1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Giáo trình luật dân sự việt nam

355 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 355
Dung lượng 4,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT DÂN SỰ Đối tượng điều chỉnh của luật dân sự là quan hệ nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, t

Trang 1

GIÁO TRÌNH LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

TẬP I

Trang 2

1254-2019/CXBIPH/11-12/CAND

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

GIÁO TRÌNH LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

TẬP I

(Tái bản)

NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN

HÀ NỘI - 2019

Trang 4

Chủ biên

PGS.TS ĐINH VĂN THANH

TS NGUYỄN MINH TUẤN

Tập thể tác giả

PGS.TS VŨ THỊ HỒNG YẾN

TS PHẠM CÔNG LẠCh Chương I, II PGS.TS BÙI ĐĂNG HIẾU

TS KIỀU THỊ THANH

Chương III

PGS.TS ĐINH VĂN THANH

TS VƯƠNG THANH THÚY Chương IV PGS.TS PHÙNG TRUNG TẬP

Trang 5

LỜI GIỚI THIỆU

Bộ luật dân sự năm 2015 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá XIII, kì họp thứ 10 thông qua ngày 24/11/2015, có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 Đây là bộ luật lớn nhất ở nước ta hiện nay Với 689 điều luật, Bộ luật dân sự điều chỉnh các quan hệ tài sản và nhân thân có tính phổ biến trong đời sống của nhân dân ta hiện nay

Bộ luật dân sự quy định các chuẩn mực pháp lí cho cách ứng xử của các chủ thể trong giao lưu dân sự nhằm bảo đảm

sự ổn định và lành mạnh hoá các quan hệ dân sự trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Để đáp ứng kịp thời việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập của giảng viên, sinh viên và những người quan tâm, Bộ môn luật dân sự Khoa Pháp luật dân sự Trường Đại học Luật Hà Nội đã chỉnh lí giáo trình phù hợp với khoa học pháp lí dân sự hiện đại và làm rõ nội dung cơ bản của các phần trong Bộ luật dân sự năm 2015

Việc chỉnh lí giáo trình luật dân sự Việt Nam căn cứ vào chương trình, mục tiêu đào tạo của Trường Đại học Luật Hà Nội và được xây dựng phù hợp với chương trình khung do Bộ giáo dục và đào tạo quy định Giáo trình luật dân sự được biên soạn thành hai tập để thuận tiện cho việc học tập và nghiên cứu

Trang 6

Mặc dù tập thể tác giả đã hết sức cố gắng nhưng giáo trình cũng khó tránh khỏi những khiếm khuyết, rất mong các độc giả góp ý để giáo trình luật dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội ngày càng hoàn thiện

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 7

CHƯƠNG I

KHÁI NIỆM VỀ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

A ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT DÂN SỰ

Để quản lí xã hội bằng pháp luật và không ngừng nâng cao tính thực thi của các văn bản pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng một hệ thống pháp luật ngày càng hoàn chỉnh, phản ánh tốt hơn đường lối của Đảng trong công cuộc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay Với mục tiêu đó, động lực chính của sự phát triển là vì con người, do con người, đặt con người vào vị trí trung tâm, giải phóng sức sản xuất, khơi dậy mọi tiềm năng của mỗi cá nhân, mỗi tập thể lao động và của cả cộng đồng dân tộc; động viên và tạo mọi điều kiện cho mọi người Việt Nam phát huy ý chí tự lực, tự cường, cần kiệm xây dựng Tổ quốc, ra sức làm giàu cho mình và cho đất nước Trong đó, mọi người được tự

do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp

Hệ thống pháp luật của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm nhiều ngành luật, điều chỉnh các quan hệ xã hội đa dạng, phức tạp Trong đó, mỗi ngành luật điều chỉnh những nhóm quan hệ xã hội nhất định Những

Trang 8

nhóm quan hệ xã hội do một ngành luật điều chỉnh được gọi là đối tượng điều chỉnh của ngành luật đó Để điều chỉnh các quan hệ xã hội, Nhà nước sử dụng các biện pháp tác động khác nhau, hướng cho các quan hệ xã hội phát sinh, thay đổi, chấm dứt phù hợp với ý chí của Nhà nước Phương pháp tác động của Nhà nước lên các quan hệ xã hội có những đặc thù khác nhau phụ thuộc vào các quan hệ xã hội cần điều chỉnh bằng pháp luật

I ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT DÂN SỰ Đối tượng điều chỉnh của luật dân sự là quan hệ nhân thân

và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự) (Điều 1 Bộ luật dân sự - BLDS năm 2015) Với quy định này, luật dân sự nói chung và BLDS năm 2015 nói riêng đã

mở rộng phạm vi điều chỉnh đến các quan hệ thuộc lĩnh vực luật tư và trở thành luật chung điều chỉnh các quan hệ tài sản Trong trường hợp luật riêng không quy định trực tiếp để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực đó thì các quy định của BLDS năm 2015 sẽ điều chỉnh Tuy nhiên, các quy định của luật riêng không được trái với những nguyên tắc cơ bản được quy định tại Điều 3 BLDS năm 2015 Trường hợp luật khác có liên quan không quy định hoặc có quy định nhưng vi phạm nguyên tắc trên thì quy định của BLDS năm 2015 được

áp dụng

1 Quan hệ tài sản

Quan hệ tài sản là quan hệ giữa người với người thông qua một tài sản Quan hệ tài sản bao giờ cũng gắn với một tài sản

Trang 9

nhất định được thể hiện dưới dạng này hay dạng khác

Tài sản (được khái quát chung ở Điều 105 BLDS năm 2015) bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Quan

hệ tài sản tài sản không chỉ bó hẹp ở những vật vô tri mà còn hàm chứa nội dung xã hội là những quan hệ xã hội liên quan đến một tài sản

Quan hệ tài sản không chỉ bao gồm vật thuộc về ai, do ai chiếm hữu, sử dụng, định đoạt mà còn bao gồm cả việc dịch chuyển những tài sản đó từ chủ thể này sang chủ thể khác, quyền yêu cầu của một hay nhiều chủ thể và nghĩa vụ tương ứng với các quyền yêu cầu đó của một hay nhiều chủ thể khác trong quan hệ nghĩa vụ cũng được coi là quan hệ tài sản Quan

hệ tài sản rất đa dạng và phức tạp bởi các yếu tố cấu thành nên các quan hệ đó bao gồm: chủ thể tham gia, khách thể được tác động và nội dung của các quan hệ đó Quan hệ tài sản là đối tượng điều chỉnh của luật dân sự có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh mang

tính ý chí Quan hệ tài sản phát sinh giữa các chủ thể là những quan hệ kinh tế cụ thể trong quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông và tiêu thụ sản phẩm cũng như cung ứng dịch vụ trong

xã hội Quan hệ tài sản luôn gắn liền với quan hệ sản xuất và phù hợp với quan hệ sản xuất vốn là hạ tầng của xã hội Quan

hệ sản xuất tồn tại không phụ thuộc vào ý chí của con người

mà nó phát sinh, phát triển theo những quy luật khách quan Nhưng những quy luật này được nhận thức và phản ánh thông qua những quy phạm pháp luật lại mang tính chủ quan - ý chí của giai cấp thống trị phản ánh sự tồn tại xã hội thông qua các

Trang 10

quy phạm pháp luật Mỗi chủ thể tham gia vào một quan hệ kinh tế cụ thể đều đặt ra những mục đích và với động cơ nhất định Bởi vậy, quan hệ tài sản mà các chủ thể tham gia mang

ý chí của các chủ thể và phải phù hợp với ý chí của Nhà nước thông qua các quy phạm pháp luật dân sự Nhà nước dùng các quy phạm pháp luật dân sự tác động lên các quan hệ kinh tế, hướng cho các quan hệ này phát sinh, thay đổi theo ý chí của Nhà nước Vì vậy, sự tác động của Nhà nước thông qua các quy phạm pháp luật dân sự có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng cho các quan hệ tài sản phát triển Nếu sự định hướng phù hợp với những quy luật khách quan của sự phát triển thì sẽ thúc đẩy quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất phát triển và ngược lại sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất

Có thể nói rằng quan hệ tài sản là biểu hiện ý chí của chủ thể, của nhà nước về quan hệ sản xuất trong một giai đoạn lịch

sử nhất định Trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đang xây dựng và hình thành nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu và hình thức kinh doanh thì việc xác định các quan hệ tài sản phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là định hướng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng,

có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ nền sản xuất xã hội

Thứ hai, quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh mang

tính chất hàng hoá và tiền tệ Định hướng chiến lược của nước

ta hiện nay là phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa (Điều 15 Hiến pháp năm 1992) Trong mô hình kinh tế này, các tài sản được thể hiện dưới dạng hàng hoá và được quy

Trang 11

thành tiền Sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ để bán, để trao đổi

là đặc trưng của nền sản xuất này Nó tạo động lực cho mọi cá nhân và tổ chức, khơi dậy mọi tiềm năng của họ, phát huy ý chí tự lực, tự cường ra sức làm giàu cho mình và cho đất nước Nhưng nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trường cũng có những mặt trái của nó (cạnh tranh không lành mạnh, phân hoá giàu nghèo…) Cho nên, khuyến khích tính năng động, sáng tạo đi đôi với thiết lập trật tự kỉ cương trong hoạt động kinh tế, bảo đảm cho mọi đơn vị kinh tế, không phân biệt quan hệ sở hữu đều hoạt động theo cơ chế tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau, bình đẳng trước pháp luật Bởi vậy, cần phải có hành lang pháp lí vừa mềm dẻo, linh hoạt, vừa chặt chẽ mới có thể đáp ứng được các yêu cầu trên Hơn nữa chúng ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế trên nhiều lĩnh vực, do vậy pháp luật nói chung và pháp luật dân

sự nói riêng còn phải tương thích với pháp luật của các nước trên thế giới và trong khu vực Quy luật của nền kinh tế thị trường trong sản xuất xã hội chi phối các quan hệ tài sản mà một trong các biểu hiện của nó là quan hệ tiền - hàng Sự trao đổi hàng hoá và dịch vụ trong nền kinh tế thị trường chủ yếu thông qua hình thức tiền - hàng Khái niệm hàng hoá càng ngày càng được mở rộng cùng với sự chuyên môn hoá của nền sản xuất, cùng với sự phát triển của khoa học-kĩ thuật và quan niệm xã hội về các đối tượng trao đổi Tài sản là đối tượng và cũng là khách thể của quan hệ tài sản phải trị giá được thành tiền và có thể chuyển giao thông qua các giao dịch dân sự Do vậy, các quan hệ tài sản này cũng không nằm ngoài sự chi phối của quy luật hàng hoá - tiền tệ

Thứ ba, quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh mang

Trang 12

tính chất đền bù tương đương Sự đền bù tương đương trong trao đổi là biểu hiện của quan hệ hàng hoá và tiền tệ, là đặc trưng của quan hệ dân sự theo nghĩa rộng Nhưng không phải tất cả sự dịch chuyển tài sản, dịch vụ đều có sự đền bù tương đương như: cho, tặng, thừa kế, sử dụng các tác phẩm văn học nghệ thuật Nhưng các quan hệ này không phải là quan hệ cơ bản và không phổ biến trong trao đổi; nó không chỉ đơn thuần

là quan hệ pháp luật mà còn bị chi phối bởi nhiều quan hệ xã hội khác (truyền thống, phong tục )

2 Quan hệ nhân thân

Cùng với quan hệ tài sản, luật dân sự còn điều chỉnh các quan hệ nhân thân (Điều 1 BLDS năm 2015) Quan hệ nhân thân là quan hệ giữa người với người về một giá trị nhân thân của cá nhân hay các tổ chức Việc xác định một giá trị nhân thân là quyền nhân thân phải được pháp luật thừa nhận như một quyền tuyệt đối của một cá nhân, tổ chức Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với một chủ thể, về nguyên tắc không thể chuyển giao cho chủ thể khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác Đó là một quyền dân sự tuyệt đối, mọi người đều có nghĩa vụ tôn trọng quyền nhân thân của người khác

Các quyền nhân thân được nhiều ngành luật điều chỉnh Luật hành chính quy định về trình tự, thủ tục để xác định các quyền nhân thân như: phong các danh hiệu cao quý của Nhà nước; tặng thưởng các loại huân, huy chương; công nhận các chức danh Luật hình sự bảo vệ các giá trị nhân thân bằng cách quy định những hành vi nào khi xâm phạm đến những giá trị nhân thân nào được coi là tội phạm (như các tội: vu

Trang 13

khống, làm nhục người khác, làm hàng giả )

Luật dân sự điều chỉnh các quan hệ nhân thân bằng cách quy định những giá trị nhân thân nào được coi là quyền nhân thân, trình tự thực hiện, giới hạn của các quyền nhân thân đó, đồng thời quy định các biện pháp thực hiện, bảo vệ các quyền nhân thân (Điều 11 – Điều 14 BLDS năm 2015)

Các quan hệ nhân thân xuất phát từ quyền nhân thân do luật dân sự điều chỉnh có thể chia làm hai nhóm căn cứ vào khoản 1 Điều 17 BLDS năm 2015:

- Quan hệ nhân thân gắn với tài sản;

- Quan hệ nhân thân không gắn với tài sản

Những quan hệ nhân thân do luật dân sự điều chỉnh có những đặc điểm sau:

- Quyền nhân thân luôn gắn liền với một chủ thể nhất định

và không thể dịch chuyển được cho các chủ thể khác Tuy nhiên, trong những trường hợp nhất định có thể được dịch chuyển Những trường hợp cá biệt này phải do pháp luật quy định (quyền công bố tác phẩm của tác giả các tác phẩm, các đối tượng sở hữu công nghiệp )

- Quyền nhân thân không xác định được bằng tiền - giá trị nhân thân và tiền tệ không phải là những đại lượng tương đương và không thể trao đổi ngang giá Các quyền nhân thân không gắn với tài sản như danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, danh dự, uy tín của tổ chức; quyền đối với họ, tên; thay đổi họ tên; quyền xác định dân tộc, thay đổi dân tộc; quyền đối với hình ảnh; với bí mật đời tư; quyền kết hôn, li hôn…

Trang 14

(từ Điều 26 đến Điều 39 BLDS năm 2015) Một số quyền nhân thân mới được ghi nhận và bảo hộ trong BLDS năm

2015 như: quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình; chuyển đổi giới tính; quyền nhân thân trong quan hệ hôn nhân và gia đình

Luật dân sự ghi nhận những giá trị nhân thân được coi

là quyền nhân thân và quy định các biện pháp bảo vệ các giá trị nhân thân đó Mỗi chủ thể có những giá trị nhân thân khác nhau nhưng được bảo vệ như nhau khi các giá trị đó bị xâm phạm Khi quyền nhân thân bị xâm phạm thì chủ thể có quyền tự mình cải chính, yêu cầu người có hành vi xâm phạm hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm: xin lỗi, cải chính công khai; tự mình cải chính trên các phương tiện thông tin đại chúng; yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu toà án buộc người vi phạm phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp những tổn thất về tinh thần Các quan hệ nhân thân gắn với tài sản là những giá trị nhân thân khi được xác lập làm phát sinh các quyền tài sản Quyền nhân thân là tiền đề làm phát sinh các quyền tài sản khi có những sự kiện pháp lí nhất định như tác giả các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học kĩ thuật; quyền tác giả các sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp được hưởng tiền nhuận bút, thù lao, được hưởng tiền thù lao

do áp dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp nêu trên Quyền của cá nhân đối với hình ảnh là quyền nhân thân nhưng khi hình ảnh đó được người khác sử dụng vì mục đích thương mại thì người có hình ảnh sẽ được trả thù lao Đó là sự kiện làm phát sinh quyền nhân thân gắn với tài sản

Trang 15

II PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT DÂN SỰ Pháp luật không tạo ra các quan hệ xã hội mà chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội Cơ chế điều chỉnh các quan hệ xã hội rất phức tạp bao gồm một hệ thống cơ quan, tổ chức sử dụng các biện pháp, cách thức tác động vào hành vi của các chủ thể, định hướng cách xử sự của các chủ thể tham gia vào các quan hệ đó Tuỳ theo các nhóm quan hệ xã hội cần điều chỉnh mà Nhà nước lựa chọn các biện pháp tác động khác nhau lên các quan hệ đó

Phương pháp điều chỉnh của luật dân sự là những cách thức, biện pháp mà Nhà nước tác động lên các quan hệ tài sản, các quan hệ nhân thân làm cho các quan hệ này phát sinh, thay đổi, chấm dứt theo ý chí của Nhà nước phù hợp với

ba lợi ích (Nhà nước, xã hội và cá nhân)

Luật dân sự điều chỉnh các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân của cá nhân, pháp nhân được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm

Phương pháp điều chỉnh của luật dân sự có những đặc điểm sau:

- Các chủ thể tham gia các quan hệ tài sản và các quan hệ nhân thân do luật dân sự điều chỉnh độc lập về tổ chức và tài sản, bình đẳng với nhau về địa vị pháp lí Độc lập về tổ chức

và tài sản là tiền đề tạo ra sự bình đẳng trong các quan hệ mà các chủ thể tham gia Bởi các quan hệ tài sản mà luật dân sự điều chỉnh mang tính chất hàng hoá - tiền tệ và đền bù tương đương là đặc trưng khi trao đổi Nếu không độc lập về tài sản

và bình đẳng về địa vị pháp lí thì sẽ không tạo ra sự đền bù

Trang 16

tương đương Sự bình đẳng và độc lập được thể hiện ngay cả trong trường hợp các chủ thể có các mối quan hệ khác mà họ không bình đẳng (trong quan hệ hành chính, lao động ) và chính sự bình đẳng, độc lập của các chủ thể mới tạo được tiền

đề cho sự tự định đoạt sau này Nếu vợ chồng tặng cho nhau tài sản trong thời kì hôn nhân mà nguồn gốc tài sản tặng cho

có được từ tài sản chung thì quan hệ tặng cho đó chủ yếu mang màu sắc tình cảm, chứ không làm dịch chuyển quyền sở hữu sang cho người được tặng cho vì khi xác lập quan hệ tặng cho này không có sự độc lập về tài sản giữa vợ và chồng

- Pháp luật dân sự ghi nhận quyền tự định đoạt của các chủ thể trong việc tham gia các quan hệ tài sản Khi tham gia vào các quan hệ tài sản, mỗi chủ thể đều đặt ra những mục đích với những động cơ nhất định Bởi vậy, việc lựa chọn một quan hệ cụ thể do các chủ thể tự quyết định, căn cứ vào khả năng, điều kiện, mục đích mà họ tham gia vào các quan hệ đó Khi tham gia vào các quan hệ cụ thể, các chủ thể tuỳ ý theo ý chí của mình lựa chọn đối tác sẽ tham gia, nội dung quan hệ

mà họ tham gia, cách thức, biện pháp thực hiện các quyền và nghĩa vụ Trong nhiều trường hợp, các chủ thể có thể tự đặt ra các biện pháp bảo đảm, hình thức và phạm vi trách nhiệm, cách thức áp dụng trách nhiệm khi bên này hay bên kia không thực hiện hay thực hiện không đúng thoả thuận

Tuy nhiên, việc tự định đoạt của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ không đồng nghĩa với tự do, tuỳ tiện trong việc tạo lập, thay đổi, chấm dứt các quan hệ đó Đặc điểm chung các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân là đa dạng, phức tạp Bởi vậy, các quy phạm pháp luật không thể dự liệu hết được các quan hệ đang tồn tại và phát triển Cho nên,

Trang 17

pháp luật đưa ra những giới hạn, vạch ra những hành lang an toàn, cần thiết, trong đó các chủ thể có quyền tự do hành động Giới hạn đó được xác định bởi các nguyên tắc được quy định trong BLDS và thể hiện rõ nét nhất ở Điều 3 BLDS năm

2015: “Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự không

được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác” Khi vi phạm

nguyên tắc này, làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác sẽ bị coi là vi phạm pháp luật dẫn đến hậu quả pháp lí, phải bồi thường thiệt hại Cam kết, thoả thuận là

tự nguyện nhưng sau khi đã tự nguyện cam kết, thoả thuận, các chủ thể buộc phải tham gia vào quan hệ dân sự đó Mặt khác, trong một số trường hợp, nhằm bảo vệ quyền lợi của một số chủ thể nhất định, pháp luật đã hạn chế quyền tự định đoạt đó (như quy định về điều kiện chuyển quyền sử dụng đất,

về người được hưởng di sản không phụ thuộc nội dung của di chúc )

- Xuất phát từ sự bình đẳng giữa các chủ thể, quyền tự định đoạt của họ khi tham gia các quan hệ dân sự, cho nên đặc trưng của phương pháp giải quyết các tranh chấp dân sự

là hoà giải Đây là nguyên tắc được quy định tại Điều 7 BLDS

năm 2015 - Nguyên tắc hoà giải Việc thực hiện hay từ chối một quyền tài sản của các chủ thể thuộc phạm vi tự định đoạt của họ (tuy nhiên, chỉ trong trường hợp quyền của họ không đồng thời là nghĩa vụ mà pháp luật quy định) Cho nên, việc giải quyết các tranh chấp dân sự do các bên tự thoả thuận Nếu không thể thoả thuận hoặc hoà giải được, toà án chỉ giải quyết trong phạm vi yêu cầu của nguyên đơn

- Các quan hệ mà luật dân sự điều chỉnh chủ yếu là các

Trang 18

quan hệ tài sản mang tính chất hàng hoá và tiền tệ, việc vi phạm nghĩa vụ của một bên trong quan hệ đó dẫn đến thiệt hại

về tài sản đối với bên kia Bởi vậy, trách nhiệm dân sự trước tiên là trách nhiệm tài sản Trách nhiệm của bên vi phạm đối với bên bị vi phạm và hậu quả của việc áp dụng trách nhiệm là phục hồi tình trạng tài sản của bên bị thiệt hại Trong quan hệ dân sự, các chủ thể có quyền tự định đoạt Cho nên, họ có thể quy định trách nhiệm và phương thức áp dụng trách nhiệm cùng hậu quả của nó (những thoả thuận này phải phù hợp với pháp luật) Bởi vậy, trách nhiệm dân sự không chỉ do pháp luật quy định mà còn do các bên thoả thuận về điều kiện phát sinh và hậu quả của nó

III ĐỊNH NGHĨA LUẬT DÂN SỰ, PHÂN BIỆT LUẬT DÂN SỰ VỚI CÁC NGÀNH LUẬT KHÁC

Theo truyền thống trong khoa học pháp lí, một ngành luật được xác định và phân biệt với ngành luật khác căn cứ vào đối tượng điều chỉnh và các đặc điểm phương pháp điều chỉnh của

nó Dựa vào đối tượng điều chỉnh và những nét đặc trưng cơ bản của phương pháp điều chỉnh của luật dân sự có thể định nghĩa luật dân sự như sau:

Luật dân sự là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam - tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tài sản mang tính chất hàng hoá-tiền tệ và các quan

hệ nhân thân trên cơ sở bình đẳng, độc lập của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ đó

Việc phân biệt ngành luật này với ngành luật khác cũng dựa vào đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh và những đặc điểm của nó

Trang 19

- Chúng ta dễ dàng phân biệt luật dân sự với luật hành chính Luật hành chính điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực điều hành và quản lí nhà nước Các chủ thể tham gia không bình đẳng về địa vị pháp lí và không thể thoả thuận trong việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ hành chính mà được xác lập dựa trên các quy định của pháp luật

- Luật hình sự có nhiệm vụ bảo vệ các quan hệ xã hội bằng cách quy định những hành vi nào bị coi là hành vi nguy hiểm

cho xã hội đồng thời quy định hình phạt tương ứng với mức

độ nguy hiểm của hành vi đó Mặc dù việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế do luật hình sự quy định là sự cưỡng chế của Nhà nước nhưng những biện pháp này trước tiên là trách nhiệm của cá nhân với xã hội, với Nhà nước nói chung Chức năng chủ yếu của hình phạt là trừng phạt và giáo dục; còn trong dân sự, trách nhiệm tài sản trước tiên là trách nhiệm của chủ thể này đối với chủ thể khác và mục đích chủ yếu của nó

là phục hồi tình trạng tài sản của bên bị thiệt hại

- Luật dân sự được coi là luật chung trong lĩnh vực luật tư, bao gồm các quy định liên quan đến quyền lợi của chủ thể và

về nguyên tắc có thể thay đổi bằng sự thoả thuận của các bên

Do sự phát triển của xã hội cũng như khoa học pháp lí, trên cơ

sở của luật dân sự đã phát triển thêm những lĩnh vực pháp luật khác (như luật thương mại ) Trong các giao lưu dân sự,

có những quan hệ được coi là quan hệ thương mại Đây là những quan hệ đặc thù được điều chỉnh bởi luật thương mại Khi điều chỉnh các quan hệ thương mại, nếu không có quy phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh thì áp dụng các quy định của BLDS năm 2005 để điều chỉnh các quan hệ đó

Trang 20

- Luật lao động được tách ra từ luật dân sự khi sức lao động trở thành hàng hoá trong xã hội tư bản Đối tượng điều chỉnh của luật lao động là bản thân quá trình lao động mà không phải là kết quả của quá trình đó giữa người lao động và người sử dụng lao động Khi các quan hệ lao động không có quy phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh thì sẽ áp dụng các quy định của BLDS năm 2015 để điều chỉnh các quan hệ đó

- Luật hôn nhân và gia đình được tách ra từ luật dân sự để điều chỉnh các quan hệ nhân thân và tài sản giữa vợ - chồng và các thành viên trong gia đình, trong đó quan hệ nhân thân giữa vợ - chồng là trung tâm, quyết định các quan hệ khác Các quan hệ tài sản mà luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh giữa các chủ thể không độc lập về tài sản và không thể áp dụng nguyên tắc đền bù tương đương Tài sản của vợ, chồng tạo ra trong thời kì hôn nhân là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng Luật dân sự điều chỉnh các quan hệ tài sản riêng của vợ, chồng và các thành viên khác trong gia đình Trong trường hợp không có quy định trong luật hôn nhân và gia đình, sẽ sử dụng các quy định trong BLDS năm 2015 để điều chỉnh các quan hệ đó

- Luật tố tụng dân sự được coi là luật hình thức của luật dân sự và luật hôn nhân và gia đình, luật kinh tế, luật lao động; quy định trình tự, thủ tục giải quyết các tranh chấp dân

sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động Luật tố tụng dân

sự điều chỉnh các quan hệ giữa các chủ thể tham gia tố tụng

Trang 21

IV HỆ THỐNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ, KHOA HỌC LUẬT DÂN SỰ, GIÁO TRÌNH LUẬT DÂN SỰ

1 Hệ thống pháp luật dân sự

Hệ thống pháp luật dân sự là hệ thống các quy phạm dân

sự điều chỉnh các quan hệ tài sản và các quan hệ nhân thân Các quy phạm pháp luật này hợp thành những nhóm quy phạm điều chỉnh những nhóm quan hệ tương đối đồng nhất Những nhóm quy phạm đó được gọi là chế định trong luật dân

sự - những chế định lớn (quyền sở hữu, nghĩa vụ và hợp đồng, thừa kế ) được phân chia thành các chế định nhỏ hơn Các chế định đều phải tuân theo các quy định ở phần chung và mỗi chế định của phần riêng có những quy định chung xuyên suốt phần riêng đó

Căn cứ vào cách sắp xếp truyền thống và được thể hiện trong BLDS, khoa học luật dân sự phân chia luật dân sự thành hai phần lớn - Phần chung và Phần riêng

Phần chung: Bao gồm những quy phạm chung, xuyên suốt toàn bộ hệ thống pháp luật dân sự, quy định những nguyên tắc, nhiệm vụ của luật dân sự, chủ thể, địa vị pháp lí của chủ thể, các căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền dân sự, thời hạn, thời hiệu

Phần riêng: Dựa theo các nhóm quan hệ mà luật dân sự điều chỉnh, căn cứ vào khách thể của quan hệ dân sự, trong luật dân sự, các quy phạm được chia thành các chế định lớn tương ứng Các chế định lớn này có phần chung và chỉ áp dụng cho riêng phần đó Hiện nay, luật dân sự Việt Nam hình thành các chế định lớn sau đây:

Trang 22

+ Chế định quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản:

Đây là chế định trung tâm, quan trọng nhất không chỉ riêng cho luật dân sự mà cho cả hệ thống pháp luật nói chung Trong đó, quy định các hình thức sở hữu; đối tượng của quyền

sở hữu, quyền khác đối với tài sản; các căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản; nội dung quyền sở hữu, các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu đồng thời cũng quy định những hạn chế đối với chủ sở hữu, chủ thể

có quyền khác đối với tài sản trong việc thực hiện các quyền năng quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản

+ Chế định nghĩa vụ và hợp đồng: Đây là chế định lớn

nhất trong luật dân sự - là chế định dẫn xuất của chế định quyền sở hữu, gồm các quy định liên quan đến nghĩa vụ và các căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự Chế định lớn này được chia thành những chế định nhỏ sau:

- Những quy định chung về nghĩa vụ dân sự, căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự, thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm dân sự

và các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự;

- Hợp đồng dân sự thông dụng (mua bán, thuê tài sản );

- Chế định thực hiện công việc không có uỷ quyền;

- Chế định được lợi về tài sản không có căn cứ hợp pháp;

- Chế định trách nhiệm dân sự do gây thiệt hại (quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm do gây thiệt hại và một số trường hợp riêng biệt của trách nhiệm do gây thiệt hại)

+ Chế định thừa kế: Quy định về trình tự dịch chuyển di

sản của người chết cho những người còn sống, việc dịch chuyển di sản theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật

2 Khoa học luật dân sự và giáo trình luật dân sự

Trang 23

Tương ứng với mỗi ngành luật có môn khoa học pháp lí về ngành luật đó, với ngành luật dân sự có khoa học luật dân sự Với tư cách là một môn học, một phân ngành khoa học pháp

lí, khoa học luật dân sự là hệ thống những khái niệm, những quan điểm, phạm trù về những vấn đề rất khác nhau của luật dân sự Nó bao gồm việc xác định luật dân sự như là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật, các quan hệ xã hội mà luật dân sự điều chỉnh, các phương pháp điều chỉnh, các đặc trưng của quan hệ pháp luật, cấu thành các quan hệ đó , về lịch sử hình thành và phát triển của luật dân sự, mối liên kết giữa các chế định luật dân sự và với các ngành luật khác Khoa học luật dân sự nghiên cứu bản thân các quy phạm pháp luật dân sự, tính mâu thuẫn và thống nhất của nó, việc áp dụng luật dân sự trong đời sống xã hội, đưa ra những giải thích có tính khoa học các quy phạm pháp luật dân sự, tìm các lỗ hổng trong pháp luật và biện pháp khắc phục những

Phần thứ nhất: Lí giải luật dân sự như là một ngành luật

độc lập, có đối tượng và phương pháp điều chỉnh riêng; các nguyên tắc, nhiệm vụ của luật dân sự, nguồn của luật dân sự

và việc áp dụng luật dân sự; nghiên cứu quan hệ pháp luật dân

Trang 24

sự như là một loại quan hệ xã hội đặc biệt được các quy phạm pháp luật điều chỉnh; các thành tố cấu thành của quan hệ pháp luật dân sự: chủ thể, khách thể và nội dung; những yếu tố riêng biệt và các căn cứ làm phát sinh các quan hệ pháp luật dân sự; thời hạn, thời hiệu

Phần thứ hai: Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản:

Nghiên cứu những khái niệm chung về tài sản, quyền sở hữu,

sự phát triển các quan hệ sở hữu, quyền sở hữu, nội dung quyền sở hữu và các hình thức sở hữu, các căn cứ làm phát sinh, chấm dứt quyền sở hữu, phương thức bảo vệ quyền sở hữu và những hạn chế về quyền sở hữu

Phần thứ ba: Thừa kế: Xem xét việc kế quyền tổng hợp

của người sống đối với quyền và nghĩa vụ của người chết Việc dịch chuyển di sản của người chết cho những người còn sống theo ý chí của họ lúc còn sống và theo diện và hàng thừa

kế

Phần thứ tư: Nghĩa vụ và hợp đồng: Đề cập những quy

định chung về nghĩa vụ như là một loại quan hệ pháp luật dân

sự liên quan đến việc dịch chuyển tài sản và dịch vụ từ chủ thể này sang chủ thể khác; các căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ; các thành tố cấu thành quan hệ nghĩa vụ dân sự, việc thực hiện cũng như các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

V SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT LUẬT DÂN SỰ

Ngày 2/9/1945 nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được tuyên bố thành lập - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á Việc điều hành đất nước phải được thể chế hoá bằng các quy định của pháp luật Ngày 10/10/1945, không lâu

Trang 25

sau ngày nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã kí Sắc lệnh số 90/SL cho phép tạm sử dụng một số luật lệ hiện hành ở Bắc - Trung - Nam cho đến khi ban

hành những bộ luật duy nhất cho toàn quốc nếu “những luật

lệ ấy không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam

và chính thể dân chủ cộng hoà” Với tinh thần đó, BLDS

Nam Kì giản yếu năm 1883, Bộ dân luật Bắc Kì năm 1931 và

Bộ dân luật Trung Kì năm 1936 (Hoàng Việt Trung Kì Hộ luật) được tiếp tục thi hành Như vậy, tại ba miền Bắc - Trung

- Nam tồn tại ba bộ dân luật Tiếp đó, trong điều kiện chiến tranh khốc liệt của cuộc kháng chiến chống Pháp, để điều hành công việc của Nhà nước và điều chỉnh các giao lưu dân

sự trong điều kiện, hoàn cảnh mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã

kí nhiều sắc lệnh, trong đó Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950

“Sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật” có ý nghĩa đặc biệt trong sự phát triển của luật dân sự Sắc lệnh này một mặt không huỷ bỏ những quy định của các bộ dân luật cũ, mặt khác nó bổ sung, thay đổi làm cho các bộ luật của “đế quốc phong kiến” có nội dung mới, đem đến những biến đổi thực

sự trong cách thức sinh hoạt và tư tưởng của nhân dân Việt Nam, đặt cơ sở, những nguyên tắc cơ bản cho sự hình thành

và phát triển của luật dân sự - pháp luật dân sự của một Nhà nước độc lập, có chủ quyền Những nguyên tắc này thật sự dân chủ, tiến bộ, mang tính nhân dân sâu sắc và cho đến nay vẫn còn giữ nguyên ý nghĩa chủ đạo cho sự hình thành và vận dụng các quy định pháp luật dân sự mới Đó là các nguyên tắc

“Những quyền dân sự đều được luật bảo vệ khi người ta

hành xử nó đúng với quyền lợi của nhân dân” (Điều 1);

“Người ta chỉ được hưởng dụng và sử dụng các vật thuộc quyền sở hữu của mình một cách hợp pháp và không gây

Trang 26

thiệt hại đến quyền lợi của nhân dân” (Điều 12); “Người đàn

bà có chồng có toàn năng về mặt hộ” (Điều 6); “Khi lập ước

mà có sự tổn thiệt do sự bóc lột của một bên vì điều kiện kinh

tế của hai bên chênh lệch thì khế ước có thể bị coi là vô hiệu” (Điều 13) Những nguyên tắc được quy định trong Sắc

lệnh số 97/SL đã làm biến đổi sâu sắc bản chất những quy định của các bộ dân luật trước đó, làm cho các quy định này mang nội dung mới phù hợp với bản chất của xã hội mới Các BLDSBLDS của phong kiến, đế quốc đã bị huỷ bỏ theo Chỉ thị số 772/TATC ngày 10/7/1959 “Về vấn đề đình chỉ áp dụng luật pháp cũ của phong kiến đế quốc”

Hiến pháp năm 1959 ra đời đánh dấu một giai đoạn phát triển của quá trình lập pháp Việt Nam - Hiến pháp của Nhà nước dân chủ cộng hoà, hiến pháp của thời kì xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước Luật hôn nhân và gia đình được ban hành đã tách một mảng quan

hệ xã hội quan trọng không nằm trong đối tượng điều chỉnh của luật dân sự

Từ đầu những năm 80, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để điều chỉnh các quan hệ dân sự Đặc trưng của các quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự trong giai đoạn này là chịu ảnh hưởng sâu sắc của cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp, biện pháp hành chính được sử dụng phổ biến làm biến dạng các quan hệ dân sự với những đặc trưng của nó là bình đẳng, tự định đoạt giữa các chủ thể Phương pháp điều chỉnh của luật hành chính đã phổ cập trong các quan hệ dân sự

Trong giai đoạn này, các văn bản pháp luật được ban hành

Trang 27

dưới dạng nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ về kinh tế, không có văn bản dưới luật mang tính dân sự Nhiều lĩnh vực dân sự không được điều chỉnh trực tiếp như thừa kế, quyền sở hữu trí tuệ Những quy định

về nghĩa vụ dân sự đã được quy định nhưng chủ yếu về nhà ở,

về vàng bạc, kim khí quý, đá quý Các quy định này mang nặng tính chất hành chính

Để khắc phục các khiếm khuyết, những lỗ hổng trong đời sống xã hội không được điều chỉnh bằng các văn bản pháp luật dù dưới dạng nghị định, Toà án nhân dân tối cao đã ban hành các thông tư, chỉ thị Ngoài ra, hàng năm Toà án nhân dân tối cao tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn toà án nhân dân các cấp giải quyết các tranh chấp dân sự Những thông tư, chỉ thị, nghị quyết của Toà án nhân dân tối cao có giá trị như pháp luật đối với toà án cấp dưới Trong nhiều trường hợp, Toà án nhân dân tối cao đã giải thích những nghị định quá rộng làm biến dạng và không loại trừ những trường hợp trái cả các quy định của pháp luật

Nhưng xét lại những vấn đề nêu trên dưới góc độ lịch sử, điều kiện và hoàn cảnh của đất nước trong giai đoạn đó, chúng ta có thể thấy rằng khó có thể có lựa chọn nào khác Đất nước đang có chiến tranh, mục tiêu của chúng ta là hoàn thành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tập trung mọi nguồn lực, sức người, sức của để hoàn thành nhiệm vụ lớn lao của cách mạng, cho nên các quan hệ dân sự mang tính hành chính hoá và được giải quyết một cách nhanh chóng

Từ giữa những năm 80, khi đất nước bước vào thời kì đổi mới, phát triền nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự

Trang 28

quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo

vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm thể chế hoá các chủ trương, đường lối của Đảng về đổi mới kinh tế - xã hội Nhìn chung, các văn bản này đã góp phần phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần; bước đầu thể hiện được những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự là tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau phù hợp với thông lệ quốc tế trong giao lưu dân sự

Các văn bản ban hành trong giai đoạn này có hiệu lực tương đối cao thể hiện dưới dạng luật, pháp lệnh và các nghị định hướng dẫn thi hành, các luật và pháp lệnh được Quốc hội

và Hội đồng Nhà nước ban hành Các văn bản pháp luật dân

sự hoặc có liên quan đến lĩnh vực dân sự như: Luật hôn nhân gia đình (1986), Luật quốc tịch (1988), Pháp lệnh chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam (1988), Pháp lệnh về sở hữu công nghiệp (1989), Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (1989), Pháp lệnh về thừa kế (1990), Pháp lệnh về hợp đồng dân sự (1991), Pháp lệnh về nhà ở (1991), Pháp lệnh xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, đi lại của người nước ngoài tại Việt Nam (1992) Năm 1992, Nhà nước ta ban hành Hiến pháp mới - Hiến pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kì đổi mới Trên cơ sở Hiến pháp năm 1992, hàng loạt các văn bản pháp luật được ban hành, sửa đổi, điều chỉnh cho phù hợp với Hiến pháp như: Luật đất đai (1993); Pháp lệnh về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức trong nước được giao đất, cho thuê đất; Pháp lệnh về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá

Trang 29

nhân nước ngoài thuê đất tại Việt Nam; Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả (1994) Để hướng dẫn các luật, pháp lệnh, Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định, ngoài ra các cơ quan ngang bộ ban hành thông tư hướng dẫn nghị định…

Trong thực tế, còn nhiều vấn đề về dân sự chưa được pháp luật điều chỉnh như: các quan hệ về sở hữu tài sản, nghĩa vụ dân sự; các loại hợp đồng dân sự thông dụng; vấn đề bồi thường thiệt hại; về thực hiện công việc không có uỷ quyền; được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật; các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Mặt khác, do sự chuyển đổi của nền kinh tế, cơ chế quản lí kinh tế, nhiều quy định trong các văn bản pháp luật dân sự, kinh tế không còn phù hợp với giai đoạn đổi mới Điều này đã gây không ít khó khăn cho việc áp dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia quan hệ dân sự Vì thiếu văn bản pháp luật, cho nên toà án các cấp phải vận dụng các báo cáo tổng kết của Toà án nhân dân tối cao để giải quyết các vụ việc, những tranh chấp nảy sinh trong thực tế

BLDS được ban hành năm 1995 và có hiệu lực từ ngày 01/7/1996 đánh dấu bước quan trọng trong quá trình lập pháp của Nhà nước ta Bộ luật có tầm quan trọng “sau Hiến pháp” điều chỉnh các quan hệ xã hội đa dạng, phức tạp, làm nền tảng và định hướng cho việc phát triển các quan hệ dân sự, kinh tế, hôn nhân gia đình, lao động BLDS được ban hành có quy mô lớn nhất trong các bộ luật từ trước đến nay nhưng vì phạm vi điều chỉnh của Bộ luật quá rộng lớn, cho nên cần phải có rất nhiều các văn bản dưới luật hướng dẫn thực hiện và phải thành lập nhiều cơ quan chức năng để thực hiện các quy định của

Trang 30

BLDS

Qua 10 năm thi hành, BLDS đã phát huy vai trò to lớn trong việc tạo lập hành lang pháp lí điều chỉnh các quan hệ dân sự, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích Nhà nước và lợi ích công cộng Tuy nhiên, BLDS cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập như: BLDS là luật chung trong hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội giữa các chủ thể có địa vị pháp lí bình đẳng theo nguyên tắc tự thoả thuận

và tự chịu trách nhiệm nhưng thực tiễn xây dựng và áp dụng pháp luật của nước ta cho thấy nhiều văn bản pháp luật đều khoanh vùng áp dụng của các văn bản đó nên hiệu lực áp dụng của BLDS đã bị hạn chế rất nhiều; một số quy định trong BLDS không còn phù hợp với thực tế, có những quy định không rõ ràng hoặc không đầy đủ, quy định quá chung; trong BLDS còn có những quy định mang tính hành chính… Ngoài ra, nhiều luật mới được ban hành có những nội dung liên quan đến BLDS nhưng trong BLDS chưa được điều chỉnh hoặc chưa bổ sung sửa đổi cho phù hợp dẫn đến sự mâu thuẫn, bất cập trong hệ thống pháp luật Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, BLDS còn có những quy định chưa tương thích với các điều ước quốc tế và thông lệ quốc tế

Để khắc phục tình trạng trên, tháng 6/2005, Quốc hội khoá XI kì họp thứ 7 đã thông qua BLDS sửa đổi - BLDS năm 2005, có hiệu lực từ ngày 01/01/2006

Thực hiện thể chế hoá Cương lĩnh xây dựng đất nước thời

kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 – 2020

Trang 31

và yêu cầu về bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm

2013, ngày 24/11/2015, tại kì họp thứ 10 Quốc hội khoá 13

đã thông qua BLDS năm 2015 (Luật số 91/2015/QH13) BLDS năm 2015 cũng đã được Chủ tịch nước công bố theo Lệnh số 20/2015/L-CTN ngày 08/12/2015 BLDS năm 2015

có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017 và thay thế BLDS năm 2005 BLDS năm 2015 là đạo luật cơ bản của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự được hình thành trên

cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm của các bên tham gia quan hệ đó Đây là dấu mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển của pháp luật dân sự ở nước ta

B NGUỒN CỦA LUẬT DÂN SỰ

I KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI NGUỒN CỦA LUẬT DÂN SỰ

1 Khái niệm nguồn của luật dân sự

Nguồn của pháp luật đã được nghiên cứu trong lí luận chung về nhà nước và pháp luật Về mặt xã hội học, nguồn của pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị đưa lên thành luật

mà nội dung được xác định bởi các điều kiện chính trị, kinh tế tồn tại trong xã hội cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật Pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị đưa thành luật, thể hiện quan điểm giai cấp về hình mẫu xã hội, trong đó các quan

hệ xã hội nào được điều chỉnh bằng pháp luật và với phương thức nào là do giai cấp thống trị quy định thông qua hoạt động

Trang 32

lập pháp của nhà nước

Mỗi ngành luật là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định cách thức xử sự của các chủ thể tham gia vào các quan hệ

đó phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị Trong điều kiện

của chúng ta hiện nay - Đảng “là lực lượng lãnh đạo Nhà

nước và xã hội” (Điều 4 Hiến pháp năm 1992), là đại biểu

trung thành của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, của dân tộc thì pháp luật là sự thể chế hoá đường lối của Đảng trong từng giai đoạn cách mạng Đường lối, chủ trương của

Đảng được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thể chế hoá bằng quá trình lập pháp Bởi vậy, “Nhà nước ta phải có đủ

quyền lực và đủ khả năng định ra luật pháp và tổ chức, quản

lí mọi mặt đời sống bằng pháp luật”.(1)

Nguồn của luật dân sự hiểu theo nghĩa hẹp là những văn bản pháp luật (hình thức của pháp luật) do cơ quan nhà nước

có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ tài sản

và các quan hệ nhân thân Một văn bản được coi là nguồn của luật dân sự phải đáp ứng những yêu cầu sau đây:

- Văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành;

- Chứa đựng các quy phạm pháp luật dân sự;

- Phải ban hành theo trình tự, thủ tục do luật định

2 Phân loại nguồn của luật dân sự

Theo nguyên tắc chung, các quy phạm pháp luật dân sự đều có hiệu lực bắt buộc thi hành Nhưng căn cứ vào hình

Trang 33

thức của văn bản, cơ quan ban hành và hiệu lực pháp luật của văn bản, nguồn của luật dân sự có thể được chia thành các loại sau:

- Hiến pháp;

- BLDS;

- Các luật, bộ luật liên quan;

- Các văn bản dưới luật

- Án lệ

a Hiến pháp

Hiến pháp là đạo luật cơ bản, đạo luật gốc của một quốc gia, là “xương sống, trụ cột” của hệ thống pháp luật, là cơ sở xây dựng các văn bản pháp luật khác Hiến pháp là đạo luật

cơ bản của hệ thống pháp luật, căn cứ vào quy định của Hiến pháp, các ngành luật cụ thể hoá bằng các quy định để tác động tới các quan hệ mà nó có nhiệm vụ điều chỉnh

Đối với luật dân sự, Hiến pháp là nguồn đặc biệt quan trọng, mặc dù Hiến pháp chỉ quy định những vấn đề chung nhất của luật dân sự Hiến pháp năm 1992 quy định những nguyên tắc cơ bản của chế độ xã hội Việt Nam ở giai đoạn đầu thời kì quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội với nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong Hiến pháp năm 2013, Chương II và Chương III có những quy định liên quan nhiều nhất đến luật dân sự:

(1).Xem: Văn kiện Đại hội Đảng thời kì đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội, 2006, tr 328

Trang 34

Chương II – Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân: Ngoài những quyền về chính trị - xã hội, Hiến pháp còn xác nhận những quyền dân sự cơ bản của công dân,

đó là quyền tự do kinh doanh; quyền sở hữu những thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở; quyền thừa kế, quyền bình đẳng về năng lực pháp luật của cá nhân; các quyền nhân thân

và quyền tài sản khác

Chương III - Kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, khoa học công nghệ và môi trường

Điều 51 quy định: “1 Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế

thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức

sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo

2 Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật

3 Nhà nước khuyến kh ch, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu

tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hoá”

b Bộ luật dân sự

BLDS là nguồn chủ yếu, trực tiếp và quan trọng nhất của luật dân sự BLDS năm 2015 gồm 6 phần, 27 chương và 689 điều với nhiều chế định mới, tiến bộ, thể hiện một cách đầy đủ

Trang 35

nhất với tính chất là luật chung và định hướng cho việc xây dựng các văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự đặc thù, xử lílí bất cập của luật hiện hành, giải quyết được những vướng mắc trong thực tiễn cuộc sống

Đây là bộ luật lớn nhất của Nhà nước ta về mọi phương diện: phạm vi điều chỉnh, thời gian chuẩn bị thông qua, số lượng điều luật BLDS đã thể chế hoá Cương lĩnh chiến lược phát triển kinh tế xã hội, các nghị quyết của Đảng và cụ thể hoá Hiến pháp năm 2013 nhằm bảo vệ quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, góp phần giải phóng sức sản xuất, khuyến khích mọi thành phần kinh

tế, mọi tầng lớp dân cư sống và làm việc theo pháp luật, vì sự nghiệp phát triển đất nước, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh,

xã hội công bằng, văn minh; xây dựng các chuẩn mực pháp lí cho các tổ chức, cá nhân khi tham gia vào các quan hệ dân sự nhằm tăng cường quản lí xã hội bằng pháp luật theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thể hiện truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái của dân tộc ta BLDS góp phần hạn chế tranh chấp tiêu cực trong các quan hệ dân sự, bảo đảm dân chủ, công bằng, ổn định, đoàn kết trong nội bộ nhân dân, mỗi người vì cộng đồng và cộng đồng vì mỗi người Đồng thời, việc ban hành BLDS là thực hiện một bước quan trọng pháp điển hoá pháp luật dân sự, khắc phục tình trạng tản mạn, không đầy đủ của pháp luật trong lĩnh vực dân sự, nhằm phát huy vai trò tác dụng của pháp luật dân sự trong việc đẩy mạnh các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, tạo cơ sở thuận lợi cho việc áp dụng thi hành pháp luật BLDS cũng là sự kế thừa, phát triển của pháp luật dân sự của ông cha ta và những tinh hoa của pháp luật dân sự

Trang 36

trên thế giới vận dụng vào điều kiện cụ thể của chúng ta hiện nay

Nội dung chủ yếu của BLDS năm 2015:

Phần thứ nhất: Những quy định chung

Phần này được kết cấu bởi 10 chương với 157 điều Nội dung chủ yếu của phần này là xác định phạm vi điều chỉnh của BLDS năm 2015, địa vị pháp của cá nhân, pháp nhân Hộ gia đình, tổ hợp tác và tổ chức khác không có tư cách pháp nhân trong quan hệ dân sự Đồng thời quy định những nguyên tắc cơ bản trong việc xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự, giải quyết các tranh chấp và áp dụng luật dân sự; quy định các căn cứ xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự, là nền tảng của các quy định cụ thể trong toàn Bộ luật Ngoài ra, còn quy định các quyền nhân thân của cá nhân như họ tên , nơi cư trú, tuyên bố chết, quy định về tài sản, quy định về giao dịch dân

sự, về đại diện, thời hạn, thời hiệu

Những quy định trong phần này mang tính chất chung, xuyên suốt toàn bộ nội dung của BLDS và được cụ thể hoá trong tất cả các phần của BLDS nhằm bảo đảm tính thống nhất về nội dung, tránh tình trạng trùng lặp không cần thiết

Phần thứ hai: Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản

Phần này gồm 4 chương, 115 điều (từ Điều 158 đến Điều 273), quy định những nguyên tắc cơ bản của quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản, chiếm hữu, các hình thức sở hữu, nội dung quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản, các căn

cứ xác lập, chấm dứt quyền sở hữu và bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản; đặc biệt Chương XIV với tiêu đề

Trang 37

“Quyền khác đối với tài sản” quy định về quyền đối với bất động sản liền kề, quyền hưởng dụng và quyền bề mặt

Xuất phát từ vai trò chi phối của cơ sở kinh tế hạ tầng đối với pháp luật, BLDS khẳng định vị trí trung tâm của chế định quyền sở hữu trong các chế định luật dân sự Trong mọi xã hội, phương thức chiếm hữu của cải vật chất và chế độ sở hữu

có ý nghĩa quyết định BLDS cụ thể hoá quy định về chế độ sở hữu mà Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định, tạo cơ sở pháp lí cho các quy định cụ thể ở các phần tiếp theo của BLDS và các văn bản pháp luật khác về quan hệ tài sản Những quy định ở phần này thể hiện tính định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm được quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác, khuyến khích phát triển tài sản, mở rộng đầu tư và phát triển sản xuất, kinh doanh

Phần thứ ba: Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự

Phần này gồm 5 chương, 334 điều (từ Điều 274 đến Điều 608) Đây là phần có số điều luật lớn nhất của BLDS, quy định những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự; nguyên tắc xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt nghĩa vụ dân sự; các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và trách nhiệm dân sự nói chung và trách nhiệm dân sự đối với từng loại nghĩa vụ riêng biệt Với tư cách là căn cứ chủ yếu, thông dụng

và hợp pháp làm phát sinh nghĩa vụ dân sự, hợp đồng dân sự được quy định tương xứng phù hợp với quy mô của nó, bao gồm những quy định chung về hợp đồng và một số hợp đồng dân sự thông dụng trong đời sống dân sự thường ngày

Nghĩa vụ dân sự là loại quan hệ dân sự mang tính chất

“động”, liên quan đến việc dịch chuyển tài sản, dịch vụ từ chủ

Trang 38

thể này sang chủ thể khác Đối tượng của nghĩa vụ có thể là tài sản, một việc phải làm hoặc không được làm Tài sản và công việc được làm, không được làm là những đối tượng của nghĩa vụ dân sự rất đa dạng, phức tạp, cho nên các quy định trong phần này của BLDS chủ yếu là những quy định khung

có tính chất định tính mà không thiên về định lượng Bởi vậy, các nguyên tắc cơ bản được quy định là những định hướng cho việc xác lập, thực hiện nghĩa vụ và xuyên suốt phần này của BLDS Những nguyên tắc cơ bản đó là:

+ Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác có quyền tự do giao kết hợp đồng nhưng không trái pháp luật và đạo đức xã hội, trên cơ sở bình đẳng với nhau và bình đẳng trước pháp luật;

+ Người có nghĩa vụ dân sự phải thực hiện nghĩa vụ của mình một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác, đúng cam kết, không trái pháp luật và đạo đức xã hội;

+ Người nào hưởng lợi mà không có căn cứ thì phải hoàn trả lại;

+ Người nào vi phạm quyền dân sự của người khác thì phải chịu trách nhiệm dân sự, nếu gây thiệt hại phải bồi thường

Những nguyên tắc cơ bản và các quy định trong phần này nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia quan hệ dân sự; bảo vệ lợi ích của Nhà nước và lợi ích công cộng; góp phần đáp ứng các nhu cầu vật chất, tinh thần của nhân dân; đẩy mạnh giao lưu dân sự trong nước cũng như với ngoài nước đồng thời giải phóng mọi lực lượng sản xuất nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội ở nước ta

Phần thứ tư: Thừa kế

Trang 39

Phần này gồm 4 chương, 53 điều (từ Điều 609 đến Điều 662) quy định việc dịch chuyển di sản của người chết cho những người còn sống; về người để lại di sản, người hưởng di sản; những nguyên tắc của việc dịch chuyển di sản và các trình tự dịch chuyển di sản; thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật BLDS quy định những nguyên tắc cơ bản của thừa kế là bình đẳng, quyền tự định đoạt của người có di sản

để lại và của người hưởng di sản Nhằm bảo vệ quyền tự định đoạt của người có di sản, Bộ luật quy định về việc thừa kế theo di chúc và các hình thức của di chúc, quyền của người lập di chúc trong việc định đoạt tài sản của họ thông qua di chúc Người thừa kế có quyền nhận hay không nhận di sản thừa kế, nếu nhận di sản họ phải thực hiện nghĩa vụ của người chết để lại trong phạm vi di sản đã nhận Phần này cũng xác định những trường hợp thừa kế theo luật, những người thừa

kế và các hàng thừa kế; thừa kế thế vị và thừa kế của những người liên quan Ngoài ra, còn quy định về trình tự thanh toán

di sản và cách thức phân chia di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật

Phần thứ năm: Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự

có yếu tố nước ngoài

Phần này gồm 3 chương, 24 điều (từ Điều 663 đến Điều 687) quy định về thẩm quyền và pháp luật được áp dụng khi giải quyết các tranh chấp dân sự (hiểu theo nghĩa rộng) có yếu

tố nước ngoài

c Luật

Khi BLDS được ban hành với tư cách là nguồn chủ yếu quan trọng thì các đạo luật khác có giá trị như là nguồn bổ trợ Bởi vì, BLDS có quy định: Nếu pháp luật có quy định hoặc

Trang 40

trong BLDS chỉ dẫn rõ một đạo luật nào đó được áp dụng thì

áp dụng quy định đó Với ý nghĩa đó, các luật như Luật hôn nhân và gia đình, Luật doanh nghiệp, Luật phá sản doanh nghiệp, Luật đất đai, Luật trẻ em, Luật về bảo vệ và phát triển rừng là nguồn của luật dân sự

d Nghị quyết của Quốc hội

Đây là văn bản do Quốc hội ban hành, có hiệu lực như văn bản pháp luật Kể từ khi ban hành BLDS, Quốc hội đã ban hành 2 nghị quyết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với luật dân sự, đó là: Nghị quyết ngày 28/10/1995 về việc thi hành BLDS Nghị quyết đã liệt kê những văn bản pháp luật hết hiệu lực khi BLDS bắt đầu có hiệu lực và quy định phạm vi áp dụng BLDS để giải quyết các tranh chấp phát sinh trước ngày BLDS có hiệu lực; Nghị quyết số 58 ngày 20/8/1998 về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01/7/1991 có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến giao dịch dân sự về nhà ở giai đoạn trước ngày 01/7/1991, nội dung có tính đến mọi mặt xã hội đối với vấn đề nhà ở

đ Các văn bản dưới luật

+ Pháp lệnh: Là văn bản do Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành Trước đây, khi chưa ban hành BLDS thì pháp lệnh

là loại nguồn quan trọng phổ biến của luật dân sự Nhưng đến nay, các pháp lệnh đó không còn hiệu lực Các pháp lệnh sau này có thể được ban hành để giải thích, hướng dẫn cụ thể những quy định của BLDS hoặc pháp lệnh sẽ quy định những lĩnh vực mà chưa đủ chín muồi để ban hành luật

Ngày đăng: 02/08/2020, 13:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Mạnh Bách, Luật dân sự Việt Nam lược khảo, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật dân sự Việt Nam lược khảo
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
2. Nguyễn Ngọc Điện, Một số suy nghĩ về thừa kế trong luật dân sự Việt Nam, Nxb. Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số suy nghĩ về thừa kế trong luật dân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh
3. Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận về tặng, cho và di chúc trong luật dân sự Việt Nam, Nxb. Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận về tặng, cho và di chúc trong luật dân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh
4. Hoàng Thế Liên, Một số vấn đề về pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỉ XV đến thời Pháp thuộc, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỉ XV đến thời Pháp thuộc
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
5. Phùng Trung Tập, Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay (Phần I và II), Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
6. Phùng Trung Tập, Luận bàn về các hình thức sở hữu và sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng, Nxb. Chính trị-hành chính, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận bàn về các hình thức sở hữu và sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng
Nhà XB: Nxb. Chính trị-hành chính
7. Phạm Văn Tuyết, Thừa kế - Quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thừa kế - Quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trong pháp luật dân sự Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trong pháp luật dân sự Việt Nam
2. Trường Đại học Luật Hà Nội, Quyền nhân thân và bảo vệ quyền nhân thân theo pháp luật dân sự, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền nhân thân và bảo vệ quyền nhân thân theo pháp luật dân sự
3. Trường Đại học Luật Hà Nội, Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung chế định pháp luật về hình thức sở hữu trong BLDS năm 2005, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung chế định pháp luật về hình thức sở hữu trong BLDS năm 2005
4. Trường Đại học Luật Hà Nội, Đăng kí bất động sản - những vấn đề lí luận và thực tiễn, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đăng kí bất động sản - những vấn đề lí luận và thực tiễn
5. Trường Đại học Luật Hà Nội, Quyền hiến mô, bộ phận cơ thể và hiến xác của cá nhân - một số vấn đề lí luận và thực tiễn, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền hiến mô, bộ phận cơ thể và hiến xác của cá nhân - một số vấn đề lí luận và thực tiễn
6. Trường Đại học Luật Hà Nội, Nghiên cứu chế định về thừa kế nhằm góp phần sửa đổi Bộ luật dân sự 2005, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Hà Nội, 2012.* Bài tạp chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chế định về thừa kế nhằm góp phần sửa đổi Bộ luật dân sự 2005
1. Phạm Kim Anh, “Luật dân sự và luật hôn nhân và gia đình”, Tạp chí khoa học pháp lí, số 2/2000, tr. 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật dân sự và luật hôn nhân và gia đình”, "Tạp chí khoa học pháp lí
2. Trần Kim Chi, “Những quy định mới về thừa kế trong BLDS năm 2005”, Tạp chí kiểm sát, số 2/2006, tr. 48 - 50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quy định mới về thừa kế trong BLDS năm 2005”, "Tạp chí kiểm sát
3. Đỗ Văn Chỉnh, “Di sản không có người thừa kế hoặc từ chối nhận di sản - vấn đề cần có hướng dẫn”, Tạp chí toà án nhân dân, số 20/2006, tr. 35 - 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản không có người thừa kế hoặc từ chối nhận di sản - vấn đề cần có hướng dẫn”, "Tạp chí toà án nhân dân
4. Nguyễn Văn Cừ, “Thời kì hôn nhân - căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng”, Tạp chí toà án nhân dân, số 23/2006, tr. 7 - 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời kì hôn nhân - căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng”, "Tạp chí toà án nhân dân
5. Chế Mỹ Phương Đài, “Bàn thêm về thừa kế thế vị”, Tạp chí khoa học pháp lí, số 2/2000, tr. 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về thừa kế thế vị”, "Tạp chí khoa học pháp lí
6. Đỗ Ngọc Đại, “Bàn về hợp đồng vô hiệu do được giao kết bởi người mất năng lực hành vi dân sự qua một vụ án”, Tạp chí khoa học pháp lí, số 4/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về hợp đồng vô hiệu do được giao kết bởi người mất năng lực hành vi dân sự qua một vụ án”, "Tạp chí khoa học pháp lí
7. Đỗ Ngọc Đại, Đỗ Văn Hữu, “Phải xác định căn cứ pháp lí khi kiện đòi tài sản”, nguồn: http://vietnamese-law- consultancy.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phải xác định căn cứ pháp lí khi kiện đòi tài sản

TỪ KHÓA LIÊN QUAN