khi hợp đồng kinh doanh đã được thiết lập hoặc đang được thực hiện

Đặc điểm này xuất phát từ thực tiễn của hoạt động chuyển nhượng Do đốitượng chuyển nhượng của hợp đồng là các quyền và nghĩa vụ, do đó, để có đượcquyền và nghĩa vụ phải căn cứ vào hiệu lực của hợp đồng được chuyển nhượng

Một hợp đồng có thể phát sinh hiệu lực khi có đủ các căn cứ tạo lập nên mộtquan hệ hợp đồng, từ đó các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ hợp đồng cũng đượcphát sinh Các quyền và nghĩa vụ này phát sinh và được duy trì trong suốt quá trìnhtồn tại của hiệu lực của hợp đồng Mà, hiệu lực của hợp đồng được duy trì và tồntại cho đến khi có căn cứ làm chấm dứt quan hệ hợp đồng, từ đó làm chấm dứt hiệulực của hợp đồng, kéo theo đó là sự chấm dứt hiệu lực của các quyền và nghĩa vụ

Như vậy, nếu hợp đồng kinh doanh chưa được thiết lập hoặc đã được thựchiện xong thì hiển nhiên các quyền và nghĩa vụ bên trong hợp đồng không còn tồntại nữa Như vậy đồng nghĩa với việc đối tượng của hoạt động chuyển nhượng hợp

Trang 34

đồng là các quyền và nghĩa vụ không còn tồn tại Hay nói cách khác là không thểthiết lập quan hệ chuyển nhượng

Do đó một yêu cầu bắt buộc khi muốn thực hiện hoạt động chuyển nhượnghợp đồng là phải tồn tại thực tế một hợp đồng kinh doanh có thể chuyển nhượng

Kết luận lại

So với cái hoạt động chuyển nhượng khác, sự khác biệt rất riêng cho hoạtđộng chuyển nhượng hợp đồng kinh doanh nằm ở cả mục đích, bản chất và đốitượng như đã được phân tích ở trên Không chỉ dừng ở việc chuyển nhượng nhữngthực tế tài sản, dịch vụ, hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh, mà chuyển nhượnghợp đồng còn mang ý nghĩa bảo hàm cả sự chuyển dịch các quyền và nghĩa vụ đốivới việc thực hiện hợp đồng chuyển nhượng tài sản hay chuyển giao một côngviệc, hoạt động kinh doanh phải thực hiện Trong khi mục đích của các hoạt độngkhác chỉ nhằm mục đích sinh lời thông qua việc mua bán, trao đổi tài sản cũng nhưcung ứng dịch vụ, hoạt động kinh doanh thì ở chuyển nhượng hợp đồng, nó còn cómục đích duy trì quan hệ hợp đồng ban đầu, không làm chấm dứt đi sự tồn tại củacác quyền và nghĩa vụ sau khi thực hiện hợp đồng

1.2.3 Phân loại hoạt động chuyển nhượng hợp đồng kinh doanh

Hình thức chuyển nhượng hợp đồng kinh doanh là sự thể hiện ra bên ngoàicủa ý chí thống nhất về việc chuyển nhượng các quyền và nghĩa vụ trong hoạtđộng kinh doanh Do có những hình thức thể hiện được sự thỏa thuận chuyểnnhượng cũng có thể coi giống như những hình thức thể hiện sự thống nhất ý chínhư trong hợp đồng Các hình thức chuyển nhượng có thể nói đến đó là: Chuyểnnhượng bằng văn bản, chuyển nhượng bằng lời nói và chuyển nhượng bằng hành

vi cụ thể

Hoạt động chuyển nhượng chính là quá trình đưa sự thống nhất ý chí chuyểnnhượng ra ngoài đời sống thực tiễn Việc phân loại hoạt động chuyển nhượng là sựtách biệt các loại hoạt động chuyển nhượng hợp đồng Để có thể phân loại các hoạt

Trang 35

động chuyển nhượng, ta cần dựa vào những tiêu chí để có thể nhận biết từng loạichuyển nhượng.

* Phân loại chuyển nhượng dựa vào đối tượng của chuyển nhượng

Đối tượng của chuyển nhượng chung là các quyền và nghĩa vụ được xácđịnh trong hợp đồng kinh doanh Tuy nhiên nói chính xác và chặt chẽ thì đối tượngcủa hoạt động chuyển nhượng là các quyền và nghĩa vụ liên quan đến đối tượngcủa hợp đồng Do đó phân loại chuyển nhượng có thể dựa vào đối tượng của hợpđồng kinh doanh ban đầu

Các loại hoạt động chuyển nhượng:

- Chuyển nhượng hợp đồng mua bán hàng hóa

- Chuyển nhượng hợp đồng đầu tư góp vốn

- Chuyển nhượng hợp đồng cung cấp dịch vụ thương mại

- Chuyển nhượng hợp đồng góp vốn vào doanh nghiệp

- Chuyển nhượng hợp đồng kinh doanh bất động sản

* Phân loại chuyển nhượng dựa vào lĩnh vực tác động của hợp đồng kinh doanh

Mỗi hợp đồng kinh doanh để được thực hiện có hiệu quả cần gắn với mộtlĩnh vực nhất định Khi có thể xác định được lĩnh vực mà hợp đồng này hướng tớitức là có thể xác định được thị trường mà hoạt động kinh doanh xâm nhập vào, từ

đó có thể đưa ra phương hướng và giải pháp cho hoạt động kinh doanh có hiệuquả Dựa vào căn cứ này, hoạt động chuyển nhượng hợp đồng kinh doanh cũng cóthể được phân loại dựa trên những lĩnh vực mà hợp đồng kinh doanh đã giao kếthướng tới

Các loại hoạt động chuyển nhượng:

- Chuyển nhượng hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thương mại

- Chuyển nhượng hợp đồng trong lĩnh vực đầu tư

- Chuyển nhượng hợp đồng trong lĩnh vực xây dựng

- Chuyển nhượng hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản

- Chuyển nhượng hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh liên quan đến

sở hữu trí tuệ

Trang 36

Sự phân loại hoạt động chuyển nhượng chỉ mang tính chất tương đối, bởi sựphân chia này không làm ảnh hưởng tới hiệu lực của hợp đồng kinh doanh, cũng nhưkhông ảnh hưởng tới sự duy trì và tồn tại của các quyền và nghĩa vụ được chuyểnnhượng Phân loại hoạt động chuyển nhượng để có thể dễ dàng hơn cho việc lựa chọncác hình thức thể hiện sự thống nhất ý chí trong chuyển nhượng hợp đồng.

1.3 Thực hiện chuyển nhượng Hợp đồng kinh doanh

Với tính chất của hoạt động kinh doanh, việc thực hiện chuyển nhượng hợp đồngchưa bao giờ là một hoạt động đơn giản Để có thể thực hiện được việc chuyển nhượnghợp đồng kinh doanh, trước tiên, sự thống nhất ý chí của các bên chủ thể không chỉdừng lại ở sự thỏa thuận của bên nhận chuyển nhượng và bên chuyển nhượng Đôi khi,việc chuyển nhượng cũng bị phụ thuộc không nhỏ vào người thứ ba trong quan hệ hợpđồng ban đầu cũng như sự điều chỉnh của quan hệ pháp luật có liên quan về điều kiệnchuyển nhượng Chưa kể đến, việc chuyển nhượng hợp đồng trên thực tế còn kéo theorất nhiều thủ tục và những hệ lụy đương nhiên, việc thỏa thuận chuyển nhượng quyền

và nghĩa vụ chỉ là bước đầu cho việc thay thế thực hiện hợp đồng ban đầu Các bên chủthể phải trao toàn bộ những giấy tờ, tài sản và tất cả những gì liên quan theo đúng nhưthảo thuận chuyển nhượng

Để hợp đồng kinh doanh được chuyển nhượng, buộc sự thỏa thuận chuyểnnhượng này phải có hiệu lực pháp luật Những điều kiện mà nó buộc phải tuân thủ theobảo gồm Nội dung, hình thức, chủ thể, đối tượng … theo quy định tại Bộ luật dân sự

2015 và Các quy định của luật chuyên ngành Khi đáp ứng được các điều kiện về Chủthể có năng lực pháp luật, có thẩm quyền chuyển nhượng, nội dung của thỏa thuậnchuyển nhượng không vi phạm quy định cấm của pháp luật, hình thức của hoạt độngchuyển nhượng đảm bảo đúng theo yêu cầu của pháp luật về loại cũng như điều kiệnbuộc phải tuân thủ (công chứng, chứng thực), hay đối tượng phải là đối tượng đượcphép chuyển nhượng … khi đó, hoạt động chuyển nhượng mới thực sự có đầy đủ căn

cứ để thực hiện chuyển giao những gì liên quan giữa các bên với nhau

Trang 37

Thông thường, hoạt động chuyển nhượng phải được thực hiện thông qua hìnhthức thống nhất ý kiến bằng văn bản Bởi đây là hình thức thể hiện đầy đủ cũng như rõràng nhất ý chí của các bên tham gia kinh doanh cũng như chuyển nhượng kinh doanh.Chuyển nhượng bằng hợp đồng văn bản là một hợp đồng trọng hình thức, nó giúp chocác bên chủ thể có sự ràng buộc nhau chắc chăn nhất sau khi giao kết hợp đồng Bêncạnh đó, việc ký kết những thỏa thuận chuyển nhượng này bằng văn bản cũng dễ dànghơn cho công tác quản lý nhà nước về kinh tế thông qua hoạt động Công chứng hợpđồng, tránh cách bên giao kết hợp đồng gian dối, trốn tránh nghĩa vụ hoặc gây tổn hạiđến quyền lợi của người thứ ba hoặc bên yếu thế Ngoài ra, việc sử dụng Văn bản vụviệc chuyển nhượng hợp đồng cũng được cho là rất phổ biến Bên cạnh đó, đối với từngđối tượng của hoạt động kinh doanh, nhà nước và pháp luật cũng đề cao sự tự nguyện

và hiệu quả trong hoạt động chuyển nhượng, do đó cho phép thực hiện chuyển nhượngđối với một vài đối tượng mà không bắt buộc hình thức của chuyển nhượng

Để thực hiện được hoạt động chuyển nhượng, trình tự cho hoạt động này diễn raphải tuân thủ theo các bước nhất định

Trước hết, các bên phải đi đến được sự thống nhất trong chuyển nhượng Thôngqua lời Đề nghị và Chấp nhận đề nghị, các bên tiến tới thực tế thống nhất ý kiến bằngviệc giao kết hợp đồng, khi đó sự thỏa thuận này mới có hiệu lực và làm cơ sở để thựchiện chuyển nhượng

Sau khi giao kết được hợp đồng chuyển nhượng một cách hợp pháp, Hợp đồngnày cần đảm bảo được các yêu cầu của pháp luật nhằm tạo hiệu lực cho nó Hợp đồngphải tuân thủ quy định của pháp luật về Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo quyđịnh của Bộ luật Dân sự 2015, Quy định và yêu cầu theo Luật Công chứng 2014 và cácquy định của pháp luật chuyên ngành như Luật Nhà ở 2014 đối với hợp đồng chuyểnnhượng nhà ở trong kinh doanh, Luật thương mại 2005 đối với chuyển nhượng hợpđồng kinh doanh thương mại, mua bán hàng hóa hoặc hợp đồng dịch vụ, ngân hàng,bảo hiểm, … Luật đầu tư 2014 đối với việc chuyển nhượng hợp đồng kinh doanh tronglĩnh vực đầu tư tài chính, ngân hàng, tiền tệ, xây dựng , …

Trang 38

Sau khi hợp đồng thỏa thuận chuyển nhượng đã chính thức có hiệu lực pháp lý,các bên phải tiến hành thực hiện những công việc đã thống nhất với nhau trong hợpđồng, nhanh chóng chuyển nhượng và chuyển giao giấy tờ, tài sản và tất cả những gìliên quan đến hợp đồng kinh doanh, nhằm đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng kinhdoanh được diễn ra như ban đầu, chỉ có như vậy hoạt động chuyển nhượng mới đượcthực hiện một cách đúng nghĩa và hiệu quả.

1.4 Vai trò của hoạt động chuyển nhượng hợp đồng kinh doanh

Hoạt động chuyển nhượng hợp đồng kinh doanh là sự thống nhất ý chí trongviệc chuyển dịch quyền và nghĩa vụ của một bên chủ thể trong hoạt động kinhdoanh cho bên nhận chuyển nhượng Do đó, sự tác động của hoạt động chuyểnnhượng đến các chủ thể, quan hệ hợp đồng kinh doanh và các quyền, nghĩa vụtrong hoạt động kinh doanh là không hề nhỏ

* Đối với các chủ thể

Hoạt động chuyển nhượng này là sự thay thế của chủ thể chuyển nhượngbằng chủ thể nhận chuyển nhượng Do đó vấn đề chuyển nhượng này như một giảipháp cứu cánh cho chủ thể không muốn tiếp tục quan hệ hợp đồng có thể thoát rakhỏi quan hệ này mà không là ảnh hưởng đến nội dung của hợp đồng cũng nhưkhông phải chịu các chế tài đã được thống nhất khi mà họ không còn hoặc khôngmuốn duy trì ý chí thực hiện hợp đồng nữa Việc chuyển nhượng này giúp cho họtránh được những tổn thất không mong muốn và có thể tự do khi không còn chịu

sự ràng buộc pháp lý của hợp đồng kinh doanh ban đầu

Đối với chủ thể nhận chuyển nhượng, hoạt động chuyển nhượng hợp đồngkinh doanh này gián tiếp hình thành hợp đồng kinh doanh mà họ cũng có mongmuốn thiết lập một quan hệ kinh doanh tương tự Khi mà trong quan hệ hợp đồngkhông còn đủ hai bên chủ thể, sự thay thế về mặt chủ thể như bù đắp đầy đủ vàkhông trái luật cho quan hệ hợp đồng này có thể trọn vẹn những yếu tố cơ bản củahợp đồng, để hợp đồng có thể tiếp tục được thực hiện

* Đối với quan hệ hợp đồng kinh doanh

Trang 39

Trong quan hệ hợp đồng, khi mà một bên không còn hoặc không muốn tiếptục duy trì quan hệ hợp đồng thì rất dễ dẫn đến việc chấm dứt quan hệ hợp đồng.Khi các quan hệ hợp đồng chấm dứt một cách bất thường, các hậu quả xấu lần lượtxảy ra, gây tác hại nguy hiểm đến tài sản, uy tín, danh dự, kế hoạch và thời gianhoạt động của các bên chủ thể.

Sự thay thế của các bên chủ thể nhằm chuyển dịch trách nhiệm gánh vácquyền và nghĩa vụ này giống như sự cứu cánh cho quan hệ kinh doanh đang héodần từ một phía Sự thay thế chủ thể không còn mong muốn duy trì hợp đồng làbiện pháp hiệu quả nhất giúp cho quan hệ hợp đồng đáp ứng được các điều kiện cơbản giúp cho nó có thể tồn tại và được thực hiện

* Đối với các quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng

Sự chuyển giao chủ thể gánh vác các quyền và nghĩa vụ này không làm ảnhhưởng đến giá trị pháp lý của chúng cũng như không ảnh hưởng đến giá trị ràngbuộc của chúng đối với các bên chủ thể mới Việc chủ thể nhận chuyển nhượnggánh vác các quyền và nghĩa vụ này giúp cho các quyền và nghĩa vụ chung của cácbên trong quan hệ hợp đồng Các bên có nghĩa vụ thụ hưởng hay thực hiện cácquyền và nghĩa vụ gì thì khi quan hệ hợp đồng được tiếp tục duy trì thì các chủ thểphải tiếp tục thực hiện

Kết Luận Chương I

Hoạt động chuyển nhượng hợp đồng kinh doanh là sự thống nhất ý chítrong việc chuyển dịch quyền và nghĩa vụ của một bên chủ thể trong hoạt độngkinh doanh cho bên nhận chuyển nhượng Do đó, sự tác động của hoạt độngchuyển nhượng đến các chủ thể, quan hệ hợp đồng kinh doanh và các quyền,nghĩa vụ trong hoạt động kinh doanh là không hề nhỏ

Hoạt động chuyển nhượng này là sự thay thế của chủ thể chuyển nhượngbằng chủ thể nhận chuyển nhượng Do đó vấn đề chuyển nhượng này như mộtgiải pháp cứu cánh cho chủ thể không muốn tiếp tục quan hệ hợp đồng có thể

Trang 40

thoát ra khỏi quan hệ này mà không là ảnh hưởng đến nội dung của hợp đồngcũng như không phải chịu các chế tài đã được thống nhất khi mà họ không cònhoặc không muốn duy trì ý chí thực hiện hợp đồng nữa Việc chuyển nhượng nàygiúp cho họ tránh được những tổn thất không mong muốn và có thể tự do khikhông còn chịu sự ràng buộc pháp lý của hợp đồng kinh doanh ban đầu.

Sự chuyển giao chủ thể gánh vác các quyền và nghĩa vụ này không làm ảnhhưởng đến giá trị pháp lý của chúng cũng như không ảnh hưởng đến giá trị ràngbuộc của chúng đối với các bên chủ thể mới Việc chủ thể nhận chuyển nhượnggánh vác các quyền và nghĩa vụ này giúp cho các quyền và nghĩa vụ chung củacác bên trong quan hệ hợp đồng

Pháp luật cần phải quy định cụ thể và rõ ràng hơn nữa về hoạt động này,một phần nhằm tạo cho nó hàng lang pháp lý an toàn để hoạt động chuyểnnhượng có thể diễn ra một cách hiệu quả, bên cạnh đó cũng góp phần đảm bảocác quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng được bảo toàn một cách đày

đủ, góp phần vào công tác quản lý kinh tế cũng như thức đẩy kinh tế xã hội phát

triển.CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CHUYỂN NHƯỢNG HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

Ở VIỆT NAM 2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về chuyển nhượng hợp đồng kinh doanh

2.1.1 Sự phát triển của Pháp luật Việt Nam về chuyển nhượng hợp đồng kinh doanh.

Chuyển nhượng hợp đồng kinh doanh không phải là hoạt động mới xuấthiện, nó đã tồn tại như một thực tế của hoạt động kinh doanh với vai trò bảo toàn

và thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa hoạt động kinh doanh của cá chủ thể Để đảm bảo

Ngày đăng: 17/08/2020, 15:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w