1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đáp án bài tập nhóm học phần luật hình sự việt nam 1

17 67 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 116 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÀI TẬP NHÓM:

HỌC PHẦN: LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1

NHÓM

THÀNH VIÊN NHÓM:

NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT LỚP: LKT K24B1

Hà Nội, 02/2020

Trang 2

Câu 1:

a, Trình bày hiệu lực của BLHS Việt Nam theo thời gian.

b, Thời điểm xảy ra vụ án là ngày 7/11/2016, theo anh/ chị việc áp dụng BLHS

năm 1999 và năm 2015 trong cùng 1 vụ án khi quyết định hình phạt của Tòa án cấp sơ thẩm có phù hợp không? Vì sao?

Trả lời:

a, Hiệu lực của bộ luật hình sự theo thời gian:

Hiệu lực theo thời gian là phạm vi áp dụng BLHS 2015 đối với hành vi phạm tội trong khoảng thời gian nhất định Hiệu lực theo thời gian được quy định cụ thể tại Điều 7 BLHS 2015:

Điều 7 Hiệu lực của Bộ luật hình sự về thời gian

1 Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện.

2 Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và quy định khác không có lợi cho người phạm tội, thì không được áp dụng đối với hành vi phạm tội

đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.

3 Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích và quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật

đó có hiệu lực thi hành.

Như vậy, chúng ta xác định thời điểm thực hiện tội phạm qua 02 trường hợp:

+ Đối với tội phạm được thực hiện trong một khoảng thời gian thì tất cả quá trình thực hiện tội phạm là thời điểm thực hiện tội phạm

+ Điều luật được áp dụng là điều luật đang có hiệu lực thi hành vào thời điểm cuối cùng của việc thực hiện tội phạm

Lưu ý: Hiệu lực hồi tố

Trang 3

BLHS 2015 chính thức có hiệu lực (được áp dụng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử

và thi hành án) đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 phút ngày 01

tháng 01 năm 2018

Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, BLHS 2015 vẫn có hiệu lực vào trước thời điểm trên, đây được gọi là “hiệu lực hồi tố” và được ghi nhận cụ thể tại điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 như sau:

Các điều khoản của BLHS 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ

00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích.

b,

- Phù hợp

- Vì :

BLHS 2015 chính thức có hiệu lực đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 Đối với hành vi phạm tội trước thời điểm trên thì được phép áp dụng trong trường hợp có lợi chon người phạm tội

Trong trường hợp trên việc áp dụng một số điều của BLHS 2015 có lợi cho người phạm tội trong việc giảm nhẹ trách nghiệm hình sự

Câu 2:

a, Trình bày các vấn đề khái niệm tội phạm, các yếu tố của tội phạm, phân loại

tội phạm và cấu thành tội phạm.

b, chỉ rõ tội phạm, các yếu tố của tội phạm trong vụ án trên Tội phạm trong vụ án

là loại tội phạm gì, có cấu thành tội phạm gì, vì sao?

Trả lời:

a,

 Khái niệm tội phạm:

Trang 4

Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã đưa ra khái niệm tội phạm như sau:

"1 Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách

cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.

2 Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội

không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác."

 Các yếu tố của tội phạm:

Thứ nhất, tính nguy hiểm cho xã hội: hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội được hiểu là hành vi đó gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ

Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội…” Như vậy, tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu cơ bản, quan trọng nhất để xác định một hành vi có phải là tội phạm hay không Một hành vi bị coi là tội phạm bản chất trong hành

vi ấy đã chứa đựng tính nguy hiểm cho xã hội

Để xác định tính nguy hiểm cho xã hội, thường dựa vào các căn cứ sau:

- Tính chất của quan hệ xã hội bị xâm hại;

- Phương pháp, thủ đoạn, công cụ, phương tiện phạm tội

- Mức độ gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho các quan hệ xã hội;

- Tính chất và mức độ lỗi;

- Động cơ và mục đích của người phạm tội;

- Các căn cứ khác như hoàn cảnh xã hội, nhân thân người phạm tội,

Thứ hai, tính có lỗi: lỗi là thái độ tâm lý chủ quan của chủ thể đối với hành

vi có tính nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện và đối với hậu quả của hành vi đó dưới hình thức vô ý hoặc cố ý Bản chất của lỗi thể hiện ở việc người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức được nguy hiểm

Trang 5

đó nhưng tự mình lựa chọn và quyết định thực hiện hành vi trong khi có

đủ điều kiện để lựa chọn một xử sự khác phù hợp với lợi ích của xã hội Lỗi được phân loại thành lỗi cố ý và lỗi vô ý

* Theo đó lỗi cố ý bao gồm:

+ Cố ý trực tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra

+ Cố ý gián tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra

* Lỗi vô ý bao gồm:

+ Lỗi vô ý do quá tự tin: Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được

+ Lỗi vô ý do cẩu thả: Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó

Thứ ba, tính trái pháp luật hình sự:

Một hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm nếu “ được quy định trong luật hình sự”

Điều 2 Bộ luật Hình sự quy định về cơ sở của trách nhiệm hình sự như sau:

“1 Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu

trách nhiệm hình sự

2 Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự.”

Như vậy hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong luật hình sự hay tính trái pháp luật hình sự là một dấu hiệu của tội phạm Bất cứ hành vi nào không được quy định

là một tội trong Bộ luật Hình sự thì việc thực hiện hành vi đó không bị xem là tội phạm

Thứ tư, tính phải chịu hình phạt:

Tính phải chịu hình phạt thể hiện ở chỗ bất cứ tội phạm nào cũng đều bị áp dụng hoặc đe dọa áp dụng biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất là hình phạt Hình phạt được coi là

cơ chế răn đe, giáo dục đối với tội phạm

Trang 6

Tóm lại, một hành vi được coi là tội phạm khi nó thỏa mãn đủ bốn dấu hiệu nêu trên.

* Phân loại tội phạm:

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định Khoản 1 Điều 9 trong Bộ luật hình sự 2015, tội phạm được phân thành bốn loại sau đây:

1 Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật hình sự 2015 quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;

2 Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn

mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật hình sự 2015 quy định đối với tội ấy là

từ trên 03 năm đến 07 năm tù;

3 Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật hình sự 2015 quy định đối với tội ấy

là từ trên 07 năm đến 15 năm tù;

4 Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật hình sự 2015 quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình

- Phân loại cấu thành tội phạm:

Phân loại CTTP theo mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được

CTTP phản ánh:

+ Cấu thành tội phạm cơ bản: là tổng hợp các dấu hiệu đặc trưng, cấu thành tội phạm

Trang 7

chỉ có dấu hiệu định tội – dấu hiệu mô tả tội phạm và cho phép phân biệt tội này với tội khác

+ Cấu thành tội phạm tăng nặng: là cấu thành tội phạm mà ngoài dấu hiệu định tội còn

có thêm dấu hiệu phản ánh tội phạm có mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội tăng lên một cách đáng kể (so với trường hợp bình thường)

+ Cấu thành tội phạm giảm nhẹ: là cấu thành tội phạm mà ngoài dấu hiệu định tội còn có thêm dấu hiệu phản ánh tội phạm có mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội giảm

xuống một cách đáng kể (so với trường hợp bình thường)

Việc phân loại theo mức độ nguy hiểm giúp xác định rõ ràng các dấu hiệu định tội, định khung hình phạt khi áp dụng điều luật theo từng trường hợp cụ thê, tránh sự tùy tiện trong việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án

Phân loại theo đặc điểm cấu trúc của cấu thành tội phạm, có thể chia cấu thành tội phạm thành cấu thành tội phạm vật chất và cấu thành tội phạm hình thức:

+ Cấu thành tội phạm vật chất: Là cấu thành tội phạm có các dấu hiệu của mặt khách

quan là hành vi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả

+ Cấu thành tội phạm hình thức: Là cấu thành tội phạm có một dấu hiệu của mặt khách

quan là hành vi nguy hiểm cho xã hội

+ Cấu thành tội phạm cắt xén: Là 1 dạng đặc biệt của CTTP hình thức, chỉ quy định

một phần hành vi mà người phạm tội mong muốn thực hiện để gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội

Việc xác định tội phạm có CTTP vật chất hay CTTP hình thức là căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự

b, Tội phạm: Tội “ Giết người” và “ Cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn

phòng vệ chính đáng”

- Các yếu tố của tội phạm trong vụ án trên:

Trang 8

+ Hành vi của Hồ Văn T đã dùng dao bấm đâm vào vùng lưng, ngực bên trái của Nguyễn Trường S dẫn đến chết và đâm vào vùng bụng Trần T1 gây thương tích 84% đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Giết người”, tội “Cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng

vệ chính đáng”

+ Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 93; khoản 1 Điều 106 Bộ luật Hình sự năm 1999

 Loại tội phạm trong vụ án: Tội phạm rất nghiêm trọng vì:

 Căn cứ khoản 4 điều 9 Bộ Luật Hình Sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017,

“Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật hình sự 2015 quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.”

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 44/2018/HS-ST ngày 28/11/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam đã quyết đinh:

Tuyên bố bị cáo Hồ Văn T phạm tội “Giết người” và tội “Cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” - Áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) Xử phạt bị cáo Hồ Văn T 11 (mười một) năm tù về tội “Giết người” - Áp dụng khoản 1 Điều 106 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) Xử phạt bị cáo Hồ Văn T 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng

vệ chính đáng” - Áp dụng khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội buộc bị cáo Hồ Văn T phải chấp hành là 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 11/11/2016) Ngoài ra bản án còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo và thi hành án theo quy định của pháp luật

Tuy nhiên, Hành vi phạm tội của Hồ Văn T thể hiện: Giữa Hồ Văn T với anh Nguyễn

Trường S hoàn toàn không có mâu thuẫn nhau Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 07/11/2016, tại thôn B, xã B, tỉnh Quảng Nam; giữa Hồ Văn T với Nguyễn Thành T2, Trần T1, Trần Văn Q xảy ra xích mích nhau Trần T1 là người đầu tiên xông vào dùng tay, chân đánh Hồ Văn T; sau đó, Nguyễn Thành T2, Trần Văn Q xông vào dùng tay, chân đánh Hồ Văn T Hồ Văn T rút dao bấm đã chuẩn bị sẵn từ trong túi ra và nói “tụi bay mà đánh tau nữa là tau đâm đó”, rồi tay cần dao quơ qua, quơ lại từ trái sang phải Trần T1 xông vào đánh thì Hồ Văn T đâm trúng vào vùng bụng của T1 gây thương tích Nghe ồn ào, anh Nguyễn Trường S từ bên trong rạp đám cưới chạy ra can ngăn thì bị Hồ Văn T đâm một nhát vào

Trang 9

lưng anh S; anh S tát Hồ Văn T 02 cái, thì Hồ Văn T đâm tiếp một nhát vào vùng ngực trái anh S Hậu quả anh Nguyễn Trường S tử vong

hành vi phạm tội của bị cáo Hồ Văn T là có tính chất côn đồ; do vậy phải xét xử bị cáo

Hồ Văn T theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 và tăng hình phạt đối với bị cáo về tội danh này là có căn cứ

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 1 Điều 106 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội buộc bị cáo Hồ Văn T phải chấp hành là 19 (mười chín) năm 06 (sáu) tháng tù

- Loại cấu thành tội phạm vật chất Vì:

dựa vào đặc điểm cấu trúc của các dấu hiệu thuộc mặt khách quan có thể chia CTTP thành CTTP vật chất và CTTP hình thức:

– CTTP vật chất là CTTP có dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả;

– CTTP hình thức là CTTP có một dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi nguy

hiểm cho xã hội

Điểm khác nhau giữa CTTP vật chất và CTTP hình thức ở chỗ nhà làm luật quy định dấu hiệu hậu quả là dấu hiệu bắt buộc hay không phải là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP Việc xác định loại tội nào có CTTP vật chất hay có CTTP hình thức phải dựa vào quy định của luật Nếu trong CTTP cơ bản của điều luật chỉ mô tả hành vi mà không mô tả hậu quả thì

đó là tội phạm có CTTP hình thức, nếu trong CTTP cơ bản, nhà làm luật mô tả cả hành vi

và hậu quả thì đó là tội phạm có CTTP vật chất

Theo quy định tại điều 93 BLHS năm 1999 thì các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm bao gồm hành vi giết người , hậu quả chết người và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả Do vậy tội giết người có cấu thành tội phạm vật chất, chỉ khi xảy ra hậu quả chết người thì tội phạm mới ở giai đoạn tội phạm hoàn thành, nếu hậu quả chết người không xảy ra thì tội phạm ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm chưa đạt

Câu 3:

a, Trình bày các giai đoạn thực hiện tội phạm.

Trang 10

b, Trong vụ án trên tội phạm thực hiện ở giai đoạn nào, vì sao?

Trả lời:

A, Trình bày các giai đoạn thực hiện tội phạm

1 Chuẩn bị phạm tội

Là giai đoạn người phạm tội tiến hành tìm kiếm công cụ phạm tội; sửa soạn công cụ, phương tiện phạm tội hoặc chuển bị những điều kiện thuận lợi cho tội phạm quan sát địa điểm, điều kiện liên quan xung quanh hoàn cảnh của nạn nhân Tại giai đoạn này, chưa có thiệt hại xảy ra cho khách thể, chưa tác động tới đối tượng tác động của tội phạm, nhưng vẫn bị truy tố vì:

Thứ nhất, hành vi chuẩn bị liên quan trực tiếp đến quá trình thực hiện tội phạm, chuẩn bị càng đầy đủ, tỉ mỉ thì hậu quả gây ra lại càng lớn;

Thứ hai, ý định phạm tội đã được biểu hiện ra bên ngoài Do đó, có căn cứ để xác định rằng chuẩn bị phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì mới truy cứu trách nhiệm hình sự

2 Phạm tội chưa đạt: Là giai đoạn mà người phạm tội có thực hiện hành vi phạm tội,

những không thực hiện được đến cùng do những cản trở khách quan Thể hiện qua:

- Người phạm tội bắt đầu thực hiện tội phạm:

+ Người này có thể bắt đầu thực hiện những hành vi khách quan được cấu thành tội phạm miêu tả;

+ Người phạm tội thực hiện những hành vi đi liền trước hành vi khách quan

-Người phạm tội thực hiện những hành vi đi liền trước hành vi khách quan:

+ Người thực hiện tội phạm chưa làm thỏa mãn, chưa thực hiện hết các dấu hiệu được

mô tả trong cấu thành tội phạm;

+ Người phạm tội đã thực hiện hành vi khách quan nhưng hậu quả chưa xảy ra (đối với cấu thành tội phạm vật chất);

+ Người phạm tội đã có hành vi khách quan, có hậu quả đã xảy ra, nhưng không có mối quan hệ nhân quả giưa hành vi khách quan và hậu quả;

Ngày đăng: 28/07/2020, 14:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w