Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễ
Trang 2Câu 1:
a, Trình bày hiệu lực của BLHS của Việt Nam theo thời gian:
- Khái niệm: Hiệu lực theo thời gian là phạm vi áp dụng BLHS 2015 đối với hành vi phạm tội trong khoảng thời gian nhất định Hiệu lực theo thời gian được quy định cụ thể tại Điều 7 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Điều 7 Hiệu lực của Bộ luật hình sự về thời gian:
"1 Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện
2 Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và quy định khác không có lợi cho người phạm tội, thì không được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành
3 Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích và quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành."
Như vậy, chúng ta xác định thời điểm thực hiện tội phạm qua 02 trường hợp:
+ Đối với tội phạm được thực hiện trong một khoảng thời gian thì tất cả quá trình thực hiện tội phạm là thời điểm thực hiện tội phạm
+ Điều luật được áp dụng là điều luật đang có hiệu lực thi hành vào thời điểm cuối cùng của việc thực hiện tội phạm
b, Thời điểm xảy ra vụ án là ngày 7/11/2016, theo anh/ chị việc áp dụng BLHS năm
1999 và năm 2015 trong cùng 1 vụ án khi quyết định hình phạt của Tòa án cấp sơ thẩm có phù hợp không? Vì sao?
Thời điểm xảy ra vụ án là ngày 7/11/2016 việc áp dụng BLHS năm 1999 và năm 2015 trong cùng 1 vụ án khi quyết định hình phạt của Tòa án cấp sơ thẩm là phù hợp
Giải thích:
Trang 3- BLHS năm 1999 chỉ hết hiệu lực đối với những hành vi phạm tội xảy ra sau 0 giờ, 00 phút ngày 01/01/2018, còn những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ, 00 phút ngày 01/01/2018 thì BLHS năm 1999 vẫn còn hiệu lực Bởi thực tế trong tương lai, các cơ quan tố tụng sẽ còn tiếp tục phải áp dụng BLHS năm 1999 đối với các trường hợp
phục hồi điều tra hoặc các trường hợp tội phạm xảy ra trước 0 giờ, 00 phút ngày
01/01/2018, nhưng sau 0 giờ, 00 phút ngày 01/01/2018 mới phát hiện
- Hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ, 00 phút ngày 01/01/2018 thì phải áp dụng quy định của BLHS năm 1999 và khi đã áp dụng quy định của BLHS năm 1999 thì cần thống nhất
áp dụng xuyên suốt cả quá trình điều tra, truy tố, xét xử đối với vụ án đó, tránh tình trạng giai đoạn điều tra áp dụng điều luật của BLHS năm 1999, còn giai đoạn truy tố, xét xử lại
áp dụng điều luật của BLHS năm 2015; hoặc áp dụng một số quy định của BLHS năm
1999 và một số quy định của BLHS năm 2015 để tuyên trong một bản án…
- Hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ, 00 phút ngày 01/01/2018 thì phải áp dụng điều luật của BLHS năm 1999 vì thời điểm này BLHS năm 1999 đang có hiệu lực thi hành (trừ những trường hợp có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng cho các hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ, 00 phút ngày 01/01/2018 mà BLHS năm 2015 quy định)
Câu 2:
a, Trình bày các vấn đề khái niệm tội phạm, các yếu tố của tội phạm, phân loại tội phạm và cấu thành tội phạm:
*Khái niệm tội phạm:
Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã đưa ra khái niệm tội phạm như sau:
"1 Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố
ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự
2 Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác."
*Các yếu tố của tội phạm:
Trang 4Cấu thành tội phạm cơ bản bao gồm 04 yếu tố sau: mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể, khách thể
1, Mặt khách quan của tội phạm:
Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan Những dấu hiệu thuộc về khách quan của tội phạm gồm những hành vi nguy hiểm cho xã hội: tính trái pháp luật của hành vi; hậu quả nguy hiểm cho xã hội; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm; ngoài ra còn có các dâu hiệu khác nhau như: phương tiện, công cụ, phương pháp thủ đoạn, thời gian, địa điểm, thực hiện tội phạm
2, Mặt chủ quan của tội phạm:
Mặt chủ quan của tội phạm là những diễn biến tâm lý bên trong của tội phạm bao gồm: lỗi, mục đích, và động cơ phạm tội Bất cứ tội phạm cụ thể nào cũng đều phải được thực hiện bởi hành vi có lỗi Theo quy định của pháp luật, có hai loại lỗi: lỗi cố ý và lỗi vô ý phạm tội
Cố ý phạm tội là tội phạm được thực hiện một trong các trường hợp sau: (1) Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành
vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra (lỗi cố ý trực tiếp); (2) Người phạm tội nhận thức
rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra (lỗi cố ý gián tiếp)
Vô ý phạm tội là phạm tội một trong các trường hợp sau: (1) Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được (vô ý do quá tự tin); (2) Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó (vô ý do cẩu thả)
Động cơ phạm tội là cái thôi thúc người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội để đạt được mục đích của mình
Mục đích phạm tội là kết quả hành vi muốn hướng tới
3, Khách thể của tội phạm:
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại Theo hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam những quan hệ đó là: quan hệ về độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ chính trị, nền văn hoá,
Trang 5quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, quyền con người, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa
4, Chủ thể của tội phạm:
Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự quy định là tội phạm, có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của luật hình sự
Trong đó, năng lực trách nhiệm hình sự là khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của người phạm tội Tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 12 Bội luật Hình
sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 Theo đó, người từ đủ 16 tuổi trở lên chịu trách nhiệm hình sự với mọi loại tội phạm trừ những tội phạm Bộ luật Hình sự có quy định khác; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134,
141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265,
266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật Hình sự
Như vậy, một hành vi được coi là tội phạm phải thỏa mãn đầy đủ 4 yếu tố trên Khi
đã được coi là tội phạm thì phải chịu trách nhiệm hình sự cho hành vi của mình theo quy định của pháp luật
*Phân loại tội phạm:
Bộ luật Hình sự căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà phân tội phạm thành 04 loại sau: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
1, Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;
2, Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn
mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên
03 năm tù đến 07 năm tù;
3, Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;
Trang 64, Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội
ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình
*Phân loại cấu thành tội phạm (CTTP):
- Phân loại CTTP theo mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được
CTTP phản ánh:
+ Cấu thành tội phạm cơ bản: là tổng hợp các dấu hiệu đặc trưng, cấu thành tội phạm chỉ
có dấu hiệu định tội – dấu hiệu mô tả tội phạm và cho phép phân biệt tội này với tội khác + Cấu thành tội phạm tăng nặng: là cấu thành tội phạm mà ngoài dấu hiệu định tội còn có thêm dấu hiệu phản ánh tội phạm có mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội tăng lên một cách đáng kể (so với trường hợp bình thường)
+ Cấu thành tội phạm giảm nhẹ: là cấu thành tội phạm mà ngoài dấu hiệu định tội còn có thêm dấu hiệu phản ánh tội phạm có mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội giảm xuống một cách đáng kể (so với trường hợp bình thường)
Việc phân loại theo mức độ nguy hiểm giúp xác định rõ ràng các dấu hiệu định tội, định khung hình phạt khi áp dụng điều luật theo từng trường hợp cụ thê, tránh sự tùy tiện trong việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án
- Phân loại theo đặc điểm cấu trúc của cấu thành tội phạm, có thể chia cấu thành tội phạm thành cấu thành tội phạm vật chất và cấu thành tội phạm hình thức:
+ Cấu thành tội phạm vật chất: Là cấu thành tội phạm có các dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả
+ Cấu thành tội phạm hình thức: Là cấu thành tội phạm có một dấu hiệu của mặt
khách quan là hành vi nguy hiểm cho xã hội
+ Cấu thành tội phạm cắt xén: Là 1 dạng đặc biệt của CTTP hình thức, chỉ quy định một phần hành vi mà người phạm tội mong muốn thực hiện để gây hậu quả nguy hiểm cho
xã hội
Việc xác định tội phạm có CTTP vật chất hay CTTP hình thức là căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự
b, Chỉ rõ tội phạm, các yếu tố của tội phạm trong vụ án trên Tội phạm trong vụ án
là loại tội phạm gì, có cấu thành tội phạm loại gì, vì sao?
Trang 71 Các yếu tố của tội phạm trong vụ án:
* Cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng:
- Mặt khách quan của tội phạm:
+ Có hành vi: gây thương tích
+ Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
+ Hành vi gây thương tích: dùng dao đâm 1 nhát vào bụng Trần T1 (Dao bấm, cán màu đen bằng kim loại dài 12cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 10cm, chỗ rộng nhất của con dao là 2,5cm, mũi dao nhọn)
- Mặt chủ quan của tội phạm:
+ Lỗi: cố ý trực tiếp (gây thương tích vì vượt quá phòng vệ chính đáng)
+ Động cơ: phòng vệ
+ Mục đích: dùng dao đâm Trần T1 bị thương
- Khách thể của tội phạm:
+ Xâm phạm đến sức khỏe của người khác
+ Hậu quả: Trần T1 tỉ lệ tổn hại sức khỏe là 84%
- Khách thể của tội phạm: Hồ Văn T - Là chủ thể bình thường(đạt đủ độ tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự)
* Giết người:
- Mặt khách quan của tội phạm:
+ Có hành vi: làm chết người khác
+ Hành vi làm chết người được thực hiện thông qua hành động: người phạm tội đã chủ động thực hiện các hành vi mà pháp luật không cho phép như: dùng dao đâm vào lưng và vùng ngực của Nguyễn Trường S (Dao bấm, cán màu đen bằng kim loại dài 12cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 10cm, chỗ rộng nhất của con dao là 2,5cm, mũi dao nhọn)
- Mặt chủ quan của tội phạm:
Trang 8+ Lỗi: thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp (Hồ Văn T chủ động đâm Nguyễn
Trường S 2 nhát vào vùng lưng và ngực)
+ Động cơ: phòng vệ
+ Mục đích: dùng dao đâm Nguyễn Trường S bị thương ở vùng lưng, sau đó đâm vào vùng ngực khiến Nguyễn Trường S tử vong
- Khách thể của tội phạm: xâm phạm đến tính mạng của người khác (quyền được bảo
vệ về tính mạng)
+ Hậu quả: Nguyễn Trường S tử vong
- Chủ thể của tội phạm: Hồ Văn T - Là chủ thể bình thường(đạt đủ độ tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự)
2 Phân loại tội phạm trong vụ án trên:
- Tội giết người - thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng, tước đoạt tính mạng con người, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền nhân thân được luật Hình sự bảo vệ
- Tội cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng - thuộc loại tội
ít nghiêm trọng vì nó gây hậu quả cho xã hội không quá lớn
3 Phân loại cấu thành tội phạm:
Các tội phạm trong vụ án trên đều thuộc cấu thành tội phạm vật chất vì cấu thành tội phạm có đủ các dấu hiệu của mặt khách quan gồm: hành vi, hậu quả, mối quan hệ giữa hành vi và hậu của tội phạm
Câu 3:
a) Trình bày các giai đoạn thực hiện tội phạm.
Các giai đoạn thực hiện tội phạm: là các bước trong quá trình cố ý thực hiện tội phạm Được phân biệt với nhau bởi các dấu hiệu, biển hiệu nhằm đánh giá sự diễn biến mức độ thực hiện ý định phạm tội, làm cơ sở cho việc xác định phạm vi và mức độ trách nhiệm hình sự và hình phạt
Quá trình thực hiện tội phạm có 3 giai đoạn:
- Giai đoạn chuẩn bị phạm tội: Giai đoạn người phạm tội tiến hành tìm kiếm công cụ phạm tội; sửa soạn công cụ, phương tiện phạm tội hoặc chuẩn bị những điều kiện thuận
Trang 9lợi cho tội phạm quan sát địa điểm, điều kiện liên quan xung quanh hoàn cảnh của nạn
nhân
- Giai đoạn phạm tội chưa đạt: Giai đoạn mà người phạm tội có thực hiện hành vi phạm
tội, nhưng không thực hiện được đến cùng do những cản trở khách quan Được chia làm
2 loại:
+ Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành
+ Phạm tội chưa đạt đã hàn thành
- Giai đoạn tội phạm hoàn thành: Giai đoạn hành vi phạm tội làm thỏa mãn tất cả các dấu
hiệu được nêu trong cấu thành tội phạm quy định trong luật
b) Trong vụ án trên tội phạm thực hiện ở giai đoạn nào, vì sao?
- Đối với tội “giết người”: tội phạm thực hiện ở giai đoạn tội phạm hoàn thành Vì Hồ Văn T vi phạm tội làm thỏa mãn tất cả các dấu hiệu được nêu trong cấu thành tội phạm
quy định trong luật.Tuy T không cố ý trực tiếp, không có suy nghĩ chém người ngay từ đầu mà do
bị Nguyến Thành T2, Trần T1 và Trần Văn Q đánh trước mới rút dao ra Nhưng sau khi đâm dao vào lưng anh S thì anh T đã đâm tiếp vào bụng anh S và mặc kệ hậu quả xảy ra
- Đối với tội “cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”: tội phạm
thực hiện ở giai đoạn tội phạm hoàn thành Vì hành vi của T đã thỏa mãn tất cả các dấu
hiệu được cho là cần thiết để thực hiện tội phạm – tội cố ý gây thương tích do vượt quá
giới hạn phòng vệ chính đáng ( dùng dao bấm bằng kim loại có tính chất nguy hiểm để
phòng vệ khi bị T1, T2,Q chặn đánh và S ra can ngăn) Hậu quả phạm tội mà T- chủ
thể mong muốn đã xảy ra, thiệt hại gây ra cho khách thể bị xâm hại đã kết thúc
Câu 4:
a) Thế nào là phòng vệ chính đáng? Trình bày cơ sở phát sinh quyền phòng vệ
và trách nhiệm hình sự khi vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng?
- Phòng vệ chính đáng: là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức,
bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một
cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên Phòng vệ chính
đáng không phải là tội phạm
- Cơ sở phát sinh quyền phòng vệ:
Trang 10+ Thứ nhất, về phía nạn nhân: là người đang có hành vi xâm phạm đến các lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, của cá nhân người phòng vệ hoặc của người khác (người thứ ba) Hành vi xâm phạm này phải là hành vi có tính chất nguy hiểm đáng kể Mức độ đáng kể
ở đây là tuỳ thuộc vào tính chất quan trọng của quan hệ xã hội bị xâm phạm, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công của nạn nhân (người có hành vi xâm phạm) + Thứ hai, về phía người phòng vệ: Nếu thiệt hại do người có hành vi xâm phạm gây ra
có thể là thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, có thể là thiệt hại về tài sản, nhân phẩm, danh
dự hoặc các lợi ích xã hội khác, thì thiệt hại do người có hành vi phòng vệ gây ra chỉ có thể là thiệt hại tính mạng hoặc sức khoẻ về cho người có hành vi xâm phạm
+ Thứ ba, hành vi chống trả là cần thiết Cần thiết là sự thể hiện tính không thể không chống trả, không thể bỏ qua trước một hành vi xâm phạm đến các lợi của xã hội Khi đã xác định hành vi chống trả là cần thiết thì thiệt hại gây ra cho người có hành vi xâm phạm dù có lớn hơn thiệt hại mà người có hành vi xâm phạm gây ra cho người phòng vệ vẫn được coi là phòng vệ chính đáng Mặc dù mức thương tích người phòng vệ gây ra cho người kia lớn hơn mức thương tích người phòng vệ phải chịu nhưng điều này là cần thiết để bảo vệ sức khỏe đang bị đe dọa của họ
-Trách nhiệm hình sự khi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng:
+ Theo khoản 2 Điều 22 Bộ Luật Hình Sự 2015: Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
à hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại
Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này
+ Mức thương tật để phân biệt giữa hành vi phòng vệ chính đáng và vượt quá phòng vệ chính đáng ở đây là 31% Do vậy cần phải giám định mức độ thương tích trước khi có thể đưa ra được kết luận rằng người phòng vệ có vượt quá mức độ phòng vệ chính đáng hay không
+Ví dụ:
Điều 126 Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội
1 Người nào giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm