1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) đánh giá các hình thực quản lý rừng thôn bản thuộc dự án kfw3 pha 3 trên địa bàn tỉnh bắc giang và lạng sơn​

113 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Các Hình Thức Quản Lý Rừng Thôn Bản Thuộc Dự Án KfW3 Pha 3 Trên Địa Bàn Tỉnh Bắc Giang Và Lạng Sơn
Tác giả Hoàng Văn Mát
Người hướng dẫn PGS.TS. Vũ Nhâm
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Lâm học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (14)
    • 1.1. Tài nguyên rừng công cộng, chế độ sở hữu tài nguyên rừng cộng cộng (14)
      • 1.1.1. Tài nguyên rừng công cộng (14)
      • 1.1.2. Chế độ sở hữu tài nguyên rừng công cộng (15)
    • 1.2. Trên thế giới (15)
      • 1.2.1. Châu Á (15)
      • 1.2.2. Châu Mỹ La Tinh (19)
      • 1.2.3. Châu Phi (21)
    • 1.3. Ở Việt nam (24)
      • 1.3.4. Những tài liệu, chương trình, dự án chính về quản lý rừng cộng đồng (28)
    • 1.3. Thảo luận (30)
  • Chương 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (32)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (32)
      • 2.1.1. Mục tiêu chung (32)
      • 2.1.2. Mục tiêu cụ thể (32)
    • 2.3. Nội dung nghiên cứu (32)
      • 2.3.2. Đánh giá công tác quản lý quỹ của các Ban quản lý rừng (33)
      • 2.3.3. Đánh giá hiện trạng rừng trên 2 huyện đại diện cho 2 tỉnh: Lạng Sơn và Bắc Giang (33)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (33)
      • 2.4.1. Phương pháp đánh giá hoạt động các Ban quản lý rừng (33)
      • 2.4.2. Phương pháp điều tra hiện trường rừng (36)
  • Chương 3: ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU (39)
    • 3.1. Điều kiện cơ bản tỉnh Bắc Giang (39)
      • 3.1.1. Điều kiện tự nhiên (39)
      • 3.1.2. Điều kiện kinh tế-xã hội (42)
      • 3.1.3. Hiện trạng tài nguyên rừng (49)
      • 3.1.4. Những lợi thế, hạn chế và thách thức (51)
    • 3.2. Điều kiện cơ bản Tỉnh Lạng Sơn (56)
      • 3.2.1. Điều kiện tự nhiên (56)
      • 3.2.2. Điều kiện kinh tế-xã hội (56)
      • 3.2.3. Đánh giá chung (59)
      • 3.2.4. Hướng phát triển nông lâm, ngư nghiệp (61)
  • Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (63)
    • 4.1. Các Ban quản lý rừng thuộc hình thức quản lý rừng thôn bản (63)
    • 4.2. Các ban quản lý rừng công đồng thôn, bản (72)
    • 4.3. Các Ban quản lý Hợp tác xã lâm nghiệp (77)
    • 4.4. Phân tích điểm mạnh, điểm yếu của các Ban quản lý rừng thôn bản, các (82)
    • 4.5. Đánh giá hiện trạng rừng thuộc Dự án KfW3 tại huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang và huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn (85)
      • 4.5.1. Huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang (85)
      • 4.5.2. Huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn (95)
    • 4.6. Bài học kinh nghiệm từ kết quả đánh giá hoạt động của các Ban quản lý rừng thôn bản, Ban quản lý rừng cộng đồng, Ban quản lý các HTX lâm nghiệp và số chất lượng tài nguyên rừng đã đạt được (103)
    • 4.7. Đề xuất khung nội dung tập huấn nâng cao năng lực quản lý rừng, quản lý quỹ cho các Ban quản lý rừng thôn bản, các Ban quản lý rừng cộng đồng và các Ban quản lý HTX lâm nghiệp (104)
      • 4.7.1. Tập huấn kỹ thuật (104)
      • 4.7.2. Tập huấn về quản lý rừng (105)

Nội dung

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tài nguyên rừng công cộng, chế độ sở hữu tài nguyên rừng cộng cộng

1.1.1.Tài nguyên rừng công cộng

Trong nhiều xã hội, tài nguyên thiên nhiên như nước, đồng cỏ và rừng thường được quản lý chung bởi cộng đồng địa phương hoặc nhóm người sử dụng, thay vì do cá nhân hay tổ chức nhà nước Do đó, việc hiểu rõ đặc điểm của các tài nguyên này và chế độ quyền sở hữu liên quan là rất quan trọng trong quản lý tài nguyên thiên nhiên.

Nhiều khu rừng mang đặc tính của tài nguyên chung, được gọi là tài nguyên rừng công cộng Tài nguyên rừng chung không phải là hàng hóa tư hay hàng hóa công, nhưng lại chia sẻ tính chất của cả hai Nó có đặc điểm như hàng hóa công với việc cùng sử dụng và khó ngăn chặn người ngoài cộng đồng, đồng thời cũng giống hàng hóa tư ở chỗ có tính mất đi khi sử dụng.

Tài nguyên rừng công cộng gặp nhiều khó khăn trong quản lý và sử dụng do tính chất loại trừ thấp, dễ dẫn đến tình trạng khai thác bừa bãi Mọi người thường thiếu động lực để bảo vệ tài nguyên, thay vào đó có xu hướng khai thác tối đa Hơn nữa, việc sử dụng quá mức xảy ra khi nhiều người cùng tham gia khai thác, dẫn đến nguy cơ cạn kiệt tài nguyên Do đó, tài nguyên công cộng thường bị khai thác quá mức và có nguy cơ mất đi.

1.1.2 Chế độ sở hữu tài nguyên rừng công cộng

Gần đây, các nhà khoa học nhận thấy rằng không phải tất cả tài nguyên rừng công cộng đều bị mất mát, mà yếu tố quan trọng nhất trong quản lý tài nguyên rừng là chế độ sở hữu của các nguồn tài nguyên này.

Sở hữu công cộng là quyền sử dụng tài sản được kiểm soát bởi một cộng đồng hoặc nhóm người cụ thể, cho phép quản lý hiệu quả thông qua hành động tập thể nhằm tạo ra hàng hóa công.

Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng quản lý bền vững tài nguyên rừng trong chế độ cộng đồng có thể đạt được nếu cộng đồng sở hữu đủ bốn quyền cơ bản: quyền tiếp cận, sử dụng, quản lý và loại trừ, mà không cần quyền chuyển nhượng.

Quản lý rừng cộng đồng thực chất là quản lý tài nguyên dưới chế độ sở hữu cộng đồng, cho phép việc bảo vệ và khai thác rừng được thực hiện một cách bền vững.

Trên thế giới

Rừng ở châu Á là tài nguyên công cộng quan trọng, với quản lý rừng công cộng tập trung vào việc giao trách nhiệm cho các nhóm như dòng họ, bộ tộc hoặc cộng đồng Quản lý rừng tập thể cho phép một số nhóm người nắm quyền sử dụng đất và tài nguyên rừng, đồng thời chia sẻ trách nhiệm quản lý với cộng đồng địa phương Hình thức quản lý này thường gắn liền với quyền lợi của các tổ chức chung, đặc biệt là ở các thôn bản hoặc dòng họ Nhiều quốc gia châu Á đã chú trọng đến quản lý rừng cộng đồng, thể hiện sự quan tâm đến việc bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng.

Tại Nepal, việc quản lý và bảo vệ rừng cộng đồng gắn liền với các thôn bản nhỏ là rất quan trọng Tính hiệu quả trong quản lý tài nguyên rừng ở cấp thôn bản chủ yếu dựa vào sự thống nhất ý kiến của người sử dụng Hệ thống quản lý rừng bản địa đã được thiết lập từ năm 1950, và từ đó, Chính phủ Nepal đã có những thay đổi đáng kể về thái độ đối với rừng vùng đồi do tình trạng tàn phá rừng ngày càng nghiêm trọng Mặc dù việc thi hành luật bảo vệ rừng ban đầu không thành công, nhưng đã có nhiều chính sách mới chuyển giao quyền quản lý rừng cho cộng đồng thôn bản, góp phần bảo vệ tài nguyên rừng hiệu quả hơn.

Tại Ấn Độ, quá trình hiện đại hóa đã mang lại nhiều lợi ích cho các thôn bản xung quanh Delhi, nhưng cũng dẫn đến bùng nổ dân số, mất cân bằng tài nguyên và sự tan rã của các tổ chức cổ truyền Sự chuyển nhượng đất công từ sở hữu cộng đồng sang sử dụng tư nhân và các phương thức khác đã làm gia tăng diện tích đất hoang hóa Trong thế kỷ 19, 2/3 đất đai Ấn Độ thuộc về cộng đồng, nhưng quá trình tư nhân hóa đã làm giảm tỷ lệ này Mặc dù nhiều hình thức quản lý tài nguyên cổ truyền đã suy yếu, chúng vẫn quan trọng trong hệ thống nông nghiệp và đời sống của người nghèo Để quản lý tài nguyên công bền vững, chính phủ Ấn Độ cần ưu tiên sửa đổi chính sách và hạn chế tư nhân hóa Vào đầu những năm 1970, chính phủ đã ban hành chính sách khuyến khích phát triển lâm nghiệp làng bản, đầu tư khoảng 400 triệu USD trong 15 năm để giảm áp lực tàn phá rừng, với sự tham gia của người dân trong việc thiết lập các vườn ươm.

Tại Indonesia, người dân vùng Kalimanta thực hiện canh tác du canh, bắt đầu từ các khu rừng tự nhiên và sau đó mở rộng sang rừng thứ sinh, dẫn đến việc các hộ gia đình yêu cầu quyền sở hữu nương rẫy và đất bỏ hóa Với áp lực dân số gia tăng, quyền lợi này được chuyển giao cho thế hệ tiếp theo Sự cạnh tranh về nguồn lâm sản phụ như song mây, gỗ trầm hương và tổ ong giữa người dân địa phương và bên ngoài ngày càng gia tăng Tại miền Nam và Tây Sumatra, cộng đồng có quyền thu hái lâm sản và canh tác trên đất rừng của làng, trong khi một số khu rừng được bảo tồn và không ai được phép xâm phạm.

Tại miền núi Nam Á, có sự liên kết chặt chẽ giữa đất nông nghiệp và rừng theo truyền thống Rừng không chỉ cung cấp phân xanh mà còn cung cấp năng lượng từ củi để nấu nướng và sưởi ấm, đồng thời cung cấp nguyên liệu gỗ cho xây dựng nhà ở và chuồng trại.

Rừng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thức ăn cho gia súc của nông dân, bao gồm trâu, bò, dê và cừu, tạo thành một phần thiết yếu của hệ canh tác địa phương Mối quan hệ giữa con người, đất đai, gia súc và rừng đã dẫn đến sự hình thành các tổ chức địa phương nhằm quản lý rừng công cộng trên diện tích lớn Các phương thức quản lý rừng không chỉ tập trung vào việc khai thác gỗ mà còn chú trọng đến việc kiểm soát thu hái thức ăn gia súc và chăn thả trong rừng Những phương pháp như luân canh đồng cỏ, chăn thả gia súc và cắt cụt ngọn cây để nuôi gia súc tại chuồng thường được áp dụng, thay thế cho hình thức chăn thả tự do.

Vào tháng 9 năm 2001, một hội thảo quốc tế về lâm nghiệp cộng đồng đã được tổ chức tại Chiang Mai, Thái Lan, nhằm phản ánh nhu cầu phát triển các phương thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng ở nhiều quốc gia, bao gồm cả Việt Nam.

Việc phân chia lợi ích giữa cộng đồng bản địa, Nhà nước và các tổ chức bên ngoài đang gặp nhiều mâu thuẫn tại nhiều quốc gia Hậu quả của việc can thiệp từ trên xuống trong quản lý tài nguyên là sự thiếu quan tâm đến truyền thống và kinh nghiệm của người dân địa phương Thiếu thỏa thuận hợp lý trong quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng dẫn đến sự suy giảm nghiêm trọng của tài nguyên này Mặc dù cộng đồng địa phương và các tổ chức bên ngoài đã nỗ lực duy trì tài nguyên, nhưng hiệu quả vẫn chưa đạt được Do đó, nhiều quốc gia đang thử nghiệm các chương trình và cải thiện chính sách để giải quyết mâu thuẫn giữa lợi ích của người dân bản địa và phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường.

Châu Mỹ La Tinh là khu vực phát triển với diện tích rừng lớn nhất, sở hữu 996 triệu ha rừng và tỷ lệ che phủ đạt 48% Hơn một nửa diện tích rừng nhiệt đới toàn cầu hiện vẫn nằm trong khu vực này.

Rừng có vai trò quan trọng về kinh tế, sinh thái và xã hội trong phát triển đất nước, nhưng ở Châu Mỹ La Tinh, hoạt động lâm nghiệp và khai thác tài nguyên rừng đã bị lơ là, dẫn đến tình trạng tàn phá rừng nhanh chóng Diện tích rừng giảm sút gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng như xói mòn đất, cạn kiệt nguồn nước, tuyệt chủng các loài động thực vật, và góp phần vào biến đổi khí hậu Để đối phó với nạn phá rừng, các quốc gia ở Châu Mỹ La Tinh đã thực hiện hai biện pháp: nhà nước quản lý rừng và trao quyền cho cộng đồng quản lý tài nguyên Kết quả là các nhóm cộng đồng đã tham gia vào các chương trình tự quản, góp phần vào việc sử dụng rừng bền vững và khắc phục những tổn thất về môi trường và xã hội.

Tại Bolivia, mô hình phát triển quản lý tài nguyên rừng tập trung vào việc tổ chức hợp tác xã lâm nghiệp và xây dựng xưởng cưa để tăng lợi tức, kết hợp với quản lý rừng nhằm đạt tính sản xuất bền vững Mặc dù cây rừng được quản lý tập thể, việc khai thác vẫn cần giấy phép từ chính phủ Bolivia hàng năm Cộng đồng cũng bảo tồn những loài cây nhập nội có giá trị cao để xây dựng quỹ tiết kiệm, chỉ sử dụng khi thật sự cần thiết.

- Tại Peru, Chương trình quản lý tài nguyên Selva Trung ương, năm

Chương trình được phát triển vào năm 1980 nhằm quản lý tài nguyên rừng, đặc biệt là rừng đầu nguồn Mục tiêu của chương trình là tạo ra việc làm và thu nhập cho các thành viên trong cộng đồng, đồng thời bảo tồn các rừng tự nhiên mà cộng đồng đang quản lý.

Nghiên cứu về nhóm người Indieng Kapor ở miền đông Amazon, Brazil, cho thấy rằng các nhóm bản địa đã quản lý hệ động thực vật một cách hiệu quả, từ đó tăng cường tính đa dạng sinh học Điều này không chỉ góp phần duy trì mà còn nâng cao khả năng cung ứng tài nguyên rừng cho con người trong thời gian dài.

Tại Mexico, chính sách “Kinh tế lâm nghiệp thôn xã” đã khẳng định rằng sự tham gia của nông dân vào việc quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng là yếu tố then chốt cho sự thành công của các chương trình phát triển rừng cộng đồng Sự tham gia trực tiếp của người dân địa phương không chỉ nâng cao hiệu quả bảo vệ rừng mà còn góp phần phát triển bền vững tài nguyên rừng.

Tại châu lục này, hai hệ thống quản lý rừng song song tồn tại: hệ thống quản lý rừng địa phương, dựa trên kiến thức bản địa của người dân, và hệ thống quản lý rừng gắn với bên ngoài, nhận hỗ trợ khoa học và tài chính từ bên ngoài Mục tiêu của hệ thống này là bảo vệ và phát triển các hệ sinh thái, đồng thời khuyến khích sự tham gia của cộng đồng Sự cạnh tranh giữa người dân và Nhà nước, cùng các tổ chức bên ngoài về lợi ích từ rừng đã giảm bớt, chuyển sang giai đoạn hợp tác phát triển Các chương trình hiện nay chú trọng tham khảo ý kiến của người dân trong việc bảo vệ và phát triển rừng.

Ở Việt nam

Mức độ phong phú tài nguyên rừng của Việt Nam khác nhau giữa các vùng miền do nhiều nguyên nhân, dẫn đến sự thay đổi trong các quy định quản lý rừng và hoạt động quản lý rừng cộng đồng.

Bảng 1.1: Diện tích có rừng ở các vùng chính miền Bắc và các hoạt động quản lý rừng cộng đồng

Diện tích có rừng (ha)

Diện tích rừng tính độ che phủ(ha) Độ che phủ của rừng (%)

Mặc dù diện tích đất lâm nghiệp ở miền Bắc vẫn còn lớn, nhưng diện tích rừng thực sự rất ít và chất lượng rừng lại thấp Điều này dẫn đến việc diện tích rừng được giao cho cộng đồng cũng hạn chế, chủ yếu là rừng nghèo và rừng non.

Các hoạt động quản lý rừng cộng đồng ở miền Bắc chủ yếu tập trung vào việc bảo vệ rừng và khai thác lâm sản ngoài gỗ Một số cộng đồng được hỗ trợ từ các dự án quản lý rừng đã xây dựng các Kế hoạch quản lý rừng, Quy ước bảo vệ và phát triển rừng, cùng với Quy chế quản lý Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Họ cũng tiến hành các hoạt động bảo vệ và nuôi dưỡng rừng, tuy nhiên, số lượng cộng đồng thực hiện khai thác lâm sản vẫn rất hạn chế.

Các dự án hỗ trợ đã mở rộng quản lý rừng cộng đồng thông qua hai hình thức: Thứ nhất, các hộ gia đình đóng góp đất để tham gia hoạt động dự án, như Dự án hỗ trợ trồng rừng cộng đồng tại thôn Suối Ngành, xã Mông Hóa, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình, do Trung tâm xúc tiến lâm nghiệp quốc tế Nhật Bản (JIPRO) thực hiện từ 2003-2005 Thứ hai, các hộ gia đình tham gia vào quản lý rừng cộng đồng thông qua Dự án Kfw pha 3 QUICK WIN, từ 2008-2011, nhằm nâng cao năng lực hỗ trợ kỹ thuật cho cán bộ quản lý dự án và cộng đồng Những cộng đồng này được hỗ trợ trồng rừng nguyên liệu như gỗ dăm, gỗ ván thanh từ Keo Lai, và các loại cây lâm sản ngoài gỗ như Hồi, Quế, Ba kích, Mây nếp, giúp họ hưởng lợi bền vững từ các nguồn thu lâm sản có giá trị.

Bảng 1.2: Diện tích có rừng ở các vùng thuộc miền Trung và các hoạt động quản lý rừng cộng đồng

Diện tích có rừng (ha) Diện tích rừng tính độ che phủ(ha) Độ che phủ của rừng (%)

Bắc Trung bộ 2.807.204 2.127.322 679.872 48.808 2.758.397 53,6 Duyên Hải 1.919.735 1.428.235 491.500 56.724 1.863.011 37,9

Rừng miền Trung có chất lượng phong phú hơn miền Bắc, với cả rừng trung bình và rừng đủ tiêu chuẩn khai thác gỗ được giao cho cộng đồng Tuy nhiên, do diện tích hẹp của miền Trung, rừng ven biển chủ yếu là rừng trồng thuộc rừng sản xuất, trong khi rừng vùng núi chủ yếu là rừng phòng hộ và đặc dụng, dẫn đến diện tích rừng giao cho cộng đồng quản lý không nhiều.

- Ví dụ trường hợp rừng cộng đồng thôn Tà Lềnh, xã Đăkrông, tỉnh Quảng Trị + Tổng diện tích khai thác là 24ha

+ Cỡ kính khai thác >30cm

+ Thời hạn khai thác: 5 năm, từ 2008 – 2012

+ Khối lượng khai thác: 410 cây

Bảng 1.3: Diện tích có rừng ở các tỉnh thuộc Tây nguyên và các hoạt động quản lý rừng cộng đồng

Diện tích có rừng (ha) Diện tích rừng tính độ che phủ(ha) Độ che phủ của rừng (%)

Gia Lai 719.812 673.541 46.272 10.035 709.777 45,5 Lâm Đồng 601.207 538.557 62.651 6.712 594.496 60,8 Đăk Lăk 610.489 567.854 42.635 13.109 597.380 45,5 Đăk

Diện tích rừng Tây Nguyên vẫn phong phú hơn so với miền Bắc và miền Trung, chủ yếu bao gồm rừng trung bình và rừng giàu Do đó, rừng được giao cho cộng đồng không chỉ có rừng trung bình mà còn cả rừng giàu Nhiều cộng đồng ở đây có hoạt động khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ với quy mô lớn.

- Ví dụ trường hợp rừng cộng đồng Buôn TaLy, xã Ea Sol, huyện

+ Diện tích rừng cộng đồng Buôn TaLy: 214,6ha, trong đó rừng giàu là 89,6ha; rừng trung bình là 125ha

Vào năm 2006, Buôn TaLy được Ủy ban nhân dân tỉnh Đăk Lăk cho phép khai thác 368 m³ gỗ Sau khi trừ các chi phí liên quan đến khai thác, vận chuyển và thuế tài nguyên, cộng đồng đã nhận được 236 triệu đồng, trong khi tổng giá trị gỗ khai thác đạt 616 triệu đồng.

1.3.4 Những tài liệu, chương trình, dự án chính về quản lý rừng cộng đồng

- Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn) năm

Năm 1998, tài liệu về Lâm nghiệp cộng đồng và Sổ tay cẩm nang của FAO-UNDP đã được biên dịch, cung cấp những kiến thức cơ bản về Lâm nghiệp cộng đồng, bao gồm khái niệm, phương pháp, và công cụ để tham gia vào quá trình luận chứng, kiểm tra và đánh giá Tài liệu cũng đề cập đến việc thẩm định nhanh quyền hưởng dụng đất và cây rừng của cộng đồng, rất hữu ích cho nghiên cứu và phát triển LNCĐ tại Việt Nam trong giai đoạn tiền phát triển Theo đó, Lâm nghiệp cộng đồng được định nghĩa là các hoạt động lâm nghiệp do cá nhân trong cộng đồng thực hiện nhằm gia tăng lợi ích mà họ coi là có giá trị.

Chương trình hợp tác lâm nghiệp Việt Nam - Thụy Điển đã xuất bản nhiều tài liệu hữu ích cho quản lý rừng cộng đồng, bao gồm “Điều tra đánh giá nông thôn có sự tham gia của nông dân” và “Xây dựng kế hoạch ở thôn bản”, cùng với “Phát triển Quỹ thôn bản”.

Dự án Lâm nghiệp xã hội sông Đà, hợp tác với Cộng hòa liên bang Đức, nhấn mạnh tầm quan trọng của hưởng dụng đất và cây rừng ở cấp cộng đồng trong quản lý lâm nghiệp cộng đồng Hưởng dụng được xem là yếu tố then chốt, điều tiết kiểm soát và tiếp cận tài nguyên rừng Cần phân biệt giữa hưởng dụng thực tế và hưởng dụng theo quy định Quyền sử dụng tài nguyên được địa phương công nhận là cơ sở cho hưởng dụng thực tế, trong khi hưởng dụng theo quy định là khi quyền này được pháp luật công nhận và nhà nước ủng hộ Một tài nguyên có thể thuộc hưởng dụng theo quy định của nhà nước, nhưng các nhóm sử dụng địa phương vẫn có thể coi đó là tài nguyên của mình và yêu cầu quyền cũng như trách nhiệm trong quản lý.

Hệ thống hưởng dụng là tập hợp các dạng thức hưởng dụng trong một xã hội, với nhiều loại hình khác nhau phục vụ cho các mục đích và đối tượng sử dụng khác nhau Tuy nhiên, tất cả các dạng hưởng dụng này phải tạo thành một hệ thống liên hoàn, bổ sung cho nhau.

Có nhiều hình thức hưởng dụng nông nghiệp, với nhiều nông dân áp dụng các hệ thống bản địa đã phát triển để đáp ứng nhu cầu cụ thể của các dân tộc trong những môi trường khác nhau Những hệ thống này sử dụng các kỹ thuật đặc thù, tạo nên sự đa dạng phong phú khó có thể tổng quát Ở nhiều quốc gia, luật pháp thường tìm cách điều chỉnh và bảo vệ những hình thức hưởng dụng này.

- Chương trình tài trợ các dự án nhỏ quản lý rừng bền vững rừng nhiệt đới

(SGP PTF/UNDP) cho xuất bản Sổ tay hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng -

Năm 2007, bài viết cung cấp phân tích và hướng dẫn chi tiết về các điều kiện cơ bản trong quản lý rừng cộng đồng Nó cũng đề cập đến các cơ sở pháp lý và luật tục có ảnh hưởng đến quản lý rừng cộng đồng cũng như các hoạt động liên quan.

- Chương trình hỗ trợ ngành Lâm nghiệp và đối tác xuất bản tài liệu “Cẩm nang ngành Lâm nghiệp - Chương Lâm nghiệp cộng đồng “ năm

Cẩm nang năm 2006 đã tổng hợp kinh nghiệm về lâm nghiệp cộng đồng từ một số quốc gia Châu Á, đặc biệt là tại Việt Nam Tài liệu này phân tích các khái niệm, đặc trưng và tiêu chí nhận biết lâm nghiệp cộng đồng, đồng thời đánh giá hiện trạng phát triển và các hình thức quản lý rừng cộng đồng Ngoài ra, cẩm nang cũng trình bày kinh nghiệm quản lý rừng cộng đồng, khuôn khổ pháp lý liên quan và lợi ích từ việc quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam.

Dự án Chương trình thí điểm Lâm nghiệp cộng đồng năm 2008 đã cho ra mắt hai tài liệu quan trọng: Tài liệu Hướng dẫn kỹ thuật quản lý rừng cộng đồng và tài liệu bổ sung.

Thảo luận

Qua tổng quan các vấn đề có liên quan đến chủ đề nghiên cứu trên, có thể rút ra một số nhận định sau:

Quản lý tài nguyên rừng hiện nay được thực hiện thông qua hai hình thức quyền sở hữu song song: một là quản lý bởi các tổ chức nhà nước và hai là quản lý công cộng, trong đó có sự tham gia của cộng đồng địa phương.

- Quản lý rừng cộng đồng bền vững cần được hỗ trợ của các tổ chức nhà nước

Rừng cộng đồng tại Việt Nam đã được giao cho cộng đồng quyền sử dụng lâu dài, bao gồm nhiều hình thức như rừng quản lý theo nhóm hộ hoặc rừng do các hộ gia đình góp đất để thực hiện dự án chung Tất cả các loại rừng này đều có Ban quản lý do dân bầu, được chính quyền địa phương công nhận, góp phần vào hiệu quả quản lý rừng Tuy nhiên, hiệu quả này còn phụ thuộc vào điều kiện tài nguyên, mức độ hỗ trợ từ các chương trình dự án và trình độ quản lý của các Ban quản lý Từ năm 2004, cộng đồng thôn bản được nhà nước công nhận quyền lợi và trách nhiệm trong việc bảo vệ và phát triển rừng Trong bối cảnh rừng cộng đồng đa dạng, Ban quản lý rừng đóng vai trò quan trọng trong tổ chức quản lý, đặc biệt khi nhận được sự hỗ trợ từ Nhà nước hoặc các chương trình dự án.

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu chung: Đánh giá hiệu quả các hình thức quản lý rừng thôn bản đang thực hiện tại Dự án KfW3 - pha 3, rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực quản lý rừng với các hình thức quản lý rừng

Đánh giá hiệu quả và rút ra bài học kinh nghiệm từ các hoạt động quản lý rừng và quỹ rừng là rất quan trọng, đặc biệt qua các hình thức quản lý như quản lý rừng cộng đồng, quản lý rừng thôn bản, và quản lý hợp tác xã lâm nghiệp Những hoạt động này cần được thực hiện thông qua sự chỉ đạo và giám sát của các Ban quản lý để đảm bảo tính bền vững và hiệu quả trong việc bảo vệ tài nguyên rừng.

Để nâng cao năng lực quản lý rừng và khắc phục những hạn chế trong quản lý quỹ rừng, cần đề xuất các giải pháp cụ thể cho hình thức quản lý rừng thôn bản, quản lý rừng cộng đồng và quản lý hợp tác xã lâm nghiệp Những giải pháp này nên tập trung vào việc cải thiện quy trình quản lý, tăng cường sự tham gia của cộng đồng và nâng cao nhận thức về bảo vệ rừng, từ đó đảm bảo sự bền vững trong việc sử dụng và phát triển tài nguyên rừng.

2.2 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào các hoạt động của Ban quản lý rừng thôn bản, Ban quản lý rừng cộng đồng và Ban quản lý hợp tác xã lâm nghiệp nhằm đánh giá các hình thức quản lý rừng tại cấp thôn bản trong khuôn khổ Dự án KfW3 - pha 3.

Hiện trạng tài nguyên rừng đang được quản lý thông qua các hình thức như rừng thôn bản, rừng cộng đồng và hợp tác xã lâm nghiệp tại hai huyện đại diện.

2 tỉnh: Lạng Sơn và Bắc Giang

Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Đánh giá hiệu quả hoạt động của các Ban quản lý rừng của các hình thức quản lý rừng khác nhau:

1) Cơ sở pháp lý của các Ban quản lý rừng: Kết quả mong đợi là xem xét quá trình thành lập và hoạt động của các Ban quản lý rừng có gì vướng mắc hoặc trái với quy định của nhà nước từ đó đề xuất biện pháp khắc phục

2) Về cơ cấu tổ chức của các Ban quản lý rừng: Kết quả mong đợi là đánh giá bộ máy tổ chức hiện nay đã phù hợp chưa?, có gì tồn tại?; Để Ban QLR hoạt động tốt và có hiệu quả cần bổ sung và khắc phục những gì?

3) Tình hình hoạt động của các Ban QLR : Kết quả mong đợi là đánh giá mặt mạnh, mặt yếu trong việc chỉ đạo, điều hành và thực hiện các hoạt động đã được thiết lập?; mô hình Ban QLR hiện nay? có phù hợp và nhân rộng được không? để Ban quản lý rừng hoạt động tốt hơn cần để xuất biện pháp gì

2.3.2 Đánh giá công tác quản lý quỹ của các Ban quản lý rừng

1) Tình hình các nguồn thu chi trong quản lý rừng của các Ban quản lý

2) Quản lý thu chi của các Ban quản lý rừng

3) Nguyên tắc và kỹ năng ghi chép thu chi của các Ban quản lý

2.3.3 Đánh giá hiện trạng rừng trên 2 huyện đại diện cho 2 tỉnh: Lạng Sơn và Bắc Giang

Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp đánh giá hoạt động các Ban quản lý rừng

2.4.1.1 Xác định dung lượng mẫu và lựa chọn mẫu để đánh giá

Dựa trên danh sách các Ban quản lý rừng thôn bản, Ban quản lý rừng cộng đồng và Ban quản lý HTX lâm nghiệp do Ban quản lý dự án KFW3 pha 3 cung cấp, để đảm bảo tính khách quan, trung thực và chính xác trong việc đánh giá hoạt động và quản lý quỹ tại các Ban quản lý rừng, tỷ lệ và tiêu chuẩn lựa chọn mẫu sẽ được áp dụng một cách nghiêm ngặt.

- Dự kiến dung lượng mẫu đánh giá chiếm tỷ lệ 30% tổng số Ban quản lý rừng đã được thành lập

Mỗi huyện có Ban quản lý rừng sẽ chọn từ 1 đến 3 đơn vị để thực hiện đánh giá, với số lượng mẫu đánh giá tùy thuộc vào số lượng Ban quản lý rừng của từng huyện cụ thể.

Huyện có từ 1 đến 4 Ban quản lý rừng sẽ lựa chọn 1 mẫu đánh giá điển hình Trong khi đó, huyện có từ 5 đến 10 Ban quản lý rừng sẽ chọn 2 mẫu đánh giá, bao gồm 1 mẫu điển hình và 1 mẫu được chọn ngẫu nhiên qua hình thức đánh số thứ tự và bốc thăm.

Huyện có hơn 11 ban quản lý rừng sẽ chọn 3 mẫu đánh giá, trong đó có 2 mẫu điển hình Các mẫu đánh giá điển hình được lựa chọn dựa trên kết quả thực hiện tốt các hoạt động của Ban quản lý rừng, đồng thời tham khảo ý kiến từ các Ban quản lý huyện và tỉnh.

Cụ thể: a) Đối với Ban quản lý rừng cộng đồng:

- Dung lượng mẫu đánh giá là 12 đơn vị/ 5 huyện/ 36 Ban quản lý rừng;

- Mẫu đánh giá điển hình và ngẫu nhiên có danh sách kèm theo b) Đối với Ban quản lý rừng thôn bản:

- Dung lượng mẫu đánh giá là 10 đơn vị/ 8 huyện/35 Ban quản lý rừng;

- Mẫu đánh giá điển hình và ngẫu nhiên có danh sách kèm theo

Bảng 2.1: Danh sách các Ban quản lý rừng tiến hành đánh giá

TT Hình thức quản lý Ban quản lý rừng Xã Huyện Tỉnh

Quản lý rừng thôn bản

1) Thôn Háng Cút Bắc Thủy Chi lăng

2) Bản Tát Thanh Long Văn Lãng

3) Bản Pò Hà Trùng Khánh Văn Lãng

4) Thôn Khòn Quắc Đồng Bục Lộc Bình

5) Thôn Am Sang Đông Hưng

6) Thôn Văn Giang Huyền Sơn

7) Thôn Vật Phú Tân Hoa Lục Ngạn

Quản lý rừng cộng đồng

1) Thôn Mu Nầu Mẫu Sơn

2) Thôn Đông Chắn Công Sơn

4) Thôn Rõng An Lạc Sơn Động I Bắc

5) Thôn Gà Thanh Luận Sơn Động II

3 Hợp tác xã quản lý rừng

1) HTX Việt Đức Đình Lập Đình Lập Lạng

2) HTX Bình Minh, Đồng Cốc Lục Ngạn Bắc

2.4.1.2 Kế thừa tài liệu do các Ban quản lý Dự án cung cấp

Tại mỗi Ban quản lý, sẽ có báo cáo tóm tắt về quá trình thành lập và hoạt động, tình hình quản lý và sử dụng vốn, cũng như những khó khăn và thuận lợi mà cơ sở gặp phải, cùng với các giải pháp khắc phục.

- Kiểm tra, xem xét hồ sơ, tài liệu và đối chiếu với kết quả thực hiện;

Gặp gỡ và trao đổi với cán bộ Ban quản lý rừng theo từng chuyên đề nhằm đánh giá trình độ và năng lực của họ, từ đó xem xét liệu có đáp ứng được yêu cầu công việc hay không.

1) Theo phương pháp phỏng vấn và tham vấn bán định hướng Để đánh giá tình hình quản lý rừng và quản lý quỹ của các Ban quản lý đã tiến hành phỏng vấn các Ban quản lý rừng; tham vấn các một số tổ, nhóm, hộ gia đình để biết được nhận thức, nguyện vọng, những đánh giá của họ về quá trình hoạt động và sử dụng vốn của Ban quản lý rừng? (theo bảng câu hỏi bán định hướng đã lập sẵn); a) Các mẫu bảng câu hỏi Phỏng vấn vầ tham vấn:

Bảng 2.2: Tính pháp lý của hình thức quản lý rừng và Ban quản lý rừng thôn bản được thành lập

TT Câu hỏi Trả lời Bằng chứng Điểm Khắc phục

PH TV HT Thực hiện

Bảng 2.3: Cơ cấu tổ chức Ban quản lý rừng thôn bản

TT Câu hỏi Trả lời Bằng chứng Điểm Khắc phục

PH TV HT Thực hiện

Bảng 2.4: Hoạt động quản lý rừng

TT Câu hỏi Trả lời Bằng chứng Điểm Khắc phục

PH TV HT Thực hiện

Bảng 2.5: Quản lý Qũy thôn bản

TT Câu hỏi Trả lời Bằng chứng Khắc phục

Bảng 2.6: Thang điểm đánh giá:

Mức độ thực hiện Điểm Ghi chú

Rất kém < 4,1 b) Nội dung các câu hỏi: Trình bày trong phụ lục

2.4.2 Phương pháp điều tra hiện trường rừng

2.4.2.1 Xác định đối tường rừng điều tra: Rừng trồng do Dự án hỗ trợ trồng thuộc huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn và huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang Vì rừng trồng 2 huyện này gần như có đủ các loài cây trồng mà Dự án đã tiến hành trồng trên toàn bộ phạm vi quản lý của Dự án tại 2 tỉnh: Lạng Sơn và tỉnh Bắc Giang và có diện tích rừng trồng Thông nhựa khá lớn và có gần đủ các cấp tuổi

2.4.2.2 Phương pháp điều tra rừng trồng: Thực hiện phương pháp rút mẫu hai cấp với những nguyên tắc sau:

Mẫu cấp 1 (mẫu sơ cấp) là các lô rừng được chọn ngẫu nhiên (rút thăm) sao cho tổng diện tích của chúng bằng 10% diện tích rừng thuộc dự án

Trên mỗi lô mẫu cấp 1, có từ 1 đến 3 ô tiêu chuẩn hệ thống được gọi là ô thứ cấp, với mỗi ô có diện tích 100m2, tùy thuộc vào kích thước của tuyến điển hình.

Điều tra ô mẫu (mẫu thứ cấp) bao gồm việc đo đạc toàn diện các thông số như đường kính ngang ngực (d1.3) và đường kính gốc (do) của các cây gỗ trong từng ô tiêu chuẩn, cùng với việc ghi nhận chiều cao thân cây (h) và đường kính tán (dt) Đối với các ô thuộc công thức rừng phục hồi, cần thực hiện điều tra bổ sung về tái sinh tự nhiên trên 4 ô dạng bản (1m²/ô) để xác định tên loài, chiều cao và phẩm chất của từng cây tái sinh Bên cạnh đó, việc mô tả các đặc điểm khác như đất, thực bì, sâu bệnh hại, địa hình và lửa rừng cũng rất quan trọng Tất cả kết quả điều tra sẽ được ghi vào phiếu điều tra ô tiêu chuẩn.

Bảng 2.7: Phiếu điểu tra ô tiêu chuẩn PHIẾU ĐIỀU TRA Ô TIÊU CHUẨN RỪNG TRỒNG

Diện tích lô: Số hiệu Ô: Loài cây :

Phẩm chất ĐT NB BQ A B C

PHIẾU ĐIỀU TRA Ô TIÊU CHUẨN RỪNG TỰ NHIÊN

Diện tích lô: Số hiệu Ô: Trạng thái:

Phẩm chất ĐT NB BQ A B C

- Xử lý tài liệu điều tra

Tài liệu điều tra ô tiêu chuẩn được xử lý tính toán theo nguyên tắc sau:

+ Coi mỗi lô mẫu (ô sơ cấp) là một đơn vị tính toán (gộp tài liệu các ô

100m 2 trên 1 lô thành một đơn vị chỉnh lý, tính toán)

Để đánh giá số lượng và chất lượng rừng, cần tính toán các chỉ tiêu như mật độ, đường kính bình quân, tổng tiết diện ngang, trữ lượng cho các lô rừng phục hồi hoặc rừng trồng có tuổi lớn Đồng thời, cũng phải xác định tỷ lệ phần trăm cây tốt, trung bình và xấu Đối với những lô rừng có điều tra tái sinh, cần tính toán mật độ, tổ thành, tỷ lệ cây tốt, trung bình, xấu và phần trăm cây tái sinh có triển vọng Các công thức tính toán phải tuân thủ theo hướng dẫn trong tài liệu kỹ thuật kiểm kê của dự án đã được biên soạn.

+ Ước lượng các chỉ tiêu số, chất lượng rừng cho từng công thức trồng

Kết quả tính toán từ các ô sơ cấp cho phép ước lượng các trị số liên quan đến số lượng và chất lượng rừng cho từng công thức trồng, thông qua phương pháp ước lượng số trung bình hoặc tổng thể trong thống kê toán học.

- Đánh giá số chất lượng rừng trồng dự án

Dựa trên kết quả xử lý tài liệu, có thể đưa ra một số nhận định về số lượng và chất lượng rừng thông qua phương pháp phân tích chuyên gia, một kỹ thuật phổ biến trong thực tiễn lâm nghiệp Phương pháp này cho phép đánh giá chính xác tình trạng rừng, từ đó cung cấp thông tin hữu ích cho việc quản lý và bảo tồn tài nguyên rừng hiệu quả hơn.

Hình 2.1: Phỏng vấn trong phòng + Khảo sát hiện trường

ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Điều kiện cơ bản tỉnh Bắc Giang

Tỉnh Bắc Giang có diện tích 382.738 ha, tọa lạc cách thủ đô Hà Nội 50 km về phía Bắc, cách cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị 110 km về phía Nam và cách cảng Hải Phòng hơn 100 km về phía Tây.

Tỉnh Bắc Giang nằm ở vị trí địa lý thuận lợi, phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Tây và Tây Bắc giáp Hà Nội và Thái Nguyên, trong khi phía Nam và Đông Nam tiếp giáp với các tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương và Quảng Ninh.

2) Địa hình địa thế: Địa hình Bắc Giang gồm 2 tiểu vùng miền núi và trung du có đồng bằng xen kẽ Vùng núi bao gồm 7 huyện: Sơn Động, Lục Nam, Lục Ngạn, Yên Thế, Tân Yên, Yên Dũng, Lạng Giang Vùng trung du bao gồm 2 huyện Hiệp Hòa, Việt Yên, và TP Bắc Giang

Bắc Giang có khí hậu nhiệt đới gió mùa đặc trưng của vùng Đông Bắc, với bốn mùa rõ rệt trong năm Mùa Đông lạnh và mùa hè nóng ẩm, trong khi mùa xuân và thu mang lại khí hậu ôn hòa Nhiệt độ trung bình ở đây dao động từ 22 đến 23 độ C, với độ ẩm thay đổi từ 73% đến 87%.

Lượng mưa hàng năm 1500-1700 mm Độ ẩm không khí trung bình 82% Nắng trung bình hàng năm từ 1.500 - 1.700 giờ, thuận lợi cho phát triển cây trồng

Chế độ gió: Gió Đông Nam về mùa hè và gió Đông Bắc thường kèm mưa rét, sương muối vào mùa đông

Thời tiết Bắc Giang có tác động rõ rệt đến sản xuất lâm nghiệp, đặc biệt là khi nhiệt độ giảm xuống dưới 5-7 độ C, gây chết cây Keo lá tràm Ngoài ra, gió lốc cục bộ vào mùa hè cũng làm gãy đổ cây Keo lai và một số loại cây gỗ mềm mọc nhanh khác.

4) Thuỷ văn: Bắc Giang có 3 con sông lớn chảy qua: Sông Thương; sông Cầu và sông Lục Nam, với tổng chiều dài 347 km Lưu lượng lớn và có nước quanh năm Bắc Giang còn có nhiều hồ, đầm, trong đó có hồ Cấm Sơn và Khuôn Thần Hồ Cấm Sơn nằm ở khu vực giáp tỉnh Lạng Sơn, dài 30 km, nơi rộng nhất

Hồ Khuôn Thần có diện tích mặt nước 240 ha, với chiều dài 7 km và chỗ hẹp nhất là 200m Nơi đây có 5 đồi đảo được bao phủ bởi rừng thông trên 20 tuổi, tạo nên cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp Lượng nước từ mặt hồ, nước mưa và nước ngầm dồi dào, đủ khả năng cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt.

Kết quả điều tra xây dựng bản đồ dạng đất trên địa bàn tỉnh Bắc Giang có

40 đơn vị đất đai thuộc các nhóm đất chính sau:

- Đất Feralit trên núi trung bình: Diện tích 200ha, chiếm 0,1% diện tích tự nhiên Phân bố ở độ cao > 700m thuộc 2 dãy An Châu, Yên Tử

- Đất Feralit trên núi thấp: Diện tích 28.530 ha, chiếm 7,5% diện tích tự nhiên

- Đất Feralit vùng đồi phát triển trên đá sa thạch: Diện tích 76.400 ha chiếm 20% diện tích tự nhiên Phân bố chủ yếu ở huyện Lục Nam, Sơn Động

Đất Feralit là loại đất phát triển trên đá phiến thạch sét, với tổng diện tích lên đến 83.910ha, chiếm 22% diện tích tự nhiên của khu vực Loại đất này chủ yếu phân bố tại các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế và Lạng Giang.

Đất phù sa cổ có diện tích 8.880 ha, chiếm 2,3% tổng diện tích tự nhiên, chủ yếu phân bố ở hạ lưu sông Lục Nam và các huyện vùng trung du Trong khi đó, đất thung lũng dốc tụ có diện tích 8.170 ha, chiếm 2,1% diện tích tự nhiên, được phân bố ven các sông, suối chính trong tỉnh, với tầng đất dày và độ phì cao, giàu dinh dưỡng.

Đất Feralit, với diện tích 176.110 ha, chiếm 46% tổng diện tích tự nhiên, chủ yếu phân bố tại các huyện Việt Yên, Hiệp Hoà, Tân Yên, Yên Dũng và Lạng Giang, là loại đất chính được sử dụng cho canh tác nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa.

Đất đai của tỉnh chủ yếu hình thành từ sa thạch, phiến thạch và phù sa cổ, trong đó diện tích đất trên sa thạch thường có tầng đất trung bình, nghèo dinh dưỡng, nhiều khu vực khô cằn và khả năng giữ nước kém.

6) Hiện trạng Sử dụng Đất đai

Tỉnh Bắc Giang có 382.738 ha đất tự nhiên Kết quả chuyên đề điều tra cập nhật xây dựng bản đồ rừng và sử dụng đất năm 2008 như sau:

Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Bắc Giang năm 2008

Loại đất loại rừng Diện tích (ha) Tỷ lệ %

II Các loại đất nông nghiệp khác 103.628 27,1

Hiện trạng sử dụng đất tại Bắc Giang đang chuyển dịch theo hướng tăng diện tích đất phi nông nghiệp và giảm đất chưa sử dụng, nhờ vào sự phát triển công nghiệp và đô thị hóa Với địa hình đa dạng gồm vùng núi, trung du và đồng bằng, hệ sinh thái nông lâm nghiệp tại đây cũng rất phong phú Đất chưa sử dụng có tiềm năng lâm nghiệp lớn, trong khi đất nông nghiệp không chỉ phục vụ thâm canh lúa mà còn phù hợp cho việc phát triển rau củ quả cung cấp cho Hà Nội và các tỉnh lân cận Tỉnh đã lên kế hoạch chuyển đổi hàng chục nghìn ha đất trồng lúa sang phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp và nuôi trồng thủy sản có giá trị kinh tế cao Với hơn 26.000 ha đất chưa sử dụng, trong đó khoảng 16.000 ha có thể đưa vào sản xuất lâm nghiệp, đây là cơ hội lớn cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư trong lĩnh vực trồng rừng và chế biến lâm sản.

7) Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên

Tỉnh Bắc Giang nằm gần khu tam giác kinh tế phía Bắc và các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, cùng với cửa khẩu Lạng Sơn Với sự hiện diện của quốc lộ 1A và đường sắt liên vận quốc tế, Bắc Giang kết nối thuận lợi với thị trường Trung Quốc, tạo ra lợi thế cạnh tranh cho tỉnh trong việc tiêu thụ lâm sản và tiếp thu công nghệ sản xuất tiên tiến.

Tỉnh Bắc Giang sở hữu diện tích đất lâm nghiệp lớn, chiếm 43%, chủ yếu phân bố ở vùng đồi núi thấp dưới 500m với đất đai còn tốt và khí hậu ôn hòa, ít xảy ra thiên tai Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất lâm nghiệp Hơn nữa, diện tích đất đồi núi chưa sử dụng có khả năng khai thác cho nông, lâm nghiệp còn lớn, mang lại lợi thế để phát triển nền sản xuất nông lâm nghiệp đa dạng so với các tỉnh miền núi và đồng bằng Bắc Bộ.

3.1.2 Điều kiện kinh tế-xã hội

3.1.2.1 Nguồn nhân lực: dân số; dân tộc; lao động

Toàn tỉnh Bắc Giang có 09 huyện và 01 thành phố với 230 xã, phường và thị trấn Dân số 1.613.576 người (Nguồn số liệu niên giám thống kê năm

2007) Mật độ dân số bình quân 421,6 người/km 2 , thấp nhất là huyện Sơn Động (86 người/km 2 ), cao nhất là thành phố Bắc Giang (3.317 người/km 2 )

Tỷ lệ tăng dân số bình quân 1,18%

Bắc Giang là vùng đất đa dạng với 27 dân tộc anh em, bao gồm Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chỉ, Hoa, Mường, Dao, và Cao Lan Trong đó, dân tộc Kinh chiếm ưu thế nhất với 87,1%, trong khi các dân tộc ít người khác chỉ chiếm khoảng 12,9%.

Số người trong độ tuổi lao động là 1.033.000 người (chiếm 64 % dân số)

Số lao động tham gia hoạt động kinh tế khoảng 830.000 người Trong đó tham gia trong ngành công nghiệp xây dựng là 8,8 %; dịch vụ là 14,6 %;

Điều kiện cơ bản Tỉnh Lạng Sơn

Lạng Sơn là tỉnh miền núi biên giới tại Đông Bắc Việt Nam, giáp với Trung Quốc, nổi bật với 3 cửa khẩu, trong đó có cửa khẩu Quốc tế Hữu nghị, cùng 7 cặp chợ biên giới Tọa độ địa lý của tỉnh nằm trong khoảng từ 21°20’ đến 22°27’ vĩ độ Bắc.

Vùng địa lý này nằm trong khoảng kinh độ Đông từ 106°08' đến 107°22', với ranh giới phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía Đông Nam giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Nam giáp tỉnh Bắc Giang, và phía Tây giáp các tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên.

Lạng Sơn sở hữu vị trí địa lý và kinh tế quan trọng, với các tuyến Quốc lộ 1A, 1B, 4B và 279 đi qua, cùng với hệ thống đường sắt liên vận quốc tế Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, văn hóa và khoa học công nghệ không chỉ với các tỉnh phía Tây như Cao Bằng và Thủ đô Hà Nội, mà còn với các tỉnh khác trong cả nước, Trung Quốc và các quốc gia trên thế giới.

Lạng Sơn, nằm ở độ cao trung bình 251 m, có khí hậu đặc trưng của vùng á nhiệt đới mặc dù nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa Với độ ẩm cao trên 83% và phân bố đều quanh năm, Lạng Sơn tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển đa dạng các loại cây trồng nhiệt đới, ôn đới và á nhiệt đới, đặc biệt là cây ăn quả lâu năm, cây lấy gỗ và các loại cây đặc sản như hồi, trám.

Trong những năm gần đây, tỉnh đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại với Trung Quốc Cơ cấu kinh tế đang chuyển đổi theo hướng sản xuất hàng hóa gắn liền với thị trường Các sản phẩm nông nghiệp có lợi thế như ngô, đỗ, rau, khoai tây, cây ăn quả, chè, cùng với chăn nuôi bò, lợn và gia cầm đang có điều kiện phát triển tốt.

3.2.2 Điều kiện kinh tế-xã hội

Lạng Sơn bao gồm 10 huyện và thành phố Lạng Sơn, với tổng cộng 226 xã, phường, thị trấn Trong số này, 106 xã (chiếm 46,9%) thuộc chương trình 135 Dân số nông thôn tại Lạng Sơn đạt 590,5 nghìn người, tương đương 79,9% tổng dân số Tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới (năm 2005) là 33,0%, trong đó huyện Bình Gia có tỷ lệ cao nhất là 50,5%, tiếp theo là huyện Văn Quan với 46,1%.

Cơ cấu kinh tế của tỉnh đang chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và xây dựng Năm 2005, GDP trên địa bàn (giá so sánh

Năm 1994, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đạt 4293 tỷ đồng, trong đó nông, lâm, thuỷ sản chiếm 41,6%, công nghiệp và xây dựng chiếm 19,4%, còn thương mại - dịch vụ chiếm 39,0% GDP bình quân đầu người đạt 5,81 triệu đồng/năm (theo giá hiện hành), tăng 1,9 lần so với năm 2000.

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trên địa bàn đạt 380 triệu USD, trong đó giá trị xuất khẩu trực tiếp của địa phương là 75 triệu USD Các mặt hàng nông sản chủ yếu xuất khẩu bao gồm ván sàn tre, cao su, hoa hồi, quả tươi, cá khô và cua nuôi sống.

3.2.2.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp

Tình hình sử dụng đất nông lâm nghiệp hiện nay cho thấy, vào năm 2005, tổng diện tích đất nông nghiệp đạt 496,9 nghìn ha, trong đó diện tích sản xuất nông nghiệp là 112,1 nghìn ha, tăng 43,1 nghìn ha so với năm 2000 Diện tích đất trồng lúa giữ ổn định ở mức 39,9 nghìn ha từ năm 2000 đến nay, trong khi diện tích đất trồng cây lâu năm có sự gia tăng mạnh mẽ, từ 8,1 nghìn ha năm 2000 lên 43,9 nghìn ha.

Năm 2005, bình quân đất sản xuất nông nghiệp đạt 1.892,2 m²/người, trong đó đất lúa chiếm 674,2 m²/người Diện tích đất lâm nghiệp đạt 383,8 nghìn ha, với 246,98 nghìn ha đất rừng sản xuất, chiếm 64,3% tổng diện tích đất rừng Đất rừng phòng hộ là 117,6 nghìn ha, chiếm 30,6%, trong khi đất rừng đặc dụng chỉ chiếm 5%.

Năm 2005, tổng diện tích đất chưa sử dụng đạt 303,0 nghìn ha, chiếm 36,5% tổng diện tích đất tự nhiên Trong đó, diện tích đồi núi chưa sử dụng là 239,1 nghìn ha, núi đá không trồng được cây rừng là 61,48 nghìn ha, và đất bằng chưa sử dụng chỉ còn 2,45 nghìn ha Đặc biệt, diện tích đất trống đồi trọc có khả năng mở rộng sản xuất nông nghiệp khoảng 26,5 nghìn ha.

Bảng 3.6: Hiện trạng diện tích sử dụng đất sản xuất nông nghiệp Đơn vị tính :ha

HẠNG MỤC 2000 2005 Đất sản xuất nông nghiệp

1 Đất trồng cây hàng năm 54721 68.186

Trong đó : Đất ruộng lúa, lúa màu 39949 39.935

2 Đất trồng cây lâu năm 13291 43.900

Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường Lạng Sơn 3.2.2.1.2 Sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản

Lạng Sơn, tỉnh miền núi cao biên giới, có nền nông nghiệp phát triển với trình độ thâm canh cây trồng và vật nuôi khá Quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng hàng hóa đã giúp giảm tình trạng độc canh, phát triển đa dạng cây trồng và vật nuôi có giá trị kinh tế cao, đồng thời khai thác lợi thế của các tiểu vùng sinh thái trong tỉnh Đến năm 2005, giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 1582 tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng bình quân 5,3%/năm trong giai đoạn 2000 – 2005.

Lạng Sơn là tỉnh có tỷ lệ rừng che phủ trung bình, với tổng diện tích rừng đạt 346,8 nghìn ha vào năm 2005, chiếm 39,2% diện tích đất tự nhiên Trong đó, rừng tự nhiên chiếm 207,6 nghìn ha và rừng trồng là 139,2 nghìn ha Tỉnh còn có 36,7 nghìn ha rừng khoanh nuôi và 34,4 nghìn ha đất trồng rừng Năm 2005, sản lượng gỗ tròn khai thác đạt 60 ngàn m³, chủ yếu từ gỗ rừng tự nhiên và khoảng 27 triệu cây tre luồng Giá trị lâm nghiệp năm 2005 đạt 532 tỷ đồng, chủ yếu từ khai thác gỗ và lâm sản.

Trong ba năm qua, diện tích rừng trồng mới đạt 23,1 nghìn ha, trong đó có 10,9 nghìn ha rừng sản xuất Diện tích rừng hồi cũng tăng lên, từ 31,2 nghìn ha vào năm 2004, với 25,1 nghìn ha là rừng tập trung.

Bảng 3.7: Diến biến diện tích rừng Đơn vị tính: Ha

1 Đất có rừng sản xuất 146672 150121 166683 173127 3,4

2 Đất có rừng phòng hộ 114839 122582 149441 152294 5,8

3 Đất có rừng đặc dụng 15883 15884 17546 17836 3,0

Nguồn: Sở Nông nghiệp và PTNT Lạng Sơn và Viện Điều tra quy hoạch rừng

Lạng Sơn là tỉnh có điều kiện tự nhiên hạn chế cho việc nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, với diện tích mặt nước chỉ đạt 1200 ha vào năm 2005 Tổng sản lượng thủy sản đạt 1,6 nghìn tấn, trong đó sản lượng nuôi trồng chiếm 831 tấn, mang lại giá trị sản xuất hiện hành là 8,8 tỷ đồng.

3.2.2.1.3 Hệ thống giao thông: Đến nay đã có 100% số xã có đường ôtô tới trung tâm xã, và nhiều tuyến đường đã cải tạo mặt bằng vật liệu cứng

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Ngày đăng: 21/06/2021, 06:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1) Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thông (2007), Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020, Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020
Tác giả: Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thông
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2007
2) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006), Lâm nghiệp cộng đồng, Cẩm nang ngành lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm nghiệp cộng đồng
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2006
3) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006), Quản lý rừng bền vững, Cẩm nang ngành lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý rừng bền vững
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2006
4) Cục lâm nghiệp (2007), Đánh giá tài nguyên rừng có sự tham gia của người dân, Tài liệu hướng dẫn thực hiện hiện trường, chương trình thí điểm lâm nghiệp cộng đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tài nguyên rừng có sự tham gia của người dân
Tác giả: Cục lâm nghiệp
Năm: 2007
5) Cục lâm nghiệp (2007), Hướng dẫn thực hiện Quy ước bảo vệ và phát triển rừng , Tài liệu hướng dẫn thực hiện hiện trường, chương trình thí điểm lâm nghiệp cộng đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện Quy ước bảo vệ và phát triển rừng
Tác giả: Cục lâm nghiệp
Năm: 2007
6) Cục lâm nghiệp (2007), Hướng dẫn kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng cộng đồng, Chương trình thí điểm lâm nghiệp cộng đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng cộng đồng
Tác giả: Cục lâm nghiệp
Năm: 2007
7) Cục lâm nghiệp (2008), Sổ tay hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng, Chương trình thí điểm lâm nghiệp cộng đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng
Tác giả: Cục lâm nghiệp
Năm: 2008
8) Cục lâm nghiệp (2007), Tài liệu tập huấn ToT quản lý rừng cộng đồng, Chương trình thí điểm lâm nghiệp cộng đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn ToT quản lý rừng cộng đồng
Tác giả: Cục lâm nghiệp
Năm: 2007
9) Cục lâm nghiệp (2007), Văn bản pháp quy về lâm nghiệp cộng đồng, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản pháp quy về lâm nghiệp cộng đồng
Tác giả: Cục lâm nghiệp
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2007
10) Vũ Nhâm, Nguyễn Duy Chuyên, Bjorn Hansson (2002), Phát triển Lâm nghiệp Cộng đồng ở Miền núi phía Bắc Việt Nam, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển Lâm nghiệp Cộng đồng ở Miền núi phía Bắc Việt Nam
Tác giả: Vũ Nhâm, Nguyễn Duy Chuyên, Bjorn Hansson
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2002
14). Tài liệu hội thảo quốc gia (2006), Hướng dẫn thực thi xây dựng mô hình quản lý rừng cộng đồng, Chương trình Tài trợ các Dự án nhỏ UNDP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực thi xây dựng mô hình quản lý rừng cộng đồng
Tác giả: Tài liệu hội thảo quốc gia
Năm: 2006
16) Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc (1996), Quản lý tài nguyên rừng công cộng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý tài nguyên rừng công cộng
Tác giả: Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
17) Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc (1989), “Thẩm định nhanh quyền hưởng dụng đất và cây rừng”, Thông tin K.H.K.T Lâm nghiệp, chuyên đề số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thẩm định nhanh quyền hưởng dụng đất và cây rừng”
Tác giả: Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc
Năm: 1989
18) Viện sinh thái rừng và môi trường (2007), Báo cáo kết quả kiểm kê đánh giá số, chất lượng rừng trồng Dự án KfW3 tại các huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang; huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả kiểm kê đánh giá số, chất lượng rừng trồng Dự án KfW3 tại các huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang; huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn
Tác giả: Viện sinh thái rừng và môi trường
Năm: 2007
19) Brokensha. D (1986), Local management systems and sustainability, Paper prepared for the annual meeting of the Society for Economic Anthropology, Riverside, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Local management systems and sustainability
Tác giả: Brokensha. D
Năm: 1986
20) Brokensha.D and Castro.A.H.P (1987), Common property resources. Background paper for exper consultation on Forestry and Food Production Security, Bangalore, India Sách, tạp chí
Tiêu đề: Common property resources. "Background paper for exper consultation on Forestry and Food Production Security
Tác giả: Brokensha.D and Castro.A.H.P
Năm: 1987
21) Chandrakanth, M.G, Gilless,J.K, Nagaraja, M.G (1980), Temple forests in India’s forest development, Agroforestry Systems Sách, tạp chí
Tiêu đề: Temple forests in India’s forest development
Tác giả: Chandrakanth, M.G, Gilless,J.K, Nagaraja, M.G
Năm: 1980
22) GFA, GTZ (2002), Community Forest Management, Social Forestry Development Project, MARD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Community Forest Management
Tác giả: GFA, GTZ
Năm: 2002
11) Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2004), Luật Bảo vệ và phát triển rừng Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w