Phần vốn góp không phải là tài sản cụ thể như những tài sản khiđem góp vốn mà là các quyền và mang tư cách pháp nhân khi tham gia hoạt độngdân sự nói chung.Tài sản khi được người góp vốn
Trang 11.2 Vai trò của hoạt động thế chấp tài sản là phần vốn góp đối với doanh
1.3 Hệ thống pháp lý về hoạt động thế chấp phần vốn góp của doanh nghiệp
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP PHẦN VỐN GÓP
2.1 Tổng quan nền kinh tế Việt Nam từ khi gia nhập WTO đến nay 262.2 Quy định của pháp luật hiện hành về thế chấp phần vốn góp trong công
2.2.1 Đối tượng thế chấp phần vốn góp trong công ty 32
2.2.3 Nội dung hợp đồng về thế chấp phần vốn góp 362.2.4 Quyền, nghĩa vụ của bên thế chấp và bên nhận thế chấp phần vốn góp
2.2.5 Xử lý tài sản thế chấp là phần vốn góp 422.3 Đánh giá thực trạng thế chấp phần vốn góp trong công ty tại Việt Nam49
Trang 23.2 Phương hướng hoàn thiện các quy định pháp luật về thế chấp phần vốn
Trang 3Chương 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẾ CHẤP PHẦN VỐN GÓP TRONG
CÔNG TY 1.1 Khái quát chung về thế chấp phần vốn góp
1.1.1 Các khái niệm liên quan đến thế chấp phần vốn góp
Hiện nay, đa phần người ta thường hiểu một cách đơn giản rằng: Thế
chấp phần vốn góp trong công ty có nghĩa là dùng quyền tài sản trong công ty
để bảo đảm cho việc vay nợ nếu không trả đúng hạn Tuy nhiên, xét trong quan
hệ thương mại như hiện nay thì cách hiểu như trên có phần không chính xác
Xét dưới góc độ ngôn ngữ, xét về định nghĩa thì "Thế chấp" là một từ
có nguồn gốc Hán Việt: "Thế là bỏ đi, thay cho" [13, tr.154], còn "Chấp là
cầm, giữ, bắt" [2, tr 394] Như vậy, phần vốn góp được xem như là tài sản của
các cá nhân, tổ chức dùng khi tham gia vào các mối quan hệ được pháp luậtkinh tế điều chỉnh
Để có thể đưa ra một khái niệm cơ bản, từ điển tiếng Việt giải thích:
"Thếchấp phần vốn góp là việc dùng [tài sản] dùng làm vật bảo đảm, thay thế
cho số tiền vay nếu không có khảnăng trả đúng kỳ hạn"[23]
Thế chấp tài sản nói chung là một biệnpháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
dân sự đã xuất hiện từ thời La Mã cổ đại Theocác học giả La Mã, Luật về
Cầm cố và Thế chấp là luật thứ hai xuất hiện sau Luậtvề quyền dụng ích Hình
thức đầu tiên của cách thức bảo đảm có tên gọi là FiduciaCum Creditore (cònđược gọi là bán đợ)
Dưới góc độ pháp lý, phần vốn góp trong công ty theo quy định của
BLDS 2015 là quyền tài sản Vậy nên thế chấp quyền tài sản không phải là mộtbiện pháp bảo đảm mới ở Việt Nam, song trong thực tế không ít ngân hàng
Trang 4thương mại còn lúng túng khi xác lập các hợp đồng bảo đảm đối với loại tàisản này
Để có cái nhìn tổng quan về thế chấp phần vốn góp thì cần tìm hiểu một
số khái niệm có liên quan Theo đó, tại khoản 13 Điều 4 Luật doanh nghiệp
năm 2014 (gọi tắt là LDN) đã đưa ra khái niệm về góp vốn, cụ thể: “Góp
vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty Góp vốn bao gồm góp vốn để thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn điều lệ của doanh nghiệp đã được thành lập.” Như vậy, tài sản để tham gia vào việc góp vốn là
rất đa dạng Tuy nhiên, để tài sản góp vốn trở thành phần vốn góp, thì nhữngtài sản trên phải được định giá
Tại khoản 21 Điều 4 LDN giải thích về phần vốn góp như sau: “Phần
vốn góp là tổng giá trị tài sản của một thành viên đã góp hoặc cam kết góp vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh Tỷ lệ phần vốn góp là tỷ
lệ giữa phần vốn góp của một thành viên và vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh ”
Như vậy, phần vốn góp là một tài sản đặc biệt, được hình thành thôngqua việc góp vốn vào doanh nghiệp và tồn tại song song với sự tồn tại củadoanh nghiệp Phần vốn góp không phải là tài sản cụ thể như những tài sản khiđem góp
vốn mà là các quyền và mang tư cách pháp nhân khi tham gia hoạt độngdân sự nói chung.Tài sản khi được người góp vốn đem góp vào doanh nghiệptheo một trình tự, thủ tục nhất định thì nó đã trở thành tài sản thuộc sở hữu củadoanh nghiệp (pháp nhân)
Đối với hoạt động thế chấp quyền tài sản đối với phần vốn góp trongdoanh nghiệp: Bộ luật dân sự 2005 thì tại Bộ luật dân sự 2015 đã hướng đếngiao dịch bảo đảm có đối tượng theo hướng mở, tức là không quy định rõ ràng
Trang 5nhằm tránh việc bỏ sót một số đối tượng có thế trở thành đối tượng trong giaodịch Điều đó được quy định cụ thể như sau: Điều 317 quy định Thế chấp tàisản.
Vì vậy, với những quy định trên BLDS năm 2015 đã thể hiện rõ việc thếchấp phần vốn góp chỉ là một bộ phận nhỏ trong hoạt động thế chấp tài sản vàmang hầu hết các nét đặc trưng của hoạt động thế chấp tài sản.Tuy nhiên,thông qua thực tiễn và những quy định về thế chấp thì có thế đưa ra khái niệm
như sau: Thế chấp phần vốn góp là hoạt động giao dịch bảo đảm được pháp
luật kinh tế điều chỉnh khi tham gia mối quan hệ thương mại của các cá nhân,
tổ chức.
Trên thực tế, quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp làmột khái niệm khá trừu tượng, phần vốn góp trong công ty là quyền tài sản (tàisản vô hình) và do đó không thể giao được về mặt vật chất cho chủ nợ có bảođảm Do đó, thế chấp là biện pháp bảo đảm phù hợp nhất đối với phần vốn góp
và cổ phần bởi vì thế chấp không đặt ra yêu cầu chuyển giao tài sản thế chấpcho bên nhận thế chấp và pháp luật Việt Nam công nhận thế chấp là biện phápbảo đảm duy nhất đối với quyền đòi nợ
1.1.2.Bản chất của hoạt động thế chấp phần vốn góp trong công ty
Dưới góc độ là một giao dịch dân sự nói chung thì: Bản chất của quan
hệ thế chấp phần vốn góp trong công ty nhằm đảm bảo thực hiện hợp đồng tín
quan hệ giữa bên thế chấp với bên nhận thế chấp về việc:bên thế chấp dùng tài sản là phần vốn góp trong một công ty của mình để bảo đảm cho việc thực hiệnnghĩa vụ đối vớibên nhận thế chấp
Tuy nhiên, các quyền trên của bên nhận thế chấp đối với tài sản thế chấp
mang tính"gián tiếp" thông qua hành vi thực hiện nghĩa vụ của bên thế chấp
theo hợp đồng đãký kết mà không có quyền trực tiếp trên tài sản thế chấp
Trang 6Khác với các loại hình giao dịch bảo đảm khác, thế chấp phần vốn góp trong công ty chịu sự điều chỉnh của nhiều mối quan hệ khác nhau và mang tính đa phương, đa chiều
Ngoài ra, khi tiếp cận dưới góc độ là quyền bảo đảm thì "Thế chấp phần
vốn góp trong công ty được xem là một biện pháp bảo đảm được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện đối với các bên trong quan hệ thế chấp" [12].
Hợp đồng thế chấp phần vốn góp trong công ty chịu sự điều chỉnh củaLDN và một số văn bản có liên quan Đồng thời, hoạt động này còn có mốiquan hệ phụ thuộc về hiệu lực đối với hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ cầnđược bảo đảm thực hiện
Tuy nhiên, trong xu thế phát triển của nền kinh tế theo hướng minh bạchhóa tình trạng pháp lý của tài sản, đăng ký công khai phải được coi là căn cứ đểxác định quyền ưu tiên giữa các chủ thể cùng có lợi ích liên quan đến thế chấpphần vốn góp trong công ty đã và đang tạo tiền đề cho sự phát triển của doanhnghiệp nói chung
1.1.3 Đặc điểm pháp lý của tài sản thế chấp là phần vốn góp theo pháp luật Việt Nam
Các đặc điểm pháp lý cơ bản sau về thế chấp phần vốn góp trong côngty:
Thứ nhất, hoạt động thế chấp tài sản nói chung và thế chấp phần vốn góp
nói riêng phải đặt trong sự chi phối có tính lôgic với chế định về quyền sở hữu
và được đặt bằng những nền tảng cơ bản của học thuyết về quyền sở hữu tài sảnnói chung
Hai là, phần vốn góp trong công ty được đưa ra thế chấp là đối tượng của
hợp đồng thế chấp, là tài sản vô hình không thể chuyển giao cho các bên
Ba là, phần vốn góp trong công ty là tiền đề để các bên xác lập hợp đồng
thế chấp nhưng giá trị của phần vốn góp mới là nội dung mà bên nhận thế chấp hướng tới vì chỉ có giá trị của phần vốn góp mới bù đắp được giá trị của nghĩa
vụ bị vi phạm
Trang 7Bốn là, phần vốn góp trong công ty khi đem ra thế chấp vẫn thuộc quyền
chiếm hữu và quyền sở hữu của bên thế chấp
Năm là, các quyền của bên nhận thế chấp đối với tài sản là phần vốn góp
khi thế chấp không bị chấm dứt hoặc vô hiệu bởi các giao dịch được thiết lậpsau đó liên quan đến tài sản thế chấp
Sáu là, phần vốn góp trong công ty khi được đưa ra thế chấp luôn có xu
hướng xuất hiện những loại tài sản mới bởi bản chất tài sản là một khái niệm
"động" - luôn xuất hiện những tài sản mới theo sự phát triển của kinh tế, kỹthuật và khoa học như tài sản ảo trên mạng internet, uy tín, các dòng nănglượng, các khả năng đặc biệt của con người…
1.2 Vai trò của hoạt động thế chấp tài sản là phần vốn góp đối với doanh nghiệp
Trong sự phát triển kinh tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay thì hoạtđộng thế chấp tài sản là phần vốn góp đóng vai trò quan trọng đối với sự pháttriển doanh nghiệp Cụ thể:
Đối với chủ sở hữu phần vốn góp khi tham gia vào hoạt động thế chấp là
hình thức đem phần vốn góp làm tài sàn đảm bảo để vay vốn tại các tổ chức tín dụng Đó là hình thức huy động vốn nhanh chóng và hiệu quả đối với các cá nhân và tổ chức
Đối với các tổ chức tín dụng Đối với mỗi ngân hàng thì hoạt động tín
dụng là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất Khi cho vay, ngân hàng luôn kỳ vọng sẽ lựa chọn được khách hàng thực hiện các dự án của họ tốt để có thể hoàn trả cả gốc và lãi Tránh rủi ro trong kinh doanh thì các tổ chức tín dụng đưa ra những tiêu chuẩn lựa chọn khách hàng để cho vay
Đối với các tổ chức kinh doanh tài chính thì việc luân chuyển tiền tệ là
hoạt động chủ yếu Vì vậy việc nhận thế chấp là phần vốn góp trong công ty vàcác tài sản đảm bảo khác là một trong những hoạt động giúp cho các tổ chức tíndụng đó hoạt động bình thường
Trang 81.3 Hệ thống pháp lý về hoạt động thế chấp phần vốn góp của doanh nghiệp trong nền kinh tế Việt Nam
Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thì vấn đề huy động vốn giữ vai trò quan trọng của doanh nghiệp Vốn của doanh nghiệp luôn luôn phải trong tình trạng linh động để cho doanh nghiệp có thể giữ vững và phát triển hoạt động của mình Do vậy, để có thể huy động vốn thì hoạt động thế chấp giữvai trò vô
cùng quan trọng
Hoạt động thế chấp tài sản nói chung và thế chấp phần vốn góp nói riêng đóng vai trò quan trọng việc luân chuyển nguồn vốn cho doanh nghiệp và giúp doanh nghiệp định hướng hoạt động trong những điều kiện, hoàn cảnh thay đổicủa nền kinh tế trong và ngoài nước
Hoạt động thế chấp phần vốn góp là một phần tất yếu của bất cứ nền kinh tế lành mạnh nào và là một công cụ hiệu quả để tái cơ cấu doanh nghiệp
Hoạt động thể chấp tài sản dưới sự điều chỉnh cuả Bộ luật Dân sự 2015:
theo đó, tại BLDS 2015 hoạt động thế chấp phần vốn góp nói riêng và hoạt động thế chấp nói chung được quy định từ điều 317 đến điều 327 và dưới phần quy định chung về phần bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (từ điều 292 đến 308)
Hoạt động thế chấp tài sản được quy định dưới góc độ Luật doanh nghiệp 2014, những quy định tại khoản 13, 21 Điều 4 LDN về vốn góp và phần
vốn góp; quy định về thế chấp phần vốn góp tại khoản 6 Điều 50, điểm e khoản
1 Điều 182 LDN 2014
Ngoài ra, tại Luật đất đai 2013, Luật kinh doanh bất động sản… đều có
những quy định về thế chấp tài sản nói chung và tài sản là phần vốn góp trong công ty
Trang 9Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP PHẦN VỐN GÓP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 2.1 Tổng quan nền kinh tế Việt Nam từ khi gia nhập WTO đến nay
Việt Nam là một quốc gia nằm trong bán đảo Đông Dương, thuộc vùngĐông Nam Châu Á Lãnh thổ Việt Nam chạy dọc bờ biển phía đông của bánđảo này với diện tích là 331.212 km² trong đó có khoảng 327.480 km² đất liền.Với vị trí địa lý thuận lợi đã tạo điều kiện cho Việt Nam phát triển sản xuất và
mở rộng giao lưu kinh tế - xã hội với các nước trong khu vực và trên thế giới
Quá trình đổi mới ở Việt Nam được đánh dấu với sự thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986)
Tháng 4/2001 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã tiếp tục khẳng địnhđường lối hội nhập và phát triển kinh tế phù hợp với xu thế toàn cầu hóa với
mục tiêu được đặt ra là: “Chủ động hội nhập quốc tế và khu vực theo tinh thần
phát huy tối đa hóa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích của dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường”.
Với sự phát triển không ngừng của các doanh nghiệp Việt Nam trong những năm trở lại đây thì cần có một thị trường tài chính ổn định có thể là cầu nối vững chắc trong sự phát triển của doanh nghiệp Thông qua sự hỗ trợ của các tổ chức tín dụng bằng các giao dịch bảo đảm đã và đang tạo tiền đề cho doanh nghiệp hoạt động một cách có hiệu quả cao
Vì vậy, nhu cầu áp dụng pháp luật về thế chấp phần vốn góp trong công
ty là một đòi hỏi khách quan của quá trình toàn cầu hóa, là xu thế chung củacác nước và cũng là nhu cầu thực tế ở Việt Nam Công việc này không chỉ duytrì sự phát triển của doanh nghiệp trên thị trường nội địa mà còn chuẩn bị chodoanh nghiệp nguồn lực khi tham gia vào sân chơi quốc tế trong thời kỳ hộinhập
2.2 Quy định của pháp luật hiện hành về thế chấp phần vốn góp trong công ty của doanh nghiệp
Trang 10Trước ngưỡng cửa hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế, hệthốngpháp luật của Việt Nam về thế chấp tài sản nói chung cũng như nhữngquy định về thế chấp phần vốn góp trong công tynói riêng đã có những sựchuyển mình sâu sắc để điều chỉnh các quan hệ dân sự, kinh tế ngày càng pháttriển đa dạng BLDS năm 2015, LDN 2014, một số văn bản pháp luật có liênquan và bên cạnh đó là Ngh đ nh s 163/2006/NĐ-CP ngày 29ị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 ị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 ố 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 c a Chính ph v giao d ch b o đ m và ủa Chính phủ về giao dịch bảo đảm và ủa Chính phủ về giao dịch bảo đảm và ề giao dịch bảo đảm và ị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 ảo đảm và ảo đảm và Nghị
định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ về sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CPngày 29 tháng 12 năm
2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm…
Trước ngưỡng cửa hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế, hệthốngpháp luật của Việt Nam về thế chấp tài sản nói chung cũng như nhữngquy định về thế chấp phần vốn góp trong công tynói riêng đã có những sựchuyển mình sâu sắc để điều chỉnh các quan hệ dân sự, kinh tế ngày càng pháttriển đa dạng BLDS năm 2015, LDN 2014, một số văn bản pháp luật có liênquan và bên cạnh đó là Ngh đ nh s 163/2006/NĐ-CP ngày 29 thángị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 ị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 ố 163/2006/NĐ-CP ngày 29
12 năm 2006 c a Chính ph v giao d ch b o đ m và ủa Chính phủ về giao dịch bảo đảm và ủa Chính phủ về giao dịch bảo đảm và ề giao dịch bảo đảm và ị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 ảo đảm và ảo đảm và Nghị định số
11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung
một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CPngày 29 tháng 12 năm 2006 củaChính phủ về giao dịch bảo đảm… đã tạo nên những sắc diện mới cho các giaodịch thế chấp Điều này được thể hiện dưới các khía cạnh sau đây:
Một là, pháp luật Việt Nam hiện hành đã có những quy định cụ thể vềđiều kiện của phần vốn góp là tài sản để thế chấp, có tác dụng định hướng cho sự lựa
chọn của các chủ thể khi ký kết hợp đồng thế chấp Quy định tại Điều 295
BLDS năm 2015 (cũng như quy định tại LDN 2015) và Điều 4 Nghị định163/2006/NĐ- CP đều khẳng định 2 điều kiện cơ bản của tài sản bảo đảm nói
Trang 11chung trong đó có tài sản thế chấp là: tài sản phải thuộc sở hữu của bên thếchấp và được phép giao dịch.
Thứ hai, các quy định của pháp luật hiện hành đã có những bước đổi mớitích cực theo hướng mở rộng phạm vi đối tượng tài sản thế chấp nói chung
so với
quy địnhcủa BLDS năm 1995 và BLDS 2005, cũng như các văn bản
pháp luật trước đó.
Thứ ba, tài sản là phần vốn góp khi thế chấp được xác định theo hướng
mô tả chung thay vì quy định phải mô tả chi tiết như trước đây đã tạo điều kiện
thuận lợi cho các bên khi ký kết giao dịch và đăng ký quyền trên tài sản Một
trong những nội dung của việc xácđịnh tài sản thế chấp đó là mô tả tài sản thế chấp
2.2.1 Đối tượng thế chấp phần vốn góp trong công ty
Theo quy định của pháp luật Việt Nam về thế chấp tài sản là phần vốngóp trong công ty thì tại LDN 2014 thì phần vốn góp trong công ty, Điều 35LDN quy định về tài sản góp vốn, cụ thể:
“1 Tài sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam.
2 Quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng để góp vốn bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật
về sở hữu trí tuệ Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp đối với các quyền nói trên mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn.”
Tài sản thế chấp là phần vốn góp trong công ty có thể là vật:
Vật được dùng làm phần vốn góp trong công ty trở thành tài sản thế chấp bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ trong hoạt động tín dụng của các tổ chức tín dụng Vật có thể tồn tại dưới dạng động sản hoặc bất động sản.