1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình luật dân sự việt nam tập 2

368 621 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 368
Dung lượng 3,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, nghĩa vụ còn được hiểu là một quan hệ pháp luật, trong đó quyền dân sự và các nghĩa vụ dân sự của các bên chủ thể phát sinh từ quan hệ đó phải được thực hiện dưới sự đảm bảo củ

Trang 1

GIÁO TRÌNH LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

TẬP II

Trang 2

1254-2019/CXBIPH/12-12/CAND

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

GIÁO TRÌNH LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

TẬP II

(Tái bản)

NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN

HÀ NỘI - 2019

Trang 4

Chủ biên

PGS.TS ĐINH VĂN THANH

TS NGUYỄN MINH TUẤN

TS NGUYỄN MINH TUẤN Chương VII, VIII, IX

PGS.TS PHẠM VĂN TUYẾT Chương VI

Trang 5

CHƯƠNG VI

NGHĨA VỤ VÀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ

A NGHĨA VỤ

I LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGHĨA VỤ

1 Khái niệm, đặc điểm của nghĩa vụ

1.1 Khái niệm nghĩa vụ

Nghĩa vụ, theo nghĩa chung nhất là việc mà theo quy định của pháp luật hay vì đạo đức mà bắt buộc phải làm hoặc không được làm đối với xã hội, đối với người khác Theo cách hiểu này thì nghĩa vụ là mối liên hệ giữa hai hay nhiều người với nhau, trong đó một bên phải thực hiện hoặc không được thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định vì lợi ích của bên kia Việc một bên phải thực hiện hoặc không được thực hiện một số hành vi nhất định có thể không được đặt dưới sự bảo đảm của nhà nước bằng pháp luật, pháp luật không buộc người

đó phải thực hiện, họ thực hiện công việc đó hoàn toàn theo lương tâm và vì uy tín của mình Ở phương diện này, nghĩa vụ

được điều chỉnh bởi các quy phạm đạo đức và thuộc về nghĩa

vụ đạo đức Chẳng hạn, giúp người già qua đường, giúp đỡ

người tàn tật, nhường chỗ cho người già, phụ nữ trên xe buýt

là những công việc phải làm vì đạo đức

Những công việc phải làm hoặc không được phép làm theo

Trang 6

quy định của pháp luật là nghĩa vụ pháp luật nói chung Trong

đó, các công việc phải làm hoặc không được phép làm theo quy

định của pháp luật dân sự là nghĩa vụ dân sự

Nghĩa vụ có thể được hiểu là một bộ phận không tách rời trong nội dung của một quan hệ pháp luật dân sự Bao gồm những hành vi mà một bên chủ thể phải thực hiện vì lợi ích của chủ thể bên kia như chuyển giao tài sản, thực hiện một công việc hoặc không được thực hiện một công việc đã được các bên tham gia quan hệ đó hoặc pháp luật xác định v.v Bên có nghĩa

vụ phải thực hiện các nghĩa vụ trước quyền yêu cầu của phía bên kia

Mặt khác, nghĩa vụ còn được hiểu là một quan hệ pháp luật, trong đó quyền dân sự và các nghĩa vụ dân sự của các bên chủ thể phát sinh từ quan hệ đó phải được thực hiện dưới sự đảm bảo của pháp luật

Các BLDS của Việt Nam thời Pháp thuộc (Bộ dân luật Bắc

kì năm 1931 và Bộ dân luật Trung kì năm 1936) đã có những định nghĩa về nghĩa vụ dân sự:

"Nghĩa vụ dân sự là mối liên lạc về luật thực tại hay luật thiên nhiên, bó buộc một hay nhiều người phải làm hay đừng làm sự gì đối với một hay nhiều người nào đó

Người bị bó buộc vào nghĩa vụ gọi là người mắc nợ, người được hưởng nghĩa vụ gọi là người chủ nợ".(1)

"Nghĩa vụ là cái dây liên lạc về luật thực tại hay luật thiên nhiên bó buộc một hay nhiều người phải làm hay đừng làm sự

gì đối với một hay nhiều người nào đó, người bị bó buộc là người mắc nợ hay trái hộ, người được hưởng là chủ nợ hay

(1).Xem: Điều 644 Bộ luật dân luật Bắc kì năm 1931

Trang 7

là nghĩa vụ luân lí

Nghĩa vụ được định nghĩa tại Điều 274 BLDS năm 2015

như sau: " Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)

1.2 Đặc điểm của nghĩa vụ

Nếu nhìn nhận nghĩa vụ ở trạng thái là một quan hệ pháp luật dân sự thì so với các quan hệ pháp luật dân sự khác, quan

hệ nghĩa vụ có một số đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, nghĩa vụ là sự ràng buộc pháp lý giữa ít nhất là

hai người đứng về hai phía chủ thể khác nhau

(1).Xem: Điều 675 Bộ dân luật Trung kì năm1936

(2).Xem: Điều 642 Bộ dân luật Bắc kì năm 1931

(3).Xem: Điều 677 Bộ dân luật Trung kì năm 1936

Trang 8

Dù được hình thành theo thoả thuận hay theo luật định thì nghĩa vụ luôn là sự ràng buộc giữa các bên về việc phải làm hay không được làm một việc nhất định Bên phải làm một công việc nếu không làm sẽ phải gánh chịu chế tài của luật Tuỳ từng trường hợp, mỗi bên trong nghĩa vụ có thể có nhiều người hoặc nhiều chủ thể khác tham gia nhưng cũng có thể mỗi một bên chỉ có một người tham gia

Thứ hai, quyền và nghĩa vụ dân sự của hai bên chủ thể đối

lập nhau một cách tương ứng và chỉ có hiệu lực trong phạm vi giữa các chủ thể đã được xác định

Nghĩa vụ và quyền luôn đi đôi với nhau, nói đến quyền là nói đến nghĩa vụ Tuy nhiên, nói đến quyền và nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ là nói đến sự đối lập, tính tương ứng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên Nói một cách cụ thể hơn, quyền của bên này sẽ là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại Bên này có bao nhiêu quyền với phạm vi bao nhiêu thì bên kia sẽ có bấy nhiêu nghĩa vụ với phạm vi tương ứng Mặt khác, trong quan hệ nghĩa vụ, cả chủ thể mang quyền, cả chủ thể mang nghĩa vụ luôn luôn được xác định một cách cụ thể nên quyền của bên này chỉ là nghĩa vụ của bên kia Nói cách khác, mối quan hệ về quyền và nghĩa vụ trong quan hệ này không liên quan đến người khác ngoài các chủ thể đã được xác định cụ thể Trong một số trường hợp, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ này có thể liên quan đến người thứ ba nhưng

người thứ ba đó phải là người đã được xác định cụ thể trước Ví

dụ, trong quan hệ cho vay, bên có quyền đòi nợ là người đã cho

vay, bên có nghĩa vụ trả nợ là người vay nhưng cũng có thể người phải trả khoản nợ đó lại là người thứ ba (là người bảo lãnh đã được các bên xác định trước)

Trang 9

Chính từ đặc điểm này mà quan hệ pháp luật về nghĩa vụ được coi là loại quan hệ pháp luật tương đối Đồng thời cũng qua đặc điểm này, chúng ta thấy rằng quan hệ pháp luật về nghĩa vụ hoàn toàn khác với quan hệ pháp luật về sở hữu Trong quyền sở hữu, chỉ có chủ thể mang quyền là được xác định cụ thể nên tất cả các chủ thể khác đều phải có nghĩa vụ tôn trọng các quyền dân sự của chủ thể mang quyền đó Chủ sở hữu tự thực hiện các quyền đối với tài sản để đáp ứng các nhu cầu của mình, vì vậy quyền đân sự trong quan hệ pháp luật về

sở hữu là quyền tuyệt đối

Thứ ba, quan hệ nghĩa vụ là quan hệ trái quyền nên quyền

của các bên chủ thể là quyền đối nhân

Nếu trong quan hệ sở hữu, quyền của chủ thể mang quyền được thực hiện bằng hành vi của chính họ thì trong quan hệ nghĩa vụ dân sự quyền của bên này lại được thực hiện thông qua hành vi của chủ thể phía bên kia Nói cách khác, quyền của bên này chỉ được đáp ứng khi bên kia đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của họ Mặt khác, nếu việc thực hiện quyền trong quan hệ sở hữu là việc tác động trực tiếp đến vật thì trong nghĩa vụ dân sự người mang quyền dân sự không được tác động trực tiếp đến tài sản của người mang nghĩa vụ Khi người mang nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đó, người mang quyền chỉ có thể sử dụng các phương thức mà pháp luật

đã quy định để tác động và yêu cầu người đó phải thực hiện nghĩa vụ cho mình Nói cách khác, trong nghĩa vụ, quyền của người này là đối với người có nghĩa vụ bên kia chứ không đối với tài sản của họ

2 Các yếu tố của quan hệ nghĩa vụ

2.1 Chủ thể của nghĩa vụ

Trang 10

Chủ thể của quan hệ pháp luật nói chung là những người tham gia quan hệ pháp luật đó Chủ thể của quan hệ nghĩa vụ là những người tham gia vào quan hệ nghĩa vụ, bao gồm: Cá nhân, pháp nhân, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Các chủ thể này có những quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ nghĩa vụ mà họ tham gia

Các chủ thể này khi tham gia một quan hệ nghĩa vụ sẽ thiết lập mối liên hệ pháp lý về quyền và nghĩa vụ giữa hai bên Trong đó, một bên được gọi là người có quyền, một bên được gọi là người có nghĩa vụ

- Bên có quyền: Là một bên trong quan hệ nghĩa vụ được

pháp luật bảo đảm quyền được yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không được thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định vì lợi ích của mình

- Bên có nghĩa vụ: Là một bên trong quan hệ nghĩa vụ buộc

phải thực hiện hoặc không được thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định vì lợi ích của bên có quyền

Tuỳ theo tính chất của từng quan hệ nghĩa vụ cụ thể mà có những quan hệ nghĩa vụ trong đó một bên chỉ có quyền yêu cầu nhưng không phải gánh vác nghĩa vụ, còn một bên có nghĩa vụ thực hiện cho bên kia công việc nhất định mà không có quyền yêu cầu Những quan hệ nghĩa vụ ở dạng này được gọi là quan

hệ đơn vụ

Mặt khác, trong phần lớn các quan hệ nghĩa vụ thì mỗi bên chủ thể tham gia đều có quyền yêu cầu bên kia thực hiện những hành vi nhất định nhằm đem lại lợi ích cho mình Và ngược lại

họ cũng phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định nhằm đáp ứng lợi ích cho phía bên kia Nghĩa là, trong những quan hệ nghĩa

vụ, mỗi bên chủ thể vừa là người có quyền, vừa là người có

Trang 11

nghĩa vụ Những quan hệ nghĩa vụ ở dạng này được gọi là quan

hệ song vụ Khi xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong các quan hệ nghĩa vụ mang tính song vụ cần phải xem xét để xác định tương ứng với hành vi nhất định, chủ thể nào là người

có nghĩa vụ thực hiện hành vi đó

Ví dụ: Quan hệ nghĩa vụ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng

mua bán tài sản là quan hệ song vụ Trong đó, đối với hành vi giao vật bán thì bên bán là người có nghĩa vụ, đối với hành vi

trả tiền thì bên mua là người có nghĩa vụ

2.2 Nội dung của nghĩa vụ

Khi tham gia quan hệ nghĩa vụ, mỗi bên hướng tới lợi ích nhất định Theo đó, lợi ích mà một bên hướng tới chỉ đạt được khi bên kia thực hiện đầy đủ các hành vi mang tính nghĩa vụ của họ Quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự là hai yếu tố cấu thành nội dung của quan hệ nghĩa vụ

Vì vậy, có thể nói nội dung của quan hệ nghĩa vụ là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ nghĩa

vụ có thể do các bên tự thoả thuận xác định hoặc do luật định Bao gồm:

- Quyền yêu cầu: Là xử sự mà bên có quyền được phép

thực hiện theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật Xử

sự được coi là quyền trong quan hệ nghĩa vụ chính là quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không được thực hiện những hành vi nhất định

- Nghĩa vụ dân sự: Là xử sự bắt buộc theo thoả thuận hoặc

theo quy định của pháp luật mà bên có nghĩa vụ phải thực hiện

Xử sự được coi là nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ chính là việc phải thực hiện hành vi nhất định như chuyển giao vật,

Trang 12

chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của bên có quyền

vụ phát sinh từ một hợp đồng mua bán tài sản, để đạt được lợi ích của mình, bên mua quan tâm đến hành vi giao vật bán của bên bán, bên bán quan tâm đến hành vi trả tiền của bên mua Mặt khác, để bên bán giao vật bán cho mình, bên mua phải thực hiện hành vi trả tiền, để bên mua trả tiền, bên bán phải thực hiện hành vi giao vật Vì vậy, hành vi thực hiện nghĩa vụ

là khách thể trong quan hệ nghĩa vụ

Khách thể của quan hệ nghĩa vụ là những xử sự của các bên chủ thể mà chỉ thông qua đó, quyền yêu cầu cũng như nghĩa vụ của các chủ thể mới được thực hiện

Hành vi thực hiện nghĩa vụ là một phương tiện mà thông qua đó, quyền lợi của các chủ thể được thực hiện Vì vậy, trong các quan hệ nghĩa vụ, hành vi là cái mà các chủ thể đều hướng

Trang 13

tới, là khách thể nói chung của mọi quan hệ nghĩa vụ Tuy nhiên, tương ứng với sự đa dạng của các quan hệ nghĩa vụ, hành vi là khách thể của quan hệ nghĩa vụ cũng rất đa dạng, phong phú

Trong nhiều quan hệ nghĩa vụ, hành vi của các chủ thể gắn liền với một vật nhất định mà nếu không có vật đó sẽ không có

hành vi Ví dụ: Nếu không có vật bán sẽ không có hành vi giao

vật bán Vật được gắn liền với hành vi trong quan hệ nghĩa vụ, được gọi là đối tượng của nghĩa vụ Đối tượng của nghĩa vụ có

ý nghĩa quan trọng Nếu thông qua hành vi thực hiện nghĩa vụ của một bên, quyền của bên kia sẽ được thoả mãn thì chỉ thông qua tính chất, đặc điểm của đối tượng mới thấy được quyền của bên có quyền đã được thoả mãn ở mức độ nào Vì vậy, trong các quan hệ nghĩa vụ mà hành vi với tư cách là khách thể của quan

hệ nghĩa vụ đó gắn liền với vật thì bên có quyền không chỉ quan tâm tới hành vi mà còn quan tâm đến vật gắn liền với hành vi

đó Ví dụ: Trong quan hệ nghĩa vụ phát sinh từ một hợp đồng

mua bán tài sản, người mua không chỉ quan tâm đến việc người bán có chuyển vật bán cho mình hay không mà còn quan tâm đến vật mà người bán chuyển giao có đúng với số lượng, chất lượng hoặc tình trạng như đã thoả thuận hay không

Trái lại, trong các quan hệ nghĩa vụ mà hành vi của chủ thể không gắn liền với vật thì bên có quyền chỉ cần quan tâm đến

việc thực hiện hành vi đó của chủ thể mang nghĩa vụ Ví dụ:

Trong quan hệ nghĩa vụ phát sinh từ một hợp đồng dịch vụ thì bên thuê dịch vụ chỉ cần quan tâm đến việc bên cung ứng dịch

vụ thực hiện hành vi cung ứng dịch vụ như thế nào, có bảo đảm quyền và lợi ích của mình hay không

Hành vi (sự xử sự của các chủ thể) có thể được thể hiện ở

Trang 14

dạng hành động (tác vi) nhưng cũng có thể được thể hiện ở dạng không hành động (bất tác vi) Nếu hành vi là hành động và kết quả được tạo ra từ hành vi đó là vật cụ thể thì hành vi này được gọi là hành vi được vật chất hoá Trái lại, nếu kết quả đó không phải là một vật cụ thể, thì hành vi này là hành vi không được vật chất hoá Ngoài ra, trong nhiều trường hợp hành vi còn tồn tại ở dạng không hành động (khi đối tượng của nghĩa vụ là một công việc không được làm) Trong những trường hợp này, người ta

quan tâm đến sự "bất động" của nhau, vì chính sự "bất động"

đó sẽ bảo đảm lợi ích cho bên có quyền

3 Đối tượng của nghĩa vụ

3.1 Khái niệm và các loại đối tượng của nghĩa vụ

Đối tượng của nghĩa vụ là cái mà các bên tác động tới trong việc xác lập, thực hiện quan hệ nghĩa vụ với nhau

Trong quan hệ nghĩa vụ, hành vi của các chủ thể sẽ tác động vào một tài sản, một công việc cụ thể nào đó Những tài sản, công việc này chính là đối tượng của việc thực hiện nghĩa

vụ dân sự Tuỳ thuộc vào tính chất và nội dung của từng quan

hệ nghĩa vụ cụ thể mà đối tượng của nó có thể là một tài sản, một công việc phải làm hoặc một công việc không được làm Điều 276 BLDS năm 2015 quy định:

" 1 Đối tượng của nghĩa vụ là tài sản, công việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện.

2 Đối tượng của nghĩa vụ phải được xác định”

Từ quy định trên cho thấy, đối tượng của nghĩa vụ có thể là:

- Đối tượng của nghĩa vụ là tài sản

Đa phần các nghĩa vụ dân sự đều có đối tượng là tài sản Tài sản trong luật dân sự được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ

Trang 15

là những vật có thực mà còn bao gồm cả tiền, các giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản Tài sản là vật có thể là động sản hoặc bất động sản, có thể là vật chia được hoặc là vật không chia được, có thể là vật cùng loại hoặc vật đặc định, có thể là vật được xác định theo chủng loại hay được xác định là vật đồng bộ Tuỳ theo tính chất của từng loại tài sản cụ thể trong quan hệ nghĩa vụ dân sự mà các bên thoả thuận để xác định nội dung của quan hệ nghĩa vụ.Vật là đối tượng của nghĩa

vụ có thể là vật hiện hữu (vật có thực), có thể là vật được hình thành trong tương lai

- Đối tượng của nghĩa vụ là công việc phải làm

Công việc phải làm được coi là đối tượng của nghĩa vụ, nếu

từ một công việc được nhiều người xác lập với nhau một quan

hệ nghĩa vụ mà theo đó, người có nghĩa vụ phải thực hiện công việc theo đúng nội dung đã được xác định

Công việc phải làm có thể được hoàn thành với một kết quả nhất định nhưng cũng có thể không gắn liền với một kết quả (do các bên thoả thuận hoặc do tính chất của công việc) Mặt khác, kết quả của công việc phải làm có thể được biểu hiện dưới dạng một vật cụ thể nhưng cũng có thể không biểu hiện dưới dạng một vật cụ thể nào (các loại dịch vụ)

Thông thường, các quan hệ nghĩa vụ có đối tượng là công việc phải làm là những quan hệ nghĩa vụ phát sinh từ các hợp đồng mang tính dịch vụ như hợp đồng vận chuyển, hợp đồng gửi giữ tài sản

- Đối tượng của nghĩa vụ là công việc không được làm

Công việc không được làm là đối tượng của nghĩa vụ trong những trường hợp các bên từ công việc đó xác lập với nhau

Trang 16

một quan hệ nghĩa vụ, theo đó một bên có nghĩa vụ không được thực hiện công việc theo nội dung mà các bên đã xác định

Ví dụ: Hai người có bất động sản liền kề nhau thoả thuận

một bên nhận ở bên kia một khoản tiền và cam kết không xây dựng nhà trên đất của mình để khỏi che lấp nhà của bên kia (thời hạn không được xây nhà được xác định theo thoả thuận của hai bên)

3.2 Điều kiện đối với đối tượng của nghĩa vụ

Qua việc xem xét đối tượng của nghĩa vụ dân sự ở các dạng

cụ thể thì một tài sản, một công việc phải làm hoặc một công việc không được làm chỉ được coi là đối tượng của nghĩa vụ dân sự khi chúng thoả mãn các điều kiện sau đây:

- Phải đáp ứng được lợi ích nào đó cho chủ thể có quyền Thông thường, lợi ích mà chủ thể có quyền hướng tới là một lợi ích vật chất (vật cụ thể, khoản tiền v.v.) nhưng cũng có thể là một lợi ích tinh thần

Để chủ thể có quyền đạt được lợi ích vật chất nếu đối tượng của nghĩa vụ dân sự là một vật cụ thể thì vật đó phải mang đầy

đủ các thuộc tính của hàng hoá (giá trị và giá trị sử dụng) Nếu đối tượng của nghĩa vụ là công việc thì việc phải làm hoặc việc không được làm phải hướng tới lợi ích của người có quyền Khi làm hoặc không làm công việc đó sẽ đem đến cho bên kia lợi ích nhất định

Trang 17

xác định rõ trong nội dung của quan hệ nghĩa vụ ấy

Nếu đối tượng của nghĩa vụ là vật thì các bên phải xác định

rõ về số lượng, trọng lượng, khối lượng, tính chất, tình trạng của tài sản thông qua việc kiểm đếm và các giấy tờ liên quan (nếu có) Nếu là tài sản hình thành trong tương lai thì phải có các giấy tờ liên quan xác định cụ thể về tài sản đó và các căn

cứ để chứng minh tài sản đó chắc chắn sẽ hình thành và khi hình thành sẽ thuộc sở hữu của một trong các bên Nếu là giấy

tờ có giá hoặc quyền tài sản thì bên đưa tài sản đó làm đối tượng của nghĩa vụ phải có đầy đủ bằng chứng chứng minh tài sản đó thuộc sở hữu của mình

- Đối tượng của nghĩa vụ có thể thực hiện được

Nếu đối tượng của nghĩa vụ dân sự là việc không thể thực hiện được sẽ không thoả mãn được lợi ích của chủ thể có quyền Vì vậy, nếu đối tượng là tài sản thì phải là những tài sản

có thể đem giao dịch được, nếu là công việc thì phải là những công việc có thể thực hiện được

Khi xem xét đối tượng của nghĩa vụ có thể thực hiện được hay không cần xác định theo hai vấn đề sau:

Thứ nhất, xác định theo đặc tính của bản thân đối tượng,

đối tượng vốn dĩ là vật không thể xác định được hoặc nếu đối tượng là công việc nhưng về bản chất đó là công việc không thể thực hiện được sẽ không thể đem giao dịch

Thứ hai, do pháp luật cấm hoặc trái đạo đức xã hội Những

tài sản mà pháp luật cấm giao dịch, những công việc mà pháp luật cấm làm hoặc những việc nếu làm sẽ trái với đạo đức xã hội cũng là những đối tượng không thể thực hiện được Vì vậy,

nó không bao giờ được coi là đối tượng của nghĩa vụ dân sự Ví

dụ: Thuốc phiện là một vật có thực nhưng không thể đem giao

Trang 18

dịch được vì đã bị pháp luật cấm lưu thông

Mặt khác, một người chỉ có thể dùng tài sản làm đối tượng giao dịch nếu họ là chủ sở hữu của tài sản, là người được chủ

sở hữu uỷ quyền giao dịch hoặc là người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

II CÁC LOẠI NGHĨA VỤ

Như đã xác định ở phần trước, chủ thể của nghĩa vụ là những người tham gia quan hệ nghĩa vụ Họ đứng về hai phía và

có quyền, nghĩa vụ dân sự đối lập nhau một cách tương ứng Một quan hệ nghĩa vụ được hình thành làm phát sinh mối liên hệ

về quyền và nghĩa vụ giữa ít nhất là hai người đứng ở hai phía đối lập nhau (một người có quyền, một người có nghĩa vụ) nhưng cũng có thể mối liên hệ đó là giữa nhiều người đối với nhau (nhiều người có quyền, nhiều người có nghĩa vụ) Đồng thời cũng có nhiều quan hệ nghĩa vụ mà quyền, nghĩa vụ liên quan đến cả người thứ ba Căn cứ vào chủ thể tham gia, tính chất, đặc điểm, nội dung và phương thức thực hiện nghĩa vụ mà nghĩa vụ có thể được phân thành các loại sau đây:

vụ của bên kia và ngược lại Tuy nhiên, nếu là quan hệ song vụ thì cần xác định ai là người có quyền, ai là người có nghĩa vụ tương ứng với từng hành vi cụ thể

2 Nghĩa vụ nhiều người

Trang 19

Nghĩa vụ nhiều người là nghĩa vụ mà trong đó, một bên chủ thể có nhiều người tham gia

Nghĩa vụ nhiều người có thể là một trong các dạng sau:

- Nhiều người có nghĩa vụ đối với một người có quyền;

- Nhiều người có quyền đối với một người có nghĩa vụ;

- Nhiều người có nghĩa vụ đối với nhiều người có quyền Trong những trường hợp này, cần phải xác định rõ phạm vi quyền yêu cầu của mỗi một người có quyền đối với người có nghĩa vụ, cũng như phạm vi nghĩa vụ mà từng người có nghĩa

vụ phải thực hiện trước người có quyền Mặt khác, cần phải xác định giữa những người có nghĩa vụ hoặc giữa những người

có quyền có mối liên quan như thế nào trong quá trình cùng nhau thực hiện nghĩa vụ hoặc cùng nhau hưởng quyền Vì vậy, đối với các quan hệ nghĩa vụ nhiều người cần phải xác định là nghĩa vụ riêng rẽ hay nghĩa vụ liên đới

3 Nghĩa vụ dân sự riêng rẽ

Điều 287 BLDS năm 2015 quy định: " Khi nhiều người cùng thực hiện một nghĩa vụ, nhưng mỗi người có một phần nghĩa vụ nhất định và riêng rẽ thì mỗi người chỉ phải thực hiện phần nghĩa

vụ của mình "

Nghĩa vụ dân sự riêng rẽ là loại nghĩa vụ nhiều người, trong

đó mỗi một người trong số những người có nghĩa vụ chỉ phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình hoặc mỗi người trong số những người có quyền chỉ có thể yêu cầu người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ cho riêng phần quyền của mình

Bản chất của loại nghĩa vụ này là không có sự liên quan lẫn nhau giữa những người cùng thực hiện nghĩa vụ, cũng như không có sự liên quan trong việc thực hiện quyền yêu cầu của

Trang 20

những người có quyền Nếu nhiều người có nghĩa vụ thì nghĩa

vụ được xác định thành từng phần và mỗi người thực hiện nghĩa vụ theo phần của mình một cách riêng rẽ Người nào thực hiện xong nghĩa vụ của mình thì quan hệ nghĩa vụ giữa người đó với người có quyền sẽ chấm dứt (họ không phải chịu trách nhiệm đối với phần nghĩa vụ mà những người có nghĩa

vụ khác chưa thực hiện) Nếu nhiều người có quyền thì mỗi người chỉ có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa

vụ cho riêng phần quyền của mình (không được phép yêu cầu người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ) Khi một trong số những người có quyền đó nhận được sự thực hiện nghĩa vụ đối với phần quyền cuả mình thì quan hệ nghĩa vụ giữa người đó với người có nghĩa vụ được coi là chấm dứt Quan hệ nghĩa vụ giữa người có nghĩa vụ với những người có quyền khác vẫn tồn tại và vẫn có hiệu lực

4 Nghĩa vụ dân sự liên đới

Để quyền dân sự của các chủ thể được bảo đảm, trong một

số trường hợp, nghĩa vụ nhiều người sẽ được xác định là nghĩa

vụ dân sự liên đới nếu các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định Mục đích của việc xác định một nghĩa vụ liên đới khi

có nhiều người tham gia quan hệ nghĩa vụ là buộc những người

có nghĩa vụ phải cùng nhau gánh vác toàn bộ nghĩa vụ nhằm bảo đảm quyền lợi cho chủ thể có quyền được trọn vẹn, kể cả khi có một trong số những người có nghĩa vụ không có khả năng thực hiện nghĩa vụ Vì vậy, trong quan hệ nghĩa vụ liên đới, những người có nghĩa vụ luôn luôn liên quan với nhau trong cả quá trình thực hiện toàn bộ nghĩa vụ cũng như quyền yêu cầu của những người có quyền luôn được coi là một thể thống nhất Nghĩa vụ dân sự liên đới là loại nghĩa vụ nhiều người, trong

Trang 21

đó, một trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn

bộ nội dung của nghĩa vụ hoặc một trong số những người có quyền đều có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ

Nếu đối tượng của nghĩa vụ là một vật được xác định và vật

đó là vật không chia được hoặc đối tượng là một công việc mà theo tính chất công việc đó phải được thực hiện cùng một lúc thì được gọi là nghĩa vụ không phân chia được theo phần Ngược lại, nếu đối tượng của nghĩa vụ là một vật chia được hoặc công việc có thể thực hiện theo từng phần khác nhau thì được gọi là nghĩa vụ phân chia được theo phần (nghĩa vụ theo phần)

6 Nghĩa vụ hoàn lại

Luật thực định không có định nghĩa về nghĩa vụ hoàn lại Tuy vậy, trong nhiều trường hợp, từ quy định của pháp luật đã làm hình thành một nghĩa vụ mới sau một nghĩa vụ trước đó Chẳng hạn tại khoản 2 Điều 288 BLDS năm 2015 đã quy định:

" Trường hợp một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với mình”.

Trong khoa học pháp lí, thuật ngữ nghĩa vụ hoàn lại được dùng để chỉ những nghĩa vụ phát sinh từ một nghĩa vụ khác Vì vậy, nghĩa vụ hoàn lại có thể được hiểu như sau:

Trang 22

Nghĩa vụ hoàn lại là một quan hệ nghĩa vụ, trong đó một bên có quyền yêu cầu bên kia (người có nghĩa vụ) thanh toán lại khoản tiền hoặc lợi ích vật chất khác mà người có quyền đã thay người có nghĩa vụ thực hiện cho người khác hoặc một bên

có nghĩa vụ phải hoàn trả cho bên có quyền khoản tiền hay lợi ích vật chất mà họ đã nhận được từ người khác trên cơ sở quyền yêu cầu của bên có quyền

Thông thường, từ một nghĩa vụ dân sự liên đới có thể làm phát sinh nghĩa vụ hoàn lại theo một trong hai trường hợp sau đây:

- Khi một trong số những người có nghĩa vụ liên đới đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì người đó trở thành người có quyền trong quan hệ nghĩa vụ hoàn lại, có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thanh toán cho mình khoản tiền hoặc lợi ích vật chất mà người đó đã bỏ ra để thay họ thực hiện cho người có quyền trong quan hệ nghĩa vụ dân sự liên đới trước đó

- Khi một trong số những người có quyền liên đới đã nhận việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ của người có nghĩa vụ thì người đó trở thành người có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ hoàn lại Người đã nhận việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ có nghĩa vụ hoàn lại cho mỗi người có quyền liên đới khác khoản lợi ích vật chất mà người này đã thay họ để nhận từ người có nghĩa vụ trong nghĩa vụ dân sự liên đới trước đó

Ngoài ra, theo quy định của BLDS, nghĩa vụ hoàn lại còn phát sinh trong các trường hợp sau:

- Nghĩa vụ hoàn lại phát sinh từ một nghĩa vụ trước trong trường hợp nghĩa vụ trước có thoả thuận biện pháp bảo lãnh Trường hợp này được quy định tại Điều 340 BLDS năm 2015:

Trang 23

“Bên bảo lãnh có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đối với mình trong phạm vi nghĩa vụ bảo lãnh đã thực hiện, trừ trường hợp có thoả thuận khác"

- Nghĩa vụ hoàn lại phát sinh giữa người của pháp nhân với pháp nhân sau khi pháp nhân đã bồi thường cho người bị thiệt hại do người của pháp nhân gây ra được quy định tại Điều 597

BLDS năm 2015: "Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do

người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật"

- Nghĩa vụ hoàn lại phát sinh giữa người thi hành công vụ theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Theo luật này, người thi hành công vụ gây thiệt hại phải hoàn lại cho ngân sách nhà nước một khoản tiền theo quy định của pháp luật

- Nghĩa vụ hoàn lại phát sinh giữa người làm công, học nghề với chủ làm công, dạy nghề sau khi chủ làm công, dạy nghề đã bồi thường cho người bị thiệt hại do người làm công gây ra trong khi thực hiện công việc được giao

Nghĩa vụ hoàn lại mang một số đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, nghĩa vụ hoàn lại bao giờ cũng phát sinh từ một

nghĩa vụ cơ bản khác Nó không thể phát sinh với ý nghĩa là một nghĩa vụ đầu tiên

Thứ hai, trong nghĩa vụ hoàn lại bao giờ cũng có một người

liên quan đến cả hai quan hệ nghĩa vụ Người đó, nếu là người

đã thực hiện nghĩa vụ trong quan hệ trước thì trong quan hệ nghĩa vụ hoàn lại họ là người có quyền Ngược lại, nếu trong quan hệ trước đó họ là người đã hưởng quyền thì ở nghĩa vụ

Trang 24

hoàn lại họ là người có nghĩa vụ

Thứ ba, nếu nghĩa vụ hoàn lại là nghĩa vụ nhiều người thì

theo nguyên tắc, nghĩa vụ đó được xác định là nghĩa vụ riêng

rẽ Người có quyền trong quan hệ nghĩa vụ hoàn lại chỉ có thể đòi từng người có nghĩa vụ hoàn lại cho mình phần mà mình đã thực hiện thay cho người đó Nếu một người đã hưởng quyền dân sự trên cơ sở quyền yêu cầu của nhiều người thì mỗi người trong số họ chỉ có quyền yêu cầu người đó hoàn lại cho phần quyền của riêng mình

7 Nghĩa vụ bổ sung

Thuật ngữ “bổ sung” cho thấy chức năng của nghĩa vụ này

là thực hiện phần nội dung của nghĩa vụ chính trước đó khi đến thời hạn mà nghĩa vụ chính không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ Như vậy, nghĩa vụ bổ sung bao giờ cũng có mối liên quan đối với một nghĩa vụ chính Nói cách khác, nghĩa vụ bổ sung làm cho quyền và nghĩa vụ dân sự không chỉ là mối liên hệ giữa hai bên trong một quan hệ nghĩa

vụ mà còn liên quan đến cả người thứ ba

Khoa học pháp lí dùng thuật ngữ nghĩa vụ bổ sung để chỉ nghĩa vụ của người thứ ba đối với người có quyền trong quan

hệ nghĩa vụ chính Người thứ ba chỉ có nghĩa vụ khi có sự thoả thuận giữa họ với người có quyền hoặc trong những trường hợp mà pháp luật quy định

Chẳng hạn, sự thoả thuận giữa các bên trong quan hệ bảo lãnh là căn cứ làm xuất hiện một nghĩa vụ bổ sung Trong trường hợp này, bên cạnh quan hệ nghĩa vụ giữa người có quyền với người có nghĩa vụ (được gọi nghĩa vụ chính) còn có mối quan hệ nghĩa vụ giữa người có quyền với người bảo lãnh

Trang 25

(gọi là nghĩa vụ bổ sung) Xét về mối liên quan giữa nó với nghĩa vụ chính thì nghĩa vụ này còn được gọi là nghĩa vụ phụ

Vì rằng người bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thay cho người được bảo lãnh nếu đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà người có nghĩa vụ chính không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ Mặt khác, hiệu lực của loại nghĩa

vụ này phụ thuộc vào hiệu lực của nghĩa vụ chính Ví dụ: Nếu

hợp đồng cho vay bị coi là vô hiệu thì vấn đề bảo lãnh cũng bị coi là vô hiệu (trừ trường hợp hợp đồng vay tài sản đã được thực hiện)

III THAY ĐỔI CHỦ THỂ TRONG QUAN HỆ NGHĨA VỤ Trong một quan hệ nghĩa vụ, các bên là người trực tiếp thực hiện nghĩa vụ và trực tiếp hưởng quyền theo nội dung của quan

hệ ấy trong suốt quá trình kể từ khi quan hệ nghĩa vụ được xác lập cho đến khi chấm dứt hoàn toàn Tuy nhiên, rất nhiều trường hợp, để tiện lợi trong việc thực nghĩa vụ hoặc vì những lí do nhất định, các bên có thể thoả thuận cho một người thứ ba thay thế một trong hai bên Người thứ ba này có thể là người kế tục pháp lí về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trước (họ sẽ là người thế quyền nếu thay thế người có quyền, là người thế nghĩa vụ nếu thay thế người có nghĩa vụ) Mặt khác, người thứ

ba có thể chỉ là người thực hiện nghĩa vụ thay cho người có nghĩa vụ hoặc thực hiện quyền yêu cầu thay cho người có quyền trên cơ sở sự uỷ quyền của những người này

Như vậy, sẽ có sự thay đổi về chủ thể của một quan hệ nghĩa vụ trong những trường hợp sau đây:

1 Chuyển giao quyền yêu cầu

Chuyển giao quyền yêu cầu là sự thoả thuận giữa người có quyền trong quan hệ nghĩa vụ dân sự với người thứ ba nhằm

Trang 26

chuyển giao quyền yêu cầu cho người đó Người thứ ba gọi là người thế quyền trở thành người có quyền mới có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ cho mình Chuyển giao quyền yêu cầu quy định từ Điều 365 đến Điều

369 BLDS năm 2015

Như vậy, thực chất của việc chuyển giao quyền yêu cầu là người thứ ba thay thế người có quyền trước tham gia vào một quan hệ nghĩa vụ hoàn toàn với tư cách là một chủ thể Người

đã chuyển quyền yêu cầu chấm dứt quan hệ nghĩa vụ với người

có nghĩa vụ Do đó, người chuyển giao quyền yêu cầu hoàn toàn không phải chịu trách nhiệm về khả năng thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ (trừ trường hợp có thoả thuận khác) Nếu người có nghĩa vụ không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ thì người thế quyền với tư cách là người

có quyền mới được phép thực hiện các quyền yêu cầu của mình theo quy định của pháp luật Người chuyển quyền yêu cầu chỉ phải chịu trách nhiệm trước người thế quyền về hiệu lực của quyền yêu cầu (quyền yêu cầu có đúng pháp luật không, thời hạn còn hay đã hết) Vì vậy, người chuyển giao quyền yêu cầu phải cung cấp thông tin cần thiết, chuyển giao giấy tờ có liên quan đến quyền yêu cầu cho người thế quyền Nếu quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm kèm theo thì người chuyển giao quyền yêu cầu phải chuyển giao luôn biện pháp bảo đảm đó và người thế quyền trở thành bên nhận bảo đảm

Việc chuyển quyền yêu cầu có thể thông qua hình thức viết hoặc miệng Nếu pháp luật có quy định việc chuyển giao quyền yêu cầu phải thể hiện bằng văn bản, có chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì các bên phải tuân theo hình thức

và thủ tục đó

Trang 27

Về nguyên tắc, việc chuyển giao quyền yêu cầu không cần

có sự đồng ý của người có nghĩa vụ vì trong mọi trường hợp người có nghĩa vụ đều phải thực hiện đúng nội dung của nghĩa

vụ đã được xác định Dĩ nhiên, người chuyển quyền phải báo cho người có nghĩa vụ biết về việc chuyển giao quyền yêu cầu Luật quy định việc thông báo này phải được thực hiện bằng văn bản vì văn bản này là chứng cứ để chứng minh người có nghĩa

vụ đã chấm dứt nghĩa vụ với bên có quyền đồng thời là cơ sở để người có nghĩa vụ biết được họ phải thực hiện nghĩa vụ đó với người thứ ba Vì vậy, nếu bên có nghĩa vụ không được thông báo về việc chuyển giao quyền yêu cầu thì có quyền từ chối việc thực hiện nghĩa vụ đối với người thế quyền Trong trường hợp bên có nghĩa vụ do không được thông báo về việc chuyển giao quyền yêu cầu mà đã thực hiện nghĩa vụ đối với người chuyển giao quyền yêu cầu thì người thế quyền không được yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình Bên có quyền yêu cầu không được chuyển giao quyền yêu cầu nếu các bên trong quan hệ nghĩa vụ đã thoả thuận không được chuyển giao quyền yêu cầu hoặc quyền yêu cầu đó gắn liền với nhân thân của bên có quyền như: Quyền yêu cầu cấp dưỡng, yêu cầu bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín

2 Thực hiện quyền yêu cầu thông qua người thứ ba

Trong trường hợp người có quyền không có điều kiện để trực tiếp thực hiện quyền yêu cầu thì có thể thông qua người thứ ba để thực hiện quyền yêu cầu đó Tuy nhiên, người thứ ba chỉ là người nhân danh người có quyền để yêu cầu người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ vì lợi ích của người có quyền

Để có cơ sở cho người thứ ba yêu cầu người có nghĩa có

Trang 28

nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ thì giữa người có quyền với người thứ ba phải xác lập một hợp đồng uỷ quyền, trong đó xác định

rõ về phạm vi uỷ quyền Người có nghĩa vụ chỉ phải thực hiện nghĩa vụ trước người thứ ba theo nội dung uỷ quyền đó

Có thể phân biệt chuyển giao quyền yêu cầu với thực hiện quyền yêu cầu thông qua người thứ ba qua một số vấn đề sau:

- Về nội dung của quan hệ

Chuyển giao quyền yêu cầu là một quan hệ pháp luật được hình thành từ sự thoả thuận giữa các bên thông qua một trong các hình thức như mua bán, tặng cho, trao đổi, theo đó quyền tài sản (quyền yêu cầu) được chuyển giao từ bên này sang bên kia Thực hiện quyền yêu cầu thông qua người thứ ba là thoả thuận giữa người có quyền yêu cầu với người thứ ba, theo đó người có quyền yêu cầu uỷ quyền cho người thứ ba nhân danh mình thực hiện quyền yêu cầu trước người có nghĩa vụ

- Về tư cách tham gia và thực hiện quan hệ nghĩa vụ của người thứ ba

Trong trường hợp chuyển giao quyền yêu cầu thì người thứ

ba là bên có quyền (người mang quyền mới do được thế quyền) trước người có nghĩa vụ còn trong trường hợp thực hiện quyền yêu cầu thông qua người thứ ba thì người thứ ba (người được

uỷ quyền) chỉ nhân danh người có quyền để yêu cầu người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ

- Về cơ sở thực hiện quyền yêu cầu

Trong chuyển giao quyền yêu cầu, cơ sở thực hiện quyền yêu cầu là kết quả thoả thuận chuyển giao quyền yêu cầu từ bên

có quyền cho bên thế quyền được thể hiện thông qua văn bản hoặc các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh quyền yêu cầu đã

Trang 29

được chuyển giao và có hiệu lực Trong thực hiện quyền yêu cầu thông qua người thứ ba, cơ sở thực hiện quyền yêu cầu là kết quả thoả thuận từ một hợp đồng uỷ quyền thường được thể hiện bằng văn bản hợp đồng hoặc theo thông báo của người có quyền yêu cầu tới người có nghĩa vụ về việc uỷ quyền đó

- Về phạm vi quyền yêu cầu

Trong chuyển giao quyền yêu cầu, người thế quyền là chủ thể bên mang quyền nên phạm vi quyền yêu cầu là toàn bộ quyền đã được chuyển giao (thường là được quyền yêu cầu bên

có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nội dung của nghĩa vụ mà trước đó họ phải thực hiện đối với bên đã chuyển giao quyền yêu cầu) Trong thực hiện quyền yêu cầu thông qua người thứ

ba thì người thứ ba chỉ được yêu cầu người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ đó trong phạm vi đã được uỷ quyền

- Về sự ràng buộc nghĩa vụ

Khi quyền yêu cầu đã được chuyển giao thì quan hệ nghĩa

vụ giữa người có nghĩa vụ với người có quyền chấm dứt và phát sinh quan hệ nghĩa vụ giữa người có nghĩa vụ với bên thế quyền Do vậy, người có nghĩa vụ chỉ thực hiện nghĩa vụ và chịu trách nhiệm trước người thế quyền nếu không thực hiện nghĩa vụ đó

Trong thực hiện quyền yêu cầu thông qua người thứ ba thì chủ thể mang quyền vẫn là bên có quyền trong quan hệ nghĩa

vụ nên người có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm trước bên mang quyền nếu không thực hiện nghĩa vụ theo yêu cầu của người thứ ba

3 Chuyển giao nghĩa vụ

Chuyển giao nghĩa vụ là sự thoả thuận giữa người có nghĩa

vụ với người khác trên cơ sở đồng ý của người có quyền nhằm

Trang 30

chuyển nghĩa vụ cho người khác Người thế nghĩa vụ trở thành người có nghĩa vụ mới (gọi là người thế nghĩa vụ) phải thực hiện nghĩa vụ trước người có quyền (Điều 370, Điều 371) Như vậy, thực chất của việc chuyển giao nghĩa vụ là một thoả thuận tay ba, theo đó người thứ ba thay thế người có nghĩa

vụ cũ để trở thành chủ thể có nghĩa vụ mới của quan hệ nghĩa

vụ trước đó Người có nghĩa vụ cũ chấm dứt hoàn toàn quan hệ nghĩa vụ với người có quyền Do đó, kể từ thời điểm việc chuyển nghĩa vụ có hiệu lực, người có quyền chỉ được phép yêu cầu người thế nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ dân sự Người

đã chuyển nghĩa vụ hoàn toàn không phải chịu trách nhiệm về khả năng thực hiện nghĩa vụ của người thế nghĩa vụ

Trong quan hệ nghĩa vụ dân sự, quyền của một bên có được đảm bảo hay không hoàn toàn phụ thuộc vào việc thực hiện nghĩa vụ của bên kia Điều kiện, khả năng, ý thức thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ là những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến việc hưởng quyền của bên có quyền Vì vậy, nếu chuyển giao quyền yêu cầu không cần có sự đồng ý của người có nghĩa

vụ thì việc chuyển giao nghĩa vụ lại cần thiết phải có sự đồng ý của người có quyền Ai sẽ người thay thế việc thực hiện nghĩa

vụ, điều kiện, khả năng, ý thức của người đó như thế nào là những vấn đề mà người có quyền luôn luôn phải quan tâm vì nó ảnh hưởng một cách trực tiếp đến việc hưởng quyền của họ Tuỳ theo từng trường hợp, việc chuyển giao nghĩa vụ có thể được xác lập bằng văn bản hoặc bằng miệng Tuy nhiên, trong trường hợp pháp luật có quy định việc chuyển giao nghĩa vụ phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, đăng kí hoặc phải xin phép thì các bên phải tuân theo quy định đó

Trang 31

Nếu nghĩa vụ được chuyển giao là một nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm thì biện pháp bảo đảm đó đương nhiên chấm dứt (trừ trường hợp các bên không có thoả thuận khác)

4 Thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba

Thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba là sự thoả thuận giữa người có quyền với người có nghĩa vụ, theo đó người có nghĩa vụ uỷ quyền cho người thứ ba thay mình thực hiện nghĩa

vụ dân sự

Như vậy, trường hợp này thực chất là một hợp đồng uỷ quyền nên không làm thay đổi về chủ thể của nghĩa vụ (người thứ ba chỉ là người nhân danh người có nghĩa vụ để thay họ thực hiện nghĩa vụ trước người có quyền) Do đó, người thứ ba trong trường hợp này chỉ phải thực hiện nghĩa vụ theo nội dung uỷ quyền Người có nghĩa vụ (người uỷ quyền) vẫn phải chịu trách nhiệm trước người có quyền nếu người thứ ba không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ dân sự

Nghĩa vụ dân sự được phát sinh khi các chủ thể thiết lập

với nhau một hợp đồng dân sự Ví dụ: Hai bên giao kết hợp

đồng mua bán tài sản thì tại thời điểm hợp đồng đó được coi là

có hiệu lực pháp luật sẽ làm hình thành giữa hai bên các nghĩa

vụ giao vật, trả tiền v.v Tuy nhiên, hợp đồng dân sự chỉ làm phát sinh nghĩa vụ nếu đó là một hợp đồng có hiệu lực (các bên giao kết hợp đồng phải tuân theo các điều kiện mà pháp luật

Trang 32

quy định đối với một hợp đồng)

Trong thực tế, khi hợp đồng vô hiệu, các bên có nghĩa vụ phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận (trừ trường hợp tài sản là đối tượng của hợp đồng và các khoản lợi có được từ hợp đồng bị tịch thu theo quy định của pháp luật) Vì vậy, có quan điểm cho rằng, hợp đồng vô hiệu cũng làm phát sinh quan hệ nghĩa vụ giữa các bên Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận khi hợp đồng vô hiệu

là nghĩa vụ phát sinh từ quy định của pháp luật về giải quyết hậu quả của một hợp đồng vô hiệu Nghĩa vụ này hoàn toàn không phải là sự thoả thuận giữa các bên nên không phải là nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng

1.2 Hành vi pháp lí đơn phương

Hành vi pháp lí đơn phương là hành vi thể hiện ý chí của một bên chủ thể nhằm qua đó làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Đây là một loại giao dịch dân sự, trong đó chỉ biểu hiện ý chí đơn phương của một bên

Vì vậy có làm phát sinh một quan hệ nghĩa vụ dân sự hay không còn phụ thuộc vào sự tiếp nhận ý chí này của những người khác (những người sẽ là chủ thể phía bên kia của giao dịch dân sự đó)

Hành vi pháp lí đơn phương chỉ làm phát sinh một nghĩa vụ khi ý chí đã thể hiện trong đó không trái pháp luật và đạo đức

xã hội Đồng thời nếu sự thể hiện ý chí đó có kèm theo một số điều kiện nhất định thì chỉ khi nào những người khác thực hiện

đúng các điều kiện đó mới làm phát sinh nghĩa vụ giữa các bên

1.3 Chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không

có căn cứ pháp luật

Việc chiếm hữu, sử dụng tài sản của một người chỉ được

Trang 33

pháp luật thừa nhận và bảo đảm nếu người đó là chủ sở hữu của tài sản hoặc là người được chủ sở hữu chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng thông qua giao dịch dân sự phù hợp với ý chí của chủ sở hữu hay người đó là người được phép chiếm hữu, sử dụng tài sản trong các trường hợp do pháp luật quy định Vì vậy, ngoài những người nói trên, việc chiếm hữu, sử dụng tài sản sẽ bị coi là không có căn cứ pháp luật và do đó sẽ làm phát sinh một quan hệ nghĩa vụ mà trong đó, người chiếm hữu, sử dụng tài sản có nghĩa vụ phải trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp Nghĩa vụ hoàn trả do được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật phát sinh kể từ khi người được lợi có khoản lợi đó trong tay Từ thời điểm người đó biết hoặc phải biết việc được lợi thì phải hoàn trả khoản lợi mà mình đã thu được

1.4 Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật

Khi một người thực hiện một hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh sự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của người khác sẽ làm phát sinh một quan hệ luật dân sự, trong đó người có những hành vi nói trên có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra cho phía bên kia Nghĩa vụ này còn gọi là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Về mặt nội dung, quan hệ bồi thường thiệt hại được xác định là một nghĩa vụ dân sự vì trong đó có thể hiện quá trình dịch chuyển lợi ích vật chất từ chủ thể này sang chủ thể khác Khoản lợi ích mà người có hành vi trái pháp luật phải bồi thường bao giờ cũng được xác định thành một khoản vật chất (tiền hoặc lợi ích vật chất khác)

Về hình thức, quan hệ bồi thường thiệt hại là một trách nhiệm dân sự, một dạng cụ thể của trách nhiệm pháp lí nói chung Vì vậy, khi việc bồi thường thiệt hại được thực hiện

Trang 34

dưới dạng một trách nhiệm dân sự, phải do cơ quan nhà nước

có thẩm quyền áp dụng bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước Trong đó, người có hành vi trái pháp luật phải gánh chịu một hậu quả bất lợi về tài sản

1.5 Thực hiện công việc không có uỷ quyền

Thực hiện công việc không có uỷ quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó hoàn toàn vì lợi ích của người khác khi người có công việc được thực hiện không biết hoặc biết mà không phản đối

Thực hiện công việc không có uỷ quyền là căn cứ làm phát sinh quan hệ nghĩa vụ dân sự giữa người thực hiện công việc với người được thực hiện công việc, trong đó người được thực hiện công việc có nghĩa vụ thanh toán các chi phí hợp lí mà người thực hiện công việc không có uỷ quyền đã bỏ ra để thực hiện công việc đồng thời phải trả thù lao cho người thực hiện công việc Tuy nhiên, nếu người đã thực hiện công việc không yêu cầu thanh toán cũng như không yêu cầu trả thù lao thì người được thực hiện công việc không phải thực hiện các nghĩa vụ này Nếu một người thực hiện một công việc vì lợi ích của người khác nhưng công việc đó không phù hợp với mong muốn của người được thực hiện công việc sẽ không làm phát sinh nghĩa vụ thanh toán, trả thù lao ở người được thực hiện công việc

1.6 Những căn cứ khác do pháp luật quy định

Ngoài việc được xác lập khi có một trong năm căn cứ đã nêu trên, nghĩa vụ dân sự còn được xác lập trong các trường hợp khác nếu pháp luật có quy định Chẳng hạn, nghĩa vụ dân

sự có thể được xác lập từ một bản án, quyết định của tòa án hoặc từ một quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trang 35

2 Chấm dứt nghĩa vụ

2.1 Nghĩa vụ được hoàn thành

Nghĩa vụ được coi là hoàn thành khi bên có nghĩa vụ đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ theo yêu cầu của bên có quyền hoặc theo

sự xác định của pháp luật Tại thời điểm nghĩa vụ được coi là hoàn thành sẽ chấm dứt quan hệ nghĩa vụ giữa các bên

Trong trường hợp đối tượng của nghĩa vụ là một vật mà người có quyền chậm tiếp nhận vật thì người có nghĩa vụ phải bảo quản, giữ gìn vật hoặc gửi vật vào nơi nhận gửi giữ Nghĩa

vụ giao vật được coi là hoàn thành tại thời điểm vật đã được gửi giữ an toàn và bảo đảm về chất lượng, số lượng cũng như các điều kiện khác mà các bên đã thoả thuận

Nếu đối tượng của nghĩa vụ là một khoản tiền hoặc giấy tờ trị giá được bằng tiền mà người có quyền chậm tiếp nhận đối tượng thì người có nghĩa vụ có thể gửi vào nơi nhận gửi giữ nhưng phải thông báo ngay cho bên có quyền Từ thời điểm gửi giữ, nghĩa vụ được xem là đã hoàn thành

2.2 Theo thoả thuận của các bên

Xuất phát từ nguyên tắc: "Tự do, tự nguyện cam kết, thoả

thuận" trong việc thiết lập và thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân

sự của các chủ thể, pháp luật cho phép các bên có thể thoả thuận

để chấm dứt nghĩa vụ Tuy nhiên, việc thoả thuận đó không được gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác

Căn cứ này thường được áp dụng trong những quan hệ nghĩa vụ mà trong đó, các bên chủ thể đều có nghĩa vụ đối với nhau Toàn bộ mối liên hệ về quyền và nghĩa vụ giữa các bên được coi là chấm dứt tại thời điểm mà các bên đã thoả thuận xong việc không thực hiện nghĩa vụ

Trang 36

2.3 Bên có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ

Căn cứ này thường được áp dụng trong những quan hệ nghĩa vụ mà một bên chủ thể chỉ có quyền còn bên kia chỉ có nghĩa vụ Do đó, việc miễn hay không, trước tiên là do ý chí của người có quyền Tuy nhiên, ý chí đó phải được sự tiếp nhận của phía bên kia Quan hệ nghĩa vụ sẽ chấm dứt tại thời điểm người có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ

Những biện pháp bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ cũng được chấm dứt khi người có quyền đã miễn việc thực hiện nghĩa vụ đó

Nếu việc miễn thực hiện nghĩa vụ làm ảnh hưởng đến lợi ích của người khác thì không được coi là căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ

Ví dụ: Người bị thiệt hại về sức khoẻ không còn khả năng

lao động miễn việc bồi thường cho người gây thiệt hại nhưng phần bồi thường để nuôi dưỡng con chưa thành niên của người

bị thiệt hại không được miễn

2.4 Nghĩa vụ được thay thế bằng nghĩa vụ khác

Các bên có thể thoả thuận để chấm dứt nghĩa vụ ban đầu và thực hiện nghĩa vụ theo thoả thuận mới Căn cứ này còn được gọi là sự đổi mới nghĩa vụ

Thông qua sự thoả thuận các bên có thể làm hình thành một

nghĩa vụ hoàn toàn mới so với nghĩa vụ trước đó (ví dụ: Các

bên thoả thuận chấm dứt nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng mua bán và nghĩa vụ đó được thay thế bằng nghĩa vụ của người vay trong hợp đồng cho vay) Mặt khác, có thể các bên chỉ thoả thuận về việc thay thế đối tượng của nghĩa vụ đã được xác định trước bằng một đối tượng khác Vì vậy, nếu người có quyền đã

Trang 37

đồng ý và tiếp nhận một tài sản hoặc một công việc khác thay thế cho tài sản hoặc công việc đã thoả thuận trước thì tại thời điểm tiếp nhận, nghĩa vụ được coi là chấm dứt

2.5 Nghĩa vụ được bù trừ

Bù trừ nghĩa vụ là căn cứ để chấm dứt nghĩa vụ trong những trường hợp cả hai bên cùng có nghĩa vụ đối với nhau về một đối tượng cùng loại và đều đã đến thời hạn thực hiện Như vậy, việc bù trừ nghĩa vụ chỉ được thực hiện khi có đủ yếu tố:

- Các chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ đều có yêu cầu đối nhau:

Bù trừ nghĩa vụ chỉ được thực hiện trong những trường hợp các bên trong một quan hệ nghĩa vụ đều có yêu cầu đối với nhau Bên này là bên có quyền trong quan hệ nghĩa vụ hiện tại nhưng lại là bên có nghĩa vụ trong một quan hệ khác Chẳng hạn, bên được bồi thường trong quan hệ về bồi thường thiệt hại vốn là bên phải trả nợ vay trước đó mà bên cho vay là bên phải bồi thường thiệt hại trong quan hệ bồi thường này

- Nghĩa vụ của hai bên phải cùng loại:

Việc bù trừ chỉ được thực hiện trong trường hợp đối tượng của nghĩa vụ là tài sản cùng loại Tuy nhiên các bên có thể thoả thuận để định giá một vật thành tiền để bù trừ với nghĩa vụ trả tiền Trong trường hợp giá trị của đối tượng không tương đương với nhau thì sau khi bù trừ các bên phải thanh toán cho nhau phần giá trị chênh lệch Tại thời điểm thanh toán xong khoản chênh lệch, nghĩa vụ mới được coi là chấm dứt

- Khi thời hạn thực hiện nghĩa vụ đều đã đến:

Có thể các bên đều có nghĩa vụ đối với nhau nhưng nếu chỉ một nghĩa vụ đến thời hạn phải thực hiện còn nghĩa vụ kia

Trang 38

chưa đến thì các bên cũng không được thực hiện việc bù trừ nghĩa vụ, trừ trường hợp có thoả thuận khác

Ngoài việc phải có đủ các điệu kiện trên việc bù trừ nghĩa vụ mới được thực hiện, pháp luật hiện hành còn quy đinh không được bù trừ nghĩa vụ dân sự trong những trường hợp sau đây:

- Nghĩa vụ đang có tranh chấp;

- Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín;

- Nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Trong những trường hợp khác mà pháp luật đã quy định là không được bù trừ

2.6 Bên có quyền và bên có nghĩa vụ hòa nhập làm một

Trong thực tế, có những trường hợp khi xuất hiện một sự kiện sẽ làm cho một người đang có nghĩa vụ trở thành người có quyền đối với chính nghĩa vụ đó Chẳng hạn, một người đang

có nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền nhưng họ lại trở thành người được đòi nợ khoản tiền đó do người chủ nợ chết mà người có

nợ lại là người thừa kế duy nhất của người chết

Trong quan hệ nghĩa vụ giữa pháp nhân với nhau, trường hợp trên xảy ra khi có sự hợp nhất hay sáp nhập giữa pháp nhân có nghĩa vụ với pháp nhân có quyền

2.7 Nghĩa vụ chấm dứt khi thời hạn khởi kiện đã hết

Trong thời hạn do pháp luật quy định, người có quyền không khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ, khi hết thời hạn

đó, nghĩa vụ dân sự đương nhiên chấm dứt dù người có nghĩa

vụ chưa thực hiện nghĩa vụ đó

2.8 Nghĩa vụ chấm dứt khi một bên trong quan hệ nghĩa

Trang 39

vụ chết

Thông thường, một bên trong quan hệ nghĩa vụ là cá nhân chết thì những quyền và nghĩa vụ của họ được chuyển giao cho người thừa kế Người thừa kế được hưởng các quyền dân sự

mà người này để lại đồng thời phải thay họ thực hiện các nghĩa

vụ về tài sản đối với những người khác Tương tự như vậy, nếu một bên trong quan hệ nghĩa vụ là pháp nhân chấm dứt sự tồn tại thì quyền và nghĩa vụ dân sự của nó được chuyển giao cho pháp nhân mới hợp nhất hoặc mới sáp nhập

Tuy nhiên, khi cá nhân trong một quan hệ nghĩa vụ chết hoặc pháp nhân chấm dứt thì nghĩa vụ dân sự chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

- Nếu các bên có thoả thuận nghĩa vụ phải do chính bên có nghĩa vụ thực hiện thì khi cá nhân đó chết hoặc pháp nhân đó chấm dứt sự tồn tại, nghĩa vụ dân sự sẽ chấm dứt

- Khi pháp luật quy định về việc nghĩa vụ phải do chính

người có nghĩa vụ thực hiện Ví dụ: Nghĩa vụ cấp dưỡng chấm

dứt khi người phải cấp dưỡng chết

- Khi các bên thoả thuận về việc thực hiện nghĩa vụ chỉ dành cho chính người có quyền mà người có quyền đã chết hoặc pháp nhân chấm dứt tồn tại

2.9 Nghĩa vụ chấm dứt khi đối tượng là vật đặc định không còn

Trong thực tế, khi đối tượng được xác định trong nội dung của quan hệ nghĩa vụ là một vật đặc định thì người có nghĩa vụ giao vật phải giao đúng vật đó Vì vậy, khi vật đó không còn thì nghĩa vụ phải giao vật đặc định chấm dứt Tuy nhiên, các bên có thể thoả thuận để thay thế vật khác hoặc bồi thường thiệt hại

Trang 40

Như vậy, thực chất khi vật đặc định không còn chỉ là căn

cứ làm chấm dứt nghĩa vụ giao đúng vật Nó không phải là căn

cứ làm chấm dứt hoàn toàn nội dung của nghĩa vụ dân sự

2.10 Chấm dứt nghĩa vụ trong trường hợp phá sản

Pháp nhân chấm dứt do bị tuyên bố phá sản Đây là một căn cứ mà theo đó pháp nhân hoàn toàn chấm dứt sự tồn tại của mình (chấm dứt tuyệt đối) Do vậy, nó cũng là căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ dân sự trong những trường hợp mà pháp luật về phá sản quy định

V THỰC HIỆN NGHĨA VỤ

1 Khái niệm thực hiện nghĩa vụ

Một trong những đặc trưng cơ bản của nghĩa vụ là tính chất tương ứng và đối lập nhau về quyền và nghĩa vụ giữa các bên

Do vậy, quyền lợi của bên này chỉ đạt được khi bên kia thực hiện các hành vi mang tính nghĩa vụ đã được hai bên xác định hoặc pháp luật quy định trong nội dung của quan hệ nghĩa vụ ấy

Kể từ khi một quan hệ nghĩa vụ được thiết lập (từ hợp đồng dân sự hoặc từ các căn cứ khác), các bên có nghĩa vụ đối với nhau Nghĩa vụ này có thể là một hành vi, có thể gồm nhiều hành vi khác nhau Các hành vi đó có thể phải tiến hành cùng một lúc, vào cùng một thời điểm hoặc có thể được tiến hành theo một quá trình trong một thời hạn nhất định

Việc thực hiện nghĩa vụ diễn ra như thế nào phụ thuộc vào nội dung và tính chất của từng quan hệ nghĩa vụ cụ thể Tuy nhiên, có thể khái quát việc thực hiện nghĩa vụ dân sự như sau: Thực hiện nghĩa vụ là việc người có nghĩa vụ phải làm hoặc không được làm một công việc theo một thời hạn nhất định đã được xác định trong nội dung của quan hệ nghĩa vụ, qua đó thoả

Ngày đăng: 16/02/2021, 19:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm