1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn trách nhiệm của doanh nghiệp theo pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm

119 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 221,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy nhu cầu buộccác doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm an toàn đối với thành phố Hà Nội càng bức xúc hơn so với các tỉnh, thành phố trong cả nước Vì vậy, việc nghiên cứu thự

Trang 1

MỤC L

YLỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 5

4.1 Phạm vi nghiên cứu 5

4.2 Đối tượng nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu: 5

6 Bố cục luận văn 6

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA DOANH NGHIỆPĐỐI VỚI AN TOÀN THỰC PHẨM 7

1.1.Một số khái niệm cơ bản 7

1.1.1.Khái niệm về thực phẩm và an toàn thực phẩm 7

1.1.2.Điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm 12

1.2.Vai trò của pháp luật về an toàn thực phẩm trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay 13

1.3.Cơ sở lý luận về trách nhiệm của Doanh nghiệp đối với an toàn thực phẩm .17

1.3.1.Khái niệm trách nhiệm của Doanh nghiệp đối với an toàn thực phẩm .17 1.3.2.Cơ sở hình thành trách nhiệm của DN đối với an toàn thực phẩm 26

1.4.Nội dung trách nhiệm của Doanh nghiệp theo pháp luật an toàn thực phẩm .30

1.4.1.Căn cứ xác định trách nhiệm của doanh nghiệp theo pháp luật về an toàn thực phẩm 30

1.4.2.Chủ thể của trách nhiệm theo pháp luật về an toàn thực phẩm 31

1.4.3.Nội dung của trách nhiệm theo pháp luật về an toàn thực phẩm 32

Trang 2

1.4.4.Phạm vi trách nhiệm theo pháp luật về an toàn thực phẩm 381.4.5 Miễn trừ trách nhiệm của doanh nghiệp theo pháp luật về ATTP 391.4.6.Thời hiệu chịu trách nhiệm của Doanh nghiệp theo pháp luật về an toàn thực phẩm 40TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 42CHƯƠNG II 43THỰC TRẠNG VỀ TRÁCH NHIỆM DOANH NGHIỆP

THEO PHÁP LUẬT VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM 432.1 Thực trạng điều chỉnh pháp luật về trách nhiệm của Doanh nghiệp đối với

an toàn thực phẩm theo pháp luật hiện hành tại VIệt Nam 432.1.1.Quy định của pháp luật về trách nhiệm của Doanh nghiệp kinh doanh liên quan đến an toàn thực phẩm 432.1.2 Thực trạng quy định của pháp luật về việc đảm bảo an toàn thực phẩm của Doanh nghiệp trong chế biến, kinh doanh thực phẩm 592.1.3 Thực trạng quy định của pháp luật về việc đảm bảo an toàn thực phẩm của Doanh nghiệp trong quá trình sản xuất rau, quả; nuôi trồng, khai thác, chếbiến thủy sản; trong chăn nuôi giết mổ gia súc, gia cầm 622.2.Thực trạng áp dụng pháp luật về trách nhiệm của doanh nghiệp về an toànthực phẩm nhìn từ thực tiễn tại Hà Nội 662.3.Thực tiễn về kiểm tra giám sát về trách nhiệm của doanh nghiệp đảm bảo

an toàn thực phẩm 69TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 77Chương 3 78

Trang 3

SỰ CẦN THIẾT VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬTVỀ TRÁCH NHIỆM DOANH NGHIỆP VỀ AN TOÀN THỰC PHẨMTẠI VIỆTNAM 783.1 Sự cần thiết phải tăng cường trách nhiệm doanh nghiệp về vấn đề an toànthực phẩm tại Việt Nam 783.1.1 Thứ nhất, yêu cầu của quá trình đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường hội nhập quốc tế 783.1.2 Thứ hai, tình trạng vệ sinh an toàn thực phẩm đã ở mức báo động 813.1.3 Thứ ba, người tiêu dùng luôn là bên yếu thế hơn so với các doanh nghiệp 823.2 Giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của Doanhnghiệp về an toàn thực phẩm 843.2.1 Hoàn thiện các quy định chung của pháp luật về an toàn thực phẩm vàtrách nhiệm của Doanh nghiệp kinh doanh liên quan đến an toàn thựcphẩm……… ………… 853.2.2 Hoàn thiện các quy định về kiểm tra, xử lý vi phạm trong hoạt động kinh doanh liên quan đến vệ sinh an toàn thực phẩm …….………873.3 Giải pháp thực hiện nhằm tăng cường hiệu quả của pháp luật về trách nhiệm của Doanh nghiệp về an toàn thực phẩm……… 893.3.1 Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm phù hợp với thực tiễn của đất nước và chuẩn mực pháp lý quốc tế …… 893.3.2 Từng bước hoàn thiện chế độ, chính sách trong công tác bảo đảm

ATTP……… 933.3.3 Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về an toàn thực phẩm…….933.3.4 Tăng cường năng lực của hệ thống quản lý nhà nước về ATTP…… 953.3.5 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm……… 963.3.6 Tăng cường đào tạo, tập huấn cho mạng lưới triển khai ATTP và đẩy mạnh nghiên cứu khoa học……….99TIỂU KẾT CHƯƠNG 3………101

Trang 4

KẾT LUẬN……… 103DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 106

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 ATTP: An toàn thực phẩm

2 Codex: Ủy ban Tiêu chuẩn thực phẩm Quốc tế

3 DN: Doanh nghiệp

4 EU: Liên minh Châu Âu

5 FAO: Cơ quan Nông nghiệp và Thực phẩm Hoa Kỳ

6 HACCP: Hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn

7 IPPC: Công ước Bảo vệ thực vật quốc tế

18 VSATTP : Vệ sinh an toàn thực phẩm

19 WTO : Tổ chức thương mại thế giới

20 WHO : Tổ chức Y tế thế giới

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

g

1 Biểu đồ 3.1 Đánh giá về việc phân công

trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực

phẩm

87

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Thực phẩm đóng vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống của tất cả mọingười trong xã hội, giúp con người duy trì cuộc sống, phát triển giống nòi, trítuệ và thể lực Tuy nhiên thực phẩm nếu không đảm bảo an toàn sẽ không chỉgây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và cuộc sống của mỗi người, mà còngây thiệt hại lớn về kinh tế, là gánh nặng chi phí của chăm sóc sức khỏe Do

đó, đảm bảo ATTP cho mỗi người dân luôn là mối quan tâm hàng đầu trongviệc phát triển kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia

Tại các nước phát triển, hệ thống quản lý ATTP và trách nhiệm củanhà sản xuất được đầu tư và phát triển rất mạnh mẽ đảm bảo sự an toàn của xãhội và sự an tâm của người tiêu dùng Ở Việt Nam, nhà nước cũng đã xácđịnh đảm bảo ATTP là nhiệm vụ quan trọng của Chính phủ và nhiều bộngành Nếu như trước đây sản xuất, kinh doanh thực phẩm còn nhỏ lẻ, quy

mô hộ gia đình thì giờ đây nguồn thực phẩm đã ngày càng đa dạng, phongphú hơn Các cơ sở sản xuất, kinh doanh và chế biến thực phẩm ở những quy

mô khác nhau cũng ngày càng nhiều hơn và sự giao lưu thực phẩm cũng ngàycàng phát triển hơn trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế Người dânđược tiếp xúc nhiều hơn với sự đa dạng của nhiều loại thực phẩm trong nước

và nước ngoài do đó cần phải kiểm soát chặt chẽ hơn để đảm bảo sức khỏecho người dân, tránh những trường hợp xấu có thể xảy ra như ngộ độc cấptính hay nhiễm độc tích lũy, đảm bảo sự ổn định chính trị và phát triển kinh tếcủa toàn xã hội, sự hội nhập và giao lưu quốc tế Hiện nay, trong các bộ luậthình sự, luật dân sự, luật bảo vệ người tiêu dùng đều có những điều khoảnliên quan đến việc quy định trách nhiệm của sản xuất, kinh doanh thực phẩm.Bên cạnh đó, ngành Y tế cũng đã phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, các tổchức chính trị - xã hội triển khai nhiều hoạt động đảm bảo vệ sinh an toàn

Trang 8

thực phẩm trên khắp cả nước, ban hành các nghị định, thông tư hướng dẫnquy định các điều kiện buộc doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm đối vớingười tiêu dùng, đối với xã hội và đối với các cơ quan quản lý nhà nước vềATTP

Như chúng ta đã biết Hà Nội là một thành phố lớn và đông dân nhất

cả nước, là đầu mối giao lưu trong nước và quốc tế Nhu cầu tiêu dùng củathành phố Hà Nội rất lớn, trong lúc thành phố chỉ tự cung cấp được khoảng30% lượng thực phẩm tiêu dùng Nhưng ngược lại, thành phố Hà Nội lại tậptrung nhiều cơ sở sản xuất, chế biến và kinh doanh thực phẩm, cung ứng cho

cả nước và xuất khẩu Do đó, nguồn nguyên liệu lương thực và thực phẩm docác tỉnh đổ vào thành phố hằng ngày với khối lượng lớn Vì vậy nhu cầu buộccác doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm an toàn đối với thành phố

Hà Nội càng bức xúc hơn so với các tỉnh, thành phố trong cả nước

Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng về cơ sở quản lý quy định tráchnhiệm của doanh nghiệp và đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống phápluật về ATTP nhằm nâng cao trách nhiệm của DN ATTP ở Hà Nội có tầmquan trọng đặc biệt, không chỉ cho người dân của thành phố mà còn ảnhhưởng đến cả nước

Từ thực tiễn đấy, tôi chọn đề tài “ Trách nhiệm của doanh nghiệptheo pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm” nhằm mục đính mô tả, phân tíchthực trạng về hệ thống pháp luật quy định trách nhiệm của doanh nghiệp tronglĩnh vực vệ sinh ATTP để từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm hoànthiện hơn pháp luật về trách nhiệm của doanh nghiêp trong lĩnh vực ATTP ởViệt Nam

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong giai đoạn hiện nay, trách nhiệm của doanh nghiệp đối với an toànthực phẩm là một vấn đề hết sức quan trọng, không chỉ ảnh hưởng trực tiếp

Trang 9

tới người tiêu dùng mà còn có tác động đến sự phát triển nền vững của cácdoanh nghiệp làm ăn chân chính cũng như của nền kinh tế đất nước Vấn đềtrách nhiệm của doanh nghiệp đối với an toàn thực phẩm mặc dù xuất hiện vàđược đề cập chưa lâu ở Việt Nam nhưng đã được một số tác giả quan tâmnghiên cứu như:

- Luận án tiến sỹ luật học “ Giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùngvới thương nhân ở Việt Nam hiện nay”, của tác giả Nguyễn Trọng Điệp bảo

vệ năm 2014 tại Học viện khoa học xã hội

- Luận văn “ Kiện toàn tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính bảođảm ATTP trong ngành y tế”, của TS Lâm Quốc Hùng bảo vệ năm 2007

- Luận văn “ Quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm ở ViệtNam” của Bùi Thị Hồng Nương bảo vệ năm 2011

- Bài viết “ Luật bảo vệ người tiêu dùng quy định càng đơn giản, tínhkhả thi càng cao” của Tiến sĩ Nguyễn Văn Cương đăng trên tạp chí Nghiêncứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, số 24/2009

- Luận văn “ Pháp luật về ATTP từ thực tiễn kiểm dịch động vật , kiểmsoát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y tại thành phố Hồ Chí Minh” của NguyễnKhắc Trung Kiên bảo vệ năm 2014

- Đề tài NCKH cấp Bộ “ Luận cứ khoa học của tổ chức thị trường và lưuthông một số mặt hàng thiết yếu theo yêu cầu bảo hộ sản xuất trong nước vàbảo vệ người tiêu dùng” Đề tài được thực hiện bởi Viện nghiên cứu thươngmại do PGS.TS Đinh Văn Thành làm chủ nhiệm đề tài

- Đề tài “ Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về chất lượng, vệ sinhATTP thủy sản trong điều kiện Việt Nam hội nhập WTO” của Nguyễn ThànhHuy bảo vệ năm 2009

Các công trình nghiên cứu về vấn đề an toàn thực phẩm và người tiêudùng đã và đang có những đóng góp không nhỏ tăng cường thực thi pháp luật

Trang 10

về an toàn thực phẩm ở Việt Nam Tuy nhiên, đối với lĩnh vực “trách nhiệmdoanh nghiệp đối với vấn đề an toàn thực phẩm”, hiện tại ở Việt Nam chưa cócông trình nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu mang tính hệ thống về nộidung này Đây cũng là khó khăn đối với học viên trong việc tìm kiếm nguồnnguyên liệu để hoàn thành luận văn tốt nghiệp với đề tài “ Trách nhiệm củadoanh nghiệp theo pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm”, nhưng cũng là cơhội để học viên nghiên cứu, làm giàu có thêm tri thức khoa học vè lĩnh vựcnày

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận,đánh giá đúng thực trạng và bước đầu đưa ra một số giải pháp, kiến nghị gópphần hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của doanh nghiệp trong lĩnh vực vệsinh ATTP

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu của mình, tôi xác định các nhiệm vụnghiên cứu cần được thực hiện sau đây

- Thu thập và nghiên cứu các tài liệu về ATTP, bảo đảm an toàn thựcphẩm và các tài liệu khác có liên quan đến đề tài luận văn làm cơ sở cho việcnhận thức và xác định các phương pháp nghiên cứu phù hợp

- Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về ATTP, ngộ độc thực phẩm, bảo đảmATTP, trách nhiệm của DN, của người tiêu dùng và của cơ quan quản lý nhànước theo pháp luật về ATTP

- Thu thập, xử lý số liệu thống kê của các cơ quan, tổ chức có liên quanđến đề tài luận văn qua đó phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của các

DN SX, KD thực phẩm hiện nay

Trang 11

- Chỉ ra những bất cập trong hệ thống pháp luật về ATTP hiện nay, đưa

ra phương pháp và các giải pháp góp phần hoàn thiện về mặt pháp luật để có

cơ sở ràng buộc trách nhiệm của DN trong SX, KD thực phẩm an toàn tạiViệt Nam

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

4.1 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu là trách nhiệm của

DN theo pháp luật về ATTP

- Về thời gian: đề tài sử dụng những nghiên cứu trong vòng 8 năm, từnăm 2008 đến năm 2016, bao gồm các số liệu thống kê về tình hình hoạt độngcủa các DN về lĩnh vực ATTP, những vụ việc về ngộ độc thực phẩm, cơ chếgiải quyết khiếu nại

- Về không gian: đề tài luận văn nghiên cứu về thực tiễn trách nhiệm của

DN về ATTP ở Việt Nam

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tập trung nghiên cứu trách nhiệm củadoanh nghiệp buộc phải thực hiện theo các quy định pháp luật về ATTP vàthực trạng DN thực hiện trách nhiệm theo các quy định pháp luật về ATTPhiện hành từ thực tiễn TP Hà Nội

5 Phương pháp nghiên cứu:

Để làm rõ các vấn đề nghiên cứu, luận văn được nghiên cứu trên cơ sởphương pháp luận là chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biệnchứng Đây là phương pháp luận khoa học được vận dụng nghiên cứu trongtoàn bộ luận văn để đánh giá khách quan thực trạng của pháp luật về tráchnhiệm của DN trong lĩnh vực ATTP

Trên cơ sở đó, luận văn áp dụng các phương pháp nghiên cứu, cụ thể là:

- Phương pháp phân tích số liệu

Trang 12

- Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp thống kê và dự báo

- Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số các phương pháp khác như :phương pháp quy nạp và diễn dịch; mô tả; so sánh

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA DOANH

NGHIỆP ĐỐI VỚI AN TOÀN THỰC PHẨM

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm về thực phẩm và an toàn thực phẩm

+ Thực phẩm

Để sinh tồn, cơ thể chúng ta cần đến năng lượng cũng như động cơ cầnđến xăng dầu Thực phẩm cung cấp những yếu tố mà cơ thể hấp thụ được đểtạo thành năng lượng giúp chúng ta tồn tại, lao động và phát triển Do đó,thực phẩm chính là chìa khóa của sức khỏe, đóng góp một phần quan trọngtrong cuộc sống hàng ngày của chúng ta Thực phẩm được hiểu chung nhưmột loại thức ăn hay bất kỳ vật phẩm nào mà con người có thể ăn hay uốngđược với mục đích cơ bản là thu nạp các chất dinh dưỡng nhằm nuôi cơ thểhay vì sở thích

Hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về thực phẩm Theo pháplệnh vệ sinh ATTP số 12/2003/PL-UBTVQH ngày 26/07/2003 của Ủy banthường vụ Quốc Hội thì: “Thực phẩm là những sản phẩm mà con người ăn,uống ở dạng tươi, sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản”

Theo Codex thì: “Thực phẩm là tất cả các chất đã hoặc chưa chế biếnnhằm sử dụng cho con người bao gồm đồ ăn, uống, nhai, ngậm, hút và cácchất được sử dụng để sản xuất, chế biến hoặc xử lý thực phẩm, nhưng khôngbao gồm mỹ phẩm và những chất chỉ dùng như dược phẩm”

Bên cạnh đó, để phù hợp với hệ thống tiêu chuẩn của các nước trong khuvực và thế giới, Luật ATTP số 55/2010/QH12 ngày 17/06/2010 định nghĩa: “Thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua

Trang 14

sơ chế, chế biến, bảo quản Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá vàcác chất sử dụng như dược phẩm”

+ An toàn, vệ sinh an toàn thực phẩm

An toàn thực phẩm hay Vệ sinh an toàn thực phẩm hiểu theo nghĩa hẹp

là một môn khoa học dùng để mô tả việc xử lý, chế biến, bảo quản và lưu trữthực phẩm bằng những phương pháp phòng ngừa, phòng chống bệnh tật dothực phẩm gây ra An toàn thực phẩm cũng bao gồm một số thói quen, thaotác trong khâu chế biến cần được thực hiện để tránh các nguy cơ gây ảnhhưởng xấu tới sức khỏe An toàn thực phẩm luôn là vấn đề được quan tâmngày càng sâu sắc trên toàn cầu bởi vai trò quan trọng bậc nhất đó chính làsức khỏe, tính mạng con người, sự tồn tại và phát triển giống nòi [57]

Trước đây, theo Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm số12/2003/PLUBTVQH11 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, vệ sinh an toàn thựcphẩm được hiểu là việc phải thực hiện các điều kiện và biện pháp cần thiết để bảođảm cho thực phẩm không gây hại đến sức khỏe và tính mạng con người

Theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5603:1998 đã định nghĩa: “Vệ sinhATTP là mọi điều kiện và mọi biện pháp cần thiết để đảm bảo sự an toàn vàphù hợp của thực phẩm ở mọi khâu thuộc chu trình thực phẩm, chu trình thựcphẩm được xem như từ khâu ban đầu đến người tiêu dùng cuối cùng”

Tuy nhiên để phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế sau khi Việt Namchính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào 01/01/2007, kháiniệm này đã được đơn giản hóa, ngắn gọn và phù hợp hơn được thể hiện trongLuật An toàn thực phẩm có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2011, an toàn thựcphẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạngcon người

Trang 15

Có thể hiểu một cách đơn giản an toàn thực phẩm là những vấn đề liênquan đến việc giữ trạng thái thực tế của thực phẩm đạt một định mức tiêuchuẩn chất lượng nhất định có thể đảm bảo an toàn cho sức khỏe của ngườitiêu dùng khi sử dụng Và vệ sinh an toàn thực phẩm cũng có thể được hiểu

là một loạt các tác động trong quá trình xử lý, chế biến, bảo quản và lưu trữthực phẩm bằng những phương pháp phòng ngừa, loại bỏ những tác hại màthực phẩm có thể gây ra cho sức khỏe con người

Để hiểu rộng và sâu hơn về ATTP nhằm làm rõ trách nhiệm của DNtrong lĩnh vực ATTP, thì các khái niệm liên quan đến ATTP cũng cần đượclàm rõ như ngộ độc thực phẩm, ô nhiễm thực phẩm, sự cố về an toàn thựcphẩm

+ Ngộ độc thực phẩm

Thực phẩm là nhu cầu thiết yếu hằng ngày của con người, cung cấp chocon người nguồn dinh dưỡng, năng lượng để con người sống và phát triển.Tuy nhiên khi bị nhiễm độc, nhiễm khuẩn thì thực phẩm lại là nguồn truyềnbệnh nguy hiểm gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của con người.Ngộ độc thực phẩm hay còn gọi là ngộ độc thức ăn là các biểu hiện bệnh lýxuất hiện sau khi ăn, uống và cũng là hiện tượng người bị trúng độc, ngộ độc

do ăn, uống phải phải những loại thực phẩm nhiễm khuẩn, nhiễm độc hoặc cóchứa chất gây ngộ độc hoặc thức ăn bị biến chất, ôi thiu, có chất bảo quản,phụ gia

Theo luật ATTP số 55/2010/QH12 ngày 17/06/2010 thì: “Ngộ độc thựcphẩm là tình trạng bệnh lý do hấp thụ thực phẩm bị ô nhiễm hoặc có chứachất độc”

Ngộ độc thực phẩm không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe, tínhmạng người bị ngộ độc mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của DN nếu

Trang 16

xảy ra ngộ độc thực phẩm tập thể tại DN, thậm chí ảnh hưởng đến cộng đồng

và tài lực của cả xã hội

+ Ô nhiễm thực phẩm

Thực phẩm có thể ô nhiễm do mối nguy có bản chất sinh học, hóa họchay vật lý gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng Vi sinh vật có thể tồntại ở nguyên liệu tươi sống hoặc nhiễm vào thức ăn, đồ uống do sai sót trongquá trình sản xuất, chế biến, bảo quản và phục vụ ăn uống

Theo luật ATTP số 55/2010/QH12 ngày 17/06/2010 thì: “ Ô nhiễm thựcphẩm là xuất hiện tác nhân làm ô nhiễm thực phẩm gây hại đến sức khỏe, tínhmạng con người”

Hiện nay công tác đảm bảo ATTP có một vai trò hết sức quan trọngtrong chiến lược bảo vệ sức khỏe con người Sử dụng thực phẩm đã bị ônhiễm có thể dẫn đến ngộ độc cấp tính với các triệu chứng ồ ạt dễ nhận thấy,nhưng vấn đề nguy hiểm hơn nữa là sự tích lũy chất độc sau một thời gianmới phát bệnh hoặc có thể gây dị tật, dị dạng cho các thế hệ sau Một số hóachất độc hại, độc tố vi nấm, vi khuẩn và độc tố vi khuẩn nhiễm vào thức ăn,nước uống tuy ở liều lượng thấp nhưng với thời gian dài cũng có thể gây racác bệnh nguy hiểm như ung thư hoặc rối loạn chức năng thần kinh, tiêu hóa,tuần hoàn của cơ thể

+ Sự cố về an toàn thực phẩm

Sự cố được hiểu như là nguyên nhân của hiện tượng bất thường hay tìnhhuống bất thường xảy ra trong quá trình hoạt động nào đó Thường khi nóiđến sự cố, sự việc, hoạt động hay tình huống đó được hiểu theo nghĩa khôngtốt

Nói về sự cố ATTP thì được hiểu thực phẩm đã tác động và ảnh hưởngkhông tốt đến sức khỏe của người tiêu dùng, sức khỏe hoặc có thể là tínhmạng người tiêu dùng bị ảnh hưởng tiếp do thực phẩm không an toàn gây ra

Trang 17

Vì vậy, luật ATTP số 55/2010/QH12 ngày 17/06/2010 đã quy định: “ Sự cố

về ATTP là tình huống xảy ra do ngộ độc thực phẩm, bệnh truyền qua thựcphẩm hoặc các tình huống khác phát sinh từ thực phẩm gây hại trực tiếp đếnsức khỏe, tính mạng con người”

+ Chất lượng thực phẩm

Mức sống ngày càng được nâng cao nên nhu cầu thực phẩm ngày càngphong phú và đa dạng về chất lượng và số lượng Điều đó dẫn đến sự pháttriển tràn lan của các cơ sở sản xuất, chế biến, dịch vụ thực phẩm đặc biệt làloại hình chế biến quy mô nhỏ mới chỉ phát triển về lượng chứ chưa phát triển

về chất, còn rất lạc hậu và gây mất vệ sinh ATTP

Theo điều 3 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa quy định “ Chất lượngsản phẩm, hàng hóa là mức độ của các đặc tính của sản phẩm, hàng hóa đápứng yêu cầu trong tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tươngứng”

Trong khi đó quy chuẩn kỹ thuật là quy định về mức giới hạn của đặctính kỹ thuật và yêu cầu quản lý mà sản phẩm, hàng hóa phải tuân thủ để đảmbảo an toàn,vệ sinh, sức khỏe con người, bảo vệ động vật, thực vật, môitrường, quyền lợi của người tiêu dùng”

Theo tập san ATTP sức khỏe và đời sống xã hội của Bộ Y Tế năm 2002thì: “ Ngoài chất lượng hàng hóa ra, chất lượng thực phẩm gồm cả bao bì,đóng gói và cả chất lượng dịch vụ, phương tiện đưa sản phẩm thực phẩm đóđến tay người tiêu dùng” [53]

Theo tài liệu tập huấn năm 2001 của Cục An toàn vệ sinh thực phẩm cónêu: “Chất lượng là toàn bộ các đặc tính của một thực thể, tạo cho thực thể đókhả năng thỏa mãn các nhu cầu đã công bố hay còn tiềm ẩn Chất lượng thựcphẩm chính là chất lượng hàng hóa Chất lượng hàng hóa lại bao gồm: chất

Trang 18

lượng bao bì, giá trị đích thực của thực phẩm, kiểu dáng, mẫu mã, nhãn sảnphẩm, được đảm bảo cho đến khi tới người tiêu dùng”.

1.1.2 Điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm

Vệ sinh an toàn là tiêu chuẩn đầu tiên của thực phẩm Để tăng lợi thếcạnh tranh trên thị trường thương mại quốc tế, thực phẩm không những cầnđược sản xuất, chế biến, bảo quản phòng tránh sự ô nhiễm các loại vi sinh vật

mà còn không được chứa các chất hóa học tổng hợp hay tự nhiên vượt quámức quy định cho phép của tiêu chuẩn quốc tế và quốc gia gây ảnh hưởngđến sức khỏe người tiêu dùng

Để có được thực phẩm an toàn thì các điều kiện tác động đến thực phẩmphải đảm bảo an toàn, điều kiện trong ATTP được hiểu bao gồm các yếu tốảnh hưởng đến ATTP trong suốt quá trình từ khâu trồng trọt, chăn nuôi, giết

mổ, vận chuyển cho đến khâu sơ chế, chế biến và ra bàn ăn Cụ thể như quyđịnh các chỉ tiêu về kỹ thuật cho từng nhóm thực phẩm khi sản xuất; ở khâuvận chuyển phải đảm bảo phương tiện và nhiệt độ vận chuyển phù hợp vớitừng loại thực phẩm; ở khâu chăn nuôi, trồng trọt phải đảm bảo các yếu tốnhư môi trường, nguồn thức ăn chăn nuôi hay phân bón cho cây trồng, nguồnnước, điều kiện khí hậu ; ở khâu sơ chế và chế biến phải đảm bảo các điềukiện vệ sinh nhà xưởng, trang thiết bị, môi trường, con người, ; ở khâu giết

mổ phải đảm bảo điều kiện về cơ sở vật chất và vệ sinh nhà xưởng giết mổ,con người tham gia giết mổ, điều kiện bảo quản thực phẩm sau khi giết mổ

Để các điều kiện ATTP được hiểu khách quan, xuyên suốt, vận dụngthống nhất trên cả nước, tránh tình trạng hiểu theo cảm tính, suy luận và vậndụng mang tính cá nhân, tại điều 2 luật ATTP số 55/2010/QH12 ngày17/06/2010 quy định: “ Điều kiện bảo đảm ATTP là những quy chuẩn kỹthuật và những quy định khác đối với thực phẩm, cơ sở SX, KD thực phẩm vàhoạt động SX, KD thực phẩm do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền

Trang 19

ban hành nhằm mục đích bảo đảm thực phẩm an toàn đối với sức khỏe, tínhmạng con người”

Các điều kiện đảm bảo ATTP cho từng nhóm thực phẩm, từng loại hình

SX, KD thực phẩm được quy định chi tiết trong các văn bản quy định của cơquan có thẩm quyền

1.2 Vai trò của pháp luật về an toàn thực phẩm trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay.

Sự bùng nổ dân số cùng với đô thị hóa nhanh dẫn đến thay đổi thói quen

ăn uống của người tiêu dùng, họ luôn đòi hỏi đến sự an toàn, cân bằng dinhdưỡng, hợp khẩu vị, thuận tiện nhằm thỏa mãn nhu cầu thay đổi phong cáchsống hiện nay

Tuy nhiên ở nước ta vấn đề thực phẩm đang còn rất nhiều tồn tại Việc

sử dụng các thực phẩm không đảm bảo vệ sinh trước mắt có thể gây ngộ độccấp tính với các triệu chứng dễ nhận thấy, nhưng vấn đề nguy hiểm là sự tíchlũy các chất độc hại ở một số cơ quan trong cơ thể Sau một thời gian bệnhmới biểu hiện hoặc có thể gây các dị tật, dị dạng cho thế hệ mai sau Nhữngảnh hưởng tới sức khỏe đó phụ thuộc vào các tác nhân gây bệnh

Theo thống kê của Bộ Y tế trong những năm gần đây, hàng năm có

200-600 vụ ngộ độc thức ăn, khoảng 5000- 7000 người mắc bệnh, trong đó có vàichục người chết Khoảng 20-30 % là ngộ độc do hóa chất (chủ yếu là thuốcbảo vệ thực vật, khoảng 50% là do vi sinh vật, 14-20% do thức ăn có độc…[35, tr 56-59]

Theo thống kê của Cục an toàn vệ sinh thực phẩm từ năm 2004 -2009 đã

có 1.058 vụ ngộ độc thực phẩm, trung bình có 176,3 vụ ngộđộc thựcphẩm/năm, tính trung bình tỷ lệ người bị ngộ độc thực phẩm là 7,1người/100.000 dân Năm 2011 từ đầu năm đến giữa tháng 9, cả nước xảy ra

109 vụ ngộ độc thực phẩm với tổng số 3.654 người mắc, tử vong 18 người, đi

Trang 20

viện 2.812 người Nguyên nhân ngộ độc thực phẩm năm 2011 được xác địnhqua lâm sàng và xét nghiệm cho thấy do độc tố tự nhiên chiếm 30,3% số vụ,hóa chất chiếm 11,0% số vụ, do vi sinh vật chiếm 30,3% số vụ, không rõnguyên nhân chiếm 28,4% số vụ [20, tr 179, 203-230]

Trong 6 tháng đầu năm 2012, Cục quản lý thị trường đã có 13 văn bảnchỉ đạo triển khai kiểm tra, kiểm soát thị trường thực phẩm, lực lượng quản lýthị trường đã phát hiện xử lý 4.607 vụ vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩmvới số tiền xử phạt vi phạm hành chính 17.516.804 triệu đồng Trị giáhàng vi phạm 4.546.474 triệu đồng Một số mặt hàng vi phạm đã bị xử lý,tiêu hủy 67.000 hộp thực phẩm; 77.124 con gia cầm; 75 tấn sản phẩm gia súc,gia cầm, 2.156.240 quả trứng gia cầm; 75 tấn sản phẩm gia súc, gia cầm;1.500 kg nầm động vật; 1.140 chai mắm tôm… [21, tr 7-9]

Trong tình trạng như vậy, vấn đề an toàn thực phẩm và đảm bảo an toànthực phẩm đang thực sự trở thanh vấn đề cấp thiết không chỉ đối với tiêuchuẩn hàng hóa trên thị trường, ảnh hưởng tới sức khỏe mỗi cá nhân ngườitiêu dung và còn ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe và sự phát triển cộngđồng trên diện rộng Do đó, sự điều chỉnh của nhà nước trong việc đảm bảo

vệ sinh an toàn thực phẩm là việc làm vô cùng cấp thiết Sự điều chỉnh thôngqua các quy định pháp luật là biện pháp can thiệt mạnh mẽ, quyết liệt và cóhiệu quả nhất cho vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm như của Việt Nam hiệnnay

Do vậy, có thể hiểu, pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm là tổng hợpcác quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các hoạtđộng bảo đảm vệ sinh an toàn, đảm bảo chất lượng đối với thực phẩm khi cácchủ thể đưa sản phẩm ra thị trường

Pháp luật về An toàn thực phẩm được ban hành bao gồm các quy địnhliên quan tới nguyên tắc và chuẩn mực về an toàn thực phẩm Điều này có ý

Trang 21

nghĩa vô cùng quan trọng bởi đối với tình trạng nền kinh tế xuất khẩu thựcphẩm, phải chú trọng đến các vấn đề an toàn thực phẩm đảm bảo các tiêuchuẩn về chất lượng trong nước và quốc tế để hàng Việt Nam có thể cạnhtranh trên các thị trường khó tinh như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, các nướcChâu Âu…, Việc quy định các chuẩn mực không chỉ thể hiện các quy định vềtiêu chuẩn đối với thực phẩm mà còn quy định các chuẩn mực trong việc sảnxuát kinh doanh của các nhân, tổ chức lĩnh vực này và với cả người tiêu dung.Những chuẩn mực này quyết định trực tiếp đến chất lượng của thực phẩm;nếu người sản xuất kinh doanh không tôn trọng các nguyên tắc sản xuất, kinhdoanh trong lĩnh vực này, nhất là đối với những nguyên tắc về an toàn thựcphẩm thì những sản phẩm kém chất lượng, có nguy có độc hại ảnh hưởng tớisức khỏe người tiêu dung sẽ xuất hiện tràn lan trên thị trường Điều này ảnhhưởng không nhỏ tới tiến trình hát triển của kinh tế cũng như xã hội của đấtnước Bên cạnh đó, nếu như người tiêu dung nắm bắt được các tiêu chuẩnchuẩn mực thì sẽ trở thành những người tiêu dung thông minh, không bị thiệthại bởi thực phẩm kém chất lượng, thực phẩm không an toàn Từ đó góp phầnvào việc thắt chặt quản lý về an toàn thực phẩm Pháp luật về an toàn thựcthẩm đóng vai trò là sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động kinh doanhnhẳm bảo đảm sức khỏe, quyền và lợi ích cho người tiêu Dùng.

Như vậy, vai trò của pháp luật về an toàn thực phẩm đã có những đóng

góp nhất định tới kinh tế, xã hội và sức khỏe người dân Trước hết, pháp luật

nắm vai trò là công cụ bảo đảm sức khỏe cho người dân và phát triển giống

nòi Thứ hai, sự điều chỉnh của pháp luật về an toàn thực phẩm này phù hợp

với xu thế chung toàn cầu, bởi thế giới hiện nay đang trong xu thế bảo vệquyền con người, sự phát triển của con người một cách toàn diện, đảm bảomỗi cá nhân có được một mức sống cơ bản là cần thiết, trong đó có lĩnh vực

sức khỏe và an toàn thực phẩm Thứ ba, pháp luật về an toàn thực phẩm và

Trang 22

một yêu cầu cần thiết trong quá trình hội nhập toàn cầu, đặc biệt đối với hoạtđộng xuất nhập khẩu thực phẩm của Việt Nam Để có thể đáp ứng được cácthì trường khó tính và tìm kiếm được nguồn lợi nhuận cao hơn, pháp luật Việt

Nam về vấn đề này thực sự cần phải chặt chẽ và cứng rắn Thứ tư, pháp luật

về an toàn thực phẩm góp phần đảm bảo tính bao phủ toàn bộ chuỗi thựcphẩm “từ trang trại đến bàn ăn” đề phải đáp ứng được mục tiêu vì sức khỏe

người dân, sức khỏe cộng đồng Thứ năm, pháp luật về lĩnh vực này góp phần

kiểm soát bền vững các yếu tố nguy cơ vệ sinh an toàn thực phẩm Cần xâydựng một hệ thống thông tin đủ đáp ứng cung cấp, cập nhật tình hình về nguy

cơ ô nhiễm thực phẩm để hạn chế hơn nữa các nguy cơ xâm hại sức khỏe conngười đến từ thực phẩm

Để góp phần triển khai có hiệu quả vấn đề an toàn thực phẩm trong tìnhhình mới, ngày 04/01/2012 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số20/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược quốc gia an toàn thực phẩm giai đoạn 2011

- 2020 và tầm nhìn 2030:

a) Bảo đảm an toàn thực phẩm chính là bảo đảm quyền lợi ngườitiêu dùng và sức khỏe nhân dân, là một nhiệm vụ thường xuyên cần tậptrung chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, là trách nhiệm vàquyền lợi của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm vàmỗi người dân

b) Tổ chức thực hiện đồng bộ các quy định pháp luật về an toànthực phẩm, chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra, đẩy mạnh việc ápdụng các biện pháp tiên tiền trong quản lý an toàn thực phẩm

c) Tăng cường công tác thông tin, truyền thông nhằm tạo sựchuyển biến sâu sắc trong nhận thức của người sản xuất, người tiêudùng và toàn xã hội về giữ gìn vệ sinh, bảo đảm an toàn thực phẩm [49]

Trang 23

1.3 Cơ sở lý luận về trách nhiệm của Doanh nghiệp đối với an

toàn thực phẩm.

1.3.1 Khái niệm trách nhiệm của Doanh nghiệp đối với an toàn thực phẩm

- Khái niệm về trách nhiệm

Theo nghĩa thông thường, trách nhiệm được hiểu là một phần mà ngườiđược giao phải thực hiện và hoàn thành, nếu không hoàn thành tốt sẽ phảigánh chịu hậu quả

Dưới góc độ kinh tế, trách nhiệm của DN là cung ứng ra hàng hóa đápứng được yêu cầu của xã hội với một mức giá hợp lý đảm bảo duy trì đượcviệc tiếp tục sản xuất của DN nhưng đồng thời cũng phải thực hiện đượcnghĩa vụ đối với Nhà nước Khi thực hiện trách nhiệm này, DN đã đảm bảo

sự tồn tại và phát triển của mình và đảm bảo nghĩa vụ của DN đối với nhànước

Dưới góc độ xã hội, theo chuyên gia của ngân hàng thế giới trách nhiệmcủa DN là “sự cam kết của doanh nghiệp về sự đóng góp vào việc phát triểnkinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đờisống của người lao động và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn

xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xãhội”

Đối với người tiêu dùng, trách nhiệm của DN là cung cấp hàng hóa vàdịch vụ đảm bảo đúng chất lượng, đảm bảo an toàn đúng như thông tin củahàng hóa mà DN sản xuất, kinh doanh Sản phẩm do DN làm ra phải đảm bảokhông ảnh hưởng xấu đến tính mạng, sức khỏe và tài sản người tiêu dùng,phải đảm bảo được đầy đủ thông tin của sản phẩm tránh sự hiểu lầm khi sảnphẩm đến tay người tiêu dùng Khi có sự cố xảy ra đối với sản phẩm hàng hóa

do DN sản xuất, kinh doanh, DN phải có trách nhiệm và biện pháp làm giảmđến mức tối đa hậu quả xảy ra như thu hồi ngay sản phẩm không đảm bảo an

Trang 24

toàn, nếu ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng phải đưa ngay đến cơ sở y

tế để điều trị, bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng Chính người tiêu dùng

là nhân tố quyết định sự sống còn của DN, do đó trách nhiệm với người tiêudùng phải được DN đặt lên hàng đầu

Về mặt pháp lý, trách nhiệm của một DN là DN phải thực hiện đầy đủnhững quy định về pháp lý chính thức đối với các bên hữu quan Điều này sẽđiều tiết được sự cạnh tranh, bảo vệ khách hàng, bảo vệ môi trường, thúc đẩycông bằng xã hội và cung cấp những sáng kiến chống lại những hành vi saitrái [56] Hay có thể hiểu rằng, trách nhiệm pháp lý của DN trong kinh doanh

là phải tuân thủ đúng, đầy đủ những quy định của pháp luật mà nhà nước banhành trong quá trình hoạt động, kinh doanh

Cụ thể như, đối với các sản phẩm hàng hóa có chất lượng được quy địnhbởi các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật buộc các DN khi sản xuất sản phẩmchất lượng phải đạt được theo tiêu chuẩn, quy chuẩn đã quy định, không đượcthấp hơn quy chuẩn và tiêu chuẩn, đây cũng chính là biện pháp buộc các DNđảm bảo sự an toàn cho xã hội và người tiêu dùng khi dùng sản phẩm Mặtkhác, trách nhiệm của DN còn được thể hiện ở hình thức buộc DN phải thựchiện các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền như Công An, Tòaán, chẳng hạn như phải chấp hành các quyết định xử phạt vi phạm hànhchính, hoặc quyết định bồi thường theo phán quyết của Tòa án, đây là tráchnhiệm pháp lý mang tính tiêu cực

Đối với thực phẩm được DN đem vào hoạt động kinh doanh, tráchnhiệm của DN đối với sự an toàn vệ sinh của đối tượng này là vô cùng quantrọng Bởi khi doanh nghiệp cung ứng một sản phẩm thực phẩm ra thị trường,tức là DN đã và đang tác động một cách gián tiếp đến sức khỏe, tính mạng, tàisản của người tiêu dùng để có thể tìm kiếm lợi nhuận Do đó, khi có sự tácđộng gián tiếp lên người khác, DN phải đảm bảo được rằng, lợi nhuận mình

Trang 25

thu được không phát sinh dựa trên những tác động xấu về sức khỏe, tínhmạng, tài sản mà mình cung cấp cho khách hàng Hay nói cách khác, lợinhuận mà DN thu về phải tương xứng với lợi ích mà khách hàng nhận được.Như vậy, trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với vệ sinh an toànthực phẩm là việc DN phải đảm bảo thực hiện, tuân thủ đúng và đầy đủ cácquy định điều chỉnh của pháp luật về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm trongviệc bảo đảm vệ sinh an toàn, chất lượng của sản phẩm khi cung cấp đến tayngười tiêu dùng.

a Trách nhiệm theo quy định về ATTP

Đối với thủ tục hành chính: trước khi bắt đầu hoạt động sản xuất kinhdoanh, DN buộc phải thực hiện các thủ tục hành chính sau:

+ DN phải có giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP

Có thể hiểu rằng DN có giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP là

DN phải đáp ứng đầy đủ các quy định về cơ sở vật chất SX, KD thực phẩm,tình trạng điều kiện vệ sinh nhà xưởng, đầy đủ giấy khám sức khỏe và tậphuấn kiến thức ATTP của người trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩmTheo quyết định số 1471/QĐ-BCT về việc công bố thủ tục hành chínhmới ban hành về lĩnh vực an toàn thực phẩm thuộc phạm vi, chức năng quản

lý của bộ công thương

Cụ thể, đối với việc Cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thựcphẩm đối với cơ sở sản xuất thực phẩm nhỏ lẻ, các cơ sở sản xuất sản phẩmthực phẩm nhỏ lẻ thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Công Thương đăng ký hồ

sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm với Cơquan do Ủy ban nhân dân các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương phân cấpquản lý và tổ chức thực hiện (sau đây gọi là Cơ quan cấp Giấy chứng nhận);Các cơ sở sản xuất thực phẩm nhỏ lẻ quy định tại Khoản 2 Điều 1 Thông tư

số 57/2015/TT-BCT ngày 31 tháng 12 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Công

Trang 26

Thương quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất thựcphẩm nhỏ lẻ thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Công Thương nộp

hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm cho

Cơ quan cấp Giấy chứng nhận trực tiếp hoặc theo đường bưu điện

Đối với việc cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩmđối với cơ sở sản xuất thực phẩm nhỏ lẻ , trường hợp cấp lại do Giấy chứngnhận bị mất hoặc bị hỏng Trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc kể từ ngàynhận được Đơn đề nghị hợp lệ, căn cứ hồ sơ lưu, cơ quan có thẩm quyền đãcấp Giấy chứng nhận xem xét và cấp lại, trường hợp từ chối cấp lại, phải cóvăn bản thông báo nêu rõ lý do Trường hợp cấp lại do cơ sở thay đổi vị trí địa

lý của địa điểm sản xuất, kinh doanh; thay đổi, bổ sung quy trình sản xuất,mặt hàng kinh doanh và khi Giấy chứng nhận hết hiệu lực Thủ tục, quy trìnhcấp lại Giấy chứng nhận thực hiện như trường hợp cấp lần đầu Trường hợpcấp lại do cơ sở có thay đổi tên cơ sở, chủ cơ sở hoặc người được ủy quyền,địa chỉ nhưng không thay đổi vị trí địa lý và toàn bộ quy trình sản xuất, mặthàng kinh doanh Trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc kể từ ngày nhậnđược Đơn đề nghị hợp lệ, căn cứ hồ sơ lưu, cơ quan có thẩm quyền đã cấpGiấy chứng nhận xem xét và cấp lại, trường hợp từ chối cấp lại, phải có vănbản thông báo nêu rõ lý do, v.v

+ DN phải có giấy xác nhận công bố phù hợp quy định hoặc giấy xácnhận hợp quy của cơ quan có thẩm quyền cấp tùy theo nhóm, mặt hàng thựcphẩm DN sản xuất, kinh doanh

Theo đó, đây là hoạt động kiểm nghiệm, đánh giá và xác nhận chấtlượng của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường phù hợp vớiquy chuẩn kỹ thuật tương ứng

Trang 27

Việc công bố hợp quy cho các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình,môi trường được quy định trong quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hoặc quy chuẩn

kỹ thuật địa phương là hoạt động bắt buộc đối với các cá nhân hay tổ chức Trường hợp thực phẩm đã được cơ quan nhà nước ban hành quy chuẩn

kỹ thuật, DN phải tiến hành thủ tục xin giấy xác nhận công bố hợp quy chosản phẩm

Trường hợp thực phẩm chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyềnban hành quy chuẩn kỹ thuật, DN phải tiến hành thủ tục xin cấp Giấy xácnhận phù hợp quy định ATTP, ví dụ như cà phê, trà

Với những sản phẩm thuộc trường hợp xác nhận công bố phù hợp quyđịnh, chất lượng và các chỉ tiêu an toàn của thực phẩm DN công bố phải dựatrên tiêu chuẩn, yêu cầu DN, mà các tiêu chuẩn này không được thấp hơn cácTiêu chuẩn Việt Nam hoặc tiêu chuẩn của nhóm mặt hàng tương tự Chẳnghạn như “ Trà khô” chưa có quy chuẩn kỹ thuật thì khi tiến hành công bố phùhợp quy định ATTP, DN phải xây dựng tiêu chuẩn DN dựa trên tiêu chuẩnViệt Nam của trà hoặc dựa trên các tiêu chí của nhóm rau, củ, quả khô

Quy định giấy xác nhận công bố hợp quy, giấy xác nhận công bố phùhợp với quy định ATTP có giá trị 3 năm kể từ ngày ký và chỉ do ngành y tếcấp

+ Nếu thực hiện việc quảng cáo thực phẩm, DN phải có giấy xác nhậnnội dung quảng cáo của cơ quan có thẩm quyền cấp

Nếu như đối với các hàng hóa thông thường mà không phải là thựcphẩm, DN thực hiện quảng cáo sản phẩm trên các phương tiện chỉ phải xinphép cơ quan có thẩm quyền về lĩnh vực quảng cáo là Bộ Văn Hóa – Thể thao

và Du lịch thì đối với các sản phẩm hàng hóa là thực phẩm, cần phải có thêm

ý kiến của cơ quan quản lý về chuyên môn như Bộ Công Thương ( hoặc Sở

Trang 28

Công thương), Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn (hoặc Sở nôngnghiệp và phát triển nông thôn), Bộ Y Tế (hoặc Sở Y Tế)

Đặc biệt đối với các loại thực phẩm như sản phẩm dành cho đối tượngđặc biệt như trẻ sơ sinh, phụ nữ mang thai, người già, ; thực phẩm chức năng;thực phẩm bổ sung cần phải có ý kiến xác nhận của cơ quan quản lý nhànước về chuyên môn vì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người sử dụng và

có thể sẽ ảnh hưởng đến tính mạng người sử dụng

Đối với người trực tiếp tham gia sản xuất, kinh doanh thực phẩm:

Theo thông tư 57/2015/TT- BCT “ về quy định điều kiện đảm bảo ATTPtrong sản xuất thực phẩm nhỏ lẻ thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộcông thương” đã chỉ rõ chủ cơ sở và người trực tiếp tham gia sản xuất phải cógiấy xác nhận kiến thức về ATTP do cơ quan có thẩm quyền cấp; chủ cơ sở

có trách nhiệm khám sức khỏe cho bản thân và những người trực tiếp sản xuấtcủa cơ sở định kỳ ít nhất 1 lần/1 năm tại cơ sở y tế cấp quận/huyện trở lên.Mục đích của việc khám sức khỏe là phát hiện những người mang mầm bệnhtruyền qua thực phẩm khi sản xuất, kinh doanh thực phẩm, việc xác nhận kiếnthức ATTP là để người sản xuất có đủ kiến thức cơ bản về ATTP để đảm bảotình trạng vệ sinh khi chế biến , sản xuất, kinh doanh thực phẩm Do đó chủ

cơ sở phải có trách nhiệm tạo điều kiện cho công nhân của mình được đikhám sức khỏe và học tập huấn, ngược lại công nhân phải có trách nhiệm hợptác với chủ DN để thực hiện tốt nhiệm vụ

Đối với thực phẩm nhập khẩu

DN phải tuân thủ các quy định về ATTP tại của khẩu hải quan, phải cókết quả kiểm nghiệm phù hợp và đảm bảo an toàn theo quy định thì thựcphẩm mới được vận chuyển về DN để sản xuất, kinh doanh

Đối với điều kiện cơ sở vật chất sản xuất, kinh doanh thực phẩm

Trang 29

Theo điều 19 luật ATTP quy định các cơ sở sản xuất, kinh doanh thựcphẩm phải có đủ điều kiện sau:

- Có địa điểm, diện tích thích hợp, có khoảng cách an toàn đối với nguồngây độc hại, nguồn gây ô nhiễm và các yếu tố gây hại khác;

- Có đủ nước đạt quy chuẩn kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh doanh thựcphẩm;

- Có đủ trang thiết bị phù hợp để xử lý nguyên liệu, chế biến, đóng gói,bảo quản và vận chuyển các loại thực phẩm khác nhau; có đủ trang thiết bị,dụng cụ, phương tiện rửa và khử trùng, nước sát trùng, thiết bị phòng, chốngcôn trùng và động vật gây hại;

- Có hệ thống xử lý chất thải và được vận hành thường xuyên theo quyđịnh của pháp luật về bảo vệ môi trường;

- Duy trì các điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm và lưu giữ hồ sơ vềnguồn gốc, xuất xứ nguyên liệu thực phẩm và các tài liệu khác về toàn bộ quátrình sản xuất, kinh doanh thực phẩm;

- Tuân thủ quy định về sức khoẻ, kiến thức và thực hành của người trựctiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm [ 43, điều 19]

b Trách nhiệm của DN đối với các cơ quan quản lý nhà nước

Để đảm bảo các quy định của pháp luật về ATTP được thực hiệnnghiêm, Chính phủ thống nhất quản lý về ATTP, Bộ Y tế chịu trách nhiệmtrước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về ATTP, các bộ, cơ quan ngang

bộ và ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình

có trách nhiệm phối hợp cùng bộ Y tế thực hiện quản lý nhà nước về ATTPthì DN cũng buộc phải chấp hành các quy định pháp luật của cơ quan quản lýnhà nước có thẩm quyền

+ Chấp hành quy định trong việc đề nghị cơ quan nhà nước cấp Giấychứng nhận để được hoạt động trong lĩnh vực thực phẩm Trách nhiệm của

Trang 30

DN là phải liên hệ với cơ quan chức năng để được hướng dẫn và tiến hành cácthủ tục hành chính theo quy định Nếu không thực hiện, DN không đủ điềukiện để hoạt động

+ DN phải chấp hành các quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyềnnhư Quyết định xử lý vi phạm hành chính, Quyết định của Tòa án, của Côngan, Trách nhiệm của DN buộc phải thực hiện các quyết định, nếu khôngthực hiện theo sẽ bị cưỡng chế thực hiện

Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm về ATTP trongquá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm của doanh nghiệp là vấn đề bứcthiết ở mọi thời điểm Bởi ATTP có tầm quan trọng hết sức đặc biệt, khôngchỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cá nhân, cộng đồng mà còn ảnh hưởngsâu sắc đến phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy, với chức năng quản lý mọi lĩnhvực trong đời sống xã hội, các cơ quan quản lý nhà nước luôn tăng cườnghoạt động chặt chẽ hơn nữa trong thanh tra, kiểm tra về việc chấp hành tráchnhiệm của doanh nghiệp đối với đảm bảo ATTP, đặc biệt là các cơ sở sảnxuất, kinh doanh thực phẩm nhằm bảo đảm sức khỏe cho người tiêu dùng.Điều này được thể hiện cụ thể bằng hành động của Đảng và Nhà nướcthông qua việc ban hành một loạt hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạtđộng này cũng như quy định thẩm quyền và thành lập các cơ quan chuyêntrách thực hiện nghiệp vụ này

c Trách nhiệm theo hợp đồng của DN đối với ATTP

Theo quy định khi kí kết hợp đồng mua bán hàng hóa, số lượng và chấtlượng của hàng hóa giao dịch là do giữa bên mua và bên bán thỏa thuận vàquyết định, nhưng để đề cao trách nhiệm của DN đối với các sản phẩm hànghóa làm ra, đồng thời để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, DN khi kí kết hợpđồng sản xuất, kinh doanh thực phẩm, ngoài việc tuân thủ các quy định theo

Trang 31

đúng các quy định pháp luật các quy định về kinh tế, DN buộc phải tuân thủcác quy định về ATTP

Theo nguyên tắc, DN chỉ chịu trách nhiệm với các bên tham gia hợpđồng, nhưng đối với hàng hóa là thực phẩm, DN phải chịu toàn bộ tráchnhiệm đối với thực phẩm do mình sản xuất trong thời hạn sử dụng của thựcphẩm, điều này giúp bảo vệ sức khỏe và quyền lợi người tiêu dùng được đảmbảo Đây cũng là một biện pháp hữu hiệu bảo vệ quyền và lợi ích của ngườithứ ba, hay nói cụ thể hơn là sức khỏe, tính mạng và tài sản của người tiêudùng liên quan đến hợp đồng kinh doanh thực phẩm

Cụ thể, DN phải sản xuất ra thực phẩm có tiêu chuẩn không được thấphơn tiêu chuẩn quy định, hoặc có thể cao hơn tiêu chuẩn quy định; nếu thấphơn đồng nghĩa với việc thực phẩm không đảm bảo an toàn buộc doanhnghiệp phải thực hiện các biện pháp thu hồi, tái chế, tiêu hủy thực phẩm đó

d Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của DN

Theo điều 61 Luật chất lượng, sản phẩm hàng hóa: “ Người sản xuất,người nhập khẩu, người bán hàng phải bồi thường thiệt hại cho người tiêudùng trong trường hợp thiệt hại phát sinh do lỗi của người sản xuất, ngườinhập khẩu, người bán hàng; lỗi của nhà sản xuất thể hiện không bảo đảm chấtlượng hàng hóa mà gây thiệt hại cho người tiêu dùng Người bán hàng phảibồi thường thiệt hại cho người mua, người tiêu dùng trong trường hợp thiệthại phát sinh do lỗi của người bán hàng không bảo đảm chất lượng hàng hóa”Theo điều 630 Bộ luật Dân sự: “Pháp nhân, cá nhân, chủ thể khác sảnxuất, kinh doanh không đảm bảo chất lượng hàng hóa mà gây thiệt hại chongười tiêu dùng thì phải bồi thường”

Ngoài những trách nhiệm đã được quy định trong hợp đồng, nếu có phátsinh những thiệt hại do sản phẩm không đảm bảo chất lượng thì nhà sản xuất,kinh doanh phải bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng Riêng đối với thực

Trang 32

phẩm, người tiêu dùng chỉ được bồi thường thiệt hại khi tuân thủ đầy đủ cácquy định, hướng dẫn về ATTP của tổ chức cá nhân sản xuất, kinh doanh trongvận chuyển, lưu giữ, bảo quản và sử dụng thực phẩm [43, điều 9]

Như vậy, trách nhiệm của DN phải bồi thường thiệt hại cho người tiêudùng khi người tiêu dùng đã chứng minh thực hiện đầy đủ các quy định vềATTP, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của DN bao gồm trách nhiệm bồithường vật chất của sản phẩm thực phẩm không đảm bảo và trách nhiệm bồithường cả những tổn thất về sức khỏe, thậm chí cả tính mạng người tiêu dùng

1.3.2 Cơ sở hình thành trách nhiệm của DN đối với an toàn thực phẩm

a Cơ sở pháp lý

Hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm là một hoạt động ảnh hướngrất lớn tới đời sống xã hội của mọi quốc gia, do vậy, bất kỳ hành vi nào liênquan đến hoạt động kinh doanh thực phẩm, đều phải có sự ràng buộc và liênđới trách nhiệm về việc đảm bảo an toàn thực phẩm cho người tiêu dung.Theo pháp luật về hoạt động thương mại, Bộ luật dân sự, Luật Thương mạiViệt Nam cũng yêu cầu, trong hoạt động kinh doanh, trách nhiệm về đảm bảo

an toàn thực phẩm đương nhiên thuộc về bên cung cấp – chủ thể kinh doanh,bởi một lẽ sự cung cấp hàng hóa là thực phẩm của chủ thể này tác động trựctiếp lên quyền lợi, đặc biệt là sức khỏe của chủ thể còn lại – người tiêu dung

Do đó, trách nhiệm của Doanh nghiệp cần phải được xác định rõ ràng và chặtchẽ ở mức độ nhất định nhằm bảo đảm tính an toàn cho sức khỏe người tiêudung

Bên cạnh đó, nhìn từ khía cạnh pháp luật thương mại việc trao đổi vàmua bán những thực phẩm được doanh nghiệp cung cấp, người tiêu dùngkhông thể xác định được chất lượng sản phẩm một cách đơn giản, dễ dàngthông qua các tác động vật lý, mà chỉ có thể xác định được chất lượng bằngviệc sử dụng sản phẩm Do đó, những tác nhân nguy hại đến từ sản phẩm do

Trang 33

doanh nghiệp cung cấp có thể gây thiệt hại cho người tiêu dùng mà họ khôngthể lường trước được, nên để đề phòng và xác định trách nhiệm khi xảy rathiệt hại, việc Doanh nghiệp phải có trách nhiệm đối với thiệt hại của sảnphẩm do mình cung cấp gây ra là một biện pháp hợp lý nhằm đảm bảo hoạtđộng kinh doanh thực phẩm phải được tiến hành an toàn, không gây nguyhiểm đến sức khỏe người tiêu dùng.

Ngoài ra, việc xác định trách nhiệm của Doanh nghiệp cung cấp thựcphẩm cũng là một biện pháp nhằm giúp cho hoạt động quản lý của cơ quannhà nước trong lĩnh vực kinh doanh thực phẩm được thực hiện một các quy

củ và chăt chẽ hơn Khi một doanh nghiệp tham gia vào thị trường với hoạtđộng cung cấp thực phẩm tới người tiêu dùng, việc cung cấp thực phẩm nàycũng là một hành vi tác động đến xã hội một cách phổ biến, do đó nó cầnđược pháp luật quy định và định hướng đi theo các nguyên tắc mà ở đó, sựcung cấp thực phẩm này không được phép gây thiệt hại tới xã hội và nền kinh

tế mà nó tác động Theo các quy định của pháp luật về quản lý hoạt động kinhdoanh, đặc biệt là kinh doanh thực phẩm các Doanh nghiệp phải có nghĩa vụtuân thủ theo nhưng quy định hành chính mà nhà nước đã ban hành điềuchỉnh hoạt động này Việc tuân thủ theo các quy tắc này vừa đảm bảo sự vậnhành đúng đắn của hoạt động kinh doanh, vừa đảm bảo giảm thiểu các thiệthại có thể xảy ra trên thực tế

Đối với những hành vi của Doanh nghiệp không đảm bảo được các tiêuchuẩn về an toàn thực phẩm, gây thiệt hại cho người tiêu dùng, trách nhiệmđương nhiên thuộc về Doanh nghiệp, bởi doanh nghiệp do chú ý hoặc vô ý tạo

ra, duy trì và thúc đẩy cho thiệt hại đối với người tiêu dùng xảy ra thông quahành vi không đảm bảo an toàn thực phẩm Pháp luật Hình sự Việt Nam cũng

đã quy định về vấn đề an toàn thực phẩm Đối với từng thiệt hại trên thực tế,mức độ trách nhiệm của Doanh nghiệp có thể bị xử lý theo các loại chế tài

Trang 34

khác nhau, có thể là chế tài dân sự nếu các bên có thể thỏa thuận giải quyết,hoặc chế tài hành chính xử phạt những hành vi mà Doanh nghiệp vi phạm cácquy định về an toàn thực phẩm Đặc biệt, nếu như việc không đảm bảo được

an toàn thực phẩm gây thiệt hại nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng vàdanh dự, nhân phẩm của khách hàng thì khi đó, chế tài xử phạt sẽ phải tuântheo pháp luật hình sự về vấn đề này

Luật An toàn thực phẩm quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cánhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm

Trách nhiệm của DN trong việc đảm bảo vệ sinh ATTP không chỉ phátsinh từ pháp luật thực định Dưới góc nhìn của người tiêu dùng, Đối với việccung cấp thực phẩm theo thảo thuận, hợp đồng đối với khách hàng DN cungcấp sản phẩm phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đảm bảo chất lượng sản phẩmphù hợp và đúng với nội dung hợp đồng đã giao kết giữa hai bên Sự thốngnhất ý chí trong hợp đồng này cũng là một ràng buộc trách nhiệm cho doanhnghiệp trong hoạt động kinh doanh thực phẩm

Theo đó DN buộc phải tuân thủ các quy định về ATTP từ thủ tục hànhchính đến việc tuân thủ theo các quy định về chuyên môn kỹ thuật như tiêuchuẩn sản phẩm, kỹ thuật, con người, vệ sinh nhà xưởng bởi những sảnphẩm mà DN cung cấp ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích về nhiều mặt của ngườitiêu dùng, đồng thời cũng để quyền lợi của người tiêu dùng được đảm bảo thìphải có cơ sở pháp lý để buộc DN phải tuân thủ và thực hiện đúng quy địnhcủa pháp luật Khi doanh nghiệp vi phạm về việc sản phẩm không đảm bảođối với người tiêu dùng thì phải chịu trách nhiệm Do đó mà quyền lợi của cảngười tiêu dùng và của DN đều được đảm bảo công bằng và phù hợp với cácbên, tránh những hành vi người tiêu dùng gây ra thiệt hại cho DN, xâm phạmđến lợi ích của DN và ngược lại cũng để tránh tình trạng DN vô trách nhiệmđối với lợi ích của người tiêu dùng, không đảm bảo an toàn cho người tiêu

Trang 35

dùng thì cần có những quy định pháp luật để hài hòa và đảm bảo lợi ích cũngnhư trách nhiệm của DN và người tiêu dùng.

là trách nhiệm sản xuất ra sản phẩm an toàn, phù hợp với lợi ích của xã hội,phù hợp với thuần phong mỹ tục, đạo đức và lối sống của xã hội đó Có nhưvậy thì xã hội mới phát triển bền vững, điều đó cũng có nghĩa là xã hội đặt ratrách nhiệm của DN và người tiêu dùng, mối quan hệ giữa DN và người tiêudùng phải là quan hệ bền vững, lành mạnh

c Cơ sở kinh tế

Đối với doanh nghiệp, lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu và là vấn đề sốngcòn của DN trong mọi thời kỳ Để tồn tại và phát triển, DN ngày càng phảicải tiến về công nghệ kỹ thuật, phương thức quản lý nhưng quan trọng nhất

là chất lượng sản phẩm sản xuất ra phải đảm bảo an toàn và thỏa mãn đượcnhu cầu của người tiêu dùng Đây chính là yếu tố quyết định quan trọng nhất ,

do đó DN càng phải có trách nhiệm đối với sản phẩm do mình sản xuất Khiđược người tiêu dùng tín nhiệm, sản phẩm đảm bảo an toàn về chất lượng,

Trang 36

sức khỏe, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng thì doanh nghiệp mới tồn tại

và phát triển được Ngược lại nếu như sản phẩm đó không đảm bảo an toànthì lập tức doanh nghiệp đó sẽ bị tẩy chay và người tiêu dùng sẽ không sửdụng sản phẩm đó nữa Mối quan hệ giữa DN và người tiêu dùng là mối quan

hệ biện chứng lẫn nhau , sản phẩm của doanh nghiệp phải đáp ứng được chấtlượng, độ an toàn, giá cả thì mới được người tiêu dùng chấp nhận Ngượclại nếu sản phẩm do DN sản xuất ra không đảm bảo an toàn đồng nghĩa vớiviệc DN sẽ bị người tiêu dùng tẩy chay, tự gây thiệt hại cho DN và không cònchỗ đứng trên thương trường

Suy cho cùng thì đây chính là nguyên nhân chính hình thành nên tráchnhiệm của DN đối với sản phẩm do mình sản xuất, kinh doanh, bản thân DNphải tự có trách nhiệm, chịu trách nhiệm đối với sản phẩm của mình để đượctồn tại và phát triển trong xã hội Vậy DN càng phát triển ổn định và bền vữngtrong xã hội khi càng có nhiều người tiêu dùng sử dụng sản phẩm của mình,buộc DN càng phải có trách nhiệm sản xuất ra sản phẩm an toàn

1.4 Nội dung trách nhiệm của Doanh nghiệp theo pháp luật an toàn thực phẩm.

1.4.1 Căn cứ xác định trách nhiệm của doanh nghiệp theo pháp luật về an toàn thực phẩm

Theo pháp luật về ATTP, trách nhiệm của DN được xác định trên cáccăn cứ:

- Yếu tố lỗi: phải là lỗi khách quan của DN trong quá trình SX, khôngphải lỗi cố ý do người tiêu dùng tạo ra

- Xác định chính xác sản phẩm gây hại đến người tiêu dùng là có thật vàđúng do DN SX, KD

Trang 37

- NTD đã bảo quản, sử dụng thực phẩm theo hướng dẫn sử dụng của nhàsản xuất nhưng vẫn bị ảnh hưởng xấu tới sức khỏe, việc ảnh hưởng tới sứckhỏe của NTD phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền

Trách nhiệm pháp lý của DN mang tính áp đặt và là trách nhiệm buộc

DN phải thực hiện, và nhằm mục đích buộc DN phải bồi thường những thiệthại đối với sản phẩm do DN SX ra ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêudùng Trách nhiệm thể hiện qua việc DN phải gánh chịu các hậu quả do sảnphẩm DN SX không đảm bảo an toàn như thu hồi, tiêu hủy, tái chế và các chiphí liên quan đến sức khỏe người tiêu dùng do ảnh hưởng của việc sử dụngsản phẩm

Theo những căn cứ đã được đưa ra ở trên, để xác định được trách nhiệmcủa DN thì người tiêu dùng phải xác định được yếu tố lỗi gây ra ở đây là do

ai, phải chứng minh được mình đã sử dụng sản phẩm dúng như quy trìnhhướng dẫn nhưng vẫn bị ảnh hưởng đến sức khỏe và có xác nhận của cơ quan

có thẩm quyền Nghĩa vụ này thuộc về người tiêu dùng và DN cũng có quyềnđưa ra các bằng chứng để đảm bảo quyền lợi của mình khi bị xâm phạm

1.4.2 Chủ thể của trách nhiệm theo pháp luật về an toàn thực phẩm

NTD giữ vị trí trung tâm của nền kinh tế và là đối tượng hướng tới củacác doanh nghiệp Nhu cầu, sở thích của họ chính là những động cơ thúc đẩy

sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Sự thành bại của DN phụ thuộc chủ yếuvào việc NTD có “bỏ phiếu” cho họ thông qua việc mua sản phẩm đoa haykhông Chính bởi vậy, trách nhiệm của DN là luôn luôn phải bảo đảm ATTPcho NTD và đáp ứng nhu cầu của họ Trong nền kinh tế thị trường ở nước tahiện nay, DN tự quyết định và chịu trách nhiệm hoàn toàn về thực phẩm củamình trong suốt quá trình SX KD

Sản phẩm làm ra đến tay người tiêu dùng có thể trực tiếp từ nhà sản xuấthoặc gián tiếp qua các DN phân phối hoặc nhập khẩu, do đó có thể nói một

Trang 38

cách thực tế rằng trách nhiệm của DN phụ thuộc vào từng giai đoạn sản xuất

ra sản phẩm

Ở giai đoạn sản xuất, DN phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về sản phẩmcủa mình từ khâu nhập nguyên liệu cho đến khâu thành phẩm, các nhà KDphân phối chịu trách nhiệm trong khâu lưu thông sản phẩm cho đến khi sảnphẩm tới người tiêu dùng Trong khâu sản xuất, ATTP do nhà SX chịu, trongquá trình lưu thông, nếu thực phẩm SX ra đảm bảo an toàn, nhưng điều kiệnbảo quản, vận chuyển của các nhà phân phối không đảm bảo cũng ảnh hưởngđến chất lượng thực phẩm Như vậy trong quá trình từ sản xuất đến cung ứngthực phẩm, trách nhiệm tùy thuộc vào từng giai đoạn của quá trình: có thể lànhà SX, có thể là nhà phân phối KD, nhà nhập khẩu nhưng cơ bản lúc nàotrách nhiệm cũng được quy về nhà SX để giải quyết

Tuy nhiên, thực tế người tiêu dùng mua sản phẩm từ các nhà phân phối,

KD, không mua trực tiếp từ nhà sản xuất nên cũng rất khó quy trách nhiệmcho nhà SX, vì vậy cần có cơ chế trách nhiệm từ nhà SX cho đến các nhàphân phối , KD, từ các nhà kinh doanh đến người tiêu dùng Để xác định chủthể chịu trách nhiệm với NTD phụ thuộc vào chủ thể đó có mối liên hệ vớisản phẩm như thế nào

1.4.3 Nội dung của trách nhiệm theo pháp luật về an toàn thực phẩm

Đối với từng lĩnh vực kinh doanh đặc thù, ngoài những quyền và nghĩa vụchung áp dụng thì thương nhân kinh doanh lĩnh vực nhất định còn có nhữngđặc quyền cũng như trách nhiệm đặc thù phải thực hiện khi tham gia kinhdoanh ngành nghề đó Những quyền và nghĩa vụ này căn cứ vào đặc trưng củangành nghề kinh doanh mà hình thành cũng như quyết định Hoạt động của cơ

sở kinh doanh, sản xuất thực phẩm theo phân tích ở trên là hoạt động thươngmại có điều kiện về an toàn vệ sinh thực phẩm, thuộc phạm vi điều chỉnh củaLuật an toàn thực phẩm 2010 nên chủ thể kinh doanh, sản xuất thực phẩm cũng

Trang 39

có quyền và nghĩa vụ được quy định tại văn bản này Trong phạm vi của đề tài,tác giả chỉ đề cập cũng như phân tích quy định về nghĩa vụ của doanh nghiệpkinh doanh và sản xuất thực phẩm tại Điều 7 và Điều 8 Luật an toàn thực phẩm

2010 như sau:

- Tuân thủ các điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm trong quá trình kinh doanh và chịu trách nhiệm về an toàn thực phẩm do mình kinh doanh, sản xuất Chất lượng được xem là sự sống còn của doanh nghiệp, là

mục tiêu phấn đấu để doanh nghiệp hội nhập thị trường và không ngừng pháttriển Việc đảm bảo chất lượng dịch vụ tốt đối với khách hàng sẽ góp phần thoảmãn mọi nhu cầu khách hàng từ đó giữ được khách hàng Sự thoả mãn kháchhàng còn được xác định là một khía cạnh quan trọng của kết quả hoạt động củadoanh nghiệp Như vậy chất lượng sản phẩm thực phẩm, dịch vụ có ý nghĩa hếtsức quan trọng đối với doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất thực phẩm, nó quyếtđịnh sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp Nó là công cụ giúp doanhnghiệp hoạt động và nâng vị thế của doanh nghiệp trên thị trường và là nơi gưitrọn niềm tin của khách hàng đối với doanh nghiệp Doanh nghiệp kinh doanh,sản xuất thực phẩm thì chất lượng sản phẩm được quyết định phần không thểthiếu bởi tính đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm Việc đảm bảo các điều kiện

an toàn đối với thực phẩm chính là điều kiện được phép hoạt động kinh doanhtrong ngành này Cho nên, sau khi đáp ứng được các điều kiện này, doanhnghiệp kinh doanh, sản xuất thực phẩm còn phải có trách nhiệm giữ vững đảmbảo các điều kiện này được duy trì và không ngừng tốt hơn để nâng cao tínhcạnh tranh về chất lượng dịch vụ

- Kiểm tra nguồn gốc, xuất xứ thực phẩm, nhãn thực phẩm và các tài liệu liên quan đến an toàn thực phẩm, thực hiện quy định về truy xuất nguồn gốc thực phẩm không bảo đảm an toàn là việc truy tìm quá trình hình thành

và lưu thông thực phẩm khi đến tay người kinh doanh Người tiêu dùng mọi

Trang 40

sản phẩm tiêu dùng nhất là thực phẩm luôn lo ngại về sự an toàn về sức khỏe

và lợi ích của mình trên thị trường có được bảo đảm tôn trọng hay không Và

họ sử dụng quyền được sử dụng sản phẩm an toàn, quyền được cung cấpthông tin nguồn gốc sản phẩm rõ ràng làm cơ chế tự bảo vệ mình khỏi nhữngnguy cơ, rủi ro hoặc những lợi ích đề cao lợi nhuận cá nhân lên trên lợi íchcủa khách hàng Hơn nữa, cơ quan có thẩm quyền nhà nước về nhập khẩuthực phẩm quy định những yêu cầu và biện pháp kiểm soát thực phẩm nghiêmngặt nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm; yêu cầu thực hiện truy xuất và triệuhồi được nguồn gốc sảm phẩm không an toàn và không cho phép nhập khẩusản phẩm không an toàn Cho nên, cơ sở kinh doanh thực phẩm phải có tráchnhiệm kiểm tra nguồn gốc, xuất xứ thực phẩm theo yêu cầu khách quan củathị trường cũng như theo yêu cầu quản lý của nhà nước

- Lưu giữ hồ sơ về thực phẩm Hồ sơ về thực phẩm bao gồm mọi giấy tờ

liên quan đến thực phẩm như hồ sơ chứng nhận đủ điều kiện an toàn thựcphẩm; hồ sơ quảng cáo thực phẩm; hồ sơ kiểm nghiệm thực phẩm; hồ sơ kiểmtra nguồn gốc xuất xứ thực phẩm… Việc lập và lưu giữ hồ sơ về thực phẩm

có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát, quản lý mọi tình hình cũng nhưcác hoạt động đối với thực phẩm được doanh nghiệp đang kinh doanh, sảnxuất Từ đó giảm thiểu những sự cố ngoài mong muốn cũng như có nhữngbiện pháp xử lý kịp thời

- Thông tin trung thực về an toàn thực phẩm; thông báo cho người tiêu dùng điều kiện bảo đảm an toàn khi vận chuyển, lưu giữ, bảo quản và sử dụng thực phẩm Như đã đề cập, quyền được cung cấp thông tin về sản phẩm

tiêu dùng trong đó có thực phẩm là quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng.Cho nên, trách nhiệm thông tin trung thực về an toàn thực phẩm của doanhnghiệp kinh doanh, sản xuất thực phẩm là đương nhiên và phù hợp tương ứng

Nó đề cao đạo đức kinh doanh, ý thức trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh

Ngày đăng: 17/08/2020, 15:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w