1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn pháp luật về sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại

83 79 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 117,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc điểm của sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại Sáp nhập và hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại là hai hoạt động khác nhau nhưng chúng vẫn có đặc điểm chung như

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời gian gần đây, nhất là sau những năm hội nhập kinh tế quốc tế,

hệ thống các ngân hàng thương mại tại Việt Nam đã lớn mạnh vượt bậc, tăng trưởng nhanh về số lượng cũng như chất lượng, mở rộng mạng lưới hoạt động rộng khắp cả nước, tạo tiền đề vững chắc cho Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường, đồng thời đóng góp to lớn cho quá trình tăng trưởng kinh tế đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những thành công khi hội nhập, các ngân hàng thương mại Việt Nam đã bộc lộ một số bất cập, yếu kém như vốn điều lệ và tính thanh khoản thấp, tỷ lệ nợ xấu gia tăng, trình độ quản trị còn yếu, nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế… Thực trạng này đặt ra vấn đề cấp bách là phải tái cấu trúc hệ thống các ngân hàng thương mại Khi yêu cầu tái cấu trúc đặt ra, quá trình sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp thành công sẽ giúp các doanh nghiệp nâng cao sức mạnh toàn diện, lợi thế cạnh tranh, đồng thời thúc đẩy quá trình tái cơ cấunền kinh tế

Pháp luật về sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là doanh nghiệp nói chung và trong lĩnh vực ngân hàng thương mại đã được quy định tại một số văn bản pháp luật như Bộ luật dân sự năm 2015, Luật cạnh tranh năm 2014 và các văn bản dướiluật khác như Thông tư 36/2015/TT-NHNN Những quy định này đã đáp ứng được yêu cầu về việc điều chỉnh hoạt động sáp nhập pháp nhân là ngân hàng thương mại chưa? Có những ưu điểm hay hạn chế gì? Phương hướng khắc phục rasao? Do đó, việc nghiên cứu vấn đề này là vô cùng cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay nhằm tìm hiểu sau hơn những lý luận về hoạt động sáp nhập,

Trang 2

hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại, đồng thời tìm hiểu, đánh giá những quy định của pháp luật để tìm ra những bất cập và đưa ra các giải pháp phù hợp.

Trong khuôn khổ đề tài này, đề tài sẽ phân tích các vấn đề pháp lý của việcsáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay, từ đó chỉ ra những tồn tại, hạn chế và đưa ra một số giải pháp đề xuất hoàn thiện các quy định cuả pháp luật hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân hang thương mại là một chủ đề khá cấp thiết trong những năm vừa qua trong điều kiện tình hình kinh tế thị trường có nhiều biến chuyển theo cả hai hướng thuận nghịch ảnh hưởng rất nhiều đến tốc độtăng trưởng kinh tế của quốc gia Đứng trước những yêu cầu cấp bách nhằm xây dựng những quy định pháp luật mới điều chỉnh hoạt động này, nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện và chỉ ra các khó khăn, bất cập còn tồn tại và

phương hướng xây dựng các cơ chế giải quyết như:

- Sáp nhập, hợp nhất và mua bán ngân hang thương mại cổ phần ở Việt Nam, luận

án tiến sỹ kinh tế của Phan Diên Vỹ, trường Đại học Ngân hàng thành phố Hồ ChíMinh, 2013

- Pháp luật về mua lại, sáp nhập pháp nhân là ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay, luận án tiến sỹ luật học của Phạm Minh Sơn, học viện hàn lâm khoa học Việt Nam, 2016

- Bàn về việc hình thành tập đoàn tài chính – ngân hàng ở Việt Nam, TS Lê Xuân Nghĩa 2006, NXB Văn hóa –Thông tin

- Hoạt động mua bán, sáp nhập các ngân hàng thương mại Việt Nam thực trạng vàgiải pháp Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành, TS Nguyễn Thị Loan 2011

Trang 3

- “Hội nhập kinh tế quốc tế-tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế”, GS.TSKH Nguyễn Duy Gia 2009, NXB Đại học quốc gia TP.Hồ Chí Minh.

- Thâu tóm và hợp nhất nhìn từ khía cạnh quản trị công ty: Lý luận, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam, Lưu Minh Đức 2008, Tạp chí quản lý kinh tế, số 7+8

- Thâu tóm và hợp nhất từ khía cạnh quản trị công ty: Lý luận, kinh nghiệm quốc tế

và thực tiễn Việt Nam, TS.Nguyễn Đình Cung TS Lưu Minh Đức (2007)

- “Phương pháp xác định giá trị cho Ngân hàng thương mại Việt Nam” Tài liệu hộithảo hoàn thiện các phương pháp định giá doanh nghiệp trong cổ phần hóa và chuyển đổi DNNN Việt Nam, Trần Việt Anh 2005

Các công trình nêu trên đã góp phần xây dựng phương hướng cải cách các quy định về sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại Tuy nhiên, công trình nghiên cứu “Sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam” dưới đây là một công trình nghiên cứu nhằm đưa ra các điểm còn bất cập trong hệ thống pháp luật, có sự tham khảo các quy định pháp luật của các nước trên thế giới nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập toàn cầu hóa Học viên muốn thông qua các thông tin của luận văn cung cấp sau đây, có thể giúp xâydựng phương hướng cơ bản để tái cấu trúc các quy định về sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại trong pháp luật viện nam hiện nay

3 Mục tiêu nghiên cứu.

3.1 Mục tiêu tổng quát:

Trang 4

Làm rõ những vấn đề lý luận về sáp nhập, hợp nhất pháp nhân và tính khả thi của việc sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại theo pháp luậtViệt Nam hiện nay Trên cơ sở đó tìm ra các bất cập và đề xuất các giải pháp pháp

lý hoàn thiện pháp luật về sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại tại Việt Nam

3.2 Mục tiêu cụ thể:

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:

- Làm rõ những vấn đề lý luận về pháp nhân, ngân hàng thương mại

- Làm rõ bản chất của việc sáp nhập, hợp nhất pháp nhân

- Phân tích, làm rõ tính tất yếu khách quan của việc thiết lập quy định về việc sápnhập, hợp nhất pháp nhân

- Phân tích thực trạng pháp luật về sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại tại Việt Nam

- Phân tích quy định về việc sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại tại các nước trên thế giới như Mỹ, Hàn Quốc và đưa ra phân tích một số vụ việc sáp nhập, hợp nhất pháp nhân ngân hàng thương mại điển hình

- Xác định tính khả thi trong việc áp dụng các quy định đó tại Việt Nam

- Kiến nghị và đưa ra các giải pháp để hoàn thiện quy định pháp luật về việc sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam

4 Tính mới và đóng góp của đề tài.

Trang 5

Trong thời gian qua, đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề sáp nhập, hợp nhất ngân hàng nhưng việc nghiên cứu về vấn đề sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay vẫn là vấn

đề cần thiết trên cơ sở đưa ra các giải pháp nhằm tái cơ cấu lại hệ thống Ngân hàng ở Việt Nam hiện nay

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các ngân hàng trong việcxây dựng và thực hiện việc sáp nhập, hợp nhất theo quy định của pháp luật Ngoài

ra, luận văn còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho hoạt động giảng dạy, nghiên cứu ở Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội và các cơ sở đào tạo khác ở

Việt Nam.

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Một số vấn đề chủ yếu của các quy định pháp luật Việt Nam về sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung phân tích pháp luật về sáp nhập, hợp nhất các ngân hàng thương mại là pháp nhân như điều kiện sáp nhập, hợp nhất, trình tự thủ tục sáp nhập, hợp nhất , các trường hợp sáp nhập hợp nhất và đánh giá tài sản khi sáp nhập, hợp nhất ngân hàng thương mại

6 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Đề tài có các nhiệm vụ sau đây:

- Thứ nhất, làm rõ những vấn đề lý luận về sáp nhập, hợp nhất ngân hàng thương mại là pháp nhân

Trang 6

- Thứ hai, phân tích và đánh giá thực trang về sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay.

- Thứ ba, đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại ở Việt Nam

7 Bố cục của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về pháp luật sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng pháp luật về sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại ở Việt Nam

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về pháp luật sáp nhập, hợp nhất pháp nhân

là ngân hàng thương mại.

1 Một số vấn đề lý luận về sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại

1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân

hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm pháp nhân là ngân hàng thương mại

“Ngân hàng thương mại” (NHTM) được coi là một định chế tài chính ra đời và phát triển gắn liền với các hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể

Trang 7

và sự phát triển của nền kinh tế Khi nền kinh tế càng phát triển thì hoạt động dịch

vụ của Ngân hàng càng đi sâu vào tận cùng những ngõ ngách của nền kinh tế và đời sống con người [13] Do đó, NHTM là một sản phẩm độc đáo của nền sản xuất hàng hóa trong kinh tế thị trường, một tổ chức có tầm quan trọng đặc biệt trong nền kinh tế

Để đưa ra một cái nhìn tổng quát nhất về NHTM phải dựa vào tính chất vàmục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính, và đôi khi còn phải kết hợp tính chất, mục đích và đối tượng hoạt động.Theo Luật Ngân hàng của Pháp năm

1941 định nghĩa: “Ngân hàng là những xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thườngxuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác số tiền mà

họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”[26] Hay Luật Ngân hàng của Ấn Độ năm 1959 đã nêu: “Ngân hàng là cơ

sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tư”[27] Như vậy, mặc

dù có nhiều cách thể hiện khác nhau về định nghĩa NHTM, tùy thuộc vào tập

quán pháp luật của từng quốc gia, từng vùng lãnh thổ nhưng khi đi sâu vào phân tích, khai thác nội dung của từng định nghĩa đó, ta có thể nhận thấy rằng: Tất cả các NHTM đều có chung một tính chất đó là việc nhận tiền ký thác – tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu và các dịch vụ kinh doanh khác của chính Ngân hàng

Ở Việt Nam, với việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mọi người bình đẳng trước pháp luật và được tự do kinh doanh Điều 4 Luật các

Tổ chức tín dụng 2010 quy định: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng

được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”[25] Trên cơ sở đó, có thể nhận thấyở Việt Nam hiện nay có các loại hình ngân hàng sau: Ngân hàng thương

Trang 8

mại nhà nước; Ngân hàng thương mại cổ phần; Ngân hàng liên doanh; Ngân hàngphát triển; Ngân hàng đầu tư; Ngân hàng chính sách; Ngân hàng hợp tác; Chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam.

- Ngân hàng thương mại nhà nước: Đây là các ngân hàng giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống ngân hàng ở nước ta Các ngân hàng này được nhà nước cấp vốn và hoạt động chịu sự quản lý của nhà nước Ngoài việc tiến hành kinh doanh bình thường như: huy động vốn, cho vay và các dịch vụ khác,… ngân hàng còn phải thực hiện các nhiệm vụ khi nhà nước giao

- Ngân hàng thương mại cổ phần: Đây là các ngân hàng được thành lập và hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần Vốn do các cổ đông đóng góp, trong đó

có các doanh nghiệp Nhà nước, tổ chức tín dụng, tổ chức khác, và cá nhân cùng góp vốn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Loại hình ngân hàng này hiện tạinhỏ hơn ngân hàng thương mại Nhà nước về quy mô nhưng về số lượng thì nhiều hơn và ngày càng tỏ ra năng động và nhanh chóng đổi mới công nghệ nhằm mục tiêu hội nhập

- Ngân hàng liên doanh: Là ngân hàng được thành lập trên cơ sở hợp đồng liên doanh Vốn điều lệ là vốn góp của một bên là ngân hàng Việt Nam và bên còn lại là ngân hàng nước ngoài Ngân hàng liên doanh là một pháp nhân Việt Nam, cótrụ sở chính tại Việt Nam, hoạt động theo giấy phép thành lập và theo các quy địnhliên quan của pháp luật

- Ngân hàng phát triển: Ngân hàng phát triển có nét đặc trưng nổi bật là tậptrung vốn huy động trung, dài hạn và đầu tư trung, dài hạn vì sự phát triển Hoạt động đầu tư của loại ngân hàng này chủ yếu đầu tư trực tiếp qua các dự án

- Ngân hàng đầu tư: Ngân hàng này hoạt động với mục tiêu đầu tư trung, dài hạn và cũng vì sự phát triển nhưng thông qua hình thức đầu tư gián tiếp qua các giấy tờ có giá

- Ngân hàng chính sách: Là những ngân hàng thương mại 100% vốn Nhà nước hoặc ngân hàng thương mại cổ phần Nhà nước (gồm sở hữu Nhà nước và sở

Trang 9

hữu của các tổ chức kinh tế quốc doanh) được lập ra để phục vụ những chính sách của Nhà nước Loại ngân hàng này không hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận.

- Ngân hàng hợp tác: Đây là những tổ chức tín dụng thuộc sở hữu tập thể, được các thành viên tự nguyện lập không phải vì mục tiêu lợi nhuận mà vì mục tiêu tương trợ lẫn nhau về vốn và dịch vụ ngân hàng

- Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: Là đơn vị phụ thuộc của ngân hàng nước ngoài, không có tư cách pháp nhân, được ngân hàng nước ngoài bảo đảm chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ, cam kết của chi nhánh tại Việt Nam

Trong nền kinh tế thị trường, NHTM với tư cách là trung gian tài chính, đảm bảo sự phát triển hài hòa cho tất cả các thành phần kinh tế khi tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh.Mỗi sự giao động của Ngân hàng đều gây ảnh hưởng ít nhiều đến các thành phần kinh tế khác Do vậy, sự hoạt động có hiệu quả của NHTM thông qua các nghiệp vụ kinh doanh của nó thực sự là công cụ tốt để Nhà nước tiến hành điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Về khái niệm “Pháp nhân”, “Pháp nhân” ở đây được hiểu là một tổ chức

có đủ các điều kiện sau: (1).Được thành lập theo quy định của Bộ luật dân sự hoặcluật khác có liên quan; (2).Cơ cấu tổ chức phải có cơ quan điều hành Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan điều hành của pháp nhân được quy định trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân; (3).Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; (4).Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập [23] Pháp nhân bao gồm pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại

Từ những phân tích ở trên, chúng ta có thể nhận định “Ngân hàng thương mại” được coi một pháp nhân Bởi chủ thể này đáp ứng đầy đủ những yêu cầu về

cơ cấu tổ chức, tài sản độc lập, tư cách chủ thể độc lập và cũng được thành lập theo quy định của pháp luật điều chỉnh

Trang 10

1.1.2 Khái niệm sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại

*/ Khái niệm sáp nhập pháp nhân là ngân hàng thương mại

Về mặt khái niệm, theo từ điển các khái niệm, thuật ngữ tài chính: “Sáp nhập” (Mergers) là hình thức kết hợp mà hai hoặc nhiều doanh nghiệp cùng loại (gọi là doanh nghiệp nhận sáp nhập, doanh nghiệp bị sáp nhập) để trở thành một doanh nghiệp lớn hơn, thường được thực hiện thông qua sự chủ động của các bên,trong đó doanh nghiệp bị sáp nhập chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác – doanh nghiệp nhận sáp nhập

Theo quy định của pháp luật hiện hành, “sáp nhập” được xem xét và điều chỉnh dưới nhiều góc độ, được ghi nhận tại nhiều văn bản pháp luật do các cơ quan có chức năng quản lý nhà nước trong các lĩnh vực khác nhau soạn thảo và ban hành Cụ thể như sau:

Khái niệm “sáp nhập” hiện nay được quy định tại một số các văn bản pháp luật Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 quy định về sáp nhập pháp nhân tại Điều 89như sau: “1 Một pháp nhân có thể được sáp nhập (sau đây gọi là pháp nhân được sáp nhập) vào một pháp nhân khác (sau đây gọi là pháp nhân sáp nhập).2 Sau khi sáp nhập, pháp nhân được sáp nhập chấm dứt tồn tại; quyền và nghĩa vụ dân sự của pháp nhân được sáp nhập được chuyển giao cho pháp nhân sáp nhập” Theo

đó, một pháp nhân có thể được sáp nhập vào một pháp nhân khác và kết quả của việc sáp nhập pháp nhân là pháp nhân được sáp nhập chấm dứt sự tồn tại; các quyền và nghĩa vụ dân sự của pháp nhân được sáp nhập được chuyển giao cho pháp nhân sáp nhập

Khoản 1 Điều 195 Luật Doanh nghiệp 2014 có quy định: “Một hoặc một

số công ty (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty

Trang 11

khác (sau đây gọi là công ty sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập” Cách thức sáp nhập giữa các công ty là một hoặc một số công ty chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập Sau khi sáp nhập thì công ty bị sáp nhập chấm dứt sự tồn tại.

Luật Cạnh tranh năm 2004 cũng đưa ra khái niệm về sáp nhập nhưng chủ thể sáp nhập trong Luật Cạnh tranh là các doanh nghiệp, rộng hơn chủ thể sáp nhập trong Luật Doanh nghiệp là các công ty Hơn nữa, sáp nhập trong Luật

Doanh nghiệp được đề cập đến trong chương tổ chức lại, giải thể, phá sản doanh nghiệp trong khi sáp nhập trong Luật Cạnh tranh được đề cập đến trong mục tập trung kinh tế.Khoản 1 Điều 17 Luật Cạnh tranh quy định: “Sáp nhập doanh nghiệp

là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồntại của doanh nghiệp bị sáp nhập”[22] Sáp nhập doanh nghiệp trong Luật Cạnh tranh được nghiên cứu dưới góc độ tập trung kinh tế Tương tự như sáp nhập công

ty trong Luật Doanh nghiệp, các doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác và kết quả là

sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập chấm dứt

Mặt khác, Khoản 1 Điều 3 Thông tư 36/2015/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước quy định: “Sáp nhập TCTD là việc một hoặc một số TCTD (sau đây gọi

là TCTD bị sáp nhập) chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang một TCTD khác (sau đây gọi là TCTD nhận sáp nhập), đồng thời chấm dứt

sự tồn tại của TCTD bị sáp nhập”[28] Các TCTD thuộc phạm vi điều chỉnh của Thông tư bao gồm: NHTM; Công ty tài chính; Tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc tổ chức lại tổ chức tín dụng (quy định tại Điều 2 Thông tư này) Sáp nhập TCTD là trường hợp đặc biệt của sáp nhập doanh nghiệp Khi một TCTD sáp nhập

Trang 12

vào TCTD khác thì toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp được chuyển cho bên đối tác (TCTD nhận sáp nhập) và TCTD bị sáp nhập cũng đồng thời chấm dứt sự tồn tại của mình TCTD sau sáp nhập là sự kết hợp của TCTD bị sáp nhập và TCTD nhận sáp nhập.

Bản thân NHTM là một pháp nhân Bên cạnh đó, NHTM lại thuộc nhóm các TCTD Do đó, có thể định nghĩa “sáp nhập pháp nhân là ngân hàng thương

mại” như sau: Sáp nhập pháp nhân là NHTM là hình thức một hoặc một số NHTM (sau đây gọi là NHTM bị sáp nhập) sáp nhập vào một NHTM khác (sau đây gọi

là NHTM sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang NHTM nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của NHTM

bị sáp nhập.

*/ Khái niệm hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại

Khái niệm “hợp nhất” (Consolidation) là khái niệm chỉ hai hay một số doanh nghiệp cùng thỏa thuận chia sẻ tài sản, thị phần, thương hiệu với nhau để hình thành một doanh nghiệp hoàn toàn mới, với tên gọi mới, chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp cũ

Tương tự như khái niệm sáp nhập, khái niệm hợp nhất cũng được đề cập đến trong một số các văn bản pháp luật như: Khái niệm về hợp nhất pháp nhân trong Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13; Khái niệm hợp nhất doanh nghiệp quy định trong Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Cạnh tranh 2004; Khái niệm hợp nhấtcác TCTD được quy định trong Thông tư 36/2015/TT-NHNN

Điều 88 Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 quy định: “1 Các pháp nhân có thể hợp nhất thành một pháp nhân mới 2 Sau khi hợp nhất, các pháp nhân cũ chấm dứt tồn tại kể từ thời điểm pháp nhân mới được thành lập; quyền và nghĩa vụdân sự của pháp nhân cũ được chuyển giao cho pháp nhân mới” Như vậy, việc hợp nhất giữa các pháp nhân dẫn đến hậu quả là chấm dứt sự tồn tại của các pháp

Trang 13

nhân cũ và các quyền, nghĩa vụ dân sự của các pháp nhân cũ được chuyển giao cho pháp nhân mới.

Khoản 1 Điều 194 Luật Doanh nghiệp 2014 cũng có quy định: “ Hai hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (sau đây gọi là công ty hợp nhất), đồng thời chấm dứt tồn tại của các công ty bị hợp nhất” Theo đó, một công ty mới hình thành sau hợp nhất, các công

ty cũ sẽ chấm dứt sự tồn tại của mình Tất cả tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của công ty bị hợp nhất được chuyển giao cho công ty hợp nhất

Luật Cạnh tranh 2004 đưa ra khái niệm về hợp nhất tại Khoản 2 Điều 17 như sau: “Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn

bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất” Có thể nhận thấy, hợp nhất doanh nghiệp trong Luật Cạnh tranh được quy định giống với Luật Doanh nghiệp Tuy nhiên, hợp nhất doanh nghiệp trong Luật Cạnh tranh được coi là một hoạt động tập trung kinh tế còn trong Luật Doanh nghiệp coi hợp nhất công ty là một trong các trường hợp tổ chức lại doanh nghiệp Mặt khác, LuậtCạnh tranh đưa ra khái niệm hợp nhất đối với các chủ thể là doanh nghiệp sẽ bao quát hơn các chủ thể hợp nhất trong Luật Doanh nghiệp là các công ty

Bên cạnh đó, Thông tư 36/2015/TT-NHNN quy định tại Khoản 2 Điều 3 như sau: “Hợp nhất TCTD là việc hai hoặc một số TCTD (sau đây gọi là TCTD bị hợp nhất) chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp để hình thành một TCTD mới (sau đây gọi là TCTD hợp nhất), đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các TCTD bị hợp nhất” Như vậy, định nghĩa hợp nhất TCTD quy định tại Thông tư 36 là trường hợp cụ thể hóa các định nghĩa hợp nhất quy định trong các văn bản pháp luật trên Các TCTD hợp nhất với nhau và có một TCTD mới được hình thành TCTD mới này kế thừa toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của các TCTD ban đầu Còn các TCTD bị hợp nhất thì chấm dứt sự tồn tại của mình

Trang 14

Cũng như khái niệm sáp nhập pháp nhân là NHTM, khái niệm hợp nhất pháp nhân là NHTM cũng chưa được quy định cụ thể trong một văn bản pháp luật nào Căn cứ vào quy định tại các văn bản pháp luật hiện hành, có thể đưa ra định

nghĩa khái quát về hợp nhất pháp nhân là NHTM như sau: Hợp nhất pháp nhân là NHTM là hình thức hai hoặc một số NHTM (sau đây gọi là NHTM bị hợp nhất) hợp nhất thành một NHTM mới (sau đây gọi là NHTM hợp nhất) bằng cách

chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang NHTM hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các NHTM bị hợp nhất.

Việc hợp nhất pháp nhân là NHTM sẽ dẫn đến hình thành một NHTM mới,NHTM này là sự kết hợp của các NHTM thành viên Các NHTM thành viên sẽ chấm dứt sự tồn tại Việc hợp nhất này chịu sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13; Luật Doanh nghiệp 2014; Luật Cạnh tranh 2004; Thông tư

36/2015/TT-NHNN

1.1.3 Đặc điểm của sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại

Sáp nhập và hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại là hai hoạt động khác nhau nhưng chúng vẫn có đặc điểm chung như sau:

Thứ nhất, chủ thể của sáp nhập, hợp nhất ở đây là các NHTM; toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của NHTM bị sáp nhập, hợp nhất được chuyển cho NHTM sáp nhập (trường hợp sáp nhập), hoặc được chuyển cho

NHTM hợp nhất (trường hợp hợp nhất) NHTM bị sáp nhập hoặc bị hợp nhất sẽ chấm dứt sự tồn tại cững như tư cách chủ thể của mình [29]

Thứ hai, sáp nhập, hợp nhất NHTM có thể thực hiện trên cơ sở tự nguyện hoặc bắt buộc Tự nguyện sáp nhập, hợp nhất là việc các NHTM tự nguyện sáp nhập hoặc hợp nhất để phù hợp với mục tiêu phát triển và nguyện vọng của chủ sởhữu Bắt buộc sáp nhập, hợp nhất là việc các NHTM không đảm bảo được mức vốn pháp định theo quy định hiện hành hoặc hoạt động yếu kém hoặc bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt không thực hiện được theo hình thức tự nguyện sáp nhập, hợp nhất và có nguy cơ làm ảnh hưởng đến an toàn hệ thống và phải sáp

Trang 15

nhập, hợp nhất theo chỉ định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Có thể hiểu sáp nhập, hợp nhất là quyền và cũng là nghĩa vụ của các NHTM Các NHTM có thể tự nguyện sáp nhập, hợp nhất thông qua thỏa thuận, đàm phán Trường hợp này sáp nhập, hợp nhất được hiểu là quyền của các NHTM Nhưng trường hợp NHTM yếu kém, mất khả năng thanh toán, có nguy cơ gây mất an toàncho hệ thống ngân hàng thì NHNN có thể ra quyết định buộc NHTM phải sáp nhập, hợp nhất (theo Luật Ngân hàng nhà nước; Luật các tổ chức tín dụng) Xét trong trường hợp này thì sáp nhập, hợp nhất lại là nghĩa vụ của các NHTM.

Thứ ba, việc sáp nhập, hợp nhất NHTM phải tuân theo một trình tự, thủ tụcchặt chẽ Bởi hoạt động sáp nhập, hợp nhất này không chỉ ảnh hưởng đến bản thâncác chủ thể sáp nhập, hợp nhất mà còn ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba như người gửi tiền, các nhà đầu tư, hệ thống ngân hàng và toàn

bộ nền kinh tế [19] Do đó phải quy định những trình tự, thủ tục nghiêm ngặt để đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan và đảm bảo an toàn cho cả hệ thống ngânhàng cũng như sự ổn định của nền kinh tế

Thứ tư, sáp nhập, hợp nhất là một trong những biện pháp để giúp các ngân hàng thoát khỏi nguy cơ phá sản Nếu như phá sản, giải thể được coi là những phương thức giải quyết số phận của những doanh nghiệp gặp khó khăn và kinh doanh kém hiệu quả thì sáp nhập, hợp nhất NHTM sẽ góp phần cơ cấu lại các ngân hàng kinh doanh kém hiệu quả song không làm giảm đi giá trị đầu tư của thị trường cũng không làm tổn hại tới lợi ích của những người có quyền lợi và nghĩa

vụ liên quan nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung

Bên cạnh những đặc điểm giống nhau trên, hai hoạt động sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là NHTM còn có những đặc điểm riêng như sau:

Tiêu

chí

Sáp nhập pháp nhân là NHTM

Hợp nhất pháp nhân là NHTM

Trang 16

Chủ thể

liên quan

NHTM bị sáp nhậpNHTM nhận sáp nhập

NHTM bị hợp nhấtNHTM nhận hợp nhấtHình

thức

Các NHTM bị sáp nhập mang toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ

và lợi ích hợp pháp của mình chuyển sang cho NHTM nhận sáp nhập

Các NHTM mang tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình góp chung lại thành lập một NHTM mới

Hậu

quả pháp

Chấm dứt sự tồn tại của các NHTM bị sáp nhập và giữ nguyên sự tồn tại của NHTM nhận sáp nhập

Tạo ra một NHTM mới (NHTMđược hợp nhất và chấm dứt sự tồn tại của các NHTM bị hợp nhất

Trách

nhiệm

pháp lý

Các NHTM bị sáp nhập chuyển toàn bộ tài sản, quyền vànghĩa vụ của mình sang cho NHTM nhận sáp nhập

NHTM hợp nhất hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, và chịu trách nhiệm thực hiện toàn

bộ các nghĩa vụ của NHTM bị hợp nhất

Quyền

quyết

định

Chỉ NHTM nhận sáp nhập được quyền quyết định, điều hành và quản lý

Các NHTM tham gia hợp nhất cùng có quyền quyết định

Đăng

ký kinh

doanh

NHTM nhận sáp nhập tiến hành đăng ký thay đổi nội dung theo quy định của Luật Doanh nghiệp

NHTM được hợp nhất tiến hànhđăng ký theo quy định của Luật Doanh nghiệp

1.1.4 Phân loại sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại

Trang 17

Thứ nhất là sáp nhập, hợp nhất mở rộng thị trường Loại sáp nhập, hợp nhất này diễn ra đối với hai NHTM kinh doanh cùng loại sản phẩm nhưng ở

những thị trường khác nhau Ví dụ: Một NHTM miền Bắc với một NHTM miền Nam đều kinh doanh sản phẩm là tiền gửi – tiết kiệm, tín dụng cá nhân; bảo lãnh, thu hộ với khách hàng định chế tài chính,… thì việc sáp nhập, hợp nhất hai NHTMnày sẽ đem lại lợi ích mở rộng thị trường cả miền Nam và miền Bắc, mở rộng địa bàn khách hàng, tận dụng hệ thống phân phối [31]

Thứ hai là sáp nhập, hợp nhất mở rộng sản phẩm Loại sáp nhập, hợp nhất này diễn ra đối với hai NHTM kinh doanh những sản phẩm khác nhau nhưng có liên quan tới nhau trong cùng một thị trường Ví dụ: Hai NHTM ở trong cùng một khu vực, trong đó có một NHTM kinh doanh hoạt động tiết kiệm, cho vay, thẻ ghi

nợ nội địa đối với khách hàng cá nhân và kinh doanh hoạt động tiền gửi, thanh toán quốc tế đối với khách hàng doanh nghiệp, trong khi một NHTM lại kinh doanh tiết kiêm, bảo lãnh vay vốn đối với khách hàng cá nhân và tiền gửi, cho vay

ưu đãi đối với khách hàng doanh nghiệp, thì việc sáp nhập, hợp nhất hai NHTM này sẽ đem đến việc mở rộng sản phẩm, thu hút thêm khách hàng, tận dụng hệ thống phân phối

Thứ ba, sáp nhập, hợp nhất kết hợp Đây là loại sáp nhập, hợp nhất giữa hai NHTM kinh doanh cùng cạnh tranh trực tiếp, chia sẻ dòng sản phẩm, cùng thị trường Ví dụ hai NHTM cùng ở trong một khu vực, cùng kinh doanh tiết kiệm, tíndụng cá nhân đối với khách hàng cá nhân;…tiến hành sáp nhập, hợp nhất với nhau Kết quả của việc sáp nhập, hợp nhất theo hình thức này mang lại cho các bên tham gia sáp nhập, hợp nhất cơ hội mở rộng thị trường, tăng hiệu quả trong việc kết hợp thương hiệu, giảm chi phí cố định, tăng cường hiệu quả của hệ thống phân phối

1.1.5 Nguyên nhân dẫn đến việc sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân hàng

thương mại

Trang 18

Thứ nhất là do sự bùng nổ về số lượng ngân hàng Ở Việt Nam, trong mấy năm gần đây đã chứng kiến sự bùng nổ của hệ thống ngân hàng với sự tăng mạnh

về số lượng ngân hàng và chi nhánh ngân hàng được thành lập cũng như về tốc độ tăng trưởng tín dụng bắt nguồn từ tăng trưởng cao của cung tiền là hậu quả của chính sách tiền tệ nới lỏng Sự mở rộng nhanh chóng này không đồng hành với sự cải thiện trong công tác phòng ngừa rủi ro cũng như việc giám sát, thanh tra và xử phạt của Ngân hàng Nhà nước Bên cạnh đó, còn chịu tác động bởi tham nhũng, can thiệp của chính quyền và các nhóm lợi ích [7]

Thứ hai là do sự yếu kém trong cơ chế quản trị, điều hành và nguồn nhân lực.Để kinh doanh có hiệu quả, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay thì việc xây dựngmột đội ngũ các nhà quản trị hiện đại có tầm vóc quốc tế là một yêu cầu cực kỳ quan trọng Nhiều ngân hàng hiện nay vẫn còn tình trạng chưa phân định trách nhiệm và quyền hạn giữa ban kiểm soát và ban điều hành Công tác quản trị, kiểm soát, điều hành của NHTM không theo kịp với đòi hỏi của nền kinh tế thị trường

và việc thực hiện những nghiệp vụ của chính bản thân ngân hàng Về nguồn nhân lực chưa đáp ứng được đòi hỏi của hoạt động ngân hàng trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập Như vậy, khi thị trường tài chính có những biến động thì những ngân hàng yếu kém không thể đứng vững sẽ buộc phải thực hiện phương án sáp nhập, hợp nhất

Thứ ba là do khả năng thanh khoản yếu kém cùng với tình hình nợ xấu tăng cao.Trong thời gian gần đây, do tình hình lạm phát có xu hướng giảm, mức trần lãi suất giảm, khiến cho các ngân hàng gặp khó khăn trong việc thu hút tiền gửi Ngoài ra, chính sách tiền tệ thận trọng cũng khiến nguồn cung tiền ra thị trường hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng Bên cạnh đó, việc công khai tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống có thể ảnh

hưởng nhất định đến niềm tin của người dân vào tính an toàn của hệ thống ngân hàng Việc trích lập dự phòng có sẵn tại các ngân hàng, vấn đề xử lý nợ xấu vẫn

Trang 19

chưa có lời giải cụ thể và sẽ là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng hiện nay và tương lai của các ngân hàng trong những năm tới.

Thứ tư là do áp lực tăng vốn Tăng vốn là việc bán thêm cổ phần cho cổ đông hiện hữu và cổ đông mới với giá thấp nhất bằng mênh giá Việc tăng vốn chỉ hợp lý khi đạt được lợi nhuận kỳ vọng không thấp hơn tiền gửi ngân hàng Tuy nhiên, lợi nhuận của không ít ngân hàng chỉ đạt dưới 10% và cổ tức thì còn thấp hơn nhiều, giá cổ phiếu của ngành ngân hàng bị tụt giảm, tính thanh khoản thấp

Do đó, bài toán tăng vốn là vô cùng nan giải, đặc biệt là khối lượng cổ phần mới quá lớn [6] Chính vì vậy, nhiều ngân hàng đã tiến hành sáp nhập, hợp nhất với nhau để giải quyết bài toán trên

Thứ năm là do thách thức bởi sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài Các ngân hàng nước ngoài có nhiều lợi thế hơn các NHTM trong việc trong việc

sử dụng, mở rộng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng Do đó, việc đưa các sản phầm này vào hoạt động sẽ thuận lợi hơn các ngân hàng trong nước Bên cạnh đó, năng lực tài chính của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài mạnh hơn các NHTM trong nước: Tỷ lệ vốn điều lệ/tổng tài sản của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài là 0% trong khi các NHTM trong nước là 10% Mức độ rủi ro trong hoạt động của các NHTM trong nước lớn hơn nhiều so với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài: khả năng sinh lời thấp và có xu hướng giảm, sự mất cân đối về các loại tiền tệ do tình trạng đôla hóa nền kinh tế,

1.2 Mục đích và vai trò của việc sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân

hàng thương mại

Sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là NHTM là một chiến lược nhằm phát huy thế mạnh cũng như khắc phục những yếu kém của NHTM Việc sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là NHTM nhằm đạt được những mục đích sau đây:

Thứ nhất, làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản của NHTM sau sáp nhập, hợp nhất Sau khi tiến hành sáp nhập, hợp nhất, các NHTM tận dụng tối đa các loại tài

Trang 20

sản để nhằm mục đích sinh lời Việc này sẽ tăng cường hiệu quả sử dụng tài sản của các NHTM Các chi phí cố định sẽ giảm vì cơ sở hạ tầng được mở rộng cùng với sự kết hợp năng lực quản lý của các NHTM sẽ đem lại một khối lượng sản phẩm lớn hơn cho các NHTM.

Thứ hai, giảm tổng chi phí hoạt động thông qua việc loại bỏ trùng lặp trong sử dụng phương tiện và các nguồn lực sản xuất khác Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy, ngay sau khi tiến hành sáp nhập, hợp nhất, các chi phí để hỗ trợ kinh doanh như marketing sẽ giảm đặc biệt là chi phí quảng cáo Điều này sẽ giảmđược chi phí hoạt động của các NHTM

Thứ ba, giảm rủi ro thông qua việc đa dạng hóa nguồn thu nhập, chi phí, danh mục cho vay và nguồn tiền gửi hoặc nhờ vào việc thu hút những nguồn vốn dài hạn mới Sự kết hợp của các NHTM sẽ làm cho nguồn thu nhập của NHTM được đa dạng hóa từ rất nhiều nguồn khác nhau như từ khách hàng cá nhân, khách hàng doanh nghiệp hoặc các định chế tài chính Từ đó sẽ giảm thiểu những rủi ro kinh doanh của NHTM

Thứ tư, tăng cường sức mạnh thị trường, tạo ra lợi thế về các loại sản phẩm

và phân phối dịch vụ NHTM sau khi sáp nhập, hợp nhất được thừa hưởng sức mạnh từ các NHTM trước đó Do đó, nó sẽ giúp tăng cường sức mạnh của thị trường bởi tăng thêm được thị phần trên thị trường và kết hợp được phương pháp kinh doanh, hoạt động của các NHTM trước đó với một hệ thống khách hàng rộng lớn hơn Tăng cường sức mạnh thị trường sẽ giúp NHTM tạo lập thị trường về giá

cả (lãi suất, tỉ giá, phí dịch vụ) cũng như điều tiết thị trường về vốn, thanh khoản hoặc lợi thế cạnh tranh Ngoài ra, các NHTM sau sáp nhập, hợp nhất sẽ dễ dàng có

ưu thế hơn về các loại sản phẩm và phân phối dịch vụ [10]

Thứ năm, giảm thiểu được các vấn đề khó khăn khi tham gia vào một thị trường mới Khi một NHTM muốn mở rộng thị phần sang một thị trường mới, chúng sẽ phải trực tiếp đối mặt với các đối thủ đã quá quen thuộc với thị trường

Trang 21

đó, việc cạnh tranh vô cùng khốc liệt Mục đích của việc sáp nhập, hợp nhất

NHTM sẽ làm giảm được những khó khăn này

Thứ sáu, tăng cường uy tín, vai trò của nhà quản lý Ngân hàng thương mại.Sau khi sáp nhập, hợp nhất, nhà quản trị sẽ quản lý một NHTM lớn hơn trước, nếunhà quản lý điều hành một cách hiệu quả, giúp ngân hàng thu được những kết quả kinh doanh tốt đẹp thì kết quả tốt đẹp này không chỉ dừng ở ý nghĩa tạo ra giá trị hiệu quả kinh tế mà còn có ý nghĩa trong việc tạo uy tín cũng như vai trò lãnh đạo của nhà quản trị và tổ chức Ngân hàng thương mại

Thứ bảy, sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là NHTM đảm bảo sự lành mạnh của hệ thống ngân hàng Thực tế cho thấy, việc sáp nhập và hợp nhất NHTM dẫn tới sự ra đời của tổ chức sau đó sẽ tận dụng được lợi thế của các đơn vị trước đó Ngoài ra, NHTM sau hợp nhất ổn định và nâng cao được năng lực của ngân hàng, đồng thời tăng cường khả năng quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ, thực hiện đầy đủ các chức năng của NHTM

Vai trò của việc sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại:

- Đối với bản thân các NHTM: Hoạt động sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là NHTM mang lại lợi ích cho cả hai phía chủ thể nhận sáp nhập, hợp nhất và chủ thể bị sáp nhập, hợp nhất tham gia Hoạt động này mang lại các lợi ích kinh tế như: tập trung nguồn lực, mở rộng và phát triển mạng lưới nhanh chóng, cải thiện công nghệ, nâng cao trình độ quản lý, tăng cường cạnh tranh, giảm chi phí hoạt động, nâng cao uy tín thương hiệu Việc sáp nhập, hợp nhất là một bước tiến của các NHTM cho việc mở rộng quy mô, nâng tầm của các NHTM lên cao, tranh thủ được những ưu điểm của cả hai phía chủ thể và tận dụng được cơ sở hạ tầng cũng như hệ thống nguồn nhân lực, mạng lưới của cả hai bên Bên cạnh đó, việc sáp nhập, hợp nhất cũng tránh cho một số NHTM phải rơi vào tình trạng giải thể, phá sản Bởi việc phá sản NHTM sẽ để lại rất nhiều hệ lụy cho cả nền kinh tế, nhất là đối với một nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào hệ thống NHTM và dư nợ tín dụng ở

Trang 22

mức cao và vốn tự có của các NHTM vẫn còn quá mỏng so với các nước trên thế giới và khu vực như ở Việt Nam [9]

- Đối với Nhà nước: Hoạt động sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là NHTM cóvai trò lớn để nhà nước tái cơ cấu nền kinh tế, đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa các NHTM, loại bỏ và làm sạch thị trường các NHTM yếu kém, hoạt động không hiệu quả Bên cạnh đó, hoạt động kiểm tra, quản lý đối với một hệ thống tổ chức tín dụng khổng lồ cũng dần được giảm tải

Sáp nhập, hợp nhất còn là phương thức thu hút đầu tư trực tiếp (FDI) và gián tiếp (FII) hiệu quả, thúc đẩy thị trường chứng khoán, thị trường cổ phiếu ngânhàng phát triển.[8] Hoạt động sáp nhập, hợp nhất trong ngành ngân hàng sẽ tạo nên những NHTM lớn hơn, vững mạnh hơn, nâng cao uy tín của các NHTM, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, mở ra nhiều cơ hội mới cho ngành tài chính nước ta và nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trên trường quốc tế

- Đối với xã hội: Sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là NHTM sẽ tránh được nguy cơ thất nghiệp cho người lao động tại những NHTM yếu kém Bởi nếu

không thực hiện sáp nhập, hợp nhất, các NHTM đó hoạt động kém hiệu quả sẽ dẫnđến việc giảm biên chế hoặc có thể giải thể, phá sản Khi đó, người lao động sẽ bị mất việc làm, ảnh hưởng đến đời sống của người lao động nói riêng và đời sống xãhội nói chung.[16]

Việc sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là NHTM còn mang đến lợi ích cộng đồng, tăng khả năng cung cấp dịch vụ ngân hàng, các dịch vụ có thể được nâng cấp về chất lượng; mở rộng thị trường, cạnh tranh về các chính sách ưu đãi, giúp cho người dân có nhiều sự lựa chọn hơn nữa

Bên cạnh những hiệu ứng tốt, sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là NHTM cũng có thể tạo ra một số bất lợi như:

- Các NHTM sau khi sáp nhập, hợp nhất thì quy mô được mở rộng, vốn điều lệ tăng nhưng những yếu kém nội tại của từng ngân hàng trước đó không khắc phục được như: khó khăn về thanh khoản, nợ xấu tăng cao, sự yếu kém về

Trang 23

quản trị, điều hành Mục tiêu tái cơ cấu không đạt được kết quả Điều này tác độngđến nền kinh tế vốn đang tiềm ẩn nhiều bất ổn như của nước ta.

- Không những thế, một số trường hợp tái cơ cấu ngân hàng nhưng khách hàng lại không nhận được nhiều lợi ích mà còn phải chịu một số bất lợi giống như việc chịu sự ảnh hưởng của chính sách giá cả tăng lên do các NHTM phải bù đắp vào chi phí tái cơ cấu và thích nghi với các hoạt động điều hành quản trị của

NHTM mới

- Hơn nữa, việc sáp nhập, hợp nhất có thể làm tổn thương thị trường tài chính Trong trường hợp thị phần của hai bên đối tác lớn sáp nhập, hợp nhất sẽ tạo thành một định chế khổng lồ làm ảnh hưởng đến các đối thủ cạnh tranh khác, thay đổi cán cân thị trường tài chính, có thể dẫn tới hiện trường tập trung kinh tế và độcquyền

1.3 Khái niệm, Đặc điểm, Nguyên tắc và Cấu trúc của pháp luật về sáp

nhập, hợp nhất pháp nhân là Ngân hàng thương mại.

1.3.1 Khái niệm pháp luật về sáp nhập và hợp nhất pháp nhân là Ngân hàng thương mại.

Cũng như các lĩnh vực pháp luật khác, đối tượng điều chỉnh của pháp luật

về sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là NHTM cũng là các quan hệ xã hội Sự tồn tại của các quan hệ xã hội này được thể hiện thông qua hoạt động sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là nhằm mục đích tái cơ cấu hoặc thiết lập nên một pháp nhân là

NHTM mới [5]

Căn cứ vào tính chất của các quan hệ xã hội do pháp luật về sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là NHTM điều chỉnh và các phương pháp điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh của pháp luật về sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là NHTM gồm hai nhóm chính: quan hệ quản lý nhà nước về hoạt động sáp nhập, hợp nhất pháp nhân

là NHTM và quan hệ giữa các NHTM với nhau trong hoạt động sáp nhập, hợp nhất

Trang 24

Quan hệ quản lý nhà nước về hoạt động sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là NHTM là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình nhà nước thực hiện hoạt động quản lý đối với các hoạt động sáp nhập, hợp nhất trong nền kinh tế Chủ thể quản lý trong quan hệ pháp luật này là Nhà nước còn các chủ thể bị quản lý là các NHTM tham gia sáp nhập, hợp nhất và các cá nhân, tổ chức có liên quan đến hoạt động sáp nhập, hợp nhất NHTM như: khách hàng, chủ nợ, người lao động,…[14]

Có thể lấy ví dụ về các quan hệ pháp luật phát sinh trong hoạt động quản lý nhà nước đối với các hoạt động sáp nhập, hợp nhất NHTM như: quan hệ trong việc từ chối hay chấp thuận cho sáp nhập, hợp nhất; quan hệ thanh tra, giám sát giữa NHNN với các NHTM,… Trong các quan hệ quản lý thì phương pháp điều chỉnh

là mệnh lệnh phục tùng

Quan hệ giữa các NHTM với nhau trong hoạt động sáp nhập, hợp nhất là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, thực hiện hoạt động sáp nhập,hợp nhất của các NHTM Có thể lấy ví dụ như: quan hệ giữa các NHTM trong việc đàm phán, ký kết hợp đồng hay quan hệ giữa các NHTM trong việc chuyển đổi phần vốn góp, cổ phần Đây là các quan hệ phát sinh giữa các NHTM thiết lập trên cơ sở thỏa thuận, bình đẳng Phương pháp điều chỉnh là phương pháp bình đẳng, thỏa thuận

Mặc dù hiện nay chưa có định nghĩa cụ thể về “pháp luật về sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại” Nhưng chúng ta có thể đưa ra một cái nhìn khái quát về quan hệ sáp nhập, hợp nhất này như sau:

Pháp luật về sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là NHTM Từ các quan hệ về đàm phán, ký kết hợp đồng, thực hiện thủ tục sáp nhập, hợp nhất đến các quan hệ chuyển giao quyền, nghĩa vụ và lợi ích trong hoạt động sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là các NHTM được thành lập và hoạt động tại Việt Nam.

Trang 25

1.3.2 Đặc điểm pháp luật điều chỉnh hoạt động sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại

Hoạt động sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là NHTM được điều chỉnh bằng

cả hệ thống luật chung và luật chuyên ngành Bên cạnh đó, đối với mỗi hành vi sáp nhập, hợp nhất khi xem xét dưới các góc độ khác nhau thì hoạt động phải chịu

sự điều chỉnh của từng ngành luật riêng

NHTM là một pháp nhân, vì vậy, trong hoạt động sáp nhập, hợp nhất chủ thể này chịu sự điều chỉnh của hệ thống luật chung gồm Luật dân sự và Luật doanh nghiệp Những vấn đề liên quan đến tài sản, chuyển giao quyền sở hữu tài sản trong sáp nhập, hợp nhất cần phải tuân thủ các quy định được ghi nhận trong luật dân sự Những yếu tố về cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị, điều hành của

NHTM cũng phải phù hợp với Luật doanh nghiệp.[15] Tuy nhiên, NHTM với tư cách là một TCTD, còn phải chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật chuyên ngành trong lĩnh vực này Dưới góc độ kiểm soát tập trung kinh tế, hành vi sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là NHTM có thể chịu sự điều chỉnh của Luật Cạnh tranh Dưới góc độ là hành vi đầu tư, hành vi này có thể chịu sự điều chỉnh của Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán Như vậy, một đặc điểm trong pháp luật điều chỉnh hoạt động sáp nhập, hợp nhất NHTM là sự đa dạng của pháp luật điều chỉnh dười từng khía cạnh, góc độ bản chất của hoạt động

Thứ hai, thông qua hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động sáp nhập, hợp nhất NHTM mà Nhà nước có thể thực hiện nhiệm vụ quản lý và điều hành nền kinh tế một cách hữu hiệu Hoạt động sáp nhập, hợp nhất NHTM có thể được coi

là một trong những cách thức tái cơ cấu hệ thống tài chính làm hệ thống này hoạt động lành mạnh và hiệu quả hơn Ngoài các công cụ quản lý khác thì việc ban hành khung pháp lý phù hợp điều chỉnh hoạt động sáp nhập, hợp nhất, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay đóng vai trò quan trọng giúp Nhà nước quản lý, điều hànhnền kinh tế vĩ mô

Trang 26

Thứ ba, thông thường các cổ đông trong NHTM đặc biệt là các cổ đông giữ vai trò quản lý điều hành luôn phải đáp ứng những yêu cầu nhất định mang tính khắt khe hơn so với đòi hỏi trong công ty cổ phần khác Do đó, pháp luật điềuchỉnh hoạt động sáp nhập, hợp nhất đối với NHTM cũng có nhiều điểm nhấn mạnh đối với vấn đề này.

Thứ tư, hoạt động sáp nhập, hợp nhất NHTM liên quan khá nhiều đến quyền lợi các bên thứ ba Bởi pháp luật có những điều chỉnh riêng so với các lĩnh vực sáp nhập doanh nghiệp khác Khi tiến hành tái cơ cấu NHTM nói chung trong

đó có sáp nhập, hợp nhất thì vấn đề quyền lợi của bên thứ ba là khách hàng luôn cần được chú trọng một cách đặc biệt Khách hàng của TCTD là đông đảo những người gửi và vay tiền cá nhân, tổ chức trong xã hội Những bất ổn về kinh tế - xã hội có thể pháp sinh từ những lỗ hổng trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các đối tượng này

Trên đây là một số đặc điểm của pháp luật điều chỉnh hoạt động sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là NHTM Đây là những điểm tạo nên tính đặc thù cho pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực này so với pháp luật điều chỉnh hoạt động sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp nói chung Những đặc thù đó được tạo nên từ những điểm khác biệt trong cách thức tổ chức, hoạt động cũng như chức năng, vai trò của chủ thể sáp nhập, hợp nhất NHTM.[32] Việc nghiên cứu những điểm khác biệt này giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể đầy đủ hơn về hệ thống pháp luật làm cơ sở chohoạt động sáp nhập, hợp nhất NHTM Từ đó, chúng ta có thể đưa ra những định hướng để hoàn thiện hơn nữa hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp nói chung và sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là NHTM nói riêng

1.3.3 Nguyên tắc pháp lý điều chỉnh hoạt động sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại

Nguyên tắc pháp lý là các nguyên tắc do pháp luật định ra và các NHTM phải tuân thủ trong quá trình tham gia hoạt động sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là

Trang 27

NHTM [29] Các nguyên tắc sáp nhập, hợp nhất NHTM được quy định tại Điều 9 Thông tư 36/2015 Cụ thể như sau:

- Nguyên tắc thỏa thuận:

Các NHTM tham gia sáp nhập, hợp nhất được quyền thỏa thuận về việc giải quyết các quyền lợi và nghĩa vụ đối với các bên có liên quan sao cho phù hợpvới các quy định của pháp luật hiện hành Về nguyên tắc, hai bên chủ thể có quyền bình đẳng, không bên nào có quyền ép buộc bên nào Từ đàm phán, tham gia xây dựng đề án, hợp đồng, điều lệ sáp nhập, hợp nhất, các NHTM đều phải thỏa thuận, bàn bạc để cùng đi đến thống nhất ý kiến sao cho quyền và lợi ích hợppháp của các bên liên quan đều được đảm bảo, không trái với các quy định của pháp luật đã đề ra Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp các bên chủ thể đều có quyền tự do thỏa thuận sáp nhập và hợp nhất Với một số trường hợp ngoại lệ cần thiết, để đảm bảo cho việc sáp nhập, hợp nhất đảm bảo được quyền và lợi ích của các bên cũng như đảm bảo được sự ổn định của hoạt động tài chính kinh tế, nhà nước sẽ đặt việc sáp nhập hợp nhất này vào diện kiểm soát đặc biệt và phải thực hiện việc sáp nhập, hợp nhất theo yêu cầu của nhà nước

- Nguyên tắc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng trong quá trình sáp nhập, hợp nhất:

NHTM tham gia sáp nhập, hợp nhất phải đảm bảo không ảnh hưởng đến quyền lợi của khách hàng, đặc biệt là quyền lợi của người gửi tiền tại từng ngân hàng tham gia sáp nhập, hợp nhất Vì vậy, trong quá trình đàm phán cũng như đi đến những thỏa thuận trong hợp đồng sáp nhập, hợp nhất NHTM, không bên nào được đề xuất những điều khoản có lợi cho mình nhưng đi ngược lại lợi ích của khách hàng Không được có những hành động như giấu giếm, đưa thông tin sai sựthật, hoặc cản trở khách hàng rút tiền,… Đây là một trong những nguyên tắc quan

Trang 28

trọng mà các NHTM khi tham gia vào hoạt động sáp nhập, hợp nhất buộc phải tuân thủ.

- Nguyên tắc bảo mật thông tin:

Các thành viên Hội đồng quản trị hay Hội đồng thành viên, Ban kiểm soát,Tổng giám đốc và các tổ chức, cá nhân có liên quan của các NHTM tham gia sáp nhập, hợp nhất phải có trách nhiệm bảo mật thông tin Nguyên tắc này đòi hỏi khi quá trình sáp nhập, hợp nhất còn đang trong giai đoạn “phôi thai” thì các tổ chức,

cá nhân liên quan không được để lộ thông tin mà phải bảo mật thông tin thật nghiêm ngặt Vi phạm nguyên tắc này có thể dẫn đến sự hoang mang của khách hàng Ví dụ: sẽ làm cho người gửi tiền lo lắng sáp nhập sẽ không đảm bảo quyền lợi của mình nên đến các NHTM rút tiền hàng loạt Điều này gây bất ổn định cho hoạt động của các NHTM, có thể ảnh hưởng xấu đến khả năng thanh toán của cả

hệ thống NHTM Khi đề án sáp nhập, hợp nhất được cơ quan có thẩm quyền quyết định của ngân hàng thông qua thì lúc này các NHTM mới có quyền công bốthông tin, còn lại, bất cứ hành vi nào làm rò rỉ thông tin đều là bất hợp pháp

Nguyên tắc này nhằm đảm bảo hoạt động ổn định của NHTM tham gia sáp nhập, hợp nhất trước khi Đề án sáp nhập, hợp nhất được cơ quan có thẩm quyền quyết định của NHTM thông qua Các hồ sơ tài liệu liên quan đến việc sáp nhập, hợp nhất NHTM phải đảm bảo nguyên tắc thận trọng, trung thực, chính xác,không gây hiểu lầm

- Nguyên tắc chuyển nhượng, mua bán tài sản trong quá trình sáp nhập, hợp nhất

Việc chuyển nhượng, mua bán tài sản trong quá trình sáp nhập, hợp nhất phải đảm bảo công khai, minh bạch, tuân thủ quy định của pháp luật và thỏa thuậncủa các bên, đảm bảo an toàn tài sản và không ảnh hưởng đến quyền lợi của

Trang 29

NHTM tham gia sáp nhập, hợp nhất, tổ chức và cá nhân liên quan đến việc sáp nhập, hợp nhất Mọi hành vi tẩu tán tài sản dưới mọi hình thức đều bị nghiêm cấm.

Thông tin chuyển nhượng, mua bán tài sản này phải được cung cấp cho các chủ sở hữu là bắt buộc để họ có thể nắm được tiến trình các NHTM sáp nhập, hợp nhất và có những góp ý, kiến nghị trong phạm vi quyền và lợi ích hợp pháp của họ.Bên cạnh đó,thông tin chuyển nhượng, mua bán tài sản này còn phải cung cấp cho các tổ chức khác có thẩm quyền như: Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng trực thuộc NHNN; Cục quản lý cạnh tranh;… Các NHTM phải cung cấp thông tin cho các cơ quan liên quan để các cơ quan này có thể thực nắm được tìnhhình đang diễn ra đối với các NHTM đang sáp nhập, hợp nhất và có những can thiệp kịp thời khi cần thiết

1.3.4 Cấu trúc của pháp luật về sáp nhập và hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại

Trong hơn hai mươi năm tiến hành đổi mới, mở cửa thị trường, khuyến khích các thành phần kinh tế tiến hành đầu tư, đặc biệt là sự phát triển của lĩnh vực ngân hàng và nhu cầu tổ chức lại tổ chức tín dụng Để thực hiện hóa công việc đó, Ngânhàng nhà nước Việt Nam đã căn cứ vào các điều luật cơ bản của Luật Doanh nghiệp, Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Luật Các tổ chức tín dụng để ban hành là thông tư 36/2015/TT-NHNN có vai trò chủ đạo trong hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực tổ chức lại tổ chức tín dụng

Trong thông tư 36/2015/TT-NHNN đã tiến hành quy định cụ thể các điều khoản liên quan đến lĩnh vực sáp nhập, hợp nhất các tổ chức tín dụng Tại điều 10, Thông

tư đã đề cập đến các điều kiện có thể sáp nhập, hợp nhất như sau:

“1 Tổ chức tín dụng tham gia sáp nhập, hợp nhất phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

Trang 30

a) Không thuộc trường hợp tập trung kinh tế bị cấm, trừ trường hợp được miễn trừ đối với tập trung kinh tế bị cấm theo quy định của pháp luật về cạnh tranh;

b) Có Đề án sáp nhập, hợp nhất theo quy định tại Điều 13 Thông tư này được cơ quan có thẩm quyền quyết định của các tổ chức tín dụng tham gia sáp nhập, hợp nhất thông qua

2 Sau khi sáp nhập, hợp nhất, tổ chức tín dụng sau sáp nhập, tổ chức tín dụng hợp nhất phải bảo đảm tuân thủ các quy định của pháp luật về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn, tỷ lệ phần vốn góp, sở hữu cổ phần và điều kiện hoạt động ngân hàng.”

Các quy định thể hiện rõ chủ trương kiểm soát hoạt động sáp nhập, hợp nhất ngân hàng cần tiến hành trong khuôn khổ của hoạt động quản lý của các cơ quan có thẩm quyền Việc này giúp đảm bảo tính ổn định của hệ thống ngân hàng, giữ được dòng lưu chuyển tiền tệ và sự thống nhất của chính sách tài chính

Tuy nhiên, các quy định của Thông tư 36 này dù mang tính chất chủ đạo nhưng vẫn có rất nhiều sự dẫn chiếu đến các văn bản quy phạm pháp luật khác như các văn bản pháp luật về luật doanh nghiệp, luật cạnh tranh – các văn bản liên quan đến hình thức công ty và quan lý thị trường

1.4 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là NHTM

*/ Vấn đề sáp nhập, hợp nhất ngân hàng theo quy định của pháp luật Mỹ:

- Trường hợp sáp nhập, hợp nhất ngân hàng bình thường:

Tại Mỹ, mỗi bang đều có luật ngân hàng riêng, trong đó quy định hành lang pháp lý cho những ngân hàng thành lập theo luật pháp của bang đó Trước

Trang 31

đây, ngân hàng của mỗi bang không được phép mở chi nhánh hoặc phòng giao dịch tại các bang khác Tuy nhiên, theo FDIC, năm 1994, Đạo luật hiệu lực chi nhánh và ngân hàng liên bang Riegle Neal ra đời, đánh dấu một bước ngoặt trong lĩnh vực ngân hàng của Mỹ Kể từ tháng 6/1997, Đạo luật cho phép sáp nhập giữacác ngân hàng ở các vùng lãnh thổ khác nhau miễn là các ngân hàng này đầy đủ vốn đầu tư và quản lý, đánh giá của các cơ quan xếp hạng tín dụng được FDI chấpthuận Đạo luật cũng tăng thêm thời gian cho phép FDIC và Tập đoàn giải pháp tín thác (RTC) để xem xét lại các vụ kiện đã hết hạn theo quy định của luật liên bang Quản lý ngân hàng nhà nước đã ký kết Hiệp định Hợp tác Toàn quốc và Hiệp định kiểm soát liên bang cho phép việc giám sát phối hợp đối với Ngân hàngliên bang và Ngân hàng của bang [42]

Như vậy, khi Đạo luật Riegle Neal có hiệu lực, các ngân hàng không bị giới hạn trong hoạt động của tiểu bang của mình nữa mà có thể mở rộng hoạt động thường xuyên giữa các bang của nước Mỹ Ngoài ra, Đạo luật Riegle Neal không chỉ cho phép các công ty nắm giữ ngân hàng mua lại ngân hàng ở các tiểu bang khác mà còn cho phép các công ty này hợp nhất những ngân hàng mà họ sở hữu thành những ngân hàng với nhiều chi nhánh ở những tiểu bang khác nhau Việc cho phép các ngân hàng thực thi hoạt động ngân hàng liên bang thông qua các chi nhánh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi vì nhiều ngân hàng cảm thấy rằng không thể khai thác hết quy mô kinh tế chỉ bằng cơ cấu công ty nắm giữ ngân hàng, mà chỉ có thể thông qua mạng lưới chi nhánh mà trong đó tất cả các nghiệp vụ ngân hàng đều được phối hợp một cách toàn diện

Năm 1997, Quốc hội sửa Đạo luật Riegle Neal cho phép ngân hàng liên bang có vốn nhà nước hoạt động theo một luật thống nhất và cung cấp sản phẩm

và dịch vụ thống nhất với các ngân hàng quốc gia

Trang 32

- Trường hợp sáp nhập, hợp nhất giữa các ngân hàng gặp khó khăn:

Tất cả các ngân hàng đều có quyền thực hiện sáp nhập, hợp nhất với một ngân hàng khác Tuy nhiên, đối với những ngân hàng không thể tìm được một ngân hàng khác để tiến hành sáp nhập, hợp nhất thì bắt buộc phải nhờ đến sự can thiệp của FDIC

Tại Hoa Kỳ, nhiệm vụ sáp nhập, hợp nhất ngân hàng được giao cho FDIC FDIC được thành lập năm 1933 sau khủng hoảng tài chính đầu thế kỷ XX FDIC bắt đầu hoạt động ngày 01/04/1934 theo Luật Bảo hiểm tiền gửi ban hành năm 1933 Đây là mô hình bảo hiểm tiền gửi công khai đầu tiên trên thế giới FDIC có vị trí độc lập với Chính phủ và chịu sự kiểm soát trực tiếp hoạt động của Quốc hội Tính đến nay, FDIC là tổ chức bảo hiểm tiền gửi được đánh giá là có nhiều thành công, là mô hình được nhiều quốc gia tham khảo và vận dụng

Với mục tiêu chủ động giải quyết nhanh các vụ sáp nhập, hợp nhất đạt hiệu quả, Quốc hội đã dành cho FDIC những thẩm quyền đặc biệt để đạt được mục tiêu đó Cụ thể, FDIC được phép toàn quyền tiếp nhận và thanh lý tài sản của

tổ chức nhận tiền gửi thuộc diện sáp nhập, hợp nhất mà không chịu sự chi phối của cổ đông, Tòa án các cấp hay các cơ quan kiểm soát khác Ngoài ra, để đảm bảo khả năng thanh toán FDIC được FED và Bộ Tài chính Hoa Kỳ cấp hạn mức tín dụng đặc biệt là 30 tỷ USD để bù đắp các khoản thua lỗ do chi trả bảo hiểm, phát hành và bán các trái phiếu của công ty cho Ngân hàng Tài trợ Liên bang hoặcvay các thành viên của Quỹ theo giới hạn bằng hạn mức tín dụng đặc biệt hoặc số tiền mặt mà Quỹ bảo hiểm đang giữ, hoặc 90% so với giá trị tài sản của công ty tính theo giá thị trường

Trang 33

Theo phần 14, 15 Luật Bảo hiểm gửi tiền Mỹ, mọi công cụ nợ do FDIC phát hành hoặc đi vay đều có bảo lãnh của Chính phủ Mỹ theo nghĩa được coi nhưtiền vay của Kho Bạc Quốc hội Mỹ chấp nhận FDIC duy trì quỹ bảo hiểm ở mức tối thiểu 1,25% trên tổng số tiền bảo hiểm Khi Quỹ này xuống dưới mức 1,25%, FDIC được quyền điều chỉnh phí bảo hiểm để đảm bảo Quỹ đạt được mức tối thiểu trong thời gian 1 năm Việc Quốc hội Mỹ chấp thuận tỷ lệ này là một phần trong nỗ lực khẳng định các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phải gánh chịu chiphí cho hoạt động bảo hiểm tiền gửi thông quan nộp phí chứ không phải là ngân sách nhà nước.

Như vậy, có hai hình thức tiến hành sáp nhập, hợp nhất ngân hàng tại

Mỹ Thứ nhất, đối với các thương vụ sáp nhập, hợp nhất thông thường, các ngân hàng tự thương thảo với nhau, đệ trình lên FED, nếu được FED chấp nhận phương

án sáp nhập, hợp nhất thì sẽ tiến hành theo cách thông thường Thứ hai, đối với các trường hợp sáp nhập, hợp nhất cần sự can thiệp của FDIC thì hoạt động này được bắt đầu kể từ khi được FED gửi thư thông báo cho FDIC về kế hoạch sáp nhập, hợp nhất và chỉ định FDIC thực hiện FDIC sẽ dàn xếp để một hoặc một số ngân hàng mạnh chấp nhận mua lại một phần hoặc toàn bộ tài sản của ngân hàng thuộc diện sáp nhập, hợp nhất và tiếp nhận các nghĩa vụ nợ của tổ chức đó

*/ Vấn đề sáp nhập, hợp nhất ngân hàng theo quy định của pháp luật Hàn Quốc

Theo Luật số 5042 được ban hành ngày 19/12/1995 có quy định tại Điều

36 như sau: “Sắp xếp để sáp nhập: KDIC có thể sắp xếp việc sáp nhập, phân công công việc hay tiếp cận với các Tổ chức tài chính được bảo hiểm từ bên thứ ba (Sau đây gọi là “Sáp nhập các Tổ chức được bảo hiểm”)…”(Được sửa đổi theo Luật số 5492 ngày 31/12/1997; Luật số 6232 ngày 30/12/2000)

Trang 34

Như vậy, theo điều khoản này thì KDIC được Chính phủ Hàn Quốc giao nhiệm vụ sáp nhập, hợp nhất tổ chức tài chính [36] Cụ thể, KDIC sẽ có những quyền sau trong các thương vụ sáp nhập, hợp nhất:

Điều 36-3: Thành lập tổ chức dàn xếp về tài chính

(1) KDIC có thể thành lập tổ chức tài chính để tiến hành kinh doanh hay

cơ cấu lại tổ chức tài chính gặp khó khăn hay tiến hành giải quyết công việc của các tổ chức này (Sau đây gọi là Tổ chức dàn xếp về tài chính) khi có chấp thuận của Bộ trưởng Bộ Kinh tế và Tài chính khi thấy cần thiết bảo vệ người gửi tiền và

sự ổn định của hệ thống tài chính

(2) Tổ chức dàn xếp về tài chính phải là một công ty

(3) KDIC phải chuẩn bị quy định về sáp nhập bất cứ một Tổ chức dàn xếp về tài chính bao gồm những vấn đề sau: Mục đích; Tên giao dịch; Tổng vốn đầu tư; Số cổ phiếu phát hành tại công ty; Giá trị danh nghĩa của cổ phiếu; Địa điểm của trụ sở chính; Hình thức thông báo rộng rãi ra công chúng

(4) Vốn của bất kỳ Tổ chức dàn xếp tài chính nào phải do KDIC đống góp từ tài khoản của Quỹ bảo hiểm tiền gửi

(5) Tổ chức dàn xếp về tài chính có thể lấy danh nghĩa như các ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, ngân hàng thương mại, ngân hàng tiết kiệm hay tổ chức tín dụng áp dụng đối với tổ chức đó là tổ chức tài chính bị phá sản trong phạm vi có liên quan đến việc cơ cấu lại tổ chức tài chính mất khả năng thanh toán

Tại Hàn Quốc KDIC là một tổ chức độc lập thuộc Chính phủ, nên KDIC được trao quyền năng rất rộng.Cụ thể:

(1) Yêu cầu Chủ tịch FSC (quốc gia) đệ trình báo cáo kiểm soát tài chính của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị đổ vỡ;

(2) Yêu cầu những người điều hành tổ chức tài chính bồi thường vật chất

và những rủi ro do họ gây ra;

Trang 35

(3) Bộ trưởng Bộ tài chính hay văn phòng giám sát phải có nhiệm vụ thông báo ngay cho KDIC khi phát hiện tổ chức tham gia bảo hiểm có dấu hiệu nguy cơ mất khả năng thanh toán;

(4) Được quyền thành lập cơ quan nghiệp vụ để giải quyết các tổ chức tàichính bị đổ vỡ;

(5) Giám sát trực tiếp và đưa ra các biện pháp quản lý hoạt động đối với

tổ chức tài chính đổ vỡ thông qua các tổ chức nghiệp vụ;

(6) Khi cần thiết nếu không đủ vốn nhà nước KDIC được Chính phủ bảolãnh các khoản vay từ Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc

Riêng đối với nhiệm vụ giám sát trực tiếp và đưa ra các biện pháp quản lýhoạt động đối với tổ chức tài chính đổ vỡ thông qua các tổ chức nghiệp vụ, KDIC

có nhiệm vụ cụ thể đối với việc xử lý đổ vỡ ngân hàng, bao gồm hai giai đoạn cơ bản: Giai đoạn phục hồi (bao gồm các nghiệp vụ như hỗ trợ tài chính, mua lại nợ, thành lập ngân hàng bắc cầu,…); Giai đoạn thanh lý (sau khi áp dụng các biện pháp khác không hiệu quả thì KDIC áp dụng biện pháp cuối cùng là chi trả tiền gửi được bảo hiểm Khi đó, KDIC trở thành chủ nợ đối với số tiền đã chi trả cho người gửi tiền

KDIC đã thực hiện rất tốt chức năng tái cấu trúc hệ thống tài chính, ngân hàng sau khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997 thông qua một số công cụ của nghiệp vụ tiếp nhận xử lý như hỗ trợ tài chính, ngân hàng bắc cầu hoặc thông qua một số hoạt động như sáp nhập, mua lại tổ chức tài chính hoạt động yếu kém Để thực hiện tốt các nhiệm vụ trên, KDIC hoạt động theo mô hình tổ chức giảm thiểu rủi ro với chức năng rộng như kiểm tra, giám sát, xử lý đổ vỡ

Tóm lại, KDIC đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện tái cấu trúc

hệ thống ngân hàng quốc gia sau khủng hoảng tài chính khu vực Châu Á năm 1997

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Trang 36

Ngân hàng thương mại với tư cách là một pháp nhân dân sự đã hình thành, tồn tại cũng như phát triển ngày càng gắn liền chặt chẽ với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa - thị trường Sự phát triển của hệ thống các ngân hàng thương mại đã có tác động rất lớn và quan trọng đến sự phát triển của nền kinh tế nói riêng và sự phát triển xã hội nói chung Đối với nên kinh tế thị trường, NHTM thểhiện vai trò của mình thông qua các hoạt động tín dụng tạo lợi ích cho người gửi tiền, người vay tiền và cho cả ngân hàng thông qua chênh lệch lãi suất mà thu được lợi nhuận cho ngân hàng.

Để hoạt động thương mại có hiệu quả, các NHTM phải không ngừng tạo ra giá trị kinh tế cho chính bản thân chủ thể này cũng như cho toàn xã hội, kèm theo

đó, cũng phải không ngừng tái cơ cấu hệ thống tổ chức các ngân hàng nhằm tạo nên một hệ thống các ngân hàng có khả năng tạo lợi nhuận đóng góp cho sự phát triển của xã hội

Ngày nay, hệ thống các ngân hàng thương mại đang được tổ chức và cơ cấudưới nhiều hình thức Trong đó, hoạt động sáp nhập và hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại đang diễn ra ngày càng nhiều Dưới tác động của thị

trường kèm theo khả năng hoạt động thương mại của các tổ chức tín dụng (là ngân hàng thương mại), việc sáp nhập và hợp nhất các ngân hàng thương mại này đang là một biện pháp hữu ích trong hoạt động tái cơ cấu và tổ chức hệ thống ngân hàng thương mại cho mỗi quốc gia Lợi ích mà nó đem lại không chỉ dừng ởviệc hoàn thiện cơ cấu hệ thống tổ chức mà nó còn đem lại cho chính các ngân hàng thương mại trong quan hệ sáp nhập, hợp nhất trong việc hạn chế những yếu kém của pháp nhân cũ cũng như kết hợp được những điểm mạnh của từng pháp nhân trong quan hệ tái cơ cấu này

Trang 37

Việc thành lập nên một tổ chức tín dụng là Ngân hàng thương mại phải đáp ứng được rất nhiều điều kiện đặt ra, do chủ thể này có sự ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của cả hệ thống các tổ chức tín dụng cũng như sự phát triển của nền kinh tế - xã hội phụ thuộc vào nó Do vậy, một tât yếu của sự phát triển xã hội là các hoạt động của tổ chức pháp nhân này buộc phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật một cách chặt chẽ và thống nhất, đặc biệt là đối với việc sáp nhập, hợp nhất Sự điều chỉnh của pháp luật về sáp nhật, hợp nhất NHTM là vô cùng cần thiết trong bối cảnh nền kinh tế thị trường đang được xây dựng như hiện nay.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay

Trang 38

1.2 Một số nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam hiện nay về sáp nhập,

hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại.

1.3 Điều kiện sáp nhập, hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại ở Việt

Nam

Để hoạt động sáp nhập, hợp nhất TCTD nói chung và NHTM nói riêng được hợp pháp hóa và có giá trị pháp lý thì buộc những chủ thể thực hiện các hoạtđộng này phải tuân thủ theo những điều kiện nhất định mà pháp luật đặt ra.[36] Pháp luật Việt Nam điều chỉnh về vấn đề này cũng đã quy định ra những điều kiệncho từng hoạt động sáp nhập và hợp nhất như sau:

Thứ nhất, Tổ chức tín dụng tham gia sáp nhập, hợp nhất phải là chủ thể có quyền thực hiện hoạt động sáp nhập, hợp nhất, hay nói cụ thể hơn là việc sáp nhập, hợp nhất này không thuộc trường hợp tập trung kinh tế bị cấm, trừ trường hợp được miễn trừ đối với tập trung kinh tế bị cấm theo quy định của pháp luật cạnh tranh

“Điều 10 Điều kiện sáp nhập, hợp nhất

1 Tổ chức tín dụng tham gia sáp nhập, hợp nhất phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

a) Không thuộc trường hợp tập trung kinh tế bị cấm, trừ trường hợp được miễn trừ đối với tập trung kinh tế bị cấm theo quy định của pháp luật về cạnh tranh”- Điều 10 Thông tư số 36/2015/TT-NHNN.

Có thể nhận thấy, với quy định này, pháp luật Việt Nam cho phép tất cả các

tổ chức tín dụng nói chung hay các Ngân hàng thương mại nói riêng đều có quyềnthực hiện hoạt động sáp nhập, hợp nhất Tuy nhiên, không phải các quyền này lúc nào cũng được thực hiện một cách tuyệt đối Pháp luật dự liệu những trường hợp

Trang 39

không được phép thực hiện những hoạt động này theo quy định tại Điều 16 của nghị định (Được phân tích tại Mục 2.1.2 của luận văn) Quy định này hoàn toàn hợp lý khi pháp luật xây dựng không chỉ tạo cơ sở quyền lợi cho các chủ thể của quan hệ sáp nhập hợp nhất mà còn là căn cứ bảo vệ quyền và lợi ích chung của toàn xã hội, bảo vệ nền kinh tế trước các hành vi tập trung kinh tế gây mất cân bằng quyền lợi trong xã hội [30]

Quy định này cũng khá tiến bộ khi pháp luật không xem xét thiết lập quan

hệ sáp nhập, hợp nhất dưới góc độ quyền và tư cách của chủ thể tham gia mà lại quy định điều kiện thiết lập quan hệ dưới tính chất của hành vi Nếu như việc sáp nhập, hợp nhất đơn thuần là việc tái cơ cấu lại tổ chức tín dụng, hoạt động này đương nhiên là hợp pháp Tuy nhiên đối với một vài trường hợp, dựa vào việc sáp nhập, hợp nhất mà hướng tới mục tiêu khác như nhằm tập trung kinh tế, thâu tóm thị trường thì pháp luật buộc phải hạn chế hoặc cấm thực hiện

Thứ hai, Hoạt động sáp nhập, hợp nhất muốn được thực hiện phải đáp ứng điều kiện về việc có đề án sáp nhập, hợp nhất được cơ quan có thẩm quyền quyết định của các tổ chức tín dụng tham gia sáp nhập, hợp nhất thông qua Căn cứ theo

quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 10 Thông tư 36/TT-NHNN “b) Có Đề án sáp nhập, hợp nhất theo quy định tại Điều 13 Thông tư này được cơ quan có thẩm quyền quyết định của các tổ chức tín dụng tham gia sáp nhập, hợp nhất thông qua” Xây dựng một đề án cho hoạt động này là hoàn toàn hợp lý, bởi bản chất

của hoạt động sáp nhập, hợp nhất mang lại tác động nhiều và to lớn đến không chỉnền kinh tế quốc gia mà còn ảnh hưởng tới cả sự phát triển của toàn xã hội Đề án giống như một bản kế hoạch định hướng phát triển cho pháp nhân NHTM đã được tái cơ cấu có phương hướng phát triển ổn định và hiệu quả nhất

Trang 40

Nội dung của một bản đề án sáp nhập, hợp nhất phải đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu cơ bản nhằm làm rõ được toàn bộ nội dung của hoạt động sáp nhập, hợp nhất cũng như định hướng phát triển pháp nhân mới sau đó Bản đề án được thông qua bao gồm Thông tin của chủ thể tham gia quan hệ sáp nhập (Thông tin, địa chỉ của tổ chức tín dụng tham gia sáp nhập, hợp nhất; thông tin của chủ sở hữu cũng như các cá nhân có thẩm quyền liên quan đến hoạt động sáp nhập, hợp nhất của tổ chức tín dụng); thông tin về toàn bộ hoạt động và tình trạng pháp lý của tổ chức trước khi thực hiện sáp nhập hợp nhất (gồm: tình hình tài chính và kếtquả hoạt động; giá trị vốn điều lệ, nợ xấu;…); chương trình sáp nhập, hợp nhất (gồm: Lộ trình sáp nhập, hợp nhất; phương thức và thời gian chuyển đối vốn; tổ chức họp thông qua sáp nhập, hợp nhất; quyền và nghĩa vụ của các tổ chức tin dụng; phương án xử lý đối với người lao động; …); thông tin về vốn góp của cổ đông và sơ đồ tổ chức sau sáp nhập, hợp nhất; Biện pháp chuyển đổi và xử lý tác động của việc sáp nhập, hợp nhất… [2] Những nội dung này được pháp luật quy định chi tiết tại Khoản 2 Điều 13 Thông tư 36/TT-NHNN.

Bên cạnh việc phải đáp ứng đầy đủ những nội dung tối thiểu mà pháp luật quy định, bản đề án sáp nhập, hợp nhất còn phải được cơ quan có thẩm quyền quyết định của các tổ chức tín dụng tham gia sáp nhập, hợp nhất thông qua và được người đại diện hợp pháp của các tổ chức tín dụng tham gia sáp nhập, hợp nhất cùng ký tên, đóng dấu và chịu trách nhiệm Như vậy, bản đề án không chỉ đơn thuần là một bản kê khai chương trình kế hoạch cho hoạt động sáp nhập, hợp nhất mà còn là căn cứ chứng nhận hợp pháp cho sự kiện sáp nhập hợp nhất với sự thông qua của cơ quan có thẩm quyền quyết định và chữ ký của người đại diện hợp pháp của các tổ chức tham gia Khoản 1 Điều 13 Thông tư 36/TT-NHNN.Khi đáp ứng đầy đủ hai yêu cầu trên tại Khoản 2 Điều 10 Thông tư 36/TT-NHNN, các tổ chức tín dụng có thể được sáp nhập, hợp nhất Tuy nhiên, sau khi

Ngày đăng: 17/08/2020, 15:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Việt Anh (2005), “Phương pháp xác định giá trị cho Ngân hàng thương mại Việt Nam”. Tài liệu hội thảo hoàn thiện các phương pháp định giá doanh nghiệp trong cổ phần hóa và chuyển đổi DNNN Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp xác định giá trị cho Ngân hàng thương mại Việt Nam
Tác giả: Trần Việt Anh
Năm: 2005
14.GS.TSKH Nguyễn Duy Gia (2009), “Hội nhập kinh tế quốc tế-tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế”, NXB Đại học quốc gia TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập kinh tế quốc tế-tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế
Tác giả: GS.TSKH Nguyễn Duy Gia
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia TP.Hồ Chí Minh
Năm: 2009
18.Michael E.S. Frankel (2009), “M&A mua lại và sáp nhập căn bản”, NXB Tri Thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: M&A mua lại và sáp nhập căn bản
Tác giả: Michael E.S. Frankel
Nhà XB: NXB TriThức
Năm: 2009
32.Nguyễn Thị Loan (2010), “Thực trạng về sáp nhập mua lại ngân hàng tại Việt Nam”, Tạp chí Ngân hàng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng về sáp nhập mua lại ngân hàng tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Loan
Năm: 2010
4. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Các báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước VN qua các năm 2007 đến 2012, http://www.sbv.gov.vn Link
2. Arnold DJ, Quelch JA,( 1998). Các chiến lược mới trong nền kinh tế mới nổi. Sloan Management Review 40:7-20 Khác
3. Andrew J.Sherman, Milledge A.Hart, Timothy J.Galpin, Mark Herdon(2009) Cẩm nang hướng dẫn mua lại và sáp nhập, NXB Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh Khác
5. Cẩm nang mua bán và sáp nhập tại Việt Nam (2009), NXB Hà Nội Khác
6. Andrew J.Sherman, Milledge A. Hart.(2009). Mua lại và sáp nhập Từ A đến Z. NXB Tri Thức Khác
7. Nguyễn Ngọc Bích (2008), Doanh nhân và vấn đề quản trị doanh nghiệp, NXB Trẻ Khác
8. Phạm Văn Bình (2007), Chuyên đề 1, Định giá doanh nghiệp. tài liệu cập nhật kiến thức KTV, Học viện Tài chính, Hà Nội Khác
9. Chanmugam R, Shill W, Mann D, Ficery K, Pursche B (2005), Căn phòng sạch thông minh: bảo đảm nắm bắt giá trị trong sáp nhập và mua lại. Tạp chí Chiến lược Kinh doanh số 3 tập 26 tr.43-49 Khác
10.TS.Nguyễn Đình Cung. TS Lưu Minh Đức (2007), Thâu tóm và hợp nhất từ khía cạnh quản trị công ty: Lý luận, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam Khác
11.Lưu Minh Đức (2008), Thâu tóm và hợp nhất nhìn từ khía cạnh quản trị công ty: Lý luận, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam, Tạp chí quản lý kinh tế, số 7+8 Khác
12.Dominic Scriven, M&A trên thế giới và ở Việt Nam dưới góc độ quản trị, Hội thảo M&A Việt Nam 2008, Cơ hội và kinh nghiệm, Hà Nội, 11/6/2009 Khác
13.TS. Phạm Trí Hùng và LS. Đặng Thế Đức (2011), M&A sáp nhập và mua lại doanh nghiệp Việt Nam, NXB Lao động - Xã hội Khác
15.Kummer C,(2008). Động lực và giữ chân những người chủ chốt trong sáp nhập và mua lại. Đánh giá chiến lược nhân sự số 6, tập 7 Khác
16.Lai S. Đại học Oxford (2002), Những ảnh hưởng của vụ sáp nhập và mua lại xuyên biên giới bởi các TNC ở các nước đang phát triển: hướng dẫn cho người mới bắt đầu. Sê-ri tài liệu QEH QEHWPS88 Khác
17.TS. Nguyễn Thị Loan (2011), Hoạt động mua bán, sáp nhập các ngân hàng thương mại Việt Nam thực trạng và giải pháp. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành, Mã số: KNH 2010 – 03 Khác
19.TS. Lê Xuân Nghĩa (2006), Bàn về việc hình thành tập đoàn tài chính – ngân hàng ở Việt Nam, NXB Văn hóa –Thông tin Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w