1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập nhóm môn luật hình sự việt nam 1

12 95 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 104,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hành vi bị coi là tội phạm phải thỏa mãn các dấu hiệu sau: - Tính nguy hiểm cho xã hội Về mặt khách quan: gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được luật hìn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

KHOA LUẬT

 BÀI TẬP NHÓM HỌC PHẦN: LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1

NHÓM 1

THÀNH VIÊN NHÓM:

Trần Vũ Long - Lớp LKT K23A – 18A51010223 Nguyễn

Thị Tố Chinh - Lớp LKT K23A – 18A51010085 Trần Thị

Ngọc Anh - Lớp LKT K23A – 18A51010105 Nguyễn Thị

Thìn Lớp LKT K23A – 18A51010030 Đỗ Thị Như Hoạ

-Lớp LKT K23A – 18A51010083

Năm 2020

Trang 2

BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1

Câu 1:

a, Trình bày hiệu lực của BLHS Việt Nam theo thời gian.

Hiệu lực theo thời gian được quy định cụ thể tại Điều 7 BLHS Cụ thể, khoản 1

Điều 7 BLHS quy định như sau: “Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội

là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện”.

Các điều luật hình sự cũng như BLHS nói chung chỉ có hiệu lực đối với tội phạm xảy ra sau khi điều luật, bộ luật có hiệu lực thi hành

Bên cạnh đó, luật hình sự Việt Nam đã quán triệt nguyên tắc có lợi cho người phạm tội Theo đó, những điều luật có nội dung không có lợi cho người phạm tội đều không có hiệu lực trở về trước Ngược lại, những điều luật có nội dung có lợi cho người phạm tội được phép có hiệu lực trở về trước

b, Thời điểm xảy ra vụ án là ngày 07/11/2016, theo anh/ chị việc áp dụng BLHS năm

1999 và năm 2015 trong cùng 1 vụ án khi quyết định hình phạt của Tòa án cấp sơ thẩm có phù hợp không? Vì sao?

Theo nhóm em, việc áp dụng như vậy là hoàn toàn hợp lý

- Áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình

sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Hồ Văn T 11 (mười một) năm

tù về tội “Giết người”.

Xét hiệu lực về thời gian, vụ án xảy ra là ngày 07/11/2016, khi đó BLHS năm 2015 đang có hiệu lực thi hành Việc áp dụng BLHS năm 2015 trong trường hợp này theo em

là hợp lý

- Áp dụng khoản 1 Điều 106 của Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ

sung năm 2017), xử phạt bị cáo Hồ Văn T 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích

do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”.

Như em đã phân tích ở trên, những điều luật có nội dung có lợi cho người phạm tội được phép có hiệu lực trở về trước

Khoản 1 Điều 106 BLHS năm 1999 quy định như sau:

“Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

mà tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên hoặc dẫn đến chết người do vượt quá giới hạn phòng

vệ chính đáng, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ

ba tháng đến một năm”.

Như vậy, theo khoản 1 Điều 106 BLHS năm 1999 có nội dung có lợi cho bị cáo

Hồ Văn T Nên việc áp dụng theo khoản 1 Điều 106 BLHS năm 1999 trong trường hợp này là hợp lý

Câu 2.

Trang 3

a, Trình bày các vấn đề khái niệm tội phạm, các yếu tố của tội phạm, phân loại tội phạm và cấu thành tội phạm.

Khái niệm tội phạm

Quy định tại khoản 1 Điều 8 BLHS

Có thể đưa ra một khái niệm khái quát hơn về tội phạm như sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật và phải chịu hình phạt”

Bất kỳ tội phạm nào cũng được thể hiện bằng hành vi Những gì mới chỉ trong tư tưởng, nếu chưa thể hiện ra bên ngoài bằng hành vi cụ thể thì không thể là tội phạm Tuy nhiên, không phải hành vi nào cũng bị coi là tội phạm Hành vi bị coi là tội phạm phải thỏa mãn các dấu hiệu sau:

- Tính nguy hiểm cho xã hội

Về mặt khách quan: gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho các quan hệ

xã hội được luật hình sự bảo vệ

Về mặt chủ quan: người có hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội phải có lỗi

- Tính có lỗi

Lỗi được hiểu là thái độ chủ quan của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả của hành vi đó được thể hiện dưới dạng cố ý hay

vô ý

- Tính chịu hình phạt

Được coi là dấu hiệu của tội phạm là vì nó được xác định bởi chính những thuộc tính khách quan bên trong của tội phạm đó là tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự

Các yếu tố của tội phạm

Bao gồm: Khách thể, chủ thể, mặt khách quan, mặt chủ quan của tội phạm

- Khách thể:

Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị hành vi phạm tội xâm phạm

Bất kỳ hành vi phạm tội nào cũng đều gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại nhất định cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ

- Chủ thể:

Chủ thể của tội phạm là người hoặc pháp nhân thương mại đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể

Cá nhân là chủ thể của tội phạm phải thỏa mãn hai điều kiện là có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định

Pháp nhân chỉ trở thành chủ thể của tội phạm nếu thỏa mãn các điều kiện theo quy định tại Điều 75 BLHS đó là: Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại, vì lợi ích của pháp nhân thương mại và có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại

- Mặt khách quan của tội phạm:

Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan Bao gồm có:

Trang 4

+ Hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội

+ Hậu quả nguy hiểm cho xã hội

+ Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả

+ Các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội (công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địa điểm phạm tội, )

- Mặt chủ quan của tội phạm:

Mặt chủ quan của tội phạm là hoạt tâm lý bên trong của người phạm tội bao gồm lỗi, mục đích phạm tội và động cơ Trong đó, lỗi là nội dung được xác định là quan trọng nhất

Lỗi có 2 loại: Lỗi cố ý và lỗi vô ý

Lỗi cố ý gồm 2 hình thức: Lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp

Lỗi vô ý gồm 2 hình thức: Lỗi vô ý do quá tự tin và lỗi vô ý do cẩu thả

Phân loại tội phạm:

Điều 9 BLHS năm 2015 quy định chi tiết về phân loại tội phạm:

Dựa vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và mức cao nhất của khung hình phạt, tội phạm có 4 loại:

- Tội phạm ít nghiêm trọng

- Tội phạm nghiêm trọng

- Tội phạm rất nghiêm trọng

- Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Cấu thành tội phạm:

Là tổng hợp những dấu hiệu chung đặc trưng cho một tội phạm cụ thể quy định trong Luật hình sự

Những dấu hiệu bắt buộc phải có trong trong tất cả các CTTP là: Dấu hiệu hành vi thuộc yếu tố mặt khách quan của tội phạm; dấu hiệu lỗi thuộc yếu tố mặt chủ quan của tội phạm và các dấu hiệu thuộc yếu tố chủ thể của tội phạm

Phân loại CTTP:

- Dựa theo mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà CTTP phản ánh:

+ CTTP cơ bản

Là CTTP chỉ có dấu hiệu định tội

+ CTTP tăng nặng

Là CTTP mà ngoài dấu hiệu định tội còn có thêm dấu hiệu phản ánh tội phạm có mức độ nguy hiểm cho xã hội tăng lên một cách đáng kể + CTTP giảm nhẹ

Là CTTP mà ngoài dấu hiệu định tội còn có dấu hiệu phản ánh tội phạm có mức

độ của tính nguy hiểm cho xã hội giảm xuống một cách đáng kể

- Dựa theo đặc điểm cấu trúc của CTTP:

+ CTTP hình thức

Là CTTP có một dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi nguy hiểm cho xã hội CTTP hình thức hoàn thành ngay khi người phạm tội đã thực hiện được hành vi phạm tội

VD: Tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản,

+ CTTP vật chất

Là CTTP có các dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi, hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả

CTTP vật chất hoàn thành khi người phạm tội gây ra hạu quả của tội phạm

Trang 5

VD: Tội giết người

+ CTTP cắt xén

VD: Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 109 BLHS năm 2015)

b, Chỉ rõ tội phạm, các yếu tố của tội phạm trong vụ án trên Tội phạm trong vụ án

là loại tội phạm gì, có cấu thành tội phạm loại.

Tội “Giết người” và tội “Cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính

đáng”.

Phân tích các yếu tố của tội phạm, tội phạm trong vụ án trên là loại tội phạm gì, có cấu thành tội phạm loại nào?

Thứ nhất, về tội “Giết người” (Điều 123 BLHS năm 2015).

Các yếu tố của tội phạm:

a, Khách thể:

- Xâm phạm đến tới tính mạng con người được nhà nước bảo hộ

- Đối tượng tác động là con người đang sống

b, Chủ thể:

- Hành vi: Thực hiện các hành vi nhằm tước đoạt tính mạng của người khác trái pháp luật

- Hậu quả: chết người (hoặc chưa chết người – xét về lỗi)

- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả: Hành vi là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả

c, Chủ thể: Là chủ thể thường, đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (từ đủ 14 tuổi trở lên) và có năng lực trách nhiệm hình sự

d, Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp

Hồ Văn T đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội (xâm phạm đến tính mạng sức khỏe của con người), nhận thức rõ được hành vi của mình có tính nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó (dẫn đến chết người)

Đây là tội phạm rất nghiêm trọng và có CTTP vật chất

Thứ hai, xét về tội “Cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”

( Điều 109 BLHS năm 1999)

Các yếu tố của tội phạm:

a, Khách thể:

- Xâm phạm tới sức khỏe của người khác

- Đối tượng tác động là con người đang sống

b, Mặt khách quan:

- Hành vi: Tác động đến thân thể của người khác, hành vi vượt quá giới hạn phòng

vệ chính đáng

- Hậu quả: gây ra thương tích với tỷ lệ thương tật theo quy định hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người khác

Trang 6

- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả: hành vi là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả

c, Chủ thể: Chủ thể thường, đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự

d, Mặt chủ quan: Lỗi cố ý

Đây là tội phạm ít nghiêm trọng và CTTP vật chất

Câu 3:

a Các giai đoạn thực hiện tội phạm

Theo luật hình sự Việt Nam, TNHS chỉ có thể được đặt ra khi người phạm tội đã

có hành vi cụ thể, tức là khi họ đã bước vào giai đoạn chuẩn bị phạm tội Những gì xảy ra trước đó như ý định phạm tội hay quyết định phạm tội không thể là đối tượng của TNHS Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các bước tiến triển nối tiếp nhau trong quá trình cố ý thực hiện tội phạm

Các giai đoạn thực hiện tội phạm chỉ đặt ra đối với lỗi cố ý trực tiếp, còn đối với các tội có lỗi cố ý gián tiếp hay lỗi vô ý thì chỉ có thể có trường hợp có tội và không có tội vì ở những tội này, người phạm tội không mong muốn hậu quả xảy ra cho nên không thể quy định có việc chuẩn bị phạm tội hay phạm tội chưa đạt để buộc họ phải chịu TNHS về điều chưa xảy ra mà họ cũng không mong muốn xảy ra

Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các bước trong quá trình cố ý thực hiện tội phạm Được phân biệt với nhau bởi các dấu hiệu, biển hiệu nhằm đánh giá sự diễn biến mức độ thực hiện ý định phạm tội, làm cơ sở cho việc xác định phạm vi và mức độ trách nhiệm hình sự và hình phạt

Quá trình thực hiện tội phạm trải qua 3 giai đoạn phạm tội:

- Giai đoạn chuẩn bị phạm tội:

+ Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn trong đó người phạm tội có hành vi tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm nhưng chưa bắt đầu thực hiện tội phạm

đó Khoản 1 điều 4 BLHS quy định chuẩn bị phạm tội là việc tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ TH thành lập hoặc tham gia nhóm tội quy định tại điều 109; điểm

a, khoản 2, điều 113 và điểm a, khoản 2, điều 299 BLHS

+ Trong thực tế, CBPT có thể được thể hiện ở một số dạng như: Chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội, chuẩn bị kế hoạch phạm tội, như thu thập thông tin, lập kế hoạch,

dự kiến tình huống có thể xảy ra và cách đối phó với tình huống đó trong thực tế; thăm dò địa điểm phạm tội, thăm dò, làm quen với nạn nhân hoặc người bị hại, loại trừ những trở ngại khách quan

+ Và trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 14, người chuẩn bị phạm tội quy định tại các điều 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121,

123, 134, 168, 169, 207, 299, 300, 301, 302, 303, 324 của BLHS năm 2015 thì phải chịu trách nhiệm hình sự

Trang 7

- Giai đoạn phạm tội chưa đạt: Được quy định tại điều 15 BLHS Theo đó, phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội Đặc trưng của PTCĐ là trong giai đoạn PTCĐ, người phạm tội đã bắt đầu thực hiện tội phạm, người phạm tội không thực hiện tội phạm được đến cùng về mặt pháp lý , nghĩa là hành vi của họ chưa thỏa mãn hết các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của CTTp và người phạm tội không thực hiện được đến cùng

là do những nguyên nhân ngoiaf ý muốn của họ, còn bản thân người phạm tội vẫn mong muốn tiếp tục được thực hiện tội phạm

Phạm tội chưa đạt chia làm 2 giai đoạn:

+ Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành: Là giai đoạn phạm tội chưa đạt mà vì nguyên nhân khách quan, chưa thực hiện hết các hành vi mà họ cho là cần thiết để gây ra hậu quả nên hậu quả không xảy ra

+ Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành: Là trường hợp người phạm tội đã thực hiện đầy

đủ những hành vi mà họ cho là cần thiết để gây hậu quả, nhưng vì nguyên nhân khách quan hậu quả đó không xảy ra

- Giai đoạn tội phạm hoàn thành:

+ Là trường hợp phạm tội đã thỏa mãn các dấu hiệu được mô tả trong CTTP Thời điểm tội phạm hoàn thành không phụ thuộc vào việc người phạm tội đã đạt được mục đích của mình hay chưa Thời điểm tội phạm hoàn thành sớm hay muộn tùy thuộc vào việc xây dựng các dấu hiệu của CTTP

+ Luật hình sự VN dựa theo cấu trúc của CTTP, chia CTTP thành CTTP vật chất và CTTP hình thức Với mỗi loại CTTp khác nhau thì thời điểm tội phạm hoàn thành cũng khác nhau Đối với tội phạm có CTTP vật chất hoàn thành khi người phạm tội đã gây ra hậu quả của tội phạm Đối với tội phạm có CTTP hình thức hoàn thành ngay khi người phạm tội đã thực hiện được hành vi của mình

b Trong vụ án trên tội phạm thực hiện ở giai đoạn nào Vì sao?

Trong tình huống trên, trường hợp anh Hồ Văn T dùng dao đâm anh T1 là hành vi phòng vệ chính đáng nên anh T không phải chịu TNHS đối với hành vi của mình Tuy nhiên, các hành vi sau đó đã vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, cấu thành tội giết người, nên anh T phải chịu TNHS về tội phạm giết người

Hành vi của anh T đối với anh S ở giai đoạn tội phạm hoàn thành Vì trường hợp phạm tội của anh T đã thỏa mãn các dấu hiệu của CTTP về mặt chủ quan, mặt khách quan, chủ thể và khách thể

Về mặt chủ quan, hành vi của T là thuộc lỗi cố ý trực tiếp, có mục đích, động cơ rõ ràng khi thực hiện hành vi phạm tội của mình

Về mặt khách quan, hành vi của T được xác định rõ là gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, gây nên hậu quả là anh S bị tổn thương nặng

Về mặt chủ thể, anh T đã đủ tuổi chịu TNHS, có khả năng nhận thức tính nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi của mình và khả năng điều khiển hành vi đó theo những yêu cầu chung của xã hội

Trang 8

Về mặt khách thể, anh T đã xâm phạm đến quan hệ xã hội được pháp luật hình sự.

Câu 4:

a Điều 22 Bộ Luật hình sự quy định về phòng vệ chính đáng:

“Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm”.

Cơ sở phát sinh quyền phòng vệ chính đáng:

Là sự tấn công đang hiện hữu, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích của tập thể, quyền hoặc lợi ích chính đáng của công dân Như vậy, chỉ có thể nói đến phòng vệ chính đáng khi có hành vi của con người đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho xã hội Hành vi này có thể xâm phạm quyền và lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích chính đáng của công dân khác mà không nhất thiết phải xâm phạm đến quyền hoặc lợi ích chính đáng của người phòng vệ Quyền hoặc lợi ích chính đáng bị xâm phạm

có thể là an ninh trật tự quốc gia, quyền nhân thân, quyền sở hữu

- Hành vi tấn công có thể có đầy đủ 3 yếu tố cấu thành tội phạm nhưng đó không phải điều kiện bắt buộc vì có hành vi tuy không cấu thành tội phạm nhưng vẫn đòi hỏi phải được ngăn chặn kịp thời để tránh thiệt hại như hành vi đâm, chém của những người không có năng lực trách nhiệm hình sự do mắc bệnh tâm thần Hơn nữa, khi đứng trước

sự tấn công không phải người bình thường nào cũng khẳng định được ngay đó là tội phạm hay không phải tội phạm

- Hành vi tấn công của con người là cơ sở của quyền phòng vệ chính đáng, nhưng

nó chỉ là cơ sở chừng nào còn đang xảy ra hoặc đe dọa sẽ xảy ra ngay tức khắc Khi hành

vi tấn công đã thật sự chấm dứt thì cũng có nghĩa không đòi hỏi phải có hành vi ngăn chặn Sự phòng vệ lúc này hoàn toàn không đạt được mục đích của phòng vệ chính đáng

Đó có thể chỉ là sự trả thù Trách nhiệm hình sự trong trường hợp này sẽ được giải quyết như trường hợp bình thường nếu đã cố ý phòng vệ quá muộn

- Khi hành vi tấn công chưa xảy ra nhưng đã có những biểu hiện đe doa sự tấn công

sẽ xảy ra ngay tức khắc thì cũng cho phép được quyền phòng vệ chính đáng Sự cho phép này là cần thiết khách quan nhằm tạo điều kiện chủ động cho người phòng vệ ngăn chặn

sự tấn công kịp thời và có hiệu quả Nếu chưa có những biểu hiện đe dọa sự tấn công ngay tức khắc mà đã phòng vệ thì đó là trường hợp phòng vệ quá sớm và cũng phải chịu trách nhiệm hình sự như trường hợp phòng vệ quá muộn

Với quy định trên ta thấy, phòng vệ chính đáng được phát sinh trên cơ sở là khi có hành vi đang xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm ngay tức khắc đến lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức Một lưu ý là phòng vệ chính đáng phải được thực hiện khi hành vi xâm phạm đang xảy ra hoặc đe dọa xảy ra Do đó ta cũng có thể hiểu rằng phòng vệ quá sớm hoặc phòng vệ quá muộn cũng không được xác định là phòng vệ chính đáng

Trách nhiệm hình sự khi khi vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng: xảy ra 2 trường hợp

Trang 9

- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội điều 136 BLHS 2015 :

1 “Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến

2 năm:

a) Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương

cơ thể 61% trở lên.

3 Phạm tội dẫn đến chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho

2 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên, thì bị phạt tù

từ 01 năm đến 03 năm”.

- Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội điều 126 BLHS 2015

1 “Người nào giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2 Phạm tội đối với 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm”.

b Quan điểm của nhóm em về việc xác định vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng của toà án cấp sơ thẩm.

Toà án nhân dân tỉnh quảng nam đã quyết định: áp dụng khoản 1 điều 106 của BLHS 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009) ; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 của

BLHS 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) xử phạt bị cáo hồ văn T 06 tháng tù về tội “Cố ý

gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”.

Dấu hiệu đặc trưng để phân biệt tội phạm này với tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hậu quả và ý thức chủ quan của người phạm tội đối với hậu quả Điều 106: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

“Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà

tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên hoặc dẫn đến chết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm”.

Do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng mà gây thương tích cho một người hoặc dẫn đến chết một người thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 106 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai

Trang 10

năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến một năm, là tội phạm ít nghiêm trọng và cũng thuộc trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng

Đối với trường hợp giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng của bị cáo Hồ Văn T , khi xét xử Toà án Nhân Dân Tỉnh Quảng Nam đã phân tích để người bị hại và những người dự phiên toà thấy được hành vi xâm phạm của người bị hại và quyền phòng vệ của người phạm tội

Do cấu tạo của điều luật, nên trường hợp bị thương tật trên 31% và trường hợp dẫn đến chết người đều quy định trong cùng một khung hình phạt Do đó khi xét xử, nếu các tình tiết khác của vụ án như nhau mà người bị hại chỉ bị thương tích từ 31% đến 60% thì nói chung không nên áp dụng hình phạt tù đối với người phạm tội, chỉ áp dụng hình phạt

tù đối với người phạm tội trong trường hợp người bị hại bị thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người và có thể cho người phạm tội được hưởng án treo nếu có đủ các điều kiện quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999

Toà án đã xem xét các tình tiết của vụ án và đã áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo

Hồ Văn T sáu tháng tù về tội cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Câu 5:

a Các căn cứ để quyết định hình phạt là:

Theo điều 50 BLHS 2015 quy định về căn cứ quyết định hình phạt

1 Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự

2 Khi quyết định áp dụng hình phạt tiền, ngoài căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội

Hội đồng xét xử sẽ quyết định hình phạt dựa vào các yếu tố sau:

+ Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Dấu hiệu này được thể hiện qua động cơ phạm tội, yếu tố lỗi cố ý hay vô ý, hung khí sử dụng khi phạm tội…

+ Nhân thân người phạm tội, yếu tố này được xem xét thông qua việc người phạm tội

đã từng phạm tội hay chưa? Ý thức chấp hành các quy định của pháp luật

+ Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sẽ được áp dụng theo quy định tại điều 51, điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 Tuy nhiên những tình tiết này nếu đã được coi là tình tiết xác định tội, định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ

b Phân tích các căn cứ quyết định hình phạt của Tòa án cấp sơ thẩm trong vụ án trên.

- Tòa án nhân dân cấp sơ thâm đã căn cứ vào BLHS năm 2015 và BLHS năm 1999

- Cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi

Ngày đăng: 28/07/2020, 14:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w