1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thực thi pháp luật về tổ chức quản trị nội bộ của ngân hàng thương mại cổ phần qua thực tiễn ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển việt nam BIDV

97 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 294,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn thực thi pháp luật về tổ chức quản trị nội bộ của ngân hàng thương mại cổ phần qua thực tiễn ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển việt nam BIDV

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Ngân hàng thương mại (NHTM) đã hình thành tồn tại và phát triển gắnliền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá Sự phát triển hệ thống NHTM đã

có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tếnước ta, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn caonhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện vàtrở thành những định chế tài chính ngân hàng hông thể thiếu được

Ngân hàng thương mại cổ phần là cách gọi ở Việt Nam các ngân hànghoạt động kinh doanh, thương mại theo mô hình cổ phần và tuân theo các luậtriêng của Chính phủ và các quy chế, quy định của Ngân hàng Nhà nước ViệtNam khi hoạt động

Từ khi Đảng ta chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường và đặc biệt

là kể từ khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO, vấn đề quảntrị doanh nghiệp đã được đặt ra như một yêu cầu cấp thiết và quan trọng trong

sự phát triển chung của nền kinh tế Quản trị doanh nghiệp tốt đồng nghĩa vớikhả năng tiếp cận tài chính, đầu tư, nâng cao giá trị tăng trưởng… Các NHTMnói chung và NHTMCP nói riêng với đặc thù là các tổ chức kinh doanh

“tiền”, có độ rủi ro cao và mức độ ảnh hưởng lớn thì vấn đề quản trị lại càng

có ý nghĩa hơn, nhất là trong trường hợp của nước ta khi ngân hàng đóng vaitrò là kênh cấp vốn chủ yếu cho doanh nghiệp

Một ngân hàng yếu kém trong quản trị không chỉ gây tổn thất cho chínhngân hàng đó, mà còn tạo nên những rủi ro nhất định mang tính dây chuyềntrong hệ thống và ngược lại, từ đó ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế Hiệnnay, tình hình thanh khoản, nợ xấu của các NHTMCP đang rất căng thẳng.Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là do sự yếu kémtrong quản trị, điều hành của các ngân hàng

Trang 2

Vấn đề quản trị, điều hành ngân hàng hiện nay đang được điều chỉnhbằng Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 có hiệu lực từ ngày 01/01/2011,Luật Doanh nghiệp năm 2005, Nghị định số 59/2009/NĐ-CP ngày16/07/2009 về tổ chức và hoạt động của NHTM, Thông tư số 06/2010/TT-NHNN ngày 26/02/2010 hướng dẫn về tổ chức, quản trị, điều hành, vốn điều

lệ, chuyển nhượng cổ phần, bổ sung, sửa đổi giấy phép, điều lệ của NHTM.Trong đó, sự ra đời của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đã khắc phụcđược một số quy định tồn tại về quản trị, điều hành NHTM như: nhiệm vụ,quyền hạn của HĐQT và Tổng giám đốc chưa được phân định rõ ràng và hợp

lý dẫn đến tình trạng có những ngân hàng, HĐQT can thiệp quá sâu vào việcđiều hành hoặc ngược lại, có những ngân hàng Ban điều hành lấn át HĐQT ,hay chưa có chế độ báo cáo và công bố thông tin rõ ràng, minh bạch dẫn đếntình trạng thông tin bất cân xứng Tuy nhiên, hệ thống văn bản điều chỉnh vấn

đề quản trị, điều hành ngân hàng hiện nay thực sự vẫn chưa tương đồng, chưanghiên cứu áp dụng triệt để các nguyên tắc chung về quản trị của thế giới (cácnguyên tắc quản trị ngân hàng lành mạnh của Ủy ban Basel; các nguyên tắccủa OECD) và còn nhiều bất cập như quy định về thành viên HĐQT độc lập,

về số vốn tối thiểu của Chủ tịch HĐQT,…làm hạn chế hiệu quả quản trị, điềuhành ngân hàng

Trước tình trạng số lượng các NHTMCP đang ngày một tăng [11], thìdường như việc quan tâm đến vấn đề quản trị của các ngân hàng đang tồn tạicũng như kế hoạch quản trị cho các ngân hàng sắp được thành lập đang bị bỏrơi Nhiều vụ việc xảy ra trên thực tế như HĐQT và Ban điều hành là một,quyền lợi của cổ đông thiểu số không được coi trọng hay sự mâu thuẫn giữaHĐQT và Ban điều hành trên thực tế đã là một trong những lý do làm suygiảm niềm tin của nhà đầu tư vào các NHTMCP cũng như ảnh hưởng nhiềuđến hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Trang 3

Trong điều kiện thị trường tài chính có các yếu tố bất lợi, việc giám sátrủi ro của cơ quan quản lý còn thiếu và yếu, tình hình quản trị của các tổ chứctín dụng còn hạn chế, bất cập như hiện nay, đối với các Ngân hàng thươngmại cổ phẩn (NHTMCP) ngoài điều kiện vốn, còn cần đến các điều kiện khácnhư năng lực quản lý, năng lực quản trị doanh nghiệp, công nghệ thông tin vànhân lực.Trong bối cảnh hiện tại, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển ViệtNam - BIDV đã nỗ lực vượt qua mọi khó khăn để thực hiện xuất sắc cácnhiệm vụ kinh doanh, phát triển an toàn, hiệu quả, hướng tới chuẩn mực vàthông lệ quốc tế, giữ vững và phát huy vai trò là ngân hàng thương mại nhànước lớn, trụ cột của ngành ngân hàng luôn đi tiên phong trong việc cải cáchtoàn diện bộ máy quản lý, đổi mới công nghệ và đào tạo nhân lực Do đónhiều năm liền ngân hàng BIDV không những đạt được những kết quả kinhdoanh ấn tượng mà còn duy trì tỷ lệ nợ xấu thấp nhất trong toàn hệ thống.Xuất phát từ những lý do trên em chọn đề tài nghiên cứu: “Thực thi pháp luật

về tổ chức quản trị nội bộ của NHTMCP qua thực tiễn ngân hàng TMCP Đầu

tư và Phát triển Việt Nam - BIDV” để có cơ hội được nghiên cứu kĩ hơn côngtác tổ chức quản trị của ngân hàng này

2 Tình hình nghiên cứu

Về vấn đề quản trị, thì quản trị trong công ty cổ phần đã được nghiên

cứu trong tổng thể nhiều vấn đề của công ty như: "Quản trị công ty: Giám sátngười quản trị các doanh nghiệp" được in trong sách "Chuyên khảo Luật kinh tế" của tác giả Phạm Duy Nghĩa; "So sánh pháp luật về quản trị doanh nghiệp của một số nước trên thế giới - Bài học kinh nghiệm và kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật công ty ở Việt Nam" Đề tài đặc biệt cấp Quốc gia doPGS.TS Phạm Duy Nghĩa (chủ biên); "Báo cáo nghiên cứu rà soát văn bảnpháp luật về thành lập, tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp" của CIEM; "Quản trị công ty: Nâng cao năng lực cạnh tranh và tiếp cận nguồn vốn trênthị trường toàn cầu" sách do CIEM dịch với sự tài trợ của GTZ;Các tài

Trang 4

liệunghiên cứu của CIEM và Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ về dự

án xây dựng Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp thống nhất… và các công

trình có đề cập tới quản trị công ty như: "Nghiên cứu so sánh quản lý công ty cổphần theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa", Luận án tiến sĩLuật học của Ngô Viễn Phú; "Quản lý, điều hành trong Công ty cổ phần ở Việt Nam", Luận văn thạc sĩLuật học của

ĐậuAnh Tuấn,…Bên cạnh đó là các công trình nghiên cứu có đề cập đến

quản trị công ty như: “Nghiên cứu so sánh quản lý CTCPtheo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Công hòa nhân dân Trung Hoa”, Luận văn tiến sĩ luật học của Ngô Viễn Phú, năm 2004; “Tổ chức quản lý nội bộ CTCP – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” Luận vănthạc sĩ luật học của Cao Thị Kim Trinh, năm 2004; “Bảo vệ quyền lợi của cổđông trong CTCP theo pháp luật Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” Luận văn thạc sỹ luật học

của Bùi Minh Nguyệt, năm 2010

Tuy nhiên, tình hình nghiên cứu về hoạt động quản trị nội bộ trongNHTMCP thì vẫn còn khoảng trống Hiện nay ở nước ta, ngoài một số bàibáo đề cập hoặc nghiên cứu các khía cạnh của vấn đề quản trị nội bộ và hoạtđộng trong NHTMCP, và các công trình nghiên cứu về quản trị trong công ty

cổ phần như kể trên, thì các đề tài nghiên cứu đầy đủ về vấn đề quản trị nóiriêng cho NHTMCP vẫn chưa nhiều Đề tài này mang ý nghĩa lý luận choviệc xây dựng những quy phạm pháp luật đầy đủ, làm cơ sở pháp lý cho việc

áp dụng các quy định về hoạt động quản trị và điều hành trong NHTMCP.Những kiến nghị của đề tài hy vọng sẽ đem lại những kết quả thiết thực choviệc hoàn thiện các quy định pháp luật của Việt Nam để quản trị và hoạt độngtrong NHTMCP được thực hiện một cách tốt hơn, trợ giúp cho hoạt độngngân hàng - tài chính đang phát triển với tốc độ rất nhanh hiện nay đặc biệt làtrong bối cảnh nghiên cứu một ngân hàng cụ thể là NHTMCP Đầu tư và pháttriển Việt Nam Tác giả hy vọng rằng với sự đầu tư thích đáng, kết quả nghiêncứu sẽ là một tài liệu tham khảo có giá trị

Trang 5

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề pháp lý cũng như cơ sở lý luậncủa vấn đề hoạt động và quản trị nội bộ trong NHTMCP của Việt Nam trên

cơ sở so sánh, phân tích các quy định pháp luật của Việt Nam và các quy tắccủa thế giới Trong đó tác giả có nghiên cứu về tình hình thực tiễn tạiNHTMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam Trong nội dung trình bày, tác giả sẽđưa ra những nhận xét, đánh giá thực tiễn cũng như đánh giá xu hướng củaviệc áp dụng các quy định pháp luật về hoạt động và quản trị của NHTMCPcủa nước Việt Nam cũng như của các nước trên thế giới Qua đó nêu lênnhững kiến nghị có thể áp dụng cho Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luậtđối với lĩnh vực này đồng thời xây dựng cơ chế áp dụng một cách phù hợpvới pháp luật và tập quán quốc tế Cũng như những giải pháp nhằm nâng caohiệu quả hoạt động quản trị nội bộ tại NHTMCP Đầu tư phát triển Việt Nam

Trên cơ sở mục tiêu tổng quát nêu trên, luận văn thực hiện những mụctiêu cụ thể như sau:

- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về Ngân hàng thương mại cổphần, tô chức quản trị của Ngân hàng thương mại cổ phần

- Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành tổ chức quản trị củaNgân hàng Thương mại cổ phần và thực thi pháp luật về tổ chức quản trị củaNgân hàng TMCP thông qua thực tiễn Ngân hàng BIDV Để thực hiện đượcnhiệm vụ này, luận văn đi sâu vào phân tích thế nào là tô chức quản trị củaNgân hàng thương mại cổ phần, việc thực thi pháp luật về tô chức quản trịcủa Ngân hàng thương mại cổ phần có vai trò như thế nào đối với BIDV nóiriêng và nền kinh tế đang phát triển của nước ta nói chung đồng thời qua đónắm bắt được thực trạng hệ thống pháp luật về tô chức quản trị của Ngânhàng thương mại cổ phần cũng như thực trạng thực thi pháp luật hiện nay

Trang 6

- Kiến nghị hướng sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về tô chức quản trị củaNgân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam cho phù hợp với thực tế và phùhợp với xu hướng hội nhập quốc tế

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật vềquản trị, điều hành NHTMCP và thực tiễn áp dụng tại NHTMCP Đầu tư vàphát triển Việt Nam BIDV

Phạm vi nghiên cứu: tác giả sẽ tập trung vào phân tích thực trạng phápluật về quản trị, điều hành NHTMCP ở Việt Nam, trong đó có đánh giá thựctrạng hoạt động áp dụng pháp luật về quản trị, điều hành ở một số NHTMCPĐầu tư và phát triển Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu về pháp lý của luận văn là các quy định trong Luậtcác tổ chức tín dụng năm 2010

5 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng phương pháp phân tích, so sánh các quy định pháp luậtquốc tế và luật pháp của một số quốc gia điển hình, thu thập kinh nghiệm thựctiễn của một số quốc gia trong việc áp dụng các quy định về quản trị và hoạtđộng trong NHTMCP ở Việt Nam, từ đó rút ra những ưu điểm trong quy địnhcủa pháp luật quốc tế và luật pháp của một số nước điển hình trên thếgiới vềvấn đề vấn đề này; xem xét tính phù hợp với điều kiện của Việt Nam đểhướng tới việc hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam

6 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học

về vấn đề quản trị nội bộ đối với NHTMCP và thực tiễn áp dụng tại một ngânhàng cụ thể là NHTMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam BIDV

Trang 7

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể là tài liệu tham khảo trong cáctrường đại học chuyên ngành luật cũng như tài liệu thực tiễn cho hoạt độngquản trị nội bộ tại các NHTMCP cụ thể.

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tàiđược kết cấu thành 3 chương với 8 tiểu mục

Trang 8

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ NỘI BỘ NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 1.1 Khái niệm, đặc điểm về quản trị nội bộ ngân hàng thương mại cổ phần

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm ngân hàng thương mại cổ phần

1.1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại cổ phần

Khác với NHNN, là một chủ thể kinh doanh trong đời sống kinh tế,trước tiên NHTM là một loại hình doanh nghiệp Cũng như những doanhnghiệp khác, NHTM sử dụng các yếu tố đầu vào để sản xuất ra sản phẩm dướihình thức là cung cấp dịch vụ tài chính Tuy nhiên, không giống những doanhnghiệp khác, ngân hàng là loại hình doanh nghiệp đặc biệt, trong đó vốn vàtiền vừa là phương tiện, mục đích và cũng là đối tượng kinh doanh của ngânhàng Vốn tự có của ngân hàng thường thấp và ngân hàng kinh doanh chủ yếubằng vốn của người khác, nên kinh doanh ngân hàng thường gắn với rủi ro vàngân hàng phải chấp nhận mức độ mạo hiểm nhất định Các ngân hàng khôngnhững phải đảm bảo nhu cầu thanh toán, chi trả như những doanh nghiệpkhác, mà còn phải đảm bảo nhu cầu chi trả tiền gửi của khách hàng Hoạtđộng kinh doanh của ngân hàng chứa đựng nhiều rủi ro, tình hình tài chính vàrủi ro của ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các doanhnghiệp và nền kinh tế cũng như tâm lý người dân do bản chất lây lan rủi rongân hàng có thể làm rung chuyển toàn hệ thống kinh tế

Như vậy, có thể hiểu NHTM là tổ chức hoạt động kinh doanh cung cấpcác dịch vụ ngân hàng tìm kiếm lợi nhuận Trên thế giới, có nhiều cách địnhnghĩa khác nhau về NHTM Ở Mỹ, NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ,chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch

vụ tài chính Đạo luật Ngân hàng của Pháp (1941) định nghĩa: “NHTM là

Trang 9

những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạccủacông chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sửdụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng

và tài chính” Ở Ấn Độ, NHTM là cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vayhay tài trợ đầu tư Còn ở Thổ Nhĩ Kỳ, NHTM là hội trách nhiệm hữu hạn thiếtlập nhằm mục đích nhận tiền ký thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái,nghiệp vụ công hối phiếu, chiết khấu và những hình thức vay mượn khác…[26, tr.14] Như vậy, dù khác nhau song các định nghĩa trên đây đều tiếp cậnkhái niệm NHTM thông qua hoạt động nghiệp vụ của nó

Với những nghiệp vụ nhiều rủi ro và mang tính ảnh hưởng lớn đến cảmột nền kinh tế, các ngân hàng đòi hỏi phải có sự quản lý, giám sát chặt chẽcủa nhà nước trong hoạt động Bởi vì, nếu một ngân hàng kinh doanh thua lỗhay bị sụp đổ, sẽ kéo theo hàng loạt những hệ quả và ảnh hưởng nặng nềkhác, đặc biệt ảnh hưởng lớn đến dân chúng gửi tiền Trên thế giới vẫn xảy ranhững tranh chấp trong việc định nghĩa ngân hàng là gì Các ngân hàng có thểđược định nghĩa qua chức năng (các dịch vụ) được thực hiện trong nền kinhtế.Tuy nhiên, vấn đề là không chỉ chức năng của các ngân hàng đang thay đổi

mà chức năng của các đối thủ cạnh tranh chính sách của ngân hàng cũngkhông ngừng thay đổi [26, tr.18] Đối thủ cạnh tranh chính sách của ngânhàng ở đây bao gồm các tổ chức tài chính phi ngân hàng, công ty chứngkhoán, công ty tài chính, công ty bảo hiểm đều đang cố gắng cung cấp cácdịch vụ của ngân hàng Do đó, ngân hàng cũng đối phó với các đối thủ cạnhtranh này bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ, hướng về lĩnh vựcbất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, và thựchiện nhiều dịch vụ mới khác Do vậy, nếu định nghĩa không rõ ràng, thì một

số tổ chức sẽ luôn tìm cách mở rộng phạm vi hoạt động của mình sang lĩnhvực ngân hàng, vốn là ngành cần phải được Nhà nước quản lý chặt chẽ

Pháp luật Việt Nam cũng đã dự liệu được điều này, vấn đề tên gọi

Trang 10

các"ngân hàng" đã được ghi nhận trong văn bản luật gần đây nhất là Nghị

định số 59/2009/NĐ-CP: "Các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng không đượcphép sử dụng thuật ngữ "ngân hàng" trong tên của tổ chức, trong các phần phụ thêm của tên, văn bản, thông báo hoặc quảng cáo của mình mà thuật ngữ đó có thể gây nhầm lẫn cho công chúng về việc tổ chức của mình là một ngân hàng" [4].

Ở Việt Nam, tại khoản 2, Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng 2010 quyđịnh: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cảcác hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng” Theo

đó, NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngânhàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằmmục tiêu lợi nhuận Như vậy, cơ sở phân biệt NHTM với các hình thức ngânhàng khác là ở “mục tiêu lợi nhuận”

Luật Các tổ chức tín dụng không trực tiếp đưa ra khái niệm về NHTM,

mà chỉ định nghĩa thông qua các khái niệm ngân hàng và hoạt động ngânhàng Khái niệm NHTM được đề cập ở Nghị định 59/2009/NĐ-CP: "Ngânhàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng

và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quyđịnh của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật"(khoản 1 Điều 5) [4] Trong đó "Ngân hàng thương mại cổ phần là ngân hàngthương mại được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần" (khoản 3 Điều 5)[4]

Việc thành lập các ngân hàng ở Việt Nam cũng khác so với các tổ chứckhác Sau khi nhận được Giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng củaNHNN, ngân hàng vẫn phải tiến hành đăng ký kinh doanh theo quy định củaLuật doanh nghiệp Về cơ bản, cơ cấu quản trị ngân hàng vẫn được áp dụngtheo các quy định tại Luật Doanh nghiệp, ngoài ra, với tính chất đặc thù củangân hàng nên Luật Các tổ chức tín dụng và các văn bản chuyên ngành khác

Trang 11

có quy định một số yêu cầu khác chi tiết hơn về các cơ quan tham gia quản trịcũng như điều kiện để trở thành thành viên của các cơ quan này.

Trong khi đó theo định nghĩa tại Nghị định số 59/2009/NĐ-CP, có địnhnghĩa các Ngân hàng:

- Ngân hàng thương mại Nhà nước là ngân hàng thương mại trong

đóNhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ NHTMNN bao gồm ngân hàngthương mại do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và NHTMCP do Nhà nước

sở hữu trên 50% vốn điều lệ

- Ngân hàng thương mại cổ phần là ngân hàng thương mại được tổchức

dưới hình thức công ty cổ phần

- Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài là ngân hàng

thươngmại được thành lập tại Việt Nam với 100% vốn điều lệ thuộc sở hữunước ngoài; trong đó phải có một ngân hàng nước ngoài sở hữu trên 50% vốnđiều lệ (ngân hàng mẹ) Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài đượcthành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc từhai thành viên trở lên, là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam

- Ngân hàng thương mại liên doanh là ngân hàng thương mại

đượcthành lập tại Việt Nam, bằng vốn góp của bên Việt Nam (gồm một hoặcnhiều ngân hàng Việt Nam) và Bên nước ngoài (gồm một hoặc nhiều ngânhàng nước ngoài) trên cơ sở hợp đồng liên doanh Ngân hàng thương mại liêndoanh được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn từ haithành viên trở lên, là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam Nhưvậy, qua từng thời kỳ, cách phân loại về ngân hàng đã có sự khác nhau

Sau đó, trong giai đoạn cơ cấu lại tổ chức và hoạt động của hệ thốngngân hàng nên các Ngân hàng thương mại nhà nước đã được chuyển đổi hoạtđộng với tên gọi thống nhất là các NHTMCP, còn tất các Ngân hàng thươngmại không phải của nhà nước đều hoạt động dưới mô hình Ngân hàng thương

Trang 12

mại cổ phần

Từ sự phân tích trên, có thể hiểu NHTMCP là loại hình tổ chức tíndụng được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần; được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật.

1.1.1.2 Đặc điểm của ngân hàng thương mại cổ phần

Thứ nhất, bản thân NHTMCP là doanh nghiệp đặc biệt nên hoạt

độngcủa ngân hàng cũng có những “đặc thù” so với các công ty Đó là sự đadạng về các đối tượng thụ hưởng nên khó quản lý Thành phần tham gia điềuhành hoạt động của loại hình doanh nghiệp này hết sức đa dạng, phức tạp vàchủ yếu phân chia lợi ích (cổ tức) theo tỷ lệ góp vốn (cổ phần) Các cá nhân,

tổ chức góp vốn sẽ đều có những quyền hạn nhất định trong việc tham giađiều hành, quản trị hoạt động của doanh nghiệp Vì vậy, việc điều chỉnh hàihòa mối quan hệ lợi ích giữa các chủ thể là quan trọng nhưng hết sức phứctạp Nếu không có những quy định hợp lý, sẽ rất dễ dẫn tới tình trạng phi tổchức, thiếu thống nhất, hoặc xuất hiện lợi ích nhóm

Thứ hai, NHTMCP là loại hình tổ chức tín dụng kinh doanh nhằm

mụcđích lợi nhuận, song vốn tự có thường không ổn định Hoạt động kinhdoanh chủ yếu dựa trên vốn huy động từ xã hội, nhưng nguồn huy động nàylại chịu tác động từ nhiều yếu tố biến động như ổn định chính trị, tăng trưởngkinh tế…hoặc đôi khi chỉ là hoạt động của một ngành, một lĩnh vực lớn nhưbất động sản, chứng khoán…Chính vì vậy, hoạt động của NHTMCP thườngchứa đựng tính rủi ro cao Do nhiều khoản nợ ngắn hạn nên rủi ro trong hoạtđộng thường cao và dễ dẫn đến phá sản Điều này đặt ra những yêu cầu nhấtđịnh của việc quản trị điều hành nhằm đưa hoạt động của NHTMCP đi vào ổnđịnh và phát triển Do đó, việc đưa ra những quy định pháp luật về NHTMCPhợp lý là cực kỳ quan trọng, tạo hành lang pháp lý thống nhất để các chủ thểkhi tham gia hoạt động này thực hiện

Trang 13

Thứ ba, NHTMCP là loại hình doanh nghiệp có vai trò rất quan

trọngtrong việc sử dụng, phân bổ nguồn vốn huy động từ xã hội, các hoạtđộng củaloại hình doanh nghiệp này có ảnh hưởng lớn đến sự ổn định xã hội,kinh tế đất nước, nếu đổ vỡ sẽ có thể gây tổn thất lớn và trên phạm vi rộng.Tại cùng một thời điểm, các ngân hàng chịu rủi ro hơn về quản trị so vớidoanh nghiệp thông thường vì tính không rõ ràng hay cụ thể hơn là phạm vicát cứ, chuyển rủi ro, lợi ích của cá nhân và sự chiếm dụng công khai (hoạtđộng ngầm, hoạt động cho vay nội gián, chiếm đoạt… lớn hơn so với cácdoanh nghiệp phi tài chính Việc quản lý thiếu nghiêm túc, sự lạm dụng quyềnlực trong nội bộ một số NHTMCP là nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng, đedọa hoạt động và sự ổn định của cả hệ thống tổ chức tín dụng Sự khủnghoảng của hệ thống các tổ chức tín dụng trong thời gian qua và mối liên quantrực tiếp từ sự khủng hoảng của kinh doanh bất động sản là một minh chứnghết sức rõ nét cho tầm ảnh hưởng của hệ thống các tổ chức tín dụng nói chung

và NHTMCP nói riêng tới toàn bộ hoạt động của nền kinh tế Do đó, việc đặt

ra những quy định pháp lý chặt chẽ điều chỉnh hoạt động của các NHTMCPtrong đó đặc biệt là hoạt động quản trị, điều hành là vô cùng quan trọng Đâycũng chính là công cụ để Nhà nước kiểm soát, điều hành sự vận động củakinh tế vĩ mô, trong đó có hoạt động kinh doanh tiền tệ

1.1.2 Khái niệm, đặc điểmcủa quản trị nội bộ ngân hàng thương mại cổ phần

1.1.2.1 Khái niệm quản trị nội bộ ngân hàng thương mại cổ phần

Thuật ngữ Corporate Governance tạm dịch là quản trị doanh nghiệp đã

được thừa nhận rộng rãi và được nhiều quốc gia trên thế giới nghiên cứu.Theo hệ thống dân luật, doanh nghiệp có những quan hệ hướng nội (quan hệgiữa các thành viên, giữa các cơ quan quản lý, điều hành trong công ty) vàquan hệ hướng ngoại (quan hệ giữa công ty và các bên thứ ba như người laođộng, cơ quan nhà nước, đối tác, các tổ chức tài chính ) [23, tr 357] Các

Trang 14

quy định điều chỉnh mối quan hệ giữa các thành viên, giữa các cơ quan quản

lý, điều hành trong ngân hàng là nội dung chính của quản trị ngân hàng theo ýnghĩa đề tài này hướng đến

Theo Tổ chức hợp tác và phát triển (OECD):Quản trị công ty là một hệthống các cơ chế, các hành vi quản lý Cơ chế này xác định việc phân chia cácquyền và nghĩa vụ giữa cổ đông, Hội đồng quản trị, các chức danh quản lý vànhững người có lợi ích liên quan, quy định trình tự ban hành các quyết địnhkinh doanh Bằng cách này, công ty tạo ra một cơ chế xác lập mục tiêu hoạtđộng, tạo ra phương tiện thực thi và giám sát việc thực hiện các mục tiêu đó[17]

Theo Ngân hàng Thế giới (WB):’Quản trị công ty là một hệ thống cácyếu tố pháp luật, thể chế và thông lệ quản lý của các công ty Nó cho phépcông ty có thể thu hút được các nguồn tài chính và nhân lực, hoạt động cóhiệu quả, và nhờ đó tạo ra các giá trị kinh tế lâu dài cho các cổ đông, trongkhi vẫn tôn trọng quyền lợi của những người có lợi ích liên quan và của xãhội Đặc điểm cơ bản nhất của một hệ thống quản trị công ty là: (i) tính minhbạch của các thông tin tài chính, kinh doanh và quá trình giám sát nội bộ đốivới hoạt động quản lý, (ii) bảo đảm thực thi các quyền của tất cả các cổ đông,(iii) các thành viên trong Hội đồng quản trị có thể hoàn toàn độc lập trongviệc thông qua các quyết định, phê chuẩn kế hoạch kinh doanh, tuyển dụngngười quản lý, trong việc giám sát tính trung thực và hiệu quả của hoạt độngquản lý và trong việc miễn nhiệm người quản lý khi cần thiết [13]

Các định nghĩa này cho thấy, quản trị công ty nhằm bảo vệ lợi ích củacác bên liên quan chính trong các doanh nghiệp kinh doanh Như đã có nhậnxét:"Quản trị công ty trước hết bao gồm các thiết chế điều chỉnh mối quan hệgiữa các chủ sở hữu với nhau và giữa họ với bộ máy điều hành trong nhữngdoanh nghiệp qui mô lớn mà sở hữu và điều hành đã bắt đầu tách rời" [15,tr.400]

Trang 15

Như vậy, trong nền kinh tế thị trường, một công ty có nhiều đối tượnghưởng lợi và những đối tượng này được phân chia thành các nhóm có lợi íchxung đột với nhau Việc quản trị sẽ cân bằng các ảnh hưởng đó một cách tối

ưu cho công ty nhằm phát huy được tính hiệu quả, công khai, minh bạch, gópphần bảo vệ nhà đầu tư tốt hơn và cải thiện sức cạnh tranh cho chính bản thândoanh nghiệp

Điều này cho thấy, thuật ngữ "quản trị công ty" hoàn toàn khác vớicách hiểu "quản trị kinh doanh" (theo môn học kinh tế) thường được hiểu làtri thức và kỹ năng của những người quản lý Quản trị kinh doanh chính là ápdụng các nguyên tắc và lý luận của khoa học quản trị vào việc quản trị một cơ

sở kinh doanh mà mục tiêu chủ yếu là lợi nhuận Như vậy, về thực chất, quảntrị kinh doanh là một quá trình, một hoạt động có hướng đích, có tổ chức củachủ thể quản trị (nhà quản trị) lên đối tượng quản trị (cấp dưới) để điều hành,phối hợp các nguồn lực (tài sản hữu hình, tài sản vô hình, thời gian và cácmối quan hệ) trong điều kiện cạnh tranh thị trường nhằm đạt được mục tiêukinh doanh với hiệu quả cao [6]

Trong NHTMCP, việc quản trị sẽ là một cơ chế nhằm điều khiển vàkiểm soát hoạt động của ngân hàng Nói đến quản trị các nhà kinh tế học hoặcchuyên gia ngân hàng sẽ hình dung không những là việc quản trị, thực hiệnquyết định và tổ chức nội bộ của các ngân hàng mà còn là việc quản trị thanhkhoản (khả năng thanh toán và quy mô của ngân hàng), quản trị tài sản có(tích sản), quản trị tài sản nợ (tiêu sản), quản trị vốn, quản trị tín dụng với nộidung cơ bản là phân tích tín dụng [29, tr.12-13] Trong việc quản trị, thựchiện quyết định và tổ chức nội bộ của ngân hàng sẽ bao gồm nhiều hoạt động:hoạch định việc thực hiện các quyết định trong ngân hàng, kiểm tra (bao gồmviệc thực hiện các báo cáo, kiểm toán, thanh tra ngân hàng) và tổ chức nội bộ.Trong hoạt động tổ chức nội bộ của ngân hàng sẽ bao gồm việc tổ chức cơcấu từ cấp cao (Hội sở) đến từng ủy ban chức năng, các chi nhánh hoạt động

Trang 16

và việc tổ chức các cơ quan quản lý, điều hành trong ngân hàng Đề tài nàychỉ nghiên cứu những vấn đề liên quan đến việc tổ chức nội bộ đối với các cơquan quản lý, điều hành trong ngân hàng và những quy định pháp lý liênquan, cụ thể là việc phân định rõ quyền hạn và nghĩa vụ giữa các thành viên,

cơ quan trong ngân hàng như các cổ đông, HĐQT, BKS, Ban Giám đốc (Ban

điều hành) và các cơ quan giúp việc khác Như vậy, phạm vi nghiên cứu chỉ

là một phần của hoạt động "quản trị nội bộ ngân hàng thương mại" nói trên

1.1.2.2 Đặc điểm của quản trị nội bộ ngân hàng thương mại cổ phần

Các NHTMCP - bản chất là các doanh nghiệp, song là các doanhnghiệp đặc biệt, cung cấp các dịch vụ về tài chính nhằm thu lợi nhuận, do vậyhoạt động quản trị, điều hành không những tác động đến giá trị của ngân hàng

và giá vốn của họ mà còn tác động đến giá vốn của các doanh nghiệp và hộgia đình mà họ cho vay vốn Công tác quản trị, điều hành tại ngân hàng sẽ tácđộng trực tiếp không chỉ đến giá trị của ngân hàng mà còn tới vị thế và uy tíncủa ngân hàng Nói một cách tổng quát, vấn đề quản trị, điều hành tác độngđến khả năng chấp nhận rủi ro của ngân hàng, là thước đo cho khả năngchống đỡ của ngân hàng trước biến động của nền kinh tế Không những thế,hoạt động của ngân hàng tác động đến sự luân chuyển nguồn vốn của nềnkinh tế bởi lẽ các ngân hàng huy động và phân bổ tiết kiệm của xã hội

Cũng bởi NHTMCP là các doanh nghiệp đặc biệt nên hoạt động củacác ngân hàng cũng có những “đặc thù” khác với các công ty

Thứ nhất, hoạt động của ngân hàng chịu sự tác động mạnh mẽ từ cácthông tin về tài chính được đưa ra từ nhiều nguồn khác nhau và khó nhận địnhđánh giá Cùng với đó là sự đa dạng về các đối tượng thụ hưởng nên khó quảnlý; nhiều khoản nợ ngắn hạn dẫn đến độ rủi ro trong hoạt động là rất cao vàrất dễ dẫn đến phá sản; chịu sự quản lý chặt chẽ với nhiều quy định khắt khe

và chi tiết do tầm quan trọng trong hệ thống, nếu đổ vỡ có thể gây ra tổn thấtlớn và trên phạm vi rộng Vì thế, bản thân các NHTMCP cũng phải đưa ra các

Trang 17

quy định rất cụ thể, rõ ràng như các hạn chế về hoạt động (sản phẩm, chinhánh), yêu cầu về đảm bảo an toàn (phân loại tín dụng, dự trữ bắt buộc…).

Vai trò của quản trị, điều hành NHTMCP rất quan trọng vì quản trị tốt,ngân hàng có thể minh bạch hơn, giá trị cao hơn và tạo điều kiện giám sáthiệu quả hơn

Thứ hai, quản trị, điều hành được đặt trên cơ sở của sự tách biệt

giữaquản lý và sở hữu NHTMCP NHTMCP do các cổ đông là chủ sở hữu,nhưng để công ty tồn tại và phát triển phải có sự dẫn dắt của HĐQT, sự điềuhành của Ban điều hành, sự giám sát của BKS và sự đóng góp của người laođộng, những người này không phải lúc nào cũng có chung ý chí và quyền lợi.Điều này dẫn đến cần phải có một cơ chế để nhà đầu tư cũng như cổ đông cóthể hướng hoạt động của ngân hàng phát triển đem lại hiệu quả cao nhất

Thứ ba, quản trị, điều hành NHTMCP xác định quyền hạn và

tráchnhiệm giữa các nhóm lợi ích, các thành viên khác nhau trong ngân hàng,bao gồm các cổ đông, HĐQT, Ban điều hành, BKS Đồng thời, quản trị, điềuhành ngân hàng cũng lập ra các nguyên tắc và quy trình, thủ tục ra các quyếtđịnh trong ngân hàng, qua đó ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực và chức vụ,giảm thiểu những rủi ro liên quan đến hoặc có nguồn gốc từ những giao dịchvới các bên có liên quan, những xung đột lợi ích tiềm năng và từ việc không

có tiêu chuẩn rõ ràng hoặc không tuân thủ các quy định về công bố thông tin

và không minh bạch

1.2 Các mô hình quản trị nội bộ ngân hàng thương mại cổ phần

1.2.1 Mô hình quản trị hai cấp

Mô hình tổ chức và quản lý hiện tại được phân biệt chủ yếu theo chứcnăng với hai cơ cấu quyền lực là cấp quản trị điều hành và cấp quản lý kinhdoanh

Cấp quản trị điều hành: LàHĐQT gồm chủ tịch HĐQT và một sốthành

Trang 18

viên chuyên trách, làm việc theo chế độ tập thể, giúp việc HĐQT cóbanchuyên viên và BKS Về nguyên tắc HĐQT thực hiện chức năng quản lý đốivới mọi hoạt động của ngân hàng; chịu trách nhiệm bảo toàn và phát triểnvốn; ban hành các điều lệ, cơ chế, qui chế tổ chức và hoạt động của các ngânhàng.

Cấp quản lý kinh doanh:Cấp điều hành kinh doanh gồm Tổng giámđốc,

các Phó tổng giám đốc và các phòng ban tham mưu giúp việc tại hội sở chính,bên cạnh Tổng giám đốc có Kế toán trưởng Cấp trực tiếp kinh doanh gồmcác đơn vị hạch toán độc lập, các chi nhánh hạch toán phụ thuộc, các đơn vị

sự nghiệp và đơn vị hùn vốn kinh doanh

Mô hình tổ chức hiện tại theo hai cấp như trên trong thời gian qua đãđược áp dụng trên thực tế tại nhiều NHTMCP, tuy nhiên, mô hình này đã bộc

lộ một số nhược điểm như sau:

- Đối với HĐQT cơ quan quản lý cao nhất không tập trung được cácluồng thông tin chủ yếu về hoạt động của ngân hàng để xây dựng, kiểm tracác mục tiêu chiến lược và các quyết định phòng ngừa rủi ro trong đó có rủi

ro lãi suất

- Các phòng ban nghiệp vụ từ trụ sở chính và chi nhánh được phânnhiệm theo chức năng nghiệp vụ và cắt khúc theo địa giới hành chính, chưachú trọng phân nhiệm theo nhóm khách hàng và loại dịch vụ như thông lệquốc tế Đây là hạn chế lớn nhất về cấu trúc quản lý và phát triển sản phẩmmới đối với ngân hàng thương mại

- Thiếu các bộ phận liên kết các hoạt động, các quyết định giữa cácphòng ban nghiệp vụ, tạo điều kiện cho HĐQT và ban điều hành bao quáttoàn diện hoạt động và tập trung nhân lực, tài lực vào các định hướng chiếnlược

Nhìn chung các ngân hàng thương mại rất lúng túng trong việc hoạch

Trang 19

định chiến lược, kế hoạch kinh doanh do thiếu các cơ quan và cơ sở dữ liệu vềphân tích, dự báo môi trường kinh doanh, đánh giá nguồn lực và xác địnhtầmnhìn trung, dài hạn vốn là công cụ quản lý cơ bản của các ngân hàngthương mại hiện đại.

Mô hình tổ chức trên chỉ thích hợp trong điều kiện hoạt động với qui

mô nhỏ, mức độ tập trung quyền lực cao Khi ngân hàng phát triển với qui môngày càng lớn với số lượng chi nhánh ngày càng mở rộng, khối lượng và tínhchất công việc ngày càng nhiều và phức tạp hơn thì mô hình tổ chức của ngânhàng thương mại Việt Nam có những hạn chế như việc tổ chức và bố trí cácphòng nghiệp vụ hiện nay cả ở cấp trung ương và chi nhánh đang được tiếnhành phân cấp quản lý theo loại hình nghiệp vụ, chưa chú trọng quản lý theothị trường và đối tượng phục vụ Theo đó việc cơ cấu lại tổ chức là điều tấtyếu

1.2.2 Mô hình quản trị theo hướng chuyên môn hóa

Hiện nay, các NHTMCP Việt Nam đều hoạt động theo hướng ngân

hàng đa năng (Universal bank), ngày càng mở rộng các sản phẩm và dịch vụ

cung cấp, đòi hỏi một bộ máy quản trị hoạt động hiệu quả với sự chuyên mônhóa cao Với sự đa dạng về sản phẩm và dịch vụ tài chính mà NHTMCP cungcấp, nhiều ngân hàng đã tổ chức một bộ máy quản trị ngành dọc theo hướngchuyên môn hóa

Theo đó, chủ sở hữu là cơ quan tối cao, có quyền đưa ra định hướngphát triển, mục tiêu của NHTMCP - chính là ĐHĐCĐ Chức năng của các cơquan quản lý NHTM được phân định rõ ràng và tách bạch với quyền sở hữu:

- HĐQT là cơ quan quản trị của NHTMCP, có toàn quyền nhân danhngân hàng quyết định chính sách phát triển cho ngân hàng, giúp việc choHĐQT là các Ủy ban chuyên môn

- Ban điều hành mà đứng đầu là Tổng giám đốc, điều hành hoạt động

Trang 20

hàng ngày của NHTMCP, thực hiện các nghị quyết, quyết định của ĐHĐCĐ

và HĐQT

- BKS có chức năng kiểm tra, giám sát hoạt động của NHTMCP

Trong các ngân hàng này, cơ cấu của HĐQT bao gồm những thànhviên chuyên trách trong các lĩnh vực hoạt động của ngân hàng và các thànhviên độc lập Việc có những thành viên độc lập trong HĐQT rất quan trọng,

sẽ đảm bảo bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông, đặc biệt là cổ đông nhỏ HĐQTcũng có các ủy ban chuyên môn thường trực để giúp đỡ HĐQT giải quyếtngay những vấn đề phát sinh thuộc thẩm quyền giải quyết của HĐQT màkhông cần chờ đến cuộc họp HĐQT Với đặc thù "kinh doanh rủi ro" của hoạtđộng ngân hàng, HĐQT thành lập Ủy ban quản lý rủi ro, có nhiệm vụ tư vấncho HĐQT những biện pháp nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt độngcủaNHTMCP nhưng vẫn đạt được mục tiêu lợi nhuận Và một ủy ban đượcthành lập là Ủy ban tín dụng (hay theo thông lệ quốc tế gọi là Hội đồng tíndụng) Với hoạt động thường xuyên và chủ yếu của các NHTMCP là hoạtđộng nhận tiền gửi và cấp tín dụng, việc quy định Hội đồng tín dụng là rất cầnthiết Hội đồng tín dụng có nhiệm vụ quyết định chính sách tín dụng và quản

lý rủi ro tín dụng trong NHTMCP

Ban điều hành cũng được tăng cường chức năng điều hành, thông quaviệc mỗi thành viên đều được chuyên môn hóa, phụ trách một số nghiệp vụnhất định Hiện nay một số NHTMCP quy định Ủy ban ALCO (ủy ban quản

lý tài sản Nợ và tài sản Có) trong cơ cấu tổ chức của mình trực thuộc HĐQT.Chức năng của ủy ban này là xây dựng các chỉ tiêu tài chính để quản lý tài sản

nợ và tài sản có hữu hiệu và kịp thời; quy định mức dự trữ thanh khoản; quản

lý rủi ro lãi suất, tỷ giá; quyết định về cấu trúc vốn và nguồn vốn, chính sáchlãi suất; phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh Tài sản có là những khoảnmục sử dụng vốn của ngân hàng, bao gồm: ngân quỹ, tín dụng, đầu tư chứngkhoán và tài sản cố định Tài sản nợ là nguồn vốn chủ yếu của NHTMCP, bao

Trang 21

gồm: tiền gửi (tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kì hạn, tiền gửi thanh toán), cácnghiệp vụ liên ngân hàng (tái chiết khấu giấy tờ có giá hay còn gọi là tái cấpvốn của NHNN, vay trên thị trường liên ngân hàng) Việc quản lý tài sản có

và tài sản nợ chính là mối quan hệ giữa huy động và sử dụng nguồn vốn Cơ

sở của hoạt động này dựa trên các báo cáo hàng ngày, đặc biệt là bảng cân đối

kế toán

1.2.3 Mô hình quản trị công ty mẹ – con

Trong bối cảnh thị trường dịch vụ tài chính mở cửa ngày càng sâu rộngsau khi Việt Nam gia nhập WTO thì việc thành lập tập đoàn tài chính - ngânhàng trên cơ sở một số NHTMCP là cần thiết và đã được một số ngân hànglớn đang từng bước thực hiện Tập đoàn tài chính - ngân hàng có đặc điểm: (i)

là một tổ chức bao gồm ít nhất hai mảng hoạt động tài chính quantrọng (ngânhàng, bảo hiểm, chứng khoán); (ii) những hoạt động tài chính này là hoạtđộng kinh doanh chính của tổ chức đó Hiện nay, một số NHTMCP Việt Nam

đã có những tiền đề để hình thành nên tập đoàn tài chính - ngân hàng CácNHTM Việt Nam thành lập những công ty trực thuộc trong các lĩnh vựcchứng khoán, bảo hiểm, quản lý nợ và khai thác tài sản và mở rộng góp vốnhình thành các công ty liên kết kinh doanh trên nhiều lĩnh vực, hoạt động theo

mô hình công ty mẹ - công ty con Mô hình này sẽ tạo cho các ngân hàng pháttriển được các dịch vụ liên quan, đẩy mạnh những nguồn lực vốn có của ngânhàng như nguồn lực về vốn, khách hàng, thị trường chiếm lĩnh, thương hiệu Hơn nữa, theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, một số hoạt độngngân hàng sẽ không được trực tiếp thực hiện như kinh doanh bất động sản,cho thuê tài chính mà phải thực hiện thông qua các công ty trực thuộc Việchình thành mô hình công ty mẹ - công ty con sẽ đáp ứng tốt nhất được cácđiều kiện này, và là cơ sở để mở rộng hoạt động dịch vụ, nâng ngân hàng lênmột phạm vi hoạt động lớn hơn

Theo mô hình này, việc quản trị phải được tổ chức từ Hội sở chính cho

Trang 22

đến các công ty trực thuộc HĐQT của ngân hàng và các Hội đồng chức năngnhư Hội đồng đầu tư chiến lược, các ủy ban sẽ giữ quyền quản trị các công tytrực thuộc này, việc quản lý điều hành phải được lập thành quy định riêng củangân hàng, theo đó, các chức danh quản lý của công ty trực thuộc chỉ đượcquyết định một số vấn đề trong phạm vi được ủy quyền, vượt quá hạn mức, tỷ

lệ nhất định, các cơ quan quản trị của ngân hàng sẽ phê duyệt và quyết định

1.3 Khái quát về pháp luật quản trị nội bộ ngân hàng thương mại cổ phần

1.3.1 Sự cần thiết của việc điều chỉnh pháp luật đối với quản trị nội bộ ngân hàng thương mại cổ phần

Có nhiều ý kiến cho rằng quản trị trong ngân hàng sẽ được điều chỉnhbởi các quy định trong Luật Doanh nghiệp, bởi NHTMCP được tổ chức dướihình thức công ty cổ phần - một loại hình doanh nghiệp phổ biến, do vậykhông cần phải có quy định riêng Tuy nhiên, NHTM có những đặc thù riêng,

là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt Theo Stijn Claessens, Chuyên gia tưvấn cao cấp, Vụ chính sách và hoạt động lĩnh vực tài chính, Ngân hàng thếgiới phát biểu tại Hội nghị bàn tròn Châu Á về quản trị doanh nghiệp: Cácngân hàng có đặc điểm khác với các công ty bởi những nội dung:Sự không rõràng, thông tin tài chính không rõ ràng: rất khó để đánh giá hoạt động và rủiro;Đa dạng hơn về các đối tượng thụ hưởng (nhiều người gửi tiền và thôngthường đa dạng trong sở hữu, phụ thuộc vào các hạn chế): không thúc đẩyviệc quản lý; Rủi ro lớn, nhiều khoản nợ ngắn hạn: rủi ro, dễ dẫn đến phá sản;Nặng về quy định: do tính quan trọng về hệ thống, nếu đổ vỡ có thể gây ra tổnthất lớn, quy định chi tiết hơn [5]

NHTMCP hoạt động dưới hình thức một công ty cổ phần Nhưng phápluật buộc phải có những qui định riêng cho hoạt động quản trị NHTMCP cũngnhư hoạt động quản trị của các NHTM khác như các qui định về điều kiệnkinh doanh; cơ cấu tổ chức quản lí; tiêu chuẩn chuyên môn, đạo đức cho các

Trang 23

chức danh quản lí… Những qui định này khắt khe hơn nhiều so với những quiđịnh chung áp dụng cho các doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vựckhác Nguyên nhân của việc pháp luật kiểm soát chặt chẽ hoạt động quản trịNHTM xuất phát từ những lý do sau:

Thứ nhất, kinh doanh ngân hàng tiềm ẩn độ rủi ro cao.

Rủi ro trong hoạt động của NHTMCP cao và phức tạp hơn nhiều so vớicác lĩnh vực kinh doanh khác Và đây là những rủi ro đặc thù của hoạt độngngân hàng Những rủi ro này xuất phát trước hết từ đối tượng kinh doanh đặcbiệt của NHTMCP: tiền tệ - đối tượng nhạy cảm cao với rủi ro

Hơn nữa, các NHTMCP đều hoạt động theo hướng ngân hàng đa năng,không chỉ thực hiện các nghiệp vụ truyền thống như cho vay, chiết khấu, mà

mở rộng bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng như bảo lãnh, tíndụng thuê mua, đồng tài trợ, hoán đổi ngoại tệ… Do đó, độ rủi ro cũng tănglên, tỉ lệ thuận với những hoạt động nghiệp vụ của NHTMCP

Rủi ro của NHTMCP không chỉ phát sinh từ hoạt động quản lý củachính bản thân ngân hàng, mà còn phát sinh từ quá trình sản xuất, kinh doanhcủa các doanh nghiệp, khách hàng của NHTMCP, và phụ thuộc vào thiện chítrả nợ của họ Có thể nói, rủi ro mà NHTMCP phải gánh chịu là phép cộngcác rủi ro của các khách hàng [3] Như vậy, rủi ro của NHTMCP tỉ lệ thuận cảvới số lượng khách hàng của NHTMCP đó

Mặt khác, các NHTMCP muốn tồn tại và phát triển trong môi trườngcạnh tranh ngày càng gay gắt, buộc phải tăng cường phát triển các nghiệp vụ,gia tăng dịch vụ nhằm thu hút khách hàng Điều này đồng nghĩa với việcNHTMCP càng phát triển, những rủi ro mà NHTMCP đó phải gánh chịu ngàycàng cao

Bản chất hoạt động của các NHTMCP là ở chỗ quan hệ chặt chẽ với rủi

ro Giám đốc điều hành tập đoàn Ngân hàng City Corp giai đoạn 1970 - 1984

Trang 24

đã từng nói: "Chủ ngân hàng là người kinh doanh rủi ro" Chính vì thế, muốnđảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng, pháp luật trước hết phải điều chỉnh

bộ máy quản lý nó, những người điều hành hoạt động và đưa ra những chínhsách phát triển ngân hàng, tức là phải có pháp luật về quản trị NHTMCP

Hơn nữa, các NHTMCP là các doanh nghiệp đặc biệt nên hoạt độngcủa các ngân hàng cũng có những "đặc thù" khác với các công ty Đó là: sựkhông rõ ràng của một số nguồn thông tin tài chính khiến khó đánh giá chấtlượng hoạt động và rủi ro; sự đa dạng về các đối tượng thụ hưởng nên khóquản lý; độ rủi ro lớn, nhiều khoản nợ ngắn hạn nên rủi ro trong hoạt động làrất cao và rất dễ dẫn đến phá sản; chịu sự quản lý chặt chẽ với nhiều quy định

khắt khe và chi tiết do tầm quan trọng trong hệ thống, nếu đổ vỡ có thểgây ra tổn thất lớn và trên phạm vi rộng Vì thế, bản thân các ngân hàng cũngphải đưa ra các quy định rất cụ thể, rõ ràng như các hạn chế về hoạt động (sảnphẩm, chi nhánh), yêu cầu về đảm bảo an toàn (phân loại tín dụng, dự trữ bắtbuộc )

Tại cùng một thời điểm, các ngân hàng chịu nhiều rủi ro về quản trịdoanh nghiệp hơn chính vì tính không rõ ràng có nghĩa là phạm vi cát cứ,chuyển giao rủi ro, lợi ích của cá nhân và sự chiếm dụng công khai (hoạt độngngầm, cho vay nội gián, chiếm đoạt…) lớn hơn so với các doanh nghiệp phitài chính Do đó, vai trò của quản trị ngân hàng lớn hơn vì với quản trị tốt,ngân hàng có thể minh bạch hơn, giá trị cao hơn và tạo điều kiện giám sáthiệu quả hơn Cần có một hệ thống pháp luật về quản trị ngân hàng điều chỉnh

là điều cần thiết

Thứ hai,rủi ro trong hoạt động của NHTMCP mang tính hệ thống.

Đặc thù của hoạt động kinh doanh ngân hàng là tính nhạy cảm cao, dễ bịảnh hưởng bởi các yếu tố tâm lý Khi có một khoản tiền nhàn rỗi, người tathường chọn NHTMCP để gửi tiền bởi họ không chỉ được hưởng lãi suất từkhoản tiền đó mà còn loại trừ được hầu hết các rủi ro so với việc giữ tiền tại

Trang 25

nhà hay đầu tư sản xuất kinh doanh, cũng như có thể rút tiền ra khi cần thiết.

An toàn và lãi suất là những tiêu chí đầu tiên được cân nhắc Có thể nói kinhdoanh ngân hàng là loại hình kinh doanh dựa trên thông tin của khách hàng.Khi có bất cứ thông tin, dù là thông tin chính thức hay không, nào ảnh hưởngđến sự an toàn hoặc quyền lợi của khách hàng cũng có thể làm mất thông tincủa họ đối với ngân hàng Họ sẽ tìm cách rút tiền về để gửi vào một NHTMCPkhác hoặc đầu tư vào lĩnh vực khác Thông tin càng lan truyền, tâm lý củanhững khách hàng khác cũng bị ảnh hưởng, kết quả là mọi khách hàng đổ xôđến ngân hàng đó rút tiền Khi đó, ngân hàng khó có thể đáp ứng tất cả các yêucầu rút tiền mặt đột ngột, và tất yếu dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toánnếu không được hỗ trợ kịp thời từ NHNN và các NHTM khác

Các ngân hàng huy động vốn và cho vay đối với các chủ thể khác nhautrong xã hội Đặc biệt ở các nước đang phát triển, các ngân hàng là nguồn tàichính bên ngoài rất quan trọng đối với doanh nghiệp Khi một NHTMCP lâmvào tình trạng mất khả năng thanh toán, không chỉ những người gửi tiền ở ngânhàng đó bị thiệt hại, nó gây tâm lý hoang mang cho cả những người gửi tiền ởnhững NHTM khác, làm cho họ rút tiền hàng loạt tại NHTMCP khiến ngânhàng này không thể chống đỡ được mà sụp đổ theo Đây là sự sụp đổ mangtính dây chuyền Một ngân hàng phá sản có thể làm sụp đổ cả hệ thống ngânhàng Hơn nữa, hoạt động ngân hàng là lĩnh vực kinh doanh tổng hợp, có liênquan đến hầu hết tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế Do đó, khi hệthống ngân hàng có vấn đề, toàn bộ nền kinh tế sẽ bị ảnh hưởng, và thậm chígây tác động xấu cho cả xã hội Trên thực tế, trong lịch sử đã có những quốcgia hay một nhóm quốc gia bị khủng hoảng bắt đầu từ sự sụp đổ của hệ thốngngân hàng

Để tránh tình trạng này, cần phải có những quy định của pháp luật đểđảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, các tỷ lệ

an toàn vốn…, nhưng đồng thời không thể thiếu những quy định về chế độ

Trang 26

công bố thông tin, tăng cường thông tin chính thức, kiểm soát mọi thông tingây ảnh hưởng xấu đến hoạt động của NHTMCP nhằm giữ vững thông tin nơikhách hàng Pháp luật cần phải đưa ra những quy định để thiết lập bộ máyquản lý, điều kiện, tiêu chuẩn cho các vị trí lãnh đạo… Những quy định nàykhông kém phần quan trọng giúp bộ máy quản trị của NHTMCP đủ vữngvàng để điều hành NHTMCP.

Thứ ba, việc"Đại chúng hóa"trong cơ cấu cổ đông của NHTMCPTừ

khi đất nước thống nhất tới trước năm 1987, hệ thống ngân hàng Việt Namchỉ tồn tại duy nhất một loại hình ngân hàng gắn với một hình thức sở hữu, đó

là ngân hàng quốc doanh thuộc sở hữu nhà nước Thế nhưng từ sau năm 1987,

sự thay đổi trong hình thức sở hữu của ngân hàng đã cho ra đời một loại hìnhngân hàng mới, đó là NHTMCP Và tới ngày nay, khi mà thuật ngữ "Công tyđại chúng" được sử dụng rộng rãi thì các NHTMCP cũng đã phát triển theohướng "đại chúng hóa" cơ cấu cổ đông cho phù hợp với hướng phát triểnchung của nền kinh tế

Thứ tư, quản trịngân hàng tốt sẽ kéo theo một hệ thống quản trị tốtcho

các doanh nghiệp

Bản thân các NHTMCP là các doanh nghiệp, song là các doanh nghiệpđặc biệt, do vậy hoạt động quản trị ngân hàng không những tác động đến giátrị của ngân hàng và giá vốn của họ mà còn tác động đến giá vốn của cácdoanh nghiệp và hộ gia đình mà họ cho vay vốn Công tác tổ chức và quản trịtại ngân hàng sẽ tác động trực tiếp không chỉ đến giá trị của ngân hàng màcòn tới vị thế và uy tín của ngân hàng Một cách tổng quát, công tác quản trịngân hàng tác động đến khả năng chấp nhận rủi ro của ngân hàng, là thước đocho khả năng chống đỡ của ngân hàng trước biến động của nền kinh tế.Không những thế, hoạt động của ngân hàng tác động đến sản lượng của nềnkinh tế bởi lẽ các ngân hàng huy động và phân bổ tiết kiệm của xã hội Đặcbiệt ở các nước đang phát triển, khi các ngân hàng là nguồn tài chính bên

Trang 27

ngoài rất lớn của doanh nghiệp, quản trị ngân hàng tốt sẽ góp phần thúc đẩyquản trị doanh nghiệp của các doanh nghiệp mà họ cho vay [11].

Thứ năm,đảm bảo quyền lợi cho người gửi tiền.

Chỉ có một số tổ chức nhất định được cấp phép mới được thực hiệnhoạt động nhận tiền gửi của công chúng Trong NHTMCP, hoạt động nhậntiền gửi là hoạt động thường xuyên và chủ yếu, vốn huy động là phần vốn vôcùng quan trọng, có tỉ lệ lớn hơn rất nhiều so với vốn tự có của cácNHTMCP Các khoản tiền gửi, mà thực chất là các khoản tiền cho NHTMCPvay không có bảo đảm mà chỉ dựa hoàn toàn vào thông tin của người gửi tiềnvào NHTMCP Để vừa khuyến khích tiền nhàn rỗi được đưa vào lưu thông,

vừa đảm bảo an toàn cho những người gửi tiền, pháp luật phải cónhững quy định rất chặt chẽ về tỉ lệ giữa vốn huy động và vốn chủ sở hữu, tỉ

lệ dự trữ bắt buộc, bảo hiểm tiền gửi, đồng thời tăng cường các quy định vềthanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của NHTMCP Những quy định nàykhông chỉ bảo vệ người gửi tiền khỏi những thiệt hại tài chính mà còn đảmbảo NHTMCP tránh khỏi sự đổ vỡ và những hậu quả nghiêm trọng cho toàn

hệ thống

Thứ sáu, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế.

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc áp dụng chuẩn mực quảntrị theo thông lệ quốc tế trong ngân hàng là yếu tố sống còn của ngành ngânhàng Việt Nam và bảo đảm cho sự phát triển bền vững của các NHTMCP

Vấn đề quản trị ngân hàng ngày càng trở lên quan trọng và là yếu tốquyết định chiều hướng phát triển của các ngân hàng cũng như toàn hệ thống.Nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quản trị NHTMCP phải đápứng yêu cầu bảo đảm chủ động phục vụ tiến trình hội nhập kinh tế khu vực vàthế giới trên cơ sở thừa nhận nguyên tắc chung của pháp luật quốc tế, tậpquán quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng

Trang 28

1.3.2 Nội dung của pháp luật về quản trị nội bộ ngân hàng thương mại cổ phần

Những quy định pháp luật về quản trị NHTMCP ở Việt Nam hiện nayđược quy định chủ yếu tại văn bản được ban hành như: Luật các tổ chức tíndụng năm 2010 và Nghị định số 59/2009/NĐ-CP ngày 16/07/2009 về tổ chức

và hoạt động của NHTM, thay thế cho Nghị định số 49/2000/NĐ-CP ngày12/9/2000 về tổ chức và hoạt động của NHTM Bên cạnh đó là các văn bản từLuật các tổ chức tín dụng đến các Quyết định của NHNN cũng điều chỉnhhoạt động quản trị NHTMCP: Quyếtđịnh số 1122/2001/QĐ-NHNN ngày4/9/2001 ban hành quy định về cổ đông, cổ phần, cổ phiếu và vốn điều lệ củaNHTMCP của nhà nước và nhân dân và các văn bản sửa đổi bổ sung; Quyếtđịnh số 1087/2001/QĐ-NHNN ngày27/8/2001 ban hành quy định về tổ chức

và hoạt động của HĐQT, BKS, Tổng giám đốc NHTMCP của nhà nước vànhân dân

Nghị định 59/2009/NĐ-CP ra đời, được xây dựng dựa trên ba nguyêntắc rất cơ bản

Thứnhất, kế thừa có chọn lọc các quy định tại Nghị định

49/2009/NĐ-CP: Nghị định 59/2009/NĐ-CP giữ lại những ưu điểm, những nội dung đãđược thực tiễn kiểm chứng là hợp lý, đồng thời bổ sung, chỉnh sửa hoặc lược

bỏ những quy định không còn phù hợp

Thứhai, tham chiếu có chọn lọc các quy định của Luật Doanh nghiệp:

Nghị định 59/2009/NĐ-CP tham chiếu các quy định có liên quan của LuậtDoanh nghiệp năm 2005 mà Luật Các tổ chức tín dụng không được đề cậphoặc được đề cập một cách không đầy đủ và có điều chỉnh các quy định này

cho phù hợp với đặc thù của NHTM Thứba, tiếp thu thông lệ quốc tế tốt nhất

về quản trị doanh nghiệp trong lĩnh vực ngân hàng

Xét một cách toàn diện, Nghị định 59/2009/NĐ-CP còn một số hạnchế, do cơ sở pháp lý chính để xây dựng Nghị định là Luật Các tổ chức tín

Trang 29

dụng, hiện đã có nhiều điểm lạc hậu và đang được sửa đổi Tuy nhiên, trên cơ

sở các định hướng cơ bản để xây dựng nghị định như đã nêu, so với Nghịđịnh 49/2000/NĐ-CP, Nghị định này đã có nhiều ưu điểm nổi bật và cónhững bước đột phá về vấn đề quản trị ngân hàng, có thể kể đến là:

Nghị định 59/2009/NĐ-CP hoàn thiện các quy định đã có của Nghịđịnh49/2000/NĐ-CP theo hướng phù hợp hơn với thực tiễn và thông lệ quốc tế(như quy định về tiêu chuẩn điều kiện đối với thành viên HĐQT, BKS, Tổnggiám đốc; tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông; quyền và nghĩa vụ của chủ sởhữu…);

Nghị định 59/2009/NĐ-CP đã giải quyết được về cơ bản sự thiếu đồng

bộ giữa Luật Doanh nghiệp và các quy định của NHNN: Nghị định 59/2009/NĐ-CP đã tham chiếu các quy định có liên quan của Luật Doanh nghiệp màLuật Các tổ chức tín dụng không được đề cập hoặc được đề cập một cáchkhông đầy đủ và có điều chỉnh các quy định này cho phù hợp với đặc thù củaNHTM (như các quy định về: người có liên quan; công khai lợi ích có liênquan, nghĩa vụ của người quản lý…);

Nghị định 59/2009/NĐ-CP đã bổ sung một số nguyên tắc quản trị ngânhàng hiện đại của Ủy ban Basel, OECD và một số thông lệ quốc tế tiên tiếnnhằm nâng cao năng lực và tính chuyên nghiệp trong quản trị ngân hàng(nhưquy định về việc sử dụng khái niệm "ngân hàng", thành viên HĐQT độc lập,các Ủy ban của HĐQT, tiêu chuẩn, điều kiện đối với các chức danh chủ chốtcủa ngân hàng )

Có thể nói, vấn đề quản trị ngân hàng ngày càng trở nên quan trọng và

là yếu tố quyết định chiều hướng phát triển của các ngân hàng cũng như toàn

hệ thống Tuy nhiên, Việt Nam mới thấy được tầm quan trọng của vấn đề nàytrong thời gian gần đây

Về nguyên tắc, những vấn đề Luật các tổ chức tín dụng (luật chuyênngành) không quy định mà Luật Doanh nghiệp có quy định thì phải thực hiện

Trang 30

theo Luật Doanh nghiệp Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp có nhiều nội dungkhông phù hợp với đặc thù tổ chức và hoạt động của loại hình ngân hàng.Luật Các tổ chức tín dụng hiện hành có nhiều quy định đến nay đã lạc hậu,thiếu tính thực tiễn hoặc nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ chưa được quy định Mặtkhác, việc áp dụng chuẩn mực quản trị ngân hàng theo thông lệ quốc tế là yếu

tố rất quan trọng, bảo đảm cho sự phát triển bền vững, an toàn của các NHTMnói riêng và của ngành ngân hàng Việt Nam nói chung trong quá trình hộinhập kinh tế quốc tế, trong khi đó hệ thống pháp luật hiện hành về ngân hàngcủa Việt Nam chưa tiếp cận được các chuẩn mực này

Tuy nhiên, Nghị định 59/2009/NĐ-CP đã được ban hành từ trước khiban hành Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đồng thời nó được ban hànhtrong bối cảnh nhằm tương tích với Luật Doanh nghiệp năm 2005 Hiện naysau một thời gian dài thực hiện với sự thay đổi rất nhanh chóng của hệ thốngpháp luật có liên quan như: Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Luật doanhnghiệp năm 2014 chính vì vậy, Nghị định 59 đã bộc lộ những hạn chế và bấtcập nhất định cần được sửa đổi, bổ sung

Trang 31

Chương 2

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ NỘI BỘ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VÀ THỰC TIỄN THỰC THI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN

VIỆT NAM 2.1 Quy định của pháp luật về quản trị nội bộ ngân hàng thương mại cổ phần hiện nay

Ngân hàng thương mại cổ phần là loại hình tổ chức tín dụng được tổchức, hoạt động theo hình thức công ty cổ phần Theo khoản 1 Điều 14 Nghịđịnh 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt độngcủa NHTM quy định thì cơ cấu tổ chức quản lý của NHTMCP bao gồm:ĐHĐCĐ, HĐQT, BKS, Tổng giám đốc và bộ máy giúp việc Như vậy, so vớinhững quy định trước đây (Nghị định số 49/2000/NĐ-CP và các văn bản liênquan khác), Nghị định này đã có sự thay đổi khi ghi nhận bộ máy giúp việc làmột trong những cơ quan quản trị trong NHTMCP

2.1.1 Quy định về đại hội đồng cổ đông

Cổ đông của NHTMCP là những người góp vốn/người sở hữu cổ phầncủa NHTMCP Cũng giống như công ty cổ phần thông thường, NHTMCPcósố lượng cổ đông rất lớn, có cổ đông là cá nhân và cũng có cổ đông là tổchức Nhưng chỉ các cổ đông có quyền biểu quyết mới được tham giaĐHĐCĐ ĐHĐCĐ/tập hợp các cổ đông (chủ sở hữu NHTMCP) là cơ quan cóquyền quyết định cao nhất của NHTMCP

2.1.1.1 Quyền và nghĩa vụ của cổ đông

Sự tách biệt quyền sở hữu với quyền quản lý kinh doanh đã làm nảysinh những rủi ro được nhận thức từ lâu về sự khác nhau về lợi ích giữa cổđông với các nhóm người quản trị nắm bắt quyền lực chi phối và khống chếcông ty

Trang 32

Để củng cố lòng tin của cổ đông và theo đó tăng nguồn vốn đầu tư tưnhân cho lĩnh vực kinh doanh cần được đảm bảo khi nhà đầu tư hiểu rõ thôngtin về công ty và hệ thống pháp luật, các cơ chế quản lý nội bộ ngân hàng cókhả năng ngăn chặn được khả năng trục lợi của người điều hành hoặc các cổđông chi phối Do đó, quy định về quản trị NHTMCP cần phải bảo vệ và tạođiều kiện cho việc thực hiện các quyền của cổ đông.

Có thể nói, Luật Doanh nghiệp và Nghị định 59/2009/NĐ-CP đóng vaitrò nền tảng trong việc tạo ra thể chế bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư và qua đókhuyến khích nhà đầu tư đầu tư vào cổ phiếu, còn doanh nghiệp thì thu hútvốn qua phát hành hành cổ phần

Những quyền lợi cơ bản của cổ đông bao gồm quyền: (i) chọn phươngthức đăng ký quyền sở hữu; (ii) chuyển nhượng cổ phần; (iii) mỗi cổ phầnđược một phiếu bầu; (iv) được cung cấp những thông tin quan trọng và cầnthiết về công ty một cách thường xuyên và kịp thời; (v) tham dự họp và bỏphiếu biểu quyết tại ĐHĐCĐ; (vi) bầu chọn và bãi nhiệm các thành viêntrong HĐQT; (vii) được chia lợi nhuận của công ty; (viii) các cổ đông cầnđược nhận phần thu nhập của mình từ lợi nhuận còn lại của công ty; (ix) các

cổ đông thiểu số cần phải được bảo vệ

Các cổ đông cần có quyền tham gia và được thông tin một cách đầy đủ

và thích đáng về các quyết định liên quan đến các thay đổi quan trọngcủa ngânhàng như: (i) thay đổi, sửa chữa điều lệ và các tài liệu quan trọng khác củangân hàng; (ii) cho phép phát hành thêm cổ phần; iii) các giao dịch đặc biệt

Các cổ đông cần được tạo điều kiện tham gia một cách hiệu quả và bỏphiếu tại cuộc họp ĐHĐCĐ và cần được thông báo về quy chế họp ĐHĐCĐ,bao gồm những thủ tục bỏ phiếu:

Các cổ đông cần được cung cấp các thông tin cần thiết và kịp thời về

Trang 33

thời gian, địa điểm và chương trình của cuộc họp ĐHĐCĐ, cũng như cácthông tin đầy đủ và kịp thời về các vấn đề sẽ được thảo luận và quyết định tạicuộc họp.

Các cổ đông có cơ hội để chất vấn HĐQT và có quyền đưa ra các vấn

đề vào chương trình của cuộc họp, tùy thuộc vào những hạn chế nhất định

Cổ đông cần được tham gia một cách có hiệu quả vào các quyết địnhquan trọng về quản trị ngân hàng, như đề cử và bầu chọn thành viên HĐQT

Các cổ đông có quyền bỏ phiếu trực tiếp hoặc vắng mặt (qua ủy quyền)

và có hiệu lực như nhau

Quy định về quản trị NHTMCP cần được bảo đảm đối xử công bằngvới tất cả các cổ đông, kể cả cổ đông thiểu số và cổ đông người nước ngoài.Tất cả các cổ đông đều được tạo cơ hội được hưởng những đền bù hợp lý nếuquyền của họ bị xâm hại Cổ đông của cùng loại cổ phần phải có quyền biểuquyết như nhau và tất cả cổ đông sở hữu cùng loại cổ phần phải được đối xửcông bằng như nhau Các cổ đông thiểu số cần được bảo vệ khỏi sự lạm dụngcủa các cổ đông nắm quyền kiểm soát một cách gián tiếp hay trực tiếp, đồngthời, cần có cơ chế đền bù thiệt hại có hiệu quả Thành viên HĐQT và cácchức danh quản lý quan trọng phải thông báo cho HĐQT về việc họ trực tiếp,gián tiếp hoặc đại diện cho một bên thứ ba, có lợi ích liên quan đến các giaodịch hoặc các vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp đến ngân hàng

Ngân hàng tự thân tổ chức, vận động theo cơ chế thị trường, tuân theo

cơ chế điều chỉnh của các quy luật thị trường, đảm bảo ở mức tối đa quyền tự

do kinh doanh của các chủ thể và tất nhiên sẽ phải gánh vác những rủi ro từ

cơ chế đó mang lại Nhà nước hỗ trợ cơ chế thị trường qua vai trò là người ghinhận và bảo vệ môi trường hoạt động của các ngân hàng từ góc độ lợi íchcông hạn chế rủi ro cho xã hội Trên cơ sở tôn trọng các giá trị thị trường, mốiquan hệ nhà nướcdoanh nghiệp mang tính hỗ trợ, hợp tác Do đó, nội dungcủa quyền cổ đông không chỉ bó hẹp trong các quyền mà Luật Doanh nghiệp

Trang 34

quy định mà còn bao gồm các quyền được quy định trong Điều lệ công ty,trong quy chế và hồ sơ pháp lý khác.

Trên cơ sở quy định của Luật doanh nghiệp, tại Điều 31 Nghị định59/2009/NĐ-CP, phần lớn các quyền và nghĩa vụ của cổ đông được dẫn chiếutheo quy định tại Luật doanh nghiệp 2005, theo đó cổ đông phổ thông cóquyền: Tham dự và biểu quyết tất cả các vấn đề thuộc thẩm quyền củaĐHĐCĐ; ứng cử, đề cử thành viên HĐQT, thành viên BKS Mỗi cổ phần phổthông có một phiếu biểu quyết;Được nhận cổ tức; Được ưu tiên mua cổ phầnmới; Chuyển nhượng cổ phần; Nhận thông tin về tình hình hoạt động củangân hàng theo quy định của Điều lệ ngân hàng; Khi ngân hàng giải thể hoặcphá sản, được nhận một phần tài sản còn lại tương ứng với số cổ phần gópvốn vào ngân hàng theo quy định của pháp luật về giải thể, phá sản; Cácquyền khác theo quy định của Điều lệ

Ngoài ra, cổ đông phổ thông trong NHMCP còn có các quyền:Đượcchuyển nhượng cổ phần hoặc bán lại cổ phần cho ngân hàng theo quy định tạiNghị định này và Điều lệ ngân hàng;Được ủy quyền bằng văn bản cho ngườikhác thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình; người được ủy quyền được

ủy quyền lại bằng văn bản cho người khác nếu được cổ đông đồng ý; Cổ đônghoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thờihạn liên tục ít nhất sáu tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tạiĐiều lệ ngân hàng có các quyền theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 79Luật Doanh nghiệp

Đối với quy định về nghĩa vụ của các cổ đông (theo Điều 32 Nghị định59/2009/NĐ-CP), nhìn chung tương tự với các quy định về nghĩa vụ của các

cổ đông trong doanh nghiệp Ngoài các nghĩa vụ quy định tại Luật Doanhnghiệp như các cổ đông trong doanh nghiệp, cổ đông của một ngân hàng còn

có nghĩa vụ sau:

- Thanh toán đủ số cổ phần cam kết mua trong thời hạn do ngân hàng

Trang 35

quy định; chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của ngânhàng trong phạm vi số vốn đã góp vào ngân hàng;

- Không được rút vốn cổ phần đã góp ra khỏi ngân hàng dưới mọi hìnhthức dẫn đến việc giảm vốn điều lệ của ngân hàng, trừ trường hợp được ngânhàng hoặc người khác mua lại cổ phần theo quy định tại Nghị định này.Trường hợp có cổ đông rút một phần hoặc toàn bộ vốn cổ phần đã góp trái vớiquy định tại khoản này thì thành viên HĐQT và người đại diện theo pháp luậtcủa ngân hàng phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa

vụ tài sản khác của ngân hàng trong phạm vi giá trị cổ phần đã bị rút;

- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp của nguồn vốnmua cổ phần tại ngân hàng

2.1.1.2 Về sở hữu của cổ phần của cổ đông

Một quy định khác của Nghị định 59/2009/NĐ-CP là quy định về tỷ lệ

sở hữu cổ phần của các cổ đông, quy định này hoàn toàn khác biệt so với quyđịnh tại Luật Doanh nghiệp

- Một cổ đông cá nhân được sở hữu tối đa 10% vốn điều lệ của mộtngân hàng

- Một cổ đông là tổ chức được sở hữu tối đa 20% vốn điều lệ của mộtngân hàng

- Cổ đông và những người có liên quan của cổ đông đó được sở hữu tối

đa 20% vốn điều lệ của một ngân hàng (Điều 34 Nghị định 59/2009/NĐ-CP)

Như vậy, quy định về tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông trong ngânhàng khắt khe hơn nhiều so với quy định của Luật Doanh nghiệp, một cổđông tổ chức chỉ được sở hữu tối đã 20% vốn điều lệ của ngân hàng Quyđịnh này là tất yếu cho một hệ thống quản trị hiện đại, sẽ không có một cổđông nào có thể thâu tóm quyền hành, tự quyết mọi vấn đề trong ngân hàngkhi đã bị giới hạn một mức sở hữu cổ phần như quy định trên Điều này có ý

Trang 36

nghĩa rất quan trọng trong hoạt động của ngân hàng - một ngành nghề kinhdoanh nhiều rủi ro và ảnh hưởng trực tiếp rộng lớn đến tình hình tài chính.

Liên quan đến tỷ lệ sở hữu cổ phần, còn có quy định về việc dự họp củacác cổ đông Hiện nay ở các NHTMCP, số lượng cổ đông lên đến hàng nghìn.Hơn nữa, xu hướng "đại chúng hóa" các ngân hàng hiện nay khiến các cổđông là cá nhân tham gia góp vốn vào NHTMCP tại Việt Nam ngày càngđông Sẽ là bất khả thi nếu quy định các quyền của cổ đông này giống như cổđông của một doanh nghiệp cổ phần Ví dụ, quyền dự họp cuộc họp củaĐHĐCĐ, một NHTMCP sẽ rất khó để có thể tổ chức cuộc họp ĐHĐCĐ với

số lượng tham dự đến hàng nghìn cổ đông Do vậy, hiện nay, một sốNHTMCP trong Điều lệ chỉ quy định cổ đông có tỷ lệ sở hữu cổ phần nhấtđịnh mới được tham dự Đại hội đông cổ đông, các cổ đông có tỷ lệ sở hữu cổphần nhỏ hơn có thể gộp lại để cử đại diện tham gia Đây là quy định linhhoạt, không vi phạm với những quy định tại Nghị định 59/2009/NĐ-CP vàcác văn bản liên quan Những quy định mới sau này về quản trị NHTM cần

bổ sung để mở hướng giải quyết cho những NHTMCP đang lúng túng khi vừa

tổ chức cuộchọp ĐHĐCĐ vừa lo sợ sẽ vi phạm đến quyền các cổ đông có tỉ lệ

sở hữu cổ phần nhỏ Nếu không có quy định rõ ràng, đảm bảo hài hòa lợi íchgiữa cổ đông lớn và các cổ đông thiểu số, dẫn đến hiện tượng xung đột lợi íchgiữa cổ đông lớn và cổ đông thiểu số đã xảy ra ở một số công ty

2.1.1.3 Quy định về họp đại hội đồng cổ đông

Hầu hết các quy định về cuộc họp ĐHĐCĐ trong NHTMCP đều đượcNghị định 59/2009/NĐ-CP dẫn chiếu theo quy định tại Luật doanh nghiệp(Điều 42 Nghị định 59/2009/NĐ-CP), bao gồm các nội dung: Thẩm quyềntriệu tập họp; danh sách cổ đông có quyền dự họp; chương trình và nội dunghọp; mời họp; quyền dự họp; điều kiện tiến hành họp; thể thức tiến hành họp

và biểu quyết Tuy nhiên, riêng quy định về thẩm quyền triệu tập họpĐHĐCĐ trong NHTMCP, Nghị định 59/2009/NĐ-CP còn quy định bổ sung

Trang 37

"Hội đồng quản trị phải triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông bất thường khi cóyêu cầu của Ngân hàng Nhà nước" (khoản 1 Điều 42 Nghị định 59/2009/NĐ-CP) Đây là một quy định đặc biệt áp dụng riêng đối với các NHTMCP, thểhiện việc giám sát chặt chẽ của Nhà nước đến hoạt động kinh doanh ngânhàng vốn nhiều rủi ro Tuy nhiên, nếu quy định NHNN được quyền yêu cầuHĐQT triệu tập họp ĐHĐCĐ bất thường mà không quy định những trườnghợp cụ thể nào được yêu cầu, thì sẽ gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động củangân hàng, dẫn đến việc can thiệp sâu của cơ quan nhà nước đến các hoạtđộng kinh doanh vốn được cấp cho nhiều quyền tự quyết của ngân hàng.

2.1.1.3 Quyền và nghĩa vụ của đại hội đồng cổ đông

ĐHĐCĐ (bao gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết) là cơ quanquyết định cao nhất của NHTMCP Khoản 2 Điều 59 Luật các tổ chức tíndụng năm 2010 quy định rất cụ thể các nhiệm vụ, quyền hạn của ĐHĐCĐ Đó

là những vấn đề quan trọng liên quan trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển củangân hàng:Thông qua định hướng phát triển của ngân hàng; Sửa đổi, bổ sungĐiều lệ của ngân hàng; Phê chuẩn quy định về tổ chức và hoạt động củaHĐQT, BKS; Quyết định số lượng thành viên HĐQT, BKS từng nhiệm kỳ;bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm, bầu bổ sung, thay thế thành viên HĐQT, thànhviên BKS phù hợp với các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của Luật này

và Điều lệ của ngân hàng; Quyết định mức thù lao, thưởng và các lợi ích khácđối với thành viên HĐQT, thành viên BKS và ngân sách hoạt động củaHĐQT, BKS; Xem xét và xử lý theo thẩm quyền vi phạm của HĐQT, BKSgây thiệt hại cho ngân hàng và cổ đông của ngân hàng; Quyết định cơ cấu tổchức, bộ máy quản lý điều hành của ngân hàng; Thông qua phương án thayđổi mức vốn điều lệ; thông qua phương án chào bán cổ phần, bao gồm loại cổphần và số lượng cổ phần mới sẽ chào bán;Thông qua việc mua lại cổ phần đãbán; Thông qua phương án phát hành trái phiếu chuyển đổi; Thông qua báocáo tài chính hằng năm; phương án phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành

Trang 38

nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác của ngân hàng; Thông qua báocáo của HĐQT, BKS về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao;Quyết định thành lập công ty con; Thông qua phương án góp vốn, mua cổphần của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng khác có giá trị từ 20% trở lên so vớivốn điều lệ của ngân hàng ghi trong báo cáo tài chính đã được kiểm toán gầnnhất; Quyết định đầu tư, mua, bán tài sản của ngân hàng có giá trị từ 20% trởlên so với vốn điều lệ của ngân hàng ghi trong báo cáo tài chính đã được kiểmtoán gần nhất hoặc một tỷ lệ khác thấp hơn theo quy định tại Điều lệ của ngânhàng; Thông qua các hợp đồng có giá trị trên 20% vốn điều lệ của ngân hàngghi trong báo cáo tài chính đã được kiểm toán gần nhất hoặc một tỷ lệ khácthấp hơn theo quy định tại Điều lệ của ngân hàng giữa ngân hàng với thànhviên HĐQT, thành viên BKS, Tổng giám đốc (Giám đốc), cổ đông lớn, người

có liên quan của người quản lý, thành viên BKS, cổ đông lớn của ngân hàng;công ty con, công ty liên kết của ngân hàng;Quyết định việc chia, tách, hợpnhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức pháp lý, giải thể hoặc yêu cầu Tòa án

mở thủ tục phá sản ngân hàng; Quyết định giải pháp khắc phục biến động lớn

về tài chính của ngân hàng

2.1.2 Quy định về Hội đồng quản trị

Trên thực tế, mô hình tổ chức và quản lý hiện tại được phân biệt chủyếu theo chức năng với hai cơ cấu quyền lực là cấp quản trị điều hành và cấpquản lý kinh doanh Trong đó cấp quản trị điều hành là HĐQT gồm Chủ tịchHĐQT và một số thành viên chuyên trách, làm việc theo chế độ tập thể Vềnguyên tắc HĐQT thực hiện chức năng quản lý đối với mọi hoạt động củaNHTM, chịu trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn; ban hành điều lệ, các cơchế, qui chế tổ chức và hoạt động của ngân hàng

Hiện nay, cấp quản trị điều hành của NHTMCP được điều chỉnh bởicác quyết định của NHNN (Quyết định số 1087/2001/QĐ-NHNN ngày27/8/2007 ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của HĐQT, BKS, Tổng

Trang 39

giám đốc NHTMCP của Nhà nước và nhân dân) - được quy định dựa trên cơ

sở Nghị định 49/2000/NĐ-CP của Chính phủ (hiện nay đã hết hiện lực) - màkhông có văn bản pháp luật cấp hiệu lực nào cao hơn điều chỉnh Hiện nayNghị định 59/2009/NĐ-CP đã có hiệu lực, tuy nhiên ở thời điểm này vẫnchưa có các văn bản hướng dẫn cụ thể, nên các quyết định của NHNN hiệnhành vẫn đang có hiệu lực

HĐQT là cơ quan quản trị NHTMCP, có toàn quyền nhân danhNHTMCP để quyết định các vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi củaNHTMCP, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ (khoản 1 Điều 2Quyết định 1087/2001/QĐ-NHNN) HĐQT phải chịu trách nhiệm trướcĐHĐCĐ về kết quả hoạt động cũng như những sai phạm trong quản lý, viphạm điều lệ, vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho ngân hàng

2.1.2.1 Cơ cấu hội đồng quản trị

Về cơ cấu, HĐQT có số thành viên tối thiểu là 03 người và không vượtquá 11 người Số lượng thành viên HĐQT do ĐHĐCĐ quyết định và ghi vàoĐiều lệ NHTMCP Nhiệm kỳ của thành viên HĐQT từ 02 đến 05 năm,doĐHĐCĐ quyết định và ghi trong Điều lệ NHTMCP Các thành viên HĐQT

có thể được bầu lại (khoản 1, khoản 2 Điều 10 Quyết định CP)

1087/2001/QĐ-Tuy vậy, cơ cấu của HĐQT của NHTMCP lại là vấn đề cần được phápluật điều chỉnh Theo quy định của pháp luật hiện nay, thành viên HĐQT phải

là cổ đông của NHTMCP Thành viên HĐQT bắt buộc phải có số cổ phần sởhữu ít nhất bằng mức do Điều lệ NHTMCP quy định (khoản 3 Điều 10 Quyếtđịnh 1087/2001/QĐ-NHNN), mà thường sẽ là những cổ đông lớn Đôi khi lợiích của những cổ đông lớn tham gia quản trị, điều hành ngân hàng cũng có thểxung đột với lợi ích của ngân hàng Nếu họ hành động đi ngược lại lợi ích củangân hàng, bản thân họ chỉ phải gánh chịu thiệt hại theo tỉ lệ phần trăm cổphần họ nắm giữ Những quyết định của người quản lý, điều hành có thể

Trang 40

nhằm mục đích mang lại lợi ích, những ưu đãi cho bản thân hoặc người thân,với chi phí và rủi ro do ngân hàng gánh chịu Một trong những nguyên tắc đểgiải quyết vấn đề này là sự tham gia của các chuyên gia và bên thứ ba độc lập.Giải pháp đã được các quốc gia trên thế giới áp dụng là đưa vào cơ cấu HĐQTnhững thành viên HĐQT độc lập (sẽ được phân tích cụ thể ở phần sau).

Ngoài ra, trên thực tế vai trò của HĐQT và Ban điều hành ở một sốNHTMCP chưa được phân tách rõ ràng Do vậy, HĐQT có thể bị rơi vàotrường hợp: hoặc là không tập trung được các luồng thông tin chủ yếu về hoạtđộng của ngân hàng để xây dựng, kiểm tra các mục tiêu chiến lược và cácquyết định phòng ngừa rủi ro; hoặc lại tham gia quá sâu vào các hoạt độngthường ngày của hoạt động quản lý Vẫn còn tình trạng các phòng ban nghiệp

vụ từ trụ sở chính và chi nhánh được phân nhiệm theo nghiệp vụ và cắt khúctheo địa giới hành chính, chưa chú trọng phân nhiệm theo nhóm khách hàng

và loại dịch vụ như thông lệ quốc tế Đây là hạn chế lớn nhất về cấu trúc quản

lý và phát triển sản phẩm mới đối với NHTMCP Đồng thời lại thiếu các bộphận liên kết các hoạt động, các quyết định giữa các phòng ban nghiệp vụ, tạođiều kiện cho HĐQT và Ban điều hành bao quát toàn diện hoạt động vàtậptrung nhân lực, tài lực vào các định hướng chiến lược Ngoài ra, cơ sở dữliệu về phân tích, dự báo môi trường kinh doanh, đánh giá nguồn lực và xácđịnh tầm nhìn trung, dài hạn vốn là công cụ quản lý cơ bản của các NHTMCPhiện đại vẫn còn thiếu, do vậy, nhìn chung các NHTMCP còn khá lúng túngtrong việc hoạch định chiến lược phát triển dài hạn Các quy định của phápluật cần hướng đến việc giải quyết căn bản khung giám sát hệ thống của ngânhàng thương mại và quyền lợi của cổ đông nhỏ Cụ thể là khẳng định vị thếgiám sát của HĐQT, khẳng định quyền tự chủ của ban điều hành bằng cáchđưa ra hàng loạt ủy ban và có đầu danh mục báo cáo mà HĐQT phải thôngqua Quy định này sẽ khiến HĐQT không còn thời gian can thiệp vào quyềncủa Tổng giám đốc

Ngày đăng: 17/08/2020, 16:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Bích (2007), Mô hình quản trị trong công ty đại chúng, Bài tham luận tại buổi hội thảo Chuyển đổi mô hình quản trị trong công ty đại chúng do Thời báo kinh tế Sài Gòn và Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu phối hợp tổ chức, ngày 06/3/2007, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình quản trị trong công ty đại chúng
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bích
Năm: 2007
2. Bộ Tài Chính (2012), Thông tư số 121/2012/TT-BTC ngày 26/07/2012quy định về quản trị công ty áp dụng cho công ty đại chúng. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 121/2012/TT-BTC ngày26/07/2012quy định về quản trị công ty áp dụng cho công ty đại chúng
Tác giả: Bộ Tài Chính
Năm: 2012
3. Chính phủ (2006), Nghị định số 101/2006/NĐ-CP ngày 21/09/2006 vềđăng ký lại, chuyển đổi và đăng ký chuyển đổi giấy chứng nhận đầu tư của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 101/2006/NĐ-CP ngày 21/09/2006vềđăng ký lại, chuyển đổi và đăng ký chuyển đổi giấy chứng nhận đầu tư củacác doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định của Luật Doanhnghiệp và Luật Đầu tư
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
4. Chính phủ (2009), Nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày 16/07/2009 về tổchức và hoạt của ngân hàng thương mại. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày 16/07/2009 vềtổchức và hoạt của ngân hàng thương mại
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
5. Stijn Claessens (2010), Tại sao quản trị doanh nghiệp lại quan trọngvới Việt Nam: Tầm quan trọng với ngân hàng, Hội nghị bàn tròn ChâuÁ về quản trị doanh nghiệp do OECD phối hợp WB tổ chức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tại sao quản trị doanh nghiệp lại quantrọngvới Việt Nam: Tầm quan trọng với ngân hàng
Tác giả: Stijn Claessens
Năm: 2010
6. Lê Th Gi i, Nguy n Xuân Lãn, Nguy n Hoa Khôi (2003), ế ớ ễ ễ Giáo trình Qu ntr kinh doanh ả ị , Trung tâm Đào t ot xa, Hu . ạ ừ ế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáotrình Qu ntr kinh doanhả ị
Tác giả: Lê Th Gi i, Nguy n Xuân Lãn, Nguy n Hoa Khôi
Năm: 2003
7. Bùi Xuân Hải (2011), Luật doanh nghiệp bảo vệ cổ đông, pháp luật vàthực tiễn, Nxb.Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật doanh nghiệp bảo vệ cổ đông, pháp luậtvàthực tiễn
Tác giả: Bùi Xuân Hải
Nhà XB: Nxb.Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
8. Bùi Xuân Hải (2011), Một số vấn đề về mô hình quản trị công ty trênthế giới và Việt Nam, Hội thảo “Pháp luật về quản trị công ty: Nhữngvấn đề lý luận và thực tiễn” tại Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học quốc gia TP.HCM, 12/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về mô hình quản trị công tytrênthế giới và Việt Nam", Hội thảo “Pháp luật về quản trị công ty: Nhữngvấnđề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Bùi Xuân Hải
Năm: 2011
10. Khúc Quang Huy (Biên dịch) (2008), Basel II, sự thống nhất quốc tế vềđo lường và các tiêu chuẩn vốn, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Basel II, sự thống nhất quốc tếvềđo lường và các tiêu chuẩn vốn
Tác giả: Khúc Quang Huy (Biên dịch)
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2008
11. Trịnh Thanh Huyền (2009), Vấn đề quản trị ngân hàng thương mại ở ViệtNam, Cổng thông tin điện tử Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề quản trị ngân hàng thương mại ởViệtNam
Tác giả: Trịnh Thanh Huyền
Năm: 2009
12. Cao Đình Lành (2007), Quản trị công ty cổ phần theo Luật Doanhnghiệp 2005, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật TP.HồChí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị công ty cổ phần theo LuậtDoanhnghiệp 2005
Tác giả: Cao Đình Lành
Năm: 2007
14. Ngân hàng phát tri n Châu Á (2001), ể B h ộ ướ ng d n thông l t t ẫ ệ ố nh t v qu n tr công ty Vi t Nam ấ ề ả ị ở ệ , B n trình lên Chính ph Vi t Nam ả ủ ệ ngày19/10, D án TA 3353-VIE. ự Sách, tạp chí
Tiêu đề: B hộ ướng d n thông l t tẫ ệ ốnh t v qu n tr công ty Vi t Namấ ề ả ị ở ệ
Tác giả: Ngân hàng phát tri n Châu Á
Năm: 2001
15. Phạm Duy Nghĩa (2004), Chuyên khảo về Luật Kinh tế, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên khảo về Luật Kinh tế
Tác giả: Phạm Duy Nghĩa
Nhà XB: Nxb Đại họcQuốc gia Hà Nội
Năm: 2004
16. Phạm Duy Nghĩa (chủ biên), So sánh pháp luật về quản trị doanh nghiệp của một số nước trên thế giới – Bài học kinh nghiệm và kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật công ty ở Việt Nam, Đề tài đặc biệt cấp Quốc gia, Mã số: QG 04.23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh pháp luật về quản trị doanhnghiệp của một số nước trên thế giới – Bài học kinh nghiệm và kiến nghị giảipháp hoàn thiện pháp luật công ty ở Việt Nam
17. Bùi Minh Nguyệt (2010), Bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong công tycổ phần theo pháp luật Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong côngtycổ phần theo pháp luật Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Bùi Minh Nguyệt
Năm: 2010
19. Ngô Viễn Phú (2003), Bàn về tính chất của quyền cổ đông, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (số 12/2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về tính chất của quyền cổ đông
Tác giả: Ngô Viễn Phú
Năm: 2003
20. Ngô Viễn Phú (2004), Nghiên cứu so sánh quản lý công ty cổ phần theopháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Luận án Tiến sỹ Luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu so sánh quản lý công ty cổ phầntheopháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa nhân dânTrung Hoa
Tác giả: Ngô Viễn Phú
Năm: 2004
26. Quốc hội (2014), Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày26/11/2014 27. Quách Thúy Quỳnh (2010), Quyền của cổ đông thiểu số theo pháp luậtViệt Nam, Tạp chí Luật học, tháng 4/2010, tr.19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày26/11/2014"27. Quách Thúy Quỳnh (2010), "Quyền của cổ đông thiểu số theo phápluậtViệt Nam
Tác giả: Quốc hội (2014), Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày26/11/2014 27. Quách Thúy Quỳnh
Năm: 2010
28. Tạp chí Ngân hàng, Họp đại hội đồng cổ đông và vốn điều lệ của ngânhàng cần được thực tiễn kiểm nghiệm, số 12/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Họp đại hội đồng cổ đông và vốn điều lệ củangânhàng cần được thực tiễn kiểm nghiệm
29. Lê Văn Tề, Nguyễn Thị Xuân Liễu (2003), Quản trị ngân hàng thươngmại, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàngthươngmại
Tác giả: Lê Văn Tề, Nguyễn Thị Xuân Liễu
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2003

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w