1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Tìm hiểu rào cản tiếp cận dịch vụ sức khỏe sinh sản của phụ nữ di cư và các mô hình can thiệp pptx

7 621 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 647,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu rào cản tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ di cư và các mô hình can thiệp Vũ Thị Hoàng Lan * Nghiên cứu này nhằm phân tích rào cản văn hóa xã hội và chính s

Trang 1

Tìm hiểu rào cản tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ di cư và các

mô hình can thiệp

Vũ Thị Hoàng Lan (*)

Nghiên cứu này nhằm phân tích rào cản văn hóa xã hội và chính sách trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của người di cư và rà soát các mô hình can thiệp chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) cho phụ nữ di cư và đưa ra các khuyến nghị về mô hình can thiệp hiệu quả và phù hợp hơn với phụ nữ di cư Nghiên cứu áp dụng phương pháp tổng quan tài liệu các nghiên cứu trong vòng 20 năm để tìm hiểu các rào cản văn hóa, xã hội, chính sách trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cũng như phỏng vấn sâu các cán bộ thực hiện các chương trình can thiệp CSSKSS cho người di

cư Kết quả nghiên cứu chỉ ra các rào cản tiếp cận dịch vụ SKSS bao gồm thiếu khuôn khổ pháp lý bảo vệ người di cư, bảo hiểm y tế, thái độ của chính quyền với người di cư, tình trạng cư trú lưu động, thời gian làm việc dài, thu nhập thấp, chi phí khám chữa bệnh cao, thiếu hiểu biết về SKSS/SKTD Các mô hình can thiệp hiện tại chưa giải quyết được các rào cản một cách toàn diện, tính bền vững của mô hình còn thấp Khuyến nghị: Di cư là một mắt xích còn thiếu trong các chính sách phát triển của Việt Nam Mặc dù xu hướng di cư trong nước ngày càng tăng nhưng cho đến nay Việt Nam vẫn chưa thực sự có các chính sách, giải pháp phù hợp cho vấn đề di cư trong nước Các nhà hoạch định chính sách cần coi người di cư là một nhóm cần ưu tiên cho các can thiệp về chăm sóc sức khỏe và CSSKSS

Từ khóa: Phụ nữ di cư, sức khỏe sinh sản, mô hình can thiệp, rào cản tiếp cận dịch vụ

A review of barriers in accessing reproductive health services and current intervention

models for female migrants

Vu Thi Hoang Lan (*)

This study aims to identify social/cultural/structural barriers in accessing reproductive health services among female migrants as well as to review current intervention models in order to make

Trang 2

recommendations for future interventions The study has a literature review and employs in-depth interview to collect information about social/cultural barriers in accessing reproductive health services among female migrants in Vietnam Results indicated that significant barriers in accessing reproductive health services were: lack of legal status/social protection, health insurance, attitudes

of local authorities towards migrants, long working time, mobility status, high medical cost, low income, and lack of knowledge about sexual and reproductive health Current intervention models have not yet addressed these barriers effectively and the sustainability of those models is low Recommendations: Migration is a missing link in the current development of policies Despite the increasing trend of internal migration in Vietnam, the government has so far kept a distance from voluntary internal migration and related issues As the trend of internal migration increases significantly over time and the reported risks associated with migration process, the Government should recognize migrants as a priority group for their sexual and reproductive health interventions Key words: Female migrants, sexual and reproductive health, intervention models, barriers in accessing services

Tác giả:

(*) TS Vũ Thị Hoàng Lan, Bộ môn Dịch tễ - Thống kê Đại học Y tế Công cộng, 138 Giảng Võ, Hà Nội.

1 Đặt vấn đề

Trong vòng 20 năm trở lại đây, những thay đổi

trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam đã làm cho

tỷ lệ di cư trong nước tăng lên đáng kể, đặc biệt là

tỷ lệ phụ nữ trẻ di cư ngày càng cao Số liệu điều

tra dân số năm 2009 cho thấy hiện tượng "nữ giới

hóa lực lượng di cư" trở nên rất rõ ràng Ở hầu hết

các loại hình di cư, phụ nữ đều chiếm hơn một nửa

số người di cư [7] Xu hướng nữ giới hóa lực lượng

di cư xảy ra do sự giảm sút công việc nông nghiệp

và sự gia tăng các cơ hội làm việc cho phụ nữ ở các

khu vực đô thị và khu công nghiệp [1]

Tình trạng di cư của phụ nữ dẫn đến việc thay

đổi môi trường sống cũng như các quan niệm truyền

thống, do vậy làm họ dễ tổn thương hơn với bệnh

tật và hành vi nguy cơ Các nghiên cứu trước đây

cho thấy phụ nữ di cư là đối tượng dễ bị tổn thương

với các vấn đề về sức khỏe sinh sản như các bệnh

lây truyền qua đường tình dục (trong đó có HIV),

mang thai ngoài ý muốn và phá thai không an toàn

Nguy cơ với các vấn đề sức khỏe sinh sản tăng,

những tình trạng di biến động lại làm cho phụ nữ di

cư bị loại ra khỏi các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản [7,8]

Y văn trên thế giới đã chỉ ra rằng, việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản chịu ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa, xã hội và chính sách [8] Cho đến nay, vấn đề này chưa nhận được nhiều sự quan tâm ở Việt Nam Để đáp ứng với nhu cầu chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ di cư, một số mô hình can thiệp chăm sóc sức khỏe sinh sản đã được xây dựng tại môt số tỉnh, tuy nhiên tính bền vững của các mô hình này còn chưa cao và các mô hình này chưa nghiên cứu, áp dụng triệt để ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa xã hội và chính sách để loại bỏ các rào cản trong tiếp cận dịch vụ CSSKSS của phụ nữ di cư

Nghiên cứu này nhằm (1) phân tích rào cản văn hóa xã hội và chính sách trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của người di cư và (2) rà soát các mô hình can thiệp CSSKSS cho phụ nữ

di cư và đưa ra các khuyến nghị về mô hình can thiệp hiệu quả và phù hợp hơn với phụ nữ di cư

Trang 3

2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu gồm hai giai đoạn Giai đoạn một

là phân tích tổng quan tài liệu trong vòng 20 năm

qua để tìm hiểu các rào cản văn hóa, xã hội, chính

sách trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe

sinh sản của phụ nữ di cư tại Việt Nam Tổng quan

tài liệu sử dụng nhiều phương pháp đa dạng để tìm

kiếm các nghiên cứu và các biện pháp can thiệp phù

hợp, như tìm kiếm cơ sở dữ liệu điện tử, thu thập tài

liệu trực tiếp

Tài liệu chính thức: Tìm kiếm tài liệu trên

Internet sử dụng cơ sở dữ liệu điện tử PubMed và

tìm kiếm trên "Google Scholar" Các từ khóa sau

đây được sử dụng trong quá trình tìm kiếm:

- Người di cư/Việt Nam/sức khỏe tình dục sinh

sản/yếu tố văn hóa-xã hội

- Người di cư/Việt Nam/HIV/AIDS/yếu tố văn

hóa-xã hội

- Người di cư/Việt Nam/can thiệp về sức khỏe

tình dục và sinh sản

- Người di cư/Việt Nam/dịch vụ chăm sóc sức

khỏe

Phương pháp tìm kiếm này chỉ có thể tìm được

rất ít nguồn trên PubMed vì vậy phạm vi đã được

mở rộng bằng việc tìm kiếm:

- Tổng hợp những yếu tố văn hóa-xã hội và sức

khỏe tình dục và sinh sản của người di cư, đặc biệt

tập trung vào những nghiên cứu được thực hiện ở

châu Á, Đông Nam Á

- Tổng hợp các yếu tố văn hóa-xã hội và sức

khỏe tình dục và sinh sản dân cư Việt Nam nói

chung, đặc biệt tập trung vào những nghiên cứu ở

nhóm dân cư nông thôn (bởi đa số người di cư trong

nước chuyển từ khu vực nông thôn ra thành thị)

- Tổng hợp tài liệu về khả năng tiếp cận và độ

bao phủ của các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho

người di cư tại Việt Nam

Nghiên cứu cũng thu thập các tài liệu chưa xuất

bản chính thức liên quan đến các chủ đề trên bao

gồm các báo cáo, luận văn, luận án, tài liệu hội

nghị, phương tiện truyền thông phổ biến, chuyên

khảo, các tài liệu đang trong quá trình thực hiện, các

tài liệu chuyên biệt và các nguồn dữ liệu gốc được

tìm kiếm từ nguồn điện tử và bản in

Giai đoạn hai là rà soát các mô hình can thiệp

CSSKSS cho phụ nữ di cư đã tiến hành ở Việt Nam

và phân tích tính phù hợp của các mô hình này trong

việc giải quyết các rào cản đã tìm ra ở giai đoạn 1

Ở giai đoạn 2, nhà nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu các cán bộ phụ trách các chương trình can thiệp CSSKSS cho phụ nữ di cư trong giai đoạn từ năm 2005-2010 để thu thập các thông tin về mô hình can thiệp Mỗi chương trình can thiệp, nghiên cứu phỏng vấn 2 đối tượng, cán bộ quản lý và cán bộ chương trình (tổng cộng 16 cuộc PVS) Nghiên cứu cũng thu thập các tài liệu về mô hình can thiệp như báo cáo, tài liệu thông tin, giáo dục truyền thông Các thông tin từ PVS và rà soát tài liệu báo cáo được sử dụng để phân tích điểm mạnh/điểm yếu của mô hình can thiệp trong việc cải thiện các rào cản tiếp cận dịch vụ CSSKSS của phụ nữ di cư

3 Kết quả nghiên cứu 3.1 Rào cản tiếp cận dịch vụ CSSKSS

Dựa vào kết quả rà soát y văn của các nghiên cứu đã tiến hành tại Việt Nam và tham khảo các nghiên cứu trên thế giới về lĩnh vực CSSKSS cho phụ nữ di cư, nhóm nghiên cứu đã đưa ra Sơ đồ 1 tổng kết các rào cản tiếp cận dịch vụ SKSS ở phụ nữ di cư

Thiếu khuôn khổ pháp lý hợp lý và hiệu quả với phụ nữ di cư: Tất cả các tài liệu chính sách và chiến lược liên quan đến sức khỏe sinh sản chưa coi người

di cư trong nước là đối tượng dễ bị tổn thương và cần được bảo vệ mà họ lại là nhóm người có nguy cơ cao Chiến lược Quốc gia về HIV/AIDS xác định người di cư là nhóm nguy cơ cao về lây nhiễm HIV [2] Chiến lược Sức khỏe Sinh sản năm 2001-2010 không đề cập đến người di cư, mặc dù hầu hết người

di cư trong nước đều còn trẻ và dễ bị tổn thương với nhiều nguy cơ xã hội và sức khỏe [9] Dự thảo

Trang 4

Chiến lược Dân số và Sức khỏe Sinh sản năm

2011-2010 có nhắc đến dân số di cư nhưng không đưa ra

quy định cụ thể nào [10]

Không có bảo hiểm y tế: Do tình trạng đăng ký

tạm thời, nhiều người di cư không có bảo hiểm y tế

Một nghiên cứu năm 2007 được thực hiện ở Hà Nội,

Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng cho thấy chỉ

36% người di cư được hỏi có hợp đồng lao động,

38% người di cư làm việc không nhận được sự hỗ

trợ từ người sử dụng lao động, chỉ 12% được phép

nghỉ phép khi cần, và 99% không có bảo hiểm xã

hội hoặc không có bảo hiểm tai nạn nghề nghiệp[7]

Thái độ của chính quyền địa phương với người

di cư: Dịch vụ chương trình tại địa phương thường

chỉ dành cho những người đăng ký ở địa phương đó,

người di cư có rất ít khả năng tiếp cận với các thông

tin và chương trình về sức khỏe tình dục và sinh sản

[8,12] Bên cạnh đó người di cư thường bị gắn với

các tệ nạn xã hội, ví dụ như tội phạm, cờ bạc và mại

dâm Do đó, người dân và chính quyền địa phương

đối xử với họ với sự mất lòng tin và khó chịu [4]

Thành kiến này cũng có thể cản trở họ tìm kiếm sự

hỗ trợ từ chính quyền địa phương hay của các nhân

viên y tế khi cần thiết

Chi phí chữa bệnh cao: Theo kết quả điều tra di

cư năm 2004 của Chính phủ, trong số những người

làm giúp việc gia đình được điều trị tại các cơ sở y

tế khi ốm đau, 84% phải trả tiền dịch vụ và thuốc

men từ tiền túi của họ Chỉ 12% người được gia đình

chủ trả tiền điều trị Không có người nào có bảo

hiểm y tế [7] Với thu nhập thấp, tăng cường sử

dụng các dịch vụ phải chi trả tiền là trở ngại lớn đối

với người di cư trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế

một cách kịp thời Ví dụ, nhiều người di cư ở các

thành phố lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí

Minh cho biết chi phí khám, chữa bệnh gấp đôi thu

nhập hàng tháng của họ [4]

Tình trạng lưu động: Khi đến nơi cư trú mới

người di cư thường không biết về hệ thống chăm sóc

y tế địa phương và địa điểm cơ sở y tế, do đó họ

thường trì hoãn việc tìm kiếm các dịch vụ y tế Họ

thường sống lưu động nên các chương trình địa

phương khó tiếp cận Nghiên cứu năm 2009 của tác

giả Trương Hiền Anh cho thấy người di cư ở một địa

điểm càng lâu thì càng có nhiều khả năng nhận

được thông tin về chăm sóc sức khỏe sinh sản và tìm

kiếm các dịch vụ chăm sóc sức khỏe [8]

Giờ làm việc dài: Hầu hết những người được hỏi

cho biết họ dùng thời gian rảnh rỗi để ngủ bởi vì họ

quá mệt mỏi sau những giờ làm việc dài Các công nhân cho biết họ chỉ sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe khi có tình trạng sức khỏe hoặc mắc một bệnh rất nghiêm trọng, vì những việc này mất nhiều thời gian và tiền bạc Một khó khăn nữa là tất cả các dịch vụ y tế công chỉ làm việc trong giờ hành chính Nếu người di cư cần đến các cơ sở y tế, họ buộc phải sử dụng các dịch vụ tư nhân với chi phí cao hơn (và họ sẽ trì hoãn tìm kiếm dịch vụ này) Một số nhà máy có phòng khám sức khỏe riêng Tuy nhiên nhiều phụ nữ không sử dụng phòng khám này vì cán bộ y tế dường như cố gắng để họ quay lại làm việc càng sớm càng tốt, ngay cả khi họ vẫn còn quá yếu để làm việc [3] Những phụ nữ di cư làm giúp việc gia đình, thời gian làm việc thậm chí còn dài hơn do làm việc tự phát và tự điều chỉnh; những người này chỉ có thể được nghỉ ngơi khi họ thực sự bị bệnh hoặc khi họ về quê trong một dịp đặc biệt [6]

Sự kỳ thị, lo sợ mất thể diện: Do các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV vẫn bị quy kết với các tệ nạn xã hội và những thành kiến về tình dục vẫn tồn tại ở Việt Nam nên phụ nữ mắc những bệnh này thường không muốn đi khám hoặc điều trị kịp thời Đối với những phụ nữ di cư, nỗi lo sợ mất thể diện thậm chí còn lớn hơn, do mạng lưới xã hội của họ tương đối nhỏ và thường gắn kết trực tiếp về làng quê của họ, dẫn đến việc họ cảm thấy e ngại sử dụng các dịch vụ y tế công và buộc phải sử dụng các dịch vụ y tế tư nhân Do truyền thống và giá trị văn hóa, phụ nữ di cư cảm thấy không thoải mái khi tiếp cận với các biện pháp phòng tránh thai, quan hệ tình dục an toàn như bao cao su, một nghiên cứu tại Hà Nội đã chỉ ra rằng trên 44% người được hỏi coi việc phụ nữ mua bao cao su là "không bình thường" và 54% không muốn đi mua bao cao su [8] Thích điều trị Đông y hơn Tây y: Phụ nữ di cư phần lớn là ở nông thôn chuyển ra vùng đô thị, với họ khái niệm về "cân bằng âm dương" rất quan trọng, họ thích sử dụng các phương pháp điều trị Đông y vì cho rằng Đông y là điều trị tự nhiên trong khi điều trị Tây y thường phức tạp, chỉ giúp giảm triệu chứng và có tác dụng phụ Niềm tin này là một trong các lý do làm họ chậm trễ đến các cơ sở y tế khi mắc bệnh

Thiếu kiến thức và thông tin về sức khỏe tình dục và SKSS: Một số nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ tự chữa bệnh cao của người di cư là do họ thiếu thông tin và không có kiến thức về sức khỏe tình dục và sinh sản [4,5,8] Như kết quả Điều tra di cư năm

Trang 5

2004 của Chính phủ cho thấy, kiến thức của phụ nữ

di cư về các nguyên nhân gây bệnh lây truyền qua

đường tình dục còn hạn chế và nhận thức về sức

khỏe tình dục và sinh sản nói chung còn kém [7]

Nghiên cứu của tác giả Trương Hiền Anh năm 2009

cho thấy kiến thức về sức khỏe tình dục và sức khỏe

sinh sản là yếu tố quan trọng quyết định việc thực

hành vệ sinh và sử dụng bao cao su của phụ nữ di

cư [8]

3.2 Rà soát các mô hình can thiệp CSSKSS

Nghiên cứu rà soát 9 dự án can thiệp về vấn đề

sức khỏe sinh sản cho người di cư Các mô hình can

thiệp này có thể chia thành 3 nhóm: can thiệp cho

người lao động trong khu công nghiệp, nhóm dự án

người lao động "tự do", và nhóm dự án người di cư

có nguy cơ cao

3.2.1 Các dự án can thiệp với người lao động di

cư trong các khu công nghiệp

Các biện pháp can thiệp với nhóm này tương

đối thuận lợi bởi: i) đa số người lao động sống

trong cùng một khu vực hoặc trong cùng một khu

tập thể, do đó việc tiếp cận với họ dễ dàng hơn so

với các nhóm di cư khác và ii) đa số các khu công

nghiệp đều có tổ chức công đoàn và các cơ sở dịch

vụ y tế, do đó việc cung cấp thông tin và dịch vụ

dễ dàng hơn

Tuy nhiên, cũng có một số khó khăn nhất định,

đó là: i) người di cư có lịch làm việc cố định với giờ

lao động dài Họ không muốn tham gia các hoạt

động trong thời gian làm việc vì sẽ bị giảm năng

suất lao động và thu nhập Trong các nhà máy có

nhiều ca làm việc khác nhau, do đó rất khó để thu

xếp thời gian phù hợp cho hoạt động thông tin, giáo

dục và truyền thông hoặc các hoạt động truyền

thông thay đổi hành vi; ii) đôi lúc các nhà máy

không có đủ chỗ ở cho tất cả người lao động và một

số người phải thuê phòng trọ ở các khu dân cư;

những người sống bên ngoài khu vực nhà máy ít

được tiếp cận với các báo cáo truyền thông và các

tài liệu thông tin, giáo dục và truyền thông hơn là

những người sống trong khu nhà ở của nhà máy; iii)

khó có thể thiết lập và duy trì mạng lưới tình nguyện

viên giáo dục đồng đẳng trong số những người di cư

để có thể giúp duy trì những can thiệp này bởi họ

thường quá mệt mỏi sau những giờ làm việc dài;

công việc tình nguyện chỉ khiến ngày của họ thêm

dài hơn; iv) khó có được sự hợp tác lâu dài từ những

người sử dụng lao động; họ không chào đón các

hoạt động dự án trong nhà máy của họ, đặc biệt là trong giờ làm việc

3.2.2 Các biện pháp can thiệp dành cho người

di cư tự do Phụ nữ di cư tự do không phải là một nhóm đồng nhất, nhưng có thể được chia ra thành các nhóm nhỏ theo ngành nghề như: người lao động sống bên ngoài, người lao động sống cùng gia đình chủ nhà, người thu mua đồng nát, và người chăm sóc tư trong các bệnh viện Mỗi nhóm nhỏ đòi hỏi một phương pháp can thiệp khác nhau Người di cư tự do thường có ít cơ hội tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản hơn bởi họ thường không có bảo hiểm

y tế, do vậy học cần được cung cấp các dịch vụ với chi phí hợp lý Hầu hết các dự án kết hợp với các trung tâm y tế quận/huyệân để cung cấp các dịch vụ miễn phí Mặc dù cách tiếp cận này dường như có vẻ kinh tế nhưng nó lại có một số giới hạn vì người

di cư thường chỉ đến các trung tâm y tế khi họ bị ốm nặng Nếu các hoạt động truyền thông không đủ mạnh để nâng cao nhận thức của họ về tầm quan trọng của việc kiểm tra SKSS thường xuyên, họ sẽ không đến các trung tâm y tế

3.2.3 Các biện pháp can thiệp dành cho người

di cư nguy cơ cao Người di cư nguy cơ cao gồm gái mại dâm và thanh thiếu niên đường phố Các can thiệp cho Bảng 1 Can thiệp cho người lao động trong khu

công nghiệp

Trang 6

nhóm đối tượng người di cư có nguy cơ cao này nhận

được sự ưu tiên hơn về mặt hỗ trợ tài chính từ các

nguồn tài trợ quốc tế như chương trình Cứu trợ khẩn

cấp về phòng chống HIV/AIDS của Tổng thống

Hoa Kỳ (PEPFAR) hay Quỹ Toàn cầu (Global fund)

[12] Vì định hướng của các nguồn tài trợ này là

dành cho lĩnh vực HIV/AIDS, các biện pháp can

thiệp cho nhóm người di cư có nguy cơ cao thường

chỉ tập trung vào HIV/AIDS, mà bỏ qua các vấn đề

về SKSS/SKTD khác [5,12] Hai thách thức lớn đối

với các can thiệp dành cho gái mại dâm là tình trạng

pháp lý của họ và thái độ kỳ thị và phân biệt đối xử Mại dâm ở Việt Nam là bất hợp pháp theo Pháp lệnh Phòng chống mại dâm năm 2003 và Nghị định số 178/2004/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh phòng, chống mại dâm [11]

Do hoạt động mại dâm là bất hợp pháp ở Việt Nam, nếu bị bắt gặp, gái mại dâm sẽ bị bắt và bị chuyển vào các trung tâm cải tạo [11], việc tiếp cận đối tượng can thiệp của các dự án này thường khó khăn hơn so với các nhóm khác [12]

4 Bàn luận

Các mô hình can thiệp CSSKSS cho người di cư cần xem xét giải quyết toàn diện các rào cản trong tiếp cận dịch vụ CSSKSS đã đề cập trong phạm vi nghiên cứu này Một số khuyến nghị cụ thể cho các mô hình can thiệp trong tương lai như sau: (1) Hiện mới chỉ có các biện pháp can thiệp ở nơi đến của người di cư Biện pháp tiếp cận này thường gặp một số trở ngại do tính chất di động cao của người di cư cũng như thời gian làm việc bận rộân của họ Cần có các biện pháp can thiệp tại các địa phương có tỷ lệ xuất cư lớn, trước khi họ tiến hành di cư để cung cấp thông tin và giáo dục họ về tầm quan trọng của việc chăm sóc sức khỏe tình dục và sinh sản, tiếp cận với các dịch vụ và tăng cường kỹ năng sống; (2) Việc Bảng 2 Can thiệp cho người di cư lao động tư do

Bảng 3 Các mô hình can thiệp cho nhóm nguy cơ cao

Trang 7

phối hợp với các cơ sở y tế nhà nước để cung cấp

các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho người

di cư là rất cần thiết Tuy nhiên người di cư tỏ ra

miễn cưỡng khi sử dụng những dịch vụ này do thái

độ của cán bộ y tế chưa phù hợp và nỗ lo sợ về bảo

mật của các thông tin nhạy cảm, các dự án tương lai

cần tác động những điểm này (3) Tất cả các mô

hình can thiệp hiện tại đều chỉ hướng đến đối tượng

người di cư và những người có mối quan hệ gần gũi

nhất với họ, ví dụ như chủ nhà trọ hoặc người sử

dụng lao động Người di cư vẫn bị cả người dân và

chính quyền địa phương coi là gắn với tệ nạn xã hội,

nên họ thường bị cô lập, cần có sự tham gia của

cộng đồng trong tất cả các biện pháp can thiệp; (5)

Cần có sự tham gia của chủ lao động tư nhân và các

công ty lớn trong khu công nghiệp trong các chiến

dịch nâng cao nhận thức và chống kỳ thị và khuyến

khích họ cung cấp các dịch vụ thân thiện hơn với khách hàng tại các cơ sở y tế tại chỗ

Chúng tôi khuyến nghị

Hiện nay, di cư là một mắt xích còn thiếu trong các chính sách phát triển của Việt Nam Mặc dù xu hướng di cư trong nước ngày càng tăng nhưng cho đến nay Việt Nam vẫn chưa thực sự có các chính sách, giải pháp phù hợp cho vấn đề di cư trong nước Để duy trì các biện pháp can thiệp về sức khỏe sinh sản cho người di cư, các kế hoạch và chương trình thông tin, dịch vụ cho người di cư cần được kết hợp vào trong kế hoạch sức khỏe, giáo dục và phát triển của xã, huyện và tỉnh Các nhà hoạch định chính sách cần coi người di cư là một nhóm cần ưu tiên cho các can thiệp về chăm sóc sức khỏe và CSSKSS

Tài liệu tham khảo

Tiếng Việt

1 Đặng Nguyên Anh, Cecilia Tacoli, and Hoang Xuan

Thanh Di cư ở Việt Nam: Tổng kết thông tin về các xu

hướng và mô hình hiện tại và các tác động chính sách Tài

liệu chuẩn bị cho Hội nghị khu vực về Di cư, Phát triển và

những lựa chọn chính sách hỗ trợ người nghèo ở Châu Á,

Dhake, Bangladesh, 22-24/6/2003.

2 Bộ Y tế Chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS đến

năm 2010 và tầm nhìn 2020 Quyết định 36/2004/QĐ-TTG.

3 Đỗ Thị Như Tâm (2006) Tính chất dễ bị tổn thương của

người lao động nữ di cư làm việc trong các nhà máy với

HIV/AIDS ở Việt Nam Bản tin về người lao động Châu Á,

47.

4 Liên hợp quốc Việt Nam (2010) Báo cáo Di cư trong

nước: Cơ hội và Thách thức đối với sự phát triển kinh tế-xã

hội ở Việt Nam

5 Nguyễn Ngọc Hường and Khuất Thu Hồng (2010) Đời

sống tình dục "con lắc" của người di cư Nghiên cứu định tính

trong nhóm người di cư tại Hà nội và TP HCM Nhà xuất bản

Thế giới.

6 Nguyễn Thị Minh Nguyệt (2010) Người giúp việc gia đình di cư và không di cư tại Hà Nội: Sự phân biệt công việc gia đình Báo cáo phân tích chính sách của trường đại học UMEA, 22.

7 Tổng Cục Thống Kê Báo cáo điều tra di cư năm 2004., Nhà xuất bản thế giới.

8 Trương Hiền Anh Báo cáo về sức khỏe sinh sản của lao động nữ di cư tại Hà Nội: Hiện trạng và những tác động chính sách Hội thảo về Di cư, Phát triển và Giảm đói nghèo (2009).

9 Ủy ban quốc gia Dân số và Kế hoạch hoá gia đình Chiến lược dân số Việt Nam 2001-2010.

10 Ủy ban quốc gia Dân số và Kế hoạch hoá gia đình Chiến lược Dân số và Sức khỏe Sinh sản năm 2011-2010.

11 Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam Nghị định số 178/2004/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh phòng, chống mại dâm.

12 Viện phát triển sức khỏe cộng đồng Ánh sáng - Light Tổng kết các biện pháp can thiệp chăm sóc sức khỏe sinh sản cho người di cư tại Việt Nam trong giai đoạn 2000-2008 2009.

Ngày đăng: 21/03/2014, 00:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w