PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC CỦA NHÓM SINH VIÊN Số TT Họ tên sinh viên Công việc đã thực hiện 1 Lê Lương Tuấn Anh Chương 1:Trực quan hóa quá trình dịch vụ trong dịch vụ chăm sóc điều dưỡng sử
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
BÀI TIỂU LUẬN MÔN HỌC
Vũ Quốc Tuấn Phùng Đình Xuân (Nhóm 3)
HÀ NỘI – 2018
1
Trang 2MỤC LỤC
2.2 PHÂN LOẠI NHIỆM VỤ CHO DỊCH VỤ ĐIỀU DƯỠNG-CHĂM SÓC 7 2.3 MÔ TẢ QUÁ TRÌNH DỊCH VỤ CHĂM SÓC ĐIỀU DƯỠNG VỚI MÔ HÌNH
2.4 TỔNG QUAN QUY TRÌNH DỊCH VỤ CHĂM SÓC ĐIỀU DƯỠNG 10
2.4.2 Tổng quan quá trình dịch vụ chăm sóc điều dưỡng 11 2.4.3 So sánh quy trình dịch vụ chăm sóc điều dưỡng 14
2.6 KẾT LUẬN VÀ CÔNG VIỆC TƯƠNG LAI CỦA NGHIÊN CỨU NÀY 16
Bảng 1 : Những nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong trong xã hội công nghiệp hóa 17
3.4 MÔ HÌNH BÉO PHÌ SỬ DỤNG HỆ THỐNG ĐỘNG LỰC 19
3.6 MÔ HÌNH TỰ CHĂM SÓC BIẾN ĐỔI SỨC KHỎE NHƯ THẾ NÀO (THAM
Trang 34.2.2 LỢI ÍCH CỦA PHẦN MỀM HỒ SƠ Y TẾ ĐIỆN TỬ (HSYTĐT) 26 4.2.3 KHÓ KHĂN KHI ỨNG DỤNG HỒ SƠ Y TẾ ĐIỆN TỬ (EMR) TẠI VIỆT NAM 27 4.3 CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TIỆN ÍCH TRONG CÀI ĐẶT Y TẾ 28 4.4 RA MẮT MÁY TÍNH BẢNG TRONG THỰC HÀNH Y TẾ 30
5.2.1 Bình phương tối thiểu thông thường trên dữ liệu thô: Mô hình gộp 38
6.3 ƯỚC LƯỢNG CÁC BIẾN THỂ CỦA CÁC THÀNH PHẦN SAI SỐ 48
3
Trang 4BẢNG CHÚ GIẢI VIẾT TẮT
MHLW Ministry of Health, Labour
and Welfare
Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi
of Functioning
Phân loại quốc tế về chức năng
STAMP Suggested Time And Motion
IASO International Association for
the Study of Obesity
Hiệp hội quốc tế về nghiên cứu béo phì
PAF Physical activity factor Yếu tố hoạt động thể chất
GLS Generalized Least Squares Bình phương tối thiểu
4
Trang 5PHẦN 1 PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC CỦA NHÓM SINH VIÊN
Số
TT
Họ tên sinh viên Công việc đã thực hiện
1 Lê Lương Tuấn Anh Chương 1:Trực quan hóa quá trình dịch vụ trong
dịch vụ chăm sóc điều dưỡng sử dụng mô hình chuyển tiếp trạng thái
Có Tham gia biên soạn tài liê ̣u chung
2 Phùng Đình Xuân Chương 2 : Dịch vụ tự phục vụ giám sát sức
khỏe và đưa ra chẩn đoán
Có tham gia biên soạn tài liệu chung
3 Đỗ Hải Bình Chương 3: Nghiên cứu về tăng cường năng suất
trong thực hành y tế bằng việc cho ra mắt một máy tính bảng cầm tay
4 Vũ Quốc Tuấn Chương 2 : Mô hình các thành phần sai số
Phần 2.1:Mô hình và các tính chất Phần 2.2:Uớc lượng bình phương tối thiểu(OLS)
5 Nguyễn Thanh Minh Chương 2 : Mô hình các thành phần sai số
Phần 2.3: Phương pháp bình phương tối thiểu
5
Trang 6PHẦN 2 TRỰC QUAN HÓA QUÁ TRÌNH DỊCH VỤ TRONG DỊCH
VỤ CHĂM SÓC ĐIỀU DƯỠNG SỬ DỤNG MÔ HÌNH CHUYỂN TIẾP TRẠNG THÁI Chương 1- Phần 1 cuốn Advances in the Human Side of Service Engineering Tóm tắt Nhân viên tại các cơ sở chăm sóc điều dưỡng hợp tác với nhau và cung cấp dịch vụ chăm
sóc điều dưỡng theo kế hoạch đã được thiết kế để đáp ứng điều kiện và nhu cầu thể chất
của cư dân Theo truyền thống, cải thiện năng suất dịch vụ dựa trên kinh nghiệm và cảm
nhâ ̣n của các nhà quản lý và nhân viên Phương pháp kỹ thuật để đạt được cải tiến là một
cách tiếp cận tương đối mới và cần thiết Trong nghiên cứu này, các tác giả của Advances
in the Human Side of Service Engineering đã phát triển phân loại nhiệm vụ cho dịch vụ
chăm sóc điều dưỡng và mô tả quy trình dịch vụ chăm sóc điều dưỡng bằng cách sử dụng
mô hình chuyển đổi trạng thái để trực quan hóa quy trình dịch vụ chăm sóc điều dưỡng và
hỗ trợ cải thiện năng suất dịch vụ được trình bày ở dưới đây 2.1 GIỚI THIỆU Các dịch vụ chăm sóc điều dưỡng được phân loại thành các dịch vụ chăm sóc cơ sở và các
dịch vụ chăm sóc tại nhà ở Nhật Bản Có khoảng 15.000 cơ sở cho các dịch vụ chăm sóc
như viện chăm sóc sức khỏe dài hạn cho người già, viện phúc lợi về chăm sóc dài hạn cho
nhà chăm sóc người già và nhà chăm sóc chuyên môn trong năm 2009 Những loại cơ sở
này đang tăng lên hàng năm (MHLW, 2011) Nhân viên của cơ sở như nhân viên chăm
sóc, y tá và người quản lý chăm sóc cung cấp dịch vụ chăm sóc điều dưỡng theo kế hoạch
chăm sóc được thiết kế để đáp ứng điều kiện và nhu cầu thể chất của người dân Mặt khác, nhân viên được yêu cầu phải cải thiện năng suất dịch vụ đồng thời duy trì chất
lượng dịch vụ và khối lượng công việc để tăng lợi nhuận Nói chung, đo lường, công cụ
trực quan và đánh giá dịch vụ có hiệu quả để cải thiện năng suất dịch vụ Tuy nhiên, theo
thông lê ̣, các biện pháp này không dựa trên phương pháp kỹ thuật mà dựa trên cảm hứng
của các nhà quản lý hoặc nhân viên tham gia vào các dịch vụ chăm sóc điều dưỡng Các tác giả đã xác định quy trình dịch vụ là dòng chảy của con người, đối tượng, thông tin,
công cụ, thời gian và tiền bạc trong lĩnh vực dịch vụ và xác định quy trình dịch vụ chăm
sóc điều dưỡng là quá trình dịch vụ tại các cơ sở điều dưỡng Các nghiên cứu về thời gian
và chuyển động,cái mà đo lường hành vi của nhân viên với quan sát tự quan sát bởi một
người thứ ba, thường được sử dụng để đo lường các quy trình dịch vụ chăm sóc điều dưỡng Có thể so sánh các cơ sở hoặc nhân viên bằng cách sử dụng mã phân loại nhiệm vụ Phân loại nhiệm vụ đã được nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực Phân loại quốc tế về chức
năng (ICF) là một phương pháp phân loại hành vi nổi tiếng (WHO, 2008) Tuy nhiên, nó
không đủ để mô tả hành vi của nhân viên trong dịch vụ chăm sóc điều dưỡng bởi vì nó chủ
yếu mô tả hành vi của con người và tình trạng vâ ̣t lý Đối với viê ̣c phân loại nhiệm vụ của
nhân viên chăm sóc, một mã chăm sóc đã được đề xuất bởi Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi
(MHLW), Nhật Bản (MHLW, 2007) Mã đó diễn tả sự hỗ trợ điển hình được cung cấp bởi
6
Trang 7nhân viên chăm sóc sử dụng cấu trúc ba lớp Tuy nhiên, có rất nhiều chức năng được cung
cấp trong dịch vụ chăm sóc điều dưỡng tại một cơ sở điều dưỡng Mã chăm sóc không thể
bao gồm nhiều nhiệm vụ hoặc chức vụ được thực hiện Numasaki và các đồng nghiệp đã
đề xuất một mã phân loại nhiệm vụ cho các y tá trong các bệnh viện (Numasaki, Harauchi
và Ohno, và cộng sự, 2007) Mã của họ cũng phân loại các hoạt động điều dưỡng với cấu
trúc ba lớp, và có đủ khả năng để mô tả dịch vụ điều dưỡng Zheng đề xuất STAMP (Thời
gian đề xuất và thủ tục chuyển động) để cải thiện phương pháp luận và kết quả bằng cách
báo cáo tính thống nhất về thời gian và nghiên cứu chuyển động (Zheng, Guo và Hanauer,
2011) Trong lĩnh vực sản xuất hàng loạt, nghiên cứu chủ đô ̣ng đã được tiến hành để thiết kế các
hệ thống dịch vụ sản phẩm tối ưu Biểu đồ phát triển, biểu đồ Gantt và Ký hiệu mô hình
quy trình nghiệp vụ (BPMN) đã được sử dụng để mô tả hành vi và viê ̣c làm của nhân viên
theo trình tự thời gian (White, 2009) (Aalst, 1999) Shimomura đề xuất kỹ thuật dịch vụ
như một kỹ thuật mô hình hóa dịch vụ (Shimomura, 2005) Hara áp dụng các phương pháp
này cho sản xuất hàng loạt để thiết kế và hình dung quá trình dịch vụ (Hara, 2009) Những
phương pháp này hoạt động tốt trong dịch vụ tự động hóa cao hoặc các hệ thống dịch vụ
sản xuất tương tự Dịch vụ chăm sóc điều dưỡng có những đặc điểm khác nhau như dưới đây để chủ động
phục vụ (1) Nhiều nhiệm vụ bất thường: nhân viên thường xuyên bị gián đoạn từ cả khách hàng và
nhân viên khác (2) Nhiều nhu cầu và phương pháp phục vụ của khách hàng khác nhau: quy trình dịch vụ
chăm sóc điều dưỡng thay đổi tùy theo tình trạng của khách hàng và có nhiều cách để cung
cấp cùng một dịch vụ (3) Các nhiệm vụ đồng thời: một nhân viên có thể làm việc nhiều nhiệm vụ song song Các phương pháp trước đây được sử dụng để mô tả hành vi của nhân viên theo thứ tự thời
gian rất khó áp dụng dịch vụ chăm sóc điều dưỡng Do đó, một phương pháp trực quan hóa
mới về quy trình dịch vụ chăm sóc điều dưỡng đã phát triển, điều này sẽ có hiệu quả để cải
thiện năng suất dịch vụ Báo này mô tả một phương pháp mới để hình dung quá trình dịch
vụ chăm sóc điều dưỡng 2.2 PHÂN LOẠI NHIỆM VỤ CHO DỊCH VỤ ĐIỀU DƯỠNG-CHĂM SÓC Để đo lường quy trình dịch vụ, cần phân loại và mã hóa đúng cách hành vi và công việc
của nhân viên Luật pháp, môi trường và văn hóa trong nước trong dịch vụ làm trung tâm
của con người là điều quan trọng Thông tin trong lĩnh vực dịch vụ cũng được coi là rất
quan trọng Để làm rõ hành vi của nhân viên và làm việc trong dịch vụ chăm sóc điều
dưỡng, nhóm nghiên cứu đã quan sát và ghi lại công việc của các nhân viên chăm sóc, y tá,
nhà trị liệu nghề nghiệp, người quản lý chăm sóc và chuyên viên dinh dưỡng, và nhân viên
được phỏng vấn tại ba cơ sở điều dưỡng; Wakouen (Viện chăm sóc sức khỏe lâu dài ở
Nanao, Nhật Bản), Super Hirano (nhà chăm sóc chuyên ngành ở Osaka, Nhật Bản) và Super Minami-hanayashiki (nhà ở cao tuổi ở Kawanishi, Nhật Bản)
7
Trang 8Kết quả là, công việc của nhân viên bao gồm nhiều hoạt động như thay đổi vị trí, hỗ trợ
tham gia và hỗ trợ bài tiết Sau đó trích xuất 108 hoạt động cơ bản bằng các cuộc thảo luận
Ngoài ra, các hoạt động này được phân loại thành một cấu trúc ba lớp bao gồm "loại dịch
vụ", "tình hình" và "hoạt động" sử dụng các tham chiếu đến các nghiên cứu trước đây
(MHLW, 2007) (Numasaki, Harauchi và Ohno, et al., 2007 ) Hình 1 cho thấy cấu trúc
phân loại nhiệm vụ cho dịch vụ chăm sóc điều dưỡng Tầng loại dịch vụ, là lớp trên, bao gồm bảy yếu tố; "Chăm sóc", "điều dưỡng", "phục hồi
chức năng", "quản lý chăm sóc", "công việc gián tiếp", "hết nhiệm vụ" và "lỗi đo lường"
Những yếu tố này được xác định bởi loại công việc của từng hoạt động Chăm sóc, điều
dưỡng, phục hồi chức năng và quản lý chăm sóc là những nhiệm vụ liên quan đến dịch vụ
trực tiếp cho người dân Công việc gián tiếp bao gồm các hoạt động kinh doanh liên quan đến công việc như các cuộc họp và chuyển giao của nhân viên Sau đó trích xuất các tình huống liên quan đến từng hoạt động, và tìm thấy 12 tình huống
trong dịch vụ chăm sóc, năm tình huống trong dịch vụ điều dưỡng, ba tình huống trong
dịch vụ phục hồi, một tình huống trong quản lý chăm sóc, ba tình huống trong công việc
gián tiếp, một tình huống trong lỗi đo lường Sau đó, nhóm tác giả đã gán tất cả các hoạt
động thu được bằng cách quan sát hành vi và phỏng vấn lớp vận hành, đó là lớp dưới Ngoài ra, một số hành vi là phổ biến đối với tất cả các loại dịch vụ và tình huống Vì vâ ̣y
cần cần thêm bốn tình huống, đó là "chia sẻ thông tin", "ghi dữ liệu", "xác nhận" và "tương
tác với gia đình của khách hàng", với từng loại dịch vụ và hai hoạt động "chuẩn bị" và "rửa
tay" từng tình huống Ngoài ra, “dịch vụ khác” được thêm vào từng tình huống để bao gồm
các hành vi không mong muốn Cuối cùng, nhóm nghiên cứu đã đưa ra tất cả các hoạt động mã duy nhất để phát triển phân loại nhiệm vụ cho dịch vụ chăm sóc điều dưỡng
Hình 1 Cấu trúc ba lớp của phân loại nhiệm vụ cho dịch vụ chăm sóc điều dưỡng
8
Trang 9Ngoài ra chúng ta có thể tham khảo cách phân loại khác với nghiên cứu này như trong cuốn “ Health Care Comes Home: The Human Factors”, tác giả chia dịch vụ điều dưỡng gồm có 4 nhóm chính:1) bảo trì sức khỏe, thúc đẩy sức khỏe và phúc lợi chung, phòng ngừa bệnh tật hoặc khuyết tật; (2) chăm sóc từng đợt tối ưu hóa kết quả của các sự kiện sức khỏe liên quan đến mang thai, sinh nở và bệnh hoặc chấn thương nhẹ hoặc cấp tính; (3) chăm sóc mãn tính, quản lý điều trị liên tục bệnh mãn tính hoặc suy yếu; và (4) chăm sóc cuối đời, giải quyết các khía cạnh về thể chất và tâm lý của cái chết
2.3 MÔ TẢ QUÁ TRÌNH DỊCH VỤ CHĂM SÓC ĐIỀU DƯỠNG VỚI MÔ HÌNH CHUYỂN GIAO TRẠNG THÁI
Quá trình dịch vụ chăm sóc điều dưỡng có ba đặc điểm; "Nhiều nhiệm vụ bất thường",
"nhiều nhu cầu và phương pháp dịch vụ của khách hàng" và "đồng thời các nhiệm vụ" Các tác giả đã chọn mô hình chuyển tiếp trạng thái để mô tả các đặc điểm này bởi vì nhân viên
và điều kiện khách hàng thay đổi trong quá trình dịch vụ chăm sóc điều dưỡng Sau đó, coi hành vi hoặc nhiệm vụ của nhân viên là một trạng thái và quan sát nhân viên tại các cơ
sở chăm sóc điều dưỡng để ghi lại phong cách làm việc của nhân viên Kết quả là, sáu mô hình chuyển tiếp trạng thái được tìm thấy trong các hành vi làm việc như trong Hình 2 Hình 2 cho thấy thứ tự chuyển tiếp và trạng thái chuyển tiếp Trong hầu hết các trường hợp, chuyển đổi trạng thái của nhân viên từ trạng thái này sang trạng thái khác được thể hiện trong Hình 2 (a) Nó được đặt tên nó là "Quy trình nối tiếp" này “Quy trình song song” nơi chuyển đổi của nhân viên từ một trạng thái sang hai trạng thái trở lên (xem Hình
2 (b) - (e)) và “Quy trình gián đoạn” nơi trạng thái của nhân viên bị đình chỉ và tiếp tục chuyển sang một trạng thái khác (xem Hình 2 (f)) Sáu mẫu chuyển tiếp trạng thái này kết hợp trong quy trình dịch vụ chăm sóc điều dưỡng thực tế
Sau đó, tiếp tục mô tả quy trình dịch vụ chăm sóc điều dưỡng với sự chuyển tiếp của trạng thái Để mô tả trạng thái của nhân viên, tác giả coi mỗi nhiệm vụ là trạng thái của nhân viên và đã thêm bảy thuộc tính vào mỗi nhiệm vụ; "Id", "thời gian bắt đầu", "thời gian kết thúc", "công việc", "địa điểm", "đối tượng cư trú" và "thông tin chi tiết" Thuộc tính tác vụ được chọn từ phân loại nhiệm vụ cho dịch vụ chăm sóc điều dưỡng Quá trình dịch vụ chăm sóc điều dưỡng được mô tả là sự chuyển tiếp trạng thái của nhân viên với bảy thuô ̣c tính Ngay cả khi điều kiện chuyển đổi độc lập với thứ tự thời gian như trong một gián đoạn, phương pháp được đề xuất thể hiện quá trình dịch vụ chăm sóc điều dưỡng “Nhiều nhiệm vụ không theo quy tắc”, một trong những đặc điểm của quy trình dịch vụ chăm sóc điều dưỡng, có thể được mô tả bằng phương pháp được đề xuất và việc chuyển đổi từ một trạng thái sang nhiều trạng thái có thể được kết hợp "Đồng thời các nhiệm vụ" cũng được
mô tả Hơn nữa, khi trạng thái của nhân viên chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác, chúng ta có thể chọn bất kỳ trạng thái trung gian nào Lô ̣ trình chuyển tiếp này bao gồm cách cung cấp dịch vụ và nhiều lô ̣ trình khác nhau có thể chấp nhận được “Nhu cầu đa
9
Trang 10dạng của khách hàng và phương pháp dịch vụ” cũng có thể được mô tả Do đó, phương pháp được đề xuất có thể mô tả ba đặc điểm của quá trình chăm sóc điều dưỡng
Hình 2 Mô hình chuyển tiếp trạng thái trong quá trình chăm sóc điều dưỡng
10
Trang 112.4 TỔNG QUAN QUY TRÌNH DỊCH VỤ CHĂM SÓC ĐIỀU DƯỠNG
Để đánh giá phương pháp được đề xuất, nhóm nghiên cứu đã trình bày quy trình chăm sóc điều dưỡng của 11 nhân viên chăm sóc, bốn y tá, ba chuyên gia trị liệu nghề nghiệp, quản
lý chăm sóc và chuyên gia dinh dưỡng đã đăng ký tại Wakouen, Super court Hirano và Super Minami-hanayashiki Các tác giả đã quan sát từng nhân viên trong một nửa hoặc một ngày và ghi chú quan sát để đo lường hành vi của họ và đã cẩn thận không làm phiền nhân viên hoặc các luồng công việc Trước khi đo đạc, mục đích và quy trình thử nghiệm
đã được giải thích cho tất cả nhân viên và có được sự đồng ý bằng miệng Sau khi đo
lường, nhóm nghiên cứu đã xây dựng quy trình dịch vụ chăm sóc điều dưỡng của họ bằng phương pháp được đề xuất
Tổng quan dễ hiểu của quá trình dịch vụ là rất quan trọng để cải thiện năng suất dịch vụ Hãy tưởng tượng quá trình dịch vụ chăm sóc điều dưỡng với ba chế độ; “Chế độ dòng thời gian”, “chế độ thống kê” và “bản đồ xác suất chuyển tiếp trạng thái”
Chế độ time-line(dòng thời gian) thể hiện sự chuyển tiếp trạng thái của nhân viên theo thứ
tự thời gian Nó sắp xếp thời gian trên một trục ngang và một thuô ̣c tính được chọn ngẫu nhiên từ bảy thuộc tính của trạng thái nhân viên trên một trục thẳng đứng, và được đánh dấu theo trạng thái của nhân viên Khi có nhiều đánh dấu cùng một lúc, nhân viên đã đồng thời thực hiện nhiều nhiệm vụ Hình 3 cho thấy sự chuyển đổi trạng thái của một thuộc tính tác vụ của một nhân viên chăm sóc tại Wakouen với chế độ dòng thời gian Chúng ta có thể thay đổi độ phân giải của thuộc tính tác vụ như trong Hình 3 (a) - (c) vì thuộc tính tác
vụ được mô tả bằng cách sử dụng một cấu trúc ba lớp Nếu trục dọc thay đổi thành các thuộc tính khác như địa điểm và cư dân đích, chúng ta có thể hiểu được lịch sử dịch vụ và phong trào của nhân viên
11
Trang 12Hình 3 Quá trình chăm sóc điều dưỡng của một nhân viên chăm sóc tại Wakouen theo chế độ dòng
thời gian
12
Trang 13Chế độ thống kê thể hiện kết quả xử lý thống kê tương tự như nghiên cứu thời gian Chế độ này cho phép đếm số lượng trạng thái và tính toán tổng, trung bình và tỷ lệ thời gian dành cho mỗi thuộc tính cho bất kỳ khoảng thời gian nào có phương pháp thống kê Các kết quả
có thể được hiển thị bằng đồ họa Hình 4 cho thấy quy trình dịch vụ chăm sóc điều dưỡng tương tự như Hình 3 với chế độ thống kê Nhân viên chăm sóc đã dành hơn một nửa thời gian làm việc của mình trong việc chia sẻ thông tin với các nhân viên khác, giao tiếp với
cư dân và chuyển giao của chính cô ấy
Hình 4 Quy trình dịch vụ chăm sóc điều dưỡng của nhân viên chăm sóc tại Wakouen theo chế độ
thống kê
Bản đồ xác suất chuyển tiếp trạng thái thể hiện tần suất chuyển tiếp trạng thái xảy ra trong quá trình dịch vụ chăm sóc điều dưỡng Nó trích xuất mối quan hệ phía trước của mỗi trạng thái và tính toán xác suất Hình 5 cho thấy quy trình dịch vụ chăm sóc điều dưỡng tương tự như Hình 3 với bản đồ xác suất chuyển tiếp trạng thái Nhân viên chăm sóc đã
13
Trang 14chia sẻ thông tin của hầu hết các nhiệm vụ.
Hình 5 Quy trình dịch vụ chăm sóc điều dưỡng của nhân viên chăm sóc tại Wakouen theo bản đồ
xác suất chuyển tiếp của trạng thái
Wakouen đã thay đổi quy trình dịch vụ chăm sóc điều dưỡng của họ Trước khi thay đổi, tất cả dữ liệu được nhập vào hệ thống hồ sơ sức khỏe số của nhân viên Sau khi thay đổi, công việc nhập dữ liệu đã được triển khai cho các chuyên gia trong một tổ chức nhóm Quy trình dịch vụ chăm sóc điều dưỡng làm cùng một công việc trước và sau khi thay đổi được
so sánh bằng cách sử dụng chế độ thống kê được hiển thị trong Hình 6 Nhiệm vụ ghi âm
đã giảm 37,6 điểm Và, sự chuyển giao, bài tiết và giao tiếp của nhân viên với người dân tăng 9,93 điểm, 7,90 điểm và 3,69 điểm tương ứng Ngoài ra, tỷ lệ thời gian dịch vụ trực tiếp tăng 22,8 điểm, từ 27,6% lên 50,4% Do đó, những kết quả này có thể hiển thị trực quan và định lượng cho sự cải thiện xảy ra do sự thay đổi nhóm nghiên cứu cho rằng phương pháp được đề xuất có hiệu quả cho việc đánh giá cải thiện dịch vụ
14
Trang 15Hình 6 So sánh quy trình chăm sóc điều dưỡng giữa trước và sau khi thay đổi quy trình
2.5.CÁC Ý KIẾN TRAO ĐỔI VỀ NGHIÊN CỨU
Các giám đốc và nhân viên tại Wakouen, Super court Hirano và Super court
Minami-hanayashiki được phỏng vấn với các câu hỏi được định sẵn để đánh giá trực quan
về quy trình dịch vụ chăm sóc điều dưỡng Các cuộc phỏng vấn được ghi lại bởi máy ghi
âm IC Kết quả là, hầu hết các nhân viên nghĩ rằng nó có hiệu quả để xem xét và thiết kế dịch vụ chăm sóc điều dưỡng và đào tạo nhân viên của họ Giám đốc tại Wakouen cũng báo cáo rằng nó có hiệu quả để đánh giá sự cải thiện dịch vụ bởi vì nó có thể trực quan và định lượng cho thấy sự gia tăng thời gian tiếp xúc của khách hàng gây ra bởi sự thay đổi quy trình dịch vụ chăm sóc điều dưỡng Trong thí nghiệm này, dịch vụ chăm sóc điều dưỡng đã được hình dung bằng ba phương pháp Chế độ dòng thời gian và chế độ thống kê rất phù hợp với mục đích cải thiện công việc kinh doanh và đào tạo nhân viên Các chế độ này được coi là đặc biệt hữu ích và hiệu quả Bởi vì việc cải thiện kinh doanh và đào tạo nhân viên nói chung đạt được để cải thiện năng suất dịch vụ, các tác giả cho rằng phương pháp được đề xuất có hiệu quả để cải thiện năng suất dịch vụ
Tuy nhiên, một số nhân viên nghĩ rằng phương pháp này sẽ không giúp cải thiện công việc kinh doanh và đào tạo nhân viên nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng một số nhân viên không thể hiểu được bản đồ xác suất chuyển tiếp trạng thái.Giả thuyết rằng các hình ảnh và chỉ số đánh giá thay thế phải được điều chỉnh theo các loại công việc và mục đích khác nhau được đưa ra Nghiên cứu này không thể đáp ứng nhu cầu của mọi người hoặc những thiếu hụt của những nhu cầu đó Do đó, các phương pháp trực quan được đề xuất không đủ
để giải quyết mọi mối quan ngại đối với mọi công việc Nhóm nghiên cứu khuyến nghị rằng các nhân viên cần được đánh giá và thấu hiểu, để cải thiện khả năng cung cấp dịch vụ
15
Trang 16chất lượng của họ Các phương pháp thay thế trực quan nên được phát triển để giúp các nhóm công việc khác nhau
2.6 KẾT LUẬN VÀ CÔNG VIỆC TƯƠNG LAI CỦA NGHIÊN CỨU NÀY
Trong nghiên cứu này, rác giả và đồng nghiê ̣p đã phát triển phân loại nhiệm vụ cho dịch vụ chăm sóc điều dưỡng và mô tả quy trình dịch vụ chăm sóc điều dưỡng bằng cách sử dụng
mô hình chuyển tiếp của trạng thái để trực quan hóa quy trình dịch vụ chăm sóc điều dưỡng và hỗ trợ cải thiện năng suất dịch vụ Phân loại nhiệm vụ cho dịch vụ chăm sóc điều dưỡng bao gồm cấu trúc ba lớp Và, quy trình dịch vụ chăm sóc điều dưỡng được mô tả là
sự chuyển tiếp trạng thái của nhân viên với bảy tính chất Sau đó hình dung quá trình dịch
vụ chăm sóc điều dưỡng của 20 nhân viên tại ba cơ sở điều dưỡng bằng ba chế độ.Tác giả xác nhận rằng các phương pháp được đề xuất có thể hình dung quy trình dịch vụ chăm sóc điều dưỡng và chúng có hiệu quả trong việc cải thiện năng suất dịch vụ Tuy nhiên,
phương pháp trực quan hóa không đủ để đáp ứng tất cả nhu cầu của nhân viên Nhu cầu của nhân viên phải được đánh giá và sau đó có thể phát triển các phương pháp trực quan bổ sung
Trong tương lai, các tác giả hy vọng sẽ triển khai hệ thống đề xuất cho một dịch vụ thực tế được đệ trình
PHẦN 3 DỊCH VỤ TỰ PHỤC VỤ GIÁM SÁT SỨC KHỎE VÀ ĐƯA
lý khối lượng ngày càng tăng và phức tạp của nhiều trường hợp.Xem xét cho thấy ,béo phì
là kẻ đứng sau gây ra hơn 60% nguyên nhân tử vong hàng đầu trong xã hội phát triển.Tuy nhiên, có thể ngăn chặn sự lan rộng của nó trên toàn thế giới.Điều quan trọng là phải thực
sự hiểu cơ chế hoạt động để có thể kiểm soát nó Mô hình béo phì ở đây được phát triển bằng cách sử dụng hệ thống động lực (định nghĩa hệ thống động lực: link ) dựa trên ba
mô hình phân đoạn được sử dụng để tạo ra phương trình cân bằng năng lượng Các kết quả
đã được xác minh trên dữ liệu phòng khám giảm cân.Các công cụ tự theo dõi định lượng
có thể cung cấp một nguồn tự động cho các bảng dữ liệu cần thiết để tinh chỉnh mô hình và các đặc tính cá thể cần thiết được truyền vào như các tham số mô hình
3.2 XU THẾ TOÀN CẦU HÓA CHĂM SÓC SỨC KHỎE
16
Trang 17Trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2008 , dân số Canada tăng dưới 5%(từ dưới 31 triệu đến
hơn 33 triệu ) Đồng thời, tổng chi phí cá nhân về chăm sóc sức khỏe và dịch vụ y tế tăng
liên tục trong 8 năm qua lên tới hơn 70%(thống kê Canada, 2010) Dự báo tăng trưởng dân
số năm 2016 là 11.7%, kỳ vọng rằng nhu cầu về dịch vụ y tế sẽ tăng đáng kể so với mức
tăng trưởng dân số của Canada(Lassard 2006).Nếu chi phí chăm sóc sức khỏe tiếp tục tăng
ở mức đó , chi phí cho dịch vụ y tế sẽ sớm vượt quá ngân sách liên tỉnh và liên bang.Tình
trạng khó khăn này diễn ra phổ biến ở nhiều quốc gia, và không dựa trên mức độ phát triển
kinh tế của họ Mặc dù nhiều cuộc thảo luận quốc gia được tổ chức , tuy nhiên vẫn chưa
thể tìm được giải pháp làm việc phù hợp.Để ngăn chặn điều này xảy ra nhiều chính phủ
đang triển khai nhiều biện pháp kiểm soát chi phí, trong đó mặc dù được gọi khác nhau
như là các hình thức phân phối chăm sóc sức khỏe , hoặc bằng cách truy cập vào hệ thống
chăm sóc sức khỏe(ở Mỹ khoảng 17% dân số )không có bảo hiểm y tế ) hoặc truy cập vào
các mô hình y tế( như ở Anh hoặc Canada, trong đó thiết lập giới hạn ngân sách cho chi
tiêu y tế hàng năm, do đó tạo ra các dòng chờ cho các mô hình y tế được chọn ) Nguyên
nhân gốc rễ của việc tăng chi phí liên tục trong chăm sóc sức khỏe rất nhiều : xu hướng
nhân khẩu học , công nghệ mới , phí quan liêu bảo hiểm , vv Vào tháng 10 năm 2011, quy
mô dân số thế giới đã đạt 7 tỷ người Trong suốt thế kỷ qua, tuổi thọ và chất lượng cuộc
sống của dân số toàn cầu đã tăng lên (mặc dù mức độ khác nhau), tỷ lệ tăng lên là do một
loạt các căn bệnh bị ảnh hưởng bởi xã hội công nghiệp hóa Trong số 10 nguyên nhân gây
tử vong hàng đầu trong bảng 1, ảnh hưởng bởi lối sống chiếm khoảng 79%.Trong đó bệnh
tim là 100% và các bệnh khác như #2, 3, 6, 9 và 10 chiếm ít nhất 50% Bảng 1 : Những nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong trong xã hội công nghiệp hóa
3 Tai biến mạch máu não (đột quỵ) 6.8
4 Bệnh hô hấp dưới mãn tính 5.1
8 Bệnh Alzheimer (bệnh về não ảnh hướng tới trí
nhớ, suy nghĩ và hành vi)
2.2
17
Trang 1810 Nhiễm trùng máu 1.3
Ảnh hưởng do lối sống thể hiện rõ nhất qua cân nặng : trong số 7 tỷ người, khoảng 1,5 tỷ
người thừa cân, và hơn 400 triệu người đang bị béo phì(IASO 2012) Trong đó dân số Hoa
Kỳ đã dẫn đầu trong dịch bệnh béo phì(ở một số bang trong vòng 30 năm qua, tỷ lệ béo phì
của dân số đã tăng gấp ba lần), đây là xu hướng toàn cầu : dân số Liên minh châu Âu của
Đức đang dẫn đầu xu hướng đó, nhưng các nước khác như Trung Quốc cũng coi đó là một
tác dụng phụ của quá trình đô thị hóa; ngay cả ở một số nước châu Phi béo phì cũng đang
lan rộng Béo phì được công nhận là nguyên nhân dẫn đến nhiều bệnh khác, chẳng hạn như tăng
huyết áp, tiểu đường và bại khớp, và một số bệnh khác Nó chịu trách nhiệm (trực tiếp
hoặc gián tiếp) cho hơn 60% các nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong những xã hội
phát triển,chưa kể đến sự đóng góp đáng kể vào chi phí chăm sóc sức khỏe (Bhattacharya
2011) Trong khi có rất nhiều lý do để tăng nhu cầu về dịch vụ y tế, điều này càng trầm trọng hơn
do chi phí cũng leo thang theo, không may là chưa có giải pháp rõ ràng.Một số nguồn cứu
trợ tiềm năng cho các hệ thống chăm sóc sức khỏe là thay đổi một số(nếu không phải là đa
số - nhưng về lâu dài) về trách nhiệm đối với bệnh nhân Tuy nhiên để thực hiện nó một
cách hiệu quả, các mô hình phân phối chăm sóc sức khỏe mới cần phải được phát triển theo một hướng, và giáo dục về chăm sóc sức khỏe cá nhân cần được tăng cường cùng các công cụ quản lý và giám sát sức khỏe cá
nhân 3.3 HIỂU RÕ VỀ BÉO PHÌ Trong khi tồn tại vô số các nghiên cứu liên quan đến béo phì, những lỗ lực nói chung
không có sự kết nối và tập trung, chúng thường chỉ dẫn đến các mô hình chỉ giải quyết
được một số khía cạnh hẹp của hiện tượng.Mặc dù sự lan rộng của bệnh béo phì trên toàn
cầu đang được thừa nhận, nhưng không có lỗ lực nào thành công để ngăn chặn sự phát
triển của nó.Như(Lustig 200^) đã mô tả : "Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh
cho biết kết quả béo phì do mất cân bằng năng lượng, bằng cách ăn quá nhiều calo và
không đủ hoạt động thể chất.Big Food nói đó là sự thiếu hoạt động, truyền thông thì gọi đó
là chế độ ăn uống Atkins nói nó quá nhiều carbohydrate, Ornish thì nói nó quá nhiều chất
béo Người uống nước ép nói đó là do soda, người dùng soda nói đó là do nước ép Trường
học nói đó là do phụ huynh, phụ huynh nói đó là do trường học Làm sao chúng ta có thể
ngăn chặn nó ,khi không một ai đứng ra nhận trách nhiệm ?" Một trong những lý do chính dẫn đến sự thiếu hiểu biết về hiện tượng béo phì.Hầu hết các
mô hình về cơ chế của béo phì đều dựa trên lý thuyết glucostatic(Mayer 1953) hoặc lý
18
Trang 19thuyết lipostatic(Kennedy 1953).Dựa trên một trong những lý thuyết đó, nguồn gốc của bệnh béo phì được coi là rối loạn ở một trong hai hệ thống phản hồi (vd : báo hiệu trạng thái cân bằng của sự lắng đọng chất béo hoặc nồng độ glucose trong máu).Tuy nhiên trong thực tế cả hai cách tiếp cận này đều không thể giải thích thỏa đáng về hiện tượng béo phì Gần đây lý thuyết đa ngành về "bộ não ích kỉ" (Peters 2004, Peters 2011) kết hợp hai lý thuyết này và nhận định các hệ thống kiểm soát phản ứng glucose với chất béo trong máu như một hệ thống phức tạp.Mặc dù lý thuyết này vẫn đang trải qua quá trình xác thực thử nghiệm rộng rãi,nó cho thấy một số cái nhìn sâu sắc vào sự phức tạp của hoạt động cơ thể con người.Các yếu tố thiết yếu của lý thuyết này là một mô hình hệ thống điều khiển với nhiều vòng phản hồi và trung tâm của não bộ như một trung tâm quyết định cơ thể
3.4 MÔ HÌNH BÉO PHÌ SỬ DỤNG HỆ THỐNG ĐỘNG LỰC
Mô hình trọng lượng cơ thể được trình bày trong bài báo này dựa trên nguyên tắc cân bằng năng lượng(hình 1).Hai yếu tố chính liên quan đến việc tiêu thụ năng lượng là tiêu thụ thực phẩm và đồ uống.Mặt khác, hai yếu tố chính liên quan đến sử dụng năng lượng là hoạt động thể chất và tỷ lệ trao đổi chất cơ bản Tuy nhiên ,một yếu tố bổ sung được giới thiệu trong mô hình dựa trên nghiên cứu tương đối gần đây trong lĩnh vực này.Đó là năng lượng tiêu thụ để biến đổi thức ăn trong chất béo hoặc mô nạc Mặc dù không có tác động mạnh như hai yếu tố khác, nhưng có thể lên tới 20% tổng
đóng góp
Hình 1 : Nguyên tắc cân bằng năng lượng cơ thể con người
Sử dụng các phương trình có sẵn (xuất phát từ nghiên cứu thực nghiệm được công bố) liên quan đến nguồn năng lượng nhận vào và tiêu hao năng lượng, các thành phần chính của
mô hình đã được xây dựng
Bao gồm :
19
Trang 20● Theo (Christiansen, Garby, & Sørensen, 2004), tình trạng béo phì thường phát triển theo thời gian và được phản ánh trong sự mất cân bằng nănglượng, dẫn đến khối lượng cơ thể tăng lên quá nhỏ để có thể đo hoặc kiểm soát.Một mô hình toán học đã được định nghĩa để mô tả mối quan hệ giữa
sự thay đổi khối lượng cơ thể, giá trị của lượng năng lượng (EI) và số lượng
sử dụng năng lượng (EE), được kiểm soát bởi yếu tố hoạt động thể chất (PAF)
● Butte, Christiansen, & Sørensen, 2007) đã phát triển một mô hình cân bằng năng lượng dựa trên dữ liệu thực nghiệm và năng lượng của con người để
dự đoán tổng số năng lượng tiêu thụ cho tăng cân , buộc phải tăng lượng năng lượng hoặc giảm mức độ hoạt động thể chất ảnh hưởng tới tăng cân ở đối tượng trẻ em và thanh thiếu niên
● Lazzer, et al., 2009) đã tạo ra một mô hình cân bằng năng lượng đơn giản dựa trên trọng lượng cơ thể, tuổi tác và giới tính chính xác như các mô hình phức tạp dựa trên thành phần cơ thể
Những thành phần chính này sau đó được kết nối bằng các vòng phản hồi và bổ sung bởi nhiều yếu tố thích hợp với tình trạng béo phì như một hệ thống đặc biệt.Sự sắp xếp tổng thể của tất cả các thành phần được thể hiện trong hình 2 Cần lưu ý rằng bố cục này nhằm theo dõi trọng lượng cơ thể và tạo ra các điều chỉnh thích hợp (để đạt được hoặc mất) cho một lượng kiểm soát nhất định về lượng năng lượng(thực phẩm) và tiêu hao(hoạt động thể chất)
20
Trang 21Hình 2 : Mô hình dự đoán , phân tích cấu trúc để tự chăm sóc sức khỏe
Lớp đầu tiên được biểu diễn bằng các hộp màu vàng là các thành phần có cấp độ béo phì
cao,bao gồm : các đặc điểm riêng lẻ, hoạt động thể dục, chế độ ăn uống, môi trường vật
lý Mỗi thành phần cấp độ cao bao gồm các thành phần mô hình cần được xác định để
truyền vào hàm Việc chuyển giao được biểu diễn bằng các vòng tròn màu tím Sự tích hợp tất cả các chức năng này được thực hiện bởi "bộ não" chính của mô hình, hộp
màu xanh.Từ đây, người dùng thực hiện theo cấu trúc định ra bằng cách xây dựng kế
hoạch dựa trên sở thích riêng của mình(Bacioiu 2011) Vì các phương trình chính có định dạng phương trình vi phân, chúng có thể được tích hợp
vào một mô hình toàn diện bằng cách sử dụng phương pháp hệ thống các lực tạo ra chuyển
động(Sterman 2000) Hệ thống các lực tạo ra chuyển động là một phương pháp mô hình hóa để hiểu hành vi của
các hệ thống phức tạp theo thời gian.Nó đề cập đến các vòng phản hồi và ảnh hưởng của sự
chậm trễ đến hành vi của toàn hệ thống.Điều làm cho việc sử dụng system dynamics trở
nên đặc biệt so với các cách tiếp cận khác để có thể nghiên cứu các hệ thống phức tạp
chính là nó sử dụng các vòng phản hồi và các luồng(để phân tích định lượng).Những thành
phần này giúp mô tả các hệ thống nhìn đơn giản có thể biểu diễn dưới dạng phi tuyến phức
tạp.Dạng hệ thống cuối cùng của mô hình được thể hiện trong hình 3 Để hiểu được tính hữu ích của mô hình, nó đã được kiểm tra và xác nhận qua việc sử dụng
dữ liệu thực tế được cung cấp bởi một phòng khám chuyên về giảm cân.Các bệnh nhân đã
21
Trang 22trải qua chế độ ăn uống rất đặc biệt dựa trên Human Chorionic Gonadotropin(một loạihormone được tạo ra say khi cấy nhau thai), bệnh nhân sẽ không bị đói, họ có thể duy trì chế độ ăn hạn chế chỉ 500 calo/ngày Nó được bổ sung bởi thực phẩm được lựa chọn đặc biệt , quản lý dưới sự giám sát của nhân viên chuyên dụng.Bệnh nhân lưu lại hồ sơ lượng calo tiêu thụ và các loại thực phẩm trong chế độ ăn uống hàng ngày của họ
Biểu đồ trong hình 4 minh họa cách xấp xỉ (không có sự khác biệt về thống kê và R^2 khoảng 90%) mô hình dự đoán gần đúng với dữ liệu thực tế
Để củng cố các kết luận liên quan đến tính chính xác của mô hình động,sự so sánh phi tham số giữa dữ liệu gốc và dữ liệu dự đoán đã được thực hiện.Đặc biệt, kết quả của các thủ tục phi tham số Mann-Whitney được kết hợp trong các đồ thị biểu diễn chúng.Tất cả các kiểm tra phi tham số đề có p-values trên 0,1.Điều đó cho thấy trong thực tế không có
sự khác biệt thống kê giữa mô hình và dữ liệu thực
Hình 3 : Mô hình giảm/tăng cân sử dụng hệ thống động lực
22
Trang 23Hình 4 : So sánh sự giảm cân giữa dữ liệu thực tế và mô hình
Dựa trên dữ liệu, phân tích khả năng dự đoán được thực hiện, cũng như một loạt phân tích kịch bản.Giả sử rằng một số điều kiện nhất định được áp dụng, mô hình được phát triển thông qua việc này có thể dự đoán sự thay đổi trọng lượng bằng cách sử dụng thông tin cân bằng năng lượng(lượng năng lượng có và tiêu hao),cũng như đặc điểm của một cá nhân với
độ chính xác lớn hơn 90% Người dùng có thể tự đưa ra kế hoạch giảm cân dựa trên sở thích cá nhân và các ràng buộc cụ thể.Mô hình có thể sử dụng ở mức độ rất cá nhân, nhưng
nó cũng có thể trở thành nền tảng cho việc quản lý tình trạng sức khỏe cá nhân
3.5 MÔ HÌNH PHÂN BỐ VẬN CHUYỂN MỚI NỔI LÊN
Như đã đề cập trước đó trong phần 1, chỉ có các giải pháp tiềm năng(mặc dù một giải pháp dài hạn) cho vấn đề chi phí chăm sóc sức khỏe/công suất là tạo ra các mô hình phân phối chăm sóc mới.Nó xảy ra, với sự tiến bộ của công nghệ(đặc biệt là CNTT) và sự phát triển của các công nghệ cộng tác như mạng xã hội, các mô hình chăm sóc sức khỏe mới bắt đầu xuất hiện trong những năm gần đây.Chúng bao gồm (Agus 2011; Swan 2009;Topol 2012) :
● Mạng xã hội y tế
● Thuốc tiêu dùng cá nhân
● Tự theo dõi định lượng
Đặc biệt, hình thức cuối cùng là chú trọng vào việc phát triển các mô hình liên quan đến sức khỏe chính xác hơn.Tự theo dõi định lượng bao gồm các công cụ trực tuyến dễ sử dụng cho tình trạng sức khỏe, triệu chứng, điều trị và thông tin sinh học khác.Thông tin sau đó
23
Trang 24có thể hiển thị trực quan , tiếp tục xử lý hoặc tổng hợp với nhóm/dân số.Tự theo dõi mức
độ phổ biến(Anderson 2008; Wolf 2010; Singer 2011), mặc dù hiện tại nó tập trung vào việc thu thập dữ liệu cá nhân tương đối đơn giản,nó có thể rất hữu ích qua việc tổng hợp ,
có thể theo dõi sức khỏe nhóm/dân số(Dubberly 2010) Sự hứa hẹn đặc biệt có thể đạt được khi, dữ liệu thu thập được sử dụng để ước lượng các tham số riêng lẻ cần phải tùy chỉnh phù hợp hoặc cá nhân hóa các mô hình được mô tả trong phần 3.Hiện tại nhiều giá trị tham số của mô hình chỉ là ước tính sơ bộ.Với việc thu thập dữ liệu lặp đi lặp lại và có thể thử nghiệm, tính chính xác của các ước tính này có thể được cải thiện
3.6 MÔ HÌNH TỰ CHĂM SÓC BIẾN ĐỔI SỨC KHỎE NHƯ THẾ NÀO (THAM KHẢO)
Như các phần trên đã nói , mô hình tự chăm sóc sức khỏe ngày càng phổ biến Vậy trong thực tế ngày nay mô hình tự chăm sóc sức khỏe hoạt động như thế nào ?
● Ngày càng nhiều người sử dụng dịch vụ này kèm theo đó là sự ra đời của hàng loạt thiết bị thông minh đi kèm được phát triển
○ Kỷ nguyên của Tự động hóa dẫn tới nhiều người có xu hướng sự dụng các thiết bị cá nhân để theo dõi chỉ số và tình hình sức khỏe của họ.Ví dụ : chỉ với 500.000 vnđ là chúng ta hoàn toàn có thể sở hữu chiếc Xiaomi Miband3
để theo dõi nhịp tim hàng này và một số chức năng khác
○ Cộng với sự phát triển của công nghệ hoàn toàn có thể cho ra các sản phẩm
đủ nhỏ và rẻ đối với người tiêu dùng và nó có thể cho chúng ta những thông tin mà trước kia chỉ có đến bệnh viện và gặp bác sĩ , kiểm tra
● Lợi thế của những thiết bị tự chăm sóc này là chúng tương tác nhanh với người dùng như thể họ đang chơi một trò chơi vậy Khi người dùng thực hiện đúng với kế hoạch chăm sóc thì nó sẽ báo tốt , cộng điểm còn khi họ không thực hiện hoặc thực hiện sai thì nó sẽ nhắc nhờ người dùng Việc ngày cực kỳ hữu ích cho việc cải thiện thói quen hàng này cũng như tình hình sức khỏe
● Cách sử dụng dịch vụ tự chăm sóc đúng cách
○ Làm quen với ý tưởng của dịch vụ giám sát
○ Đặt mục tiêu thực tế, có thể đạt được
○ Tận hưởng khi bạn đạt được thành tích trong quá trình giám sát
○ Tự hỏi bản thân xem mục đích của bạn khi sử dụng dịch vụ là gì ? Nó có thay đổi tích cực với cuộc sống của bạn ? Có người nào nhìn thấy sự tích cực đó chưa ?
○ Tập trung vào các biện pháp thay vì chạy theo những dịch vụ , thiết bị mới
○ Thử nghiệm với nhiều biện pháp , dịch vụ mới để có trải nghiệm
Trang 25Việc tăng sức ép lên việc quản lý chi phí và năng lực của các hệ thống chăm sóc sức khỏe đòi hỏi phải có các phương thức phân phối chăm sóc mới.Một trong những lựa chọn tốt là tự trao quyền cho bệnh nhân bằng cách cho phép họ thu thập , theo dõi dữ liệu
PHẦN 4 NGHIÊN CỨU VỀ TĂNG CƯỜNG NĂNG SUẤT TRONG THỰC HÀNH Y TẾ BẰNG VIỆC CHO RA MẮT ỨNG DỤNG Y TẾ TRÊN MÁY TÍNH BẢNG CẦM TAY
Chương 3 - Phần 1 cuốn Advances in the Human Side of Service Engineering
4.1 MỞ ĐẦU
Nghiên cứu này kiểm tra ảnh hưởng của việc ra mắt một máy tính bảng cầm tay để nâng cao năng suất trong thực hành y tế Khi nhân viên y tế đề cập đến thông tin bệnh nhân trong thực hành y tế, họ thường truy cập vào hệ thống thông tin như hồ sơ sức khỏe điện tử bằng cách sử dụng thiết bị cuối đặc biệt cố định Đối với các nhân viên y tế cung cấp dịch
vụ chăm sóc y tế trong không gian không cố định, họ thường dùng một thiết bị cuối đặc biệt cố định có thể làm giảm năng suất của họ mỗi lần lấy thông tin bệnh nhân Vì vậy, chúng tôi đã phát triển hệ thống mà nhân viên y tế có thể tham khảo thông tin bệnh nhân ở khắp mọi nơi bằng cách sử dụng máy tính bảng cầm tay Hệ thống này sử dụng môi trường mạng không dây cục bộ (WLAN) trong bệnh viện và có thể lấy thông tin ngay tại vị trí thực tế của máy tính đó Để định mức được tầm ảnh hưởng của hệ thống này sau khi ra mắt, hoạt động được ước tính của nhân viên y tế từ vị trí thực đã được so sánh với hoạt động trước khi giới thiệu hệ thống này
4.2 HỒ SƠ Y TẾ ĐIỆN TỬ (EMR) TRONG DỊCH VỤ Y TẾ NHẬT BẢN
4.2.1 SỰ RA ĐỜI CỦA PHẦN MỀM HỒ SƠ Y TẾ ĐIỆN TỬ (EMR)
Sự ra đời của hồ sơ y tế điện tử (EMR) trong dịch vụ y tế Nhật Bản đã trở thành hệ thống quản lý và nhập cảnh điện tử từ những năm 1970 (Hình 1) Ví dụ, một số công ty công nghệ thông tin lớn, được gọi là nhà cung cấp, đã gửi các lập trình viên hệ thống của
họ vào các cơ sở y tế như bệnh viện để phát triển hệ thống EMR Năm 1999, Bộ Y tế, Lao
25
Trang 26động và Phúc lợi xã hội đã phê duyệt rằng các hồ sơ y tế được lưu dưới dạng phương tiện truyền thông đại chúng điện tử Sau đó, hầu hết các nhà cung cấp đã cống hiến để phát triển hệ thống của họ Hiện nay, hơn 800 bệnh viện lớn (với ít nhất 400 giường) có hệ thống thông tin bệnh viện tiên tiến nhất (Seed Planning, Inc., 2012)
Trong lịch sử, các tổ chức đơn lẻ đã được thành lập bởi các cơ sở y tế và nhà cung cấp Nói cách khác, các hệ thống EMR hiện hành đã phát triển cả người dùng và nhà cung cấp Vì vậy, hệ thống EMR tồn tại hai vấn đề chủ yếu Thứ nhất, các nhân viên y tế ngày càng phụ thuộc vào nhà cung cấp để phát triển, vận hành và duy trì mỗi EMR Thứ hai, các
kỹ sư CNTT một chút thiếu hiểu biết về công việc và nhiệm vụ của nhân viên y tế cũng như nhu cầu của họ
Cấu thành hồ sơ y tế điện tử Nhật Bản (EMR) (Tahara, 2011, do tác giả sửa đổi)
4.2.2 LỢI ÍCH CỦA PHẦN MỀM HỒ SƠ Y TẾ ĐIỆN TỬ (HSYTĐT)
Sau đây là những lợi ích tối thiểu do phần mềm HSYTĐT đem lại sau khi được triển khai thành công:
Cải thiện hiệu quả thực hành y khoa Công tác quản lý khám và điều trị sẽ được hợp lý hóa ở mức cao nhất Thực vậy, thủ tục giấy tờ rườm rà bị loại bỏ khiến các bác sĩ sẽ
có nhiều thời gian hơn để tập trung vào chăm sóc bệnh nhân hơn Tốc độ xử lý các phác đồ điều trị sẽ nhanh hơn nhờ các thông tin y khoa được truy vấn và truy xuất một cách tiện lợi Quy trình giao-nhận kết quả xét nghiệm từ các phòng ban và tính năng kê đơn thuốc điện
tử sẽ được tự động hóa với độ chính xác và nhanh gọn cao hơn rõ rệt…
26
Trang 27Dành nhiều thời gian cho bệnh nhân hơn Do các y-bác sĩ được giải phóng khỏi một lượng lớn các công việc liên quan đến thủ tục giấy tờ, họ sẽ dành thời gian tiết kiệm được
để thăm và khám bệnh cho nhiều bệnh nhân hơn HSYTĐT cũng cho phép các bác sĩ hoàn thành hồ sơ bệnh án nhanh hơn, do vậy lại càng giúp tăng khả năng thăm khám cho nhiều bệnh nhân hơn
Tăng doanh thu thực hành y khoa Hồ sơ bệnh lý điện tử (mẫu máu, kết quả xét nghiệm, mã bệnh ) tự động cung cấp cho các bác sĩ các thông tin cần thiết để làm thủ tục yêu cầu thanh toán bảo hiểm y tế gửi tới các công ty bảo hiểm Tính năng nhận diện mã bệnh-mã thanh toán (E&M Coding) giúp các kế toán viên bệnh viện lập bảng kê thanh toán chính xác và tự tin Và như vậy, khi tốc độ và chất lượng công việc được cải thiện sẽ làm
số lượng thăm khám của bệnh nhân nhiều lên, và doanh thu từ hoạt động khám chữa bệnh cũng từ đó mà tăng lên cao Đây là một trong những lợi ích hàng đầu của các hồ sơ y tế điện tử
Cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe bệnh nhân Các tính năng tích hợp cơ sở dữ liệu thuốc (quản lý toa thuốc, danh sách thuốc và hậu cần kho thuốc), kiểm tra triệu chứng lâm sàng, và kiểm tra tương tác thuốc giúp các bác sĩ kê đơn thuốc đúng loại và đúng liều lượng Phần mềm HSYTĐTcũng cung cấp các gợi ý và giải pháp cho các bác sĩ dựa trên thông tin lâm sàng (triệu chứng, tiền sử ốm đau của bệnh nhân ), hay phân tích các yếu tố rủi ro liên quan đến nhân khẩu học của bệnh nhân Đây là một một trong những ưu điểm đáng kể của hồ sơ sức khỏe điện tử
27