1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn hoạt động giao thương việt nam lào qua cửa khẩu quốc tế nặm phao từ năm 1997 2015

92 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây, hoạt động giao thương qua biên giới giữa hai nước đã không ngừng phát triển góp phần quan trọng không chỉ đối với sự phát triển kinh tế của các tỉnh miền Trung,

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM –––––––––––––––––––––

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM –––––––––––––––––––––

LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Thị Thu Thủy

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu “Hoạt động giao thương Việt

Nam - Lào qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao (1997 - 2015)” dưới sự hướng dẫn

của PGS.TS Hà Thị Thu Thủy là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi

Các số liệu sử dụng trong luận văn là trung thực Những số liệu tham khảo và kết quả nghiên cứu của các tác giả khác đều được trích dẫn rõ ràng Những tư liệu không có trích dẫn là do tác giả trực tiếp sưu tầm trong quá trình sưu tầm tài liệu địa phương

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng chấm luận văn và Nhà trường về sự cam đoan này

Thái Nguyên, tháng 04 năm 2016

Tác giả luận văn

Vatsana DOUANGMALASY

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả Luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Hà Thị

Thu Thủy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử,

tổ bộ môn Lịch sử Việt Nam, Trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã động viên, chỉ dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả hoàn thành luận văn

Đồng thời tác giả xin chân thành cảm ơn các cơ quan ban ngành tỉnh Bo

Lị Khăm Xay: Ban quản lý Khu kinh tế cửa khẩu Nặm Phao, Cục Hải Quan tỉnh Bo Lị Khăm Xay, Cục Thống kê tỉnh Bo Lị Khăm Xay, Sở Công Thương tỉnh Bo Lị Khăm Xay, Thư viện Đại học Quốc gia Lào…đã giúp đỡ nhiệt tình trong việc nghiên cứu thực tế, cung cấp số liệu, tài liệu và nhiều thông tin hữu ích liên quan đến luận văn

Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn các bạn đồng nghiệp, gia đình và người thân đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành luận văn

Thái Nguyên, tháng 06 năm 2015

Tác giả luận văn

Vatsana DOUANGMALASY

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Trang bìa phụ

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt iv

Danh mục các bảng v

Danh mục các biểu đồ vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu đề tài 5

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 6

5 Đóng góp của luận văn 7

6 Bố cục của luận văn 7

Chương 1: ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH CỬA KHẨU QUỐC TẾ NẶM PHAO 8

1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên 8

1.1.1 Vị trí địa lý 8

1.1.2 Điều kiện tự nhiên 9

1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 13

1.2.1 Dân cư và nguồn lao động 13

1.2.2 Cơ sở hạ tầng 14

1.3 Lịch sử truyền thống hữu nghị Bo Lị Khăm Xay – Hà Tĩnh 17

1.4 Sự thành lập cửa khẩu quốc tế Nặm Phao 19

Tiểu kết chương 1 21

Trang 6

Chương 2: HOẠT ĐỘNG GIAO THƯƠNG TẠI CỬA KHẨU QUỐC

TẾ NẶM PHAO (1997-2015) 23

2.1 Chủ trương phát triển quan hệ giao thương Việt Nam - Lào của tỉnh Bo Lị Khăm Xay 23

2.2 Quan hệ giao thương Việt Nam - Lào qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao từ năm 1997-2015 27

2.2.1 Hoạt động xuất nhập khẩu 27

2.2.2 Hoạt động xuất nhập cảnh 43

Tiểu kết hương 2 45

Chương 3: TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG GIAO THƯƠNG QUA CỬA KHẨU QUỐC TẾ NẶM PHAO ĐỐI VỚI KINH TẾ, XÃ HỘI TỈNH HÀ TĨNH (VIỆT NAM) VÀ TỈNH BO LỊ KHĂM XAY (LÀO) (TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2015) 47

3.1 Những tác động tích cực 47

3.1.1 Về kinh tế 47

3.1.2 Về xã hội 62

3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 67

3.2.1 Những hạn chế 67

3.2.2 Nguyên nhân của hạn chế 69

Tiểu kết chương 3 74

KẾT LUẬN 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á CNH - HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa KKTCK Khu kinh tế cửa khẩu

ODA Official Development Assistance UBND Ủy ban nhân dân

WTO Tổ chức Thương mại Thế giới XNK Xuất nhập khẩu

XNC Xuất nhập cảnh

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Loại đất rừng bảo tồn 10 Bảng 1.2: Loại đất sử dụng trên cả tỉnh 11 Bảng 1.3: Dân số tỉnh Bo Lị Khăm Xay trong giai đoạn 2010-2015 14 Bảng 2.1: Kim ngạch XNK Lào – Việt Nam qua cửa khẩu quốc tế Nặm

Phao (2001 – 2005) 30 Bảng 2.2: Kim ngạch XNK qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao (2006-2015) 38 Bảng 2.3: Tình hình XNK qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao (2006-2015) 40 Bảng 2.4: Thống kê tình hình XNC qua cửa khẩu Quốc tế Nặm Phao

(2005-2015) 44 Bảng 3.1: Hiện trạng nguồn lao động và sử dụng lao động tỉnh Bo Lị Khăm

Xay (2010 - 2015) 64

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu qua cửa khẩu Nặm Phao

(2001 – 2005) 32 Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu qua cửa khẩu Nặm

Phao (2001 – 2005) 34 Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu qua cửa khẩu quốc

tế Nặm Phao (2011-2014) 41

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam – Lào là hai quốc gia có nét tương đồng về kinh tế – xã hội Trong suốt chiều dài lịch sử, mối quan hệ giữa hai nước Việt Nam – Lào nói chung và mối quan hệ giữa nhân dân hai tỉnh Bo Lị Khăm Xay (Lào) – Hà Tĩnh (Việt Nam) nói riêng luôn là mối quan hệ láng giềng hữu nghị, gắn bó thân thiết Ở hai bên biên giới, hai tỉnh Bo Lị Khăm Xay và Hà Tĩnh có nhiều dân tộc anh em như Kinh, Thái, Mường, Lào sinh sống từ nhiều thế kỷ nay, trong

đó có những dân tộc di cư từ nơi khác tới Nhiều bản làng, người dân có quan

hệ hôn nhân, quan hệ dòng tộc gắn bó và thường qua lại thăm nhau Đây là điều kiện thuận lợi để hai tỉnh Bo Lị Khăm Xay (Lào) và Hà Tĩnh (Việt Nam) tăng cường thúc đẩy hoạt động giao thương, nhằm gắn kết nhân dân hai địa phương, hai nước với nhau

Trong những năm gần đây, hoạt động giao thương qua biên giới giữa hai nước đã không ngừng phát triển góp phần quan trọng không chỉ đối với

sự phát triển kinh tế của các tỉnh miền Trung, mà còn là đòi hỏi tất yếu trong quá trình mở rộng và phát triển kinh tế hai nước trong bối cảnh Lào hội nhập WTO và Việt Nam đang trên con đường trở thành một trong những quốc gia phát triển nhanh chóng

Từ khi tỉnh Bo Lị Khăm Xay được thành lập vào năm 1984, quan hệ giao thương giữa hai bên ngày càng được đẩy mạnh và có những bước phát triển tốt, bộ mặt cửa khẩu biên giới được quy hoạch khang trang, hiện đại hơn Các hoạt động thương mại trao đổi hàng hóa, hoạt động đầu tư liên doanh liên kết, hợp tác kinh doanh, tham quan du lịch, giao lưu văn hóa, ngày càng sôi động, đa dạng và phong phú, đời sống kinh tế – xã hội cư dân biên

Trang 11

nghị, hợp tác cùng phát triển giữa hai địa phương của hai quốc gia được tăng cường và phát triển

Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Nặm Phao là một trong những khu kinh tế cửa khẩu được Chính phủ Lào ưu tiên phát triển Khu kinh tế này gắn với cửa khẩu quốc tế Nặm Phao sang cửa khẩu Cầu Treo, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, Việt Nam, thuộc địa bàn huyện Khăm Kợt tỉnh Bo Lị Khăm Xay, Lào

Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Nặm Phao được thành lập nhằm mục đích đẩy mạnh thông thương giữa Lào với Việt Nam, thúc đẩy kinh tế phía Đông Bo

Lị Khăm Xay và toàn tỉnh Bo Lị Khăm Xay phát triển Nằm trên Quốc lộ 8A qua biên giới Lào – Việt Nam, Cửa khẩu Nặm Phao có một vị trí chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế- xã hội của Bo Lị Khăm Xay và các tỉnh Trung Lào Đây cũng là cửa ngõ ngắn nhất để Lào và các nước trong tiểu vùng Sông Mekong Mở rộng hướng ra biển Đông Khu kinh tế được xác định là loại hình khu phi thuế quan, với định hướng phát triển các ngành và lĩnh vực như: thương mại, du lịch, dịch vụ và công nghiệp chế biến, gia công lắp ráp hàng dân dụng

Tuy nhiên, hoạt động giao thương Việt Nam – Lào qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao vẫn chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có của hai nước Vấn đề đặt

ra là tìm kiếm những giải pháp khả thi nhằm thúc đẩy hơn nữa quan hệ giao thương giữa Việt Nam và Lào nói chung và tại tỉnh Bo Lị Khăm Xay nói riêng

Để làm được điều đó chúng ta cần nắm rõ về thực trạng hoạt động giao thương giữa Việt Nam - Lào qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao, từ đó đánh giá được những tác động đối với sự phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Bo Lị Khăm Xay nói riêng và góp phần vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất

nước nói chung Xuất phát từ lý do trên tôi đã chọn đề tài “Hoạt động giao

thương Việt Nam - Lào qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao từ năm 1997 - 2015”

làm luận văn thạc sĩ

Trang 12

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề giao thương giữa Việt Nam - Lào trên cả phương diện lý luận và thực tiễn đã được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu dưới các mức độ

và dưới các góc độ khác nhau

“Khuyến khích đầu tư - thương mại vào các khu kinh tế cửa khẩu Việt

Nam” của Nguyễn Mạnh Hùng - NXB Thống kê, Hà Nội năm 2000 Tác giả

phân tích một số vấn đề lý luận, phương pháp luận, tình hình thực tế và chính sách đầu tư, thương mại các khu kinh tế cửa khẩu Việt Nam và góp phần vào công tác quy hoạch, xây dựng các kế hoạch hành động tích cực

Tác giả Chứ phôm Visay (2004) với cuốn “Vai trò của tài chính nhà

nước trong viê ̣c phát triển kinh tế hàng hóa ở CHDCND Lào hiê ̣n nay”, Luâ ̣n

án tiến sĩ, Chuyên ngành kinh tế chính tri ̣ xã hội chủ nghĩa, Ho ̣c viện Chính tri ̣ quốc gia Hồ Chí Minh Ông đã phân tích vai trò của các giải pháp tài chính nhằm tăng cường tài chính cho phát triển kinh tế, đánh giá thực hiện giải pháp tài chính về vốn đầu tư phát triển của Lào trong những năm qua và kinh nghiệm của một số nước trong khu vực về sử dụng tài chính trong phát triển kinh tế Từ đó, tác giả đề ra giải pháp tài chính chủ yếu nhằm tăng cường tài chính cho phát triển kinh tế tại Lào đến 2010 như hoàn thiện các chính sách thuế, cơ cấu chi tiêu của chính phủ, chính sách tiền tệ - tín dụng, tạo môi trường chính trị ổn định, cải thiện môi trường pháp, tăng cường hiệu lực của chính sách quản lý vĩ mô

“Factors Effecting on Export-Import between Lao PDR and Principal Trade Partners”, luận văn thạc sĩ của Thạ Nu Xay Vo Lạ Vông – Đại học Quốc gia Lào năm 2012 Tác giả đã phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu của Lào với các nước đối tác thương mại chính Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: hàng hóa của Lào xuất khẩu chủ yếu là Điện, khoáng sản,

Trang 13

gỗ và các sản phẩm từ nông nghiệp Hàng nhập khẩu của Lào chủ yếu là dầu, cộng cụ công nghiệp, vật liệu xây dựng, đồ gia dụng Các đối tác thương mại chính của Lào là Thái Lan, Trung Quốc và Việt Nam

“A study on Relationship between International Trade and Economic Growth in Lao PDR”, luận văn thạc sĩ của Mạ Ni Vone Mâng Chạ Lơn – Đại học Quốc gia Lào năm 2012 Tác giả đã nghiên cứu môi trường chung của thương mại Lào với sự phát triển kinh tế và các yếu tố ảnh hưởng tới sự tới sự phát triển kinh tế của Lào từ năm 1990 – 2010 Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: Kinh tế của Lào từ năm 1990 – 2010 có xu hướng tăng lên liên tục, binh quân tăng hàng năm là 6.63%/năm, ngành phát triển nổi bật là ngành cộng nghiệp Trình độ mở rộng kinh tế của Lào với các nước đối tác thương mại bình quân là 57.59%/năm

“Determinants of Import of Lao PDR”, luận văn thạc sĩ của Su Lị Ya Chăn Thạ Vông – Đại học Quốc gia Lao năm 2014 Kết quả nghiên cứu của ông cho thấy rằng: dầu, xe cộ, hàng hóa công nghiệp, đồ điện, vật liệu xây dựng là hàng hóa chính của Lào nhập khẩu Các nước đối tác thương mại mà Lào nhập khẩu là Thái Lan, Trung Quốc và Việt Nam Kim ngạch nhập khẩu của 3 nước này chiếm 88.4% của tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước trong giai đoạn 2008 – 2012

“Efficiency of Tax – customs Collection: A comparison study between Paksan and Namphao International customs” là Luận văn thạc sĩ của tác giả Boun Liếng Duẩng Sạ Phao Thong - Đại học Quốc gia Lào năm 2015 Tác giả đã so sánh hiệu lực việc thu nộp ngân sách của cửa khẩu Quốc tế Nặm Phao và cửa khẩu Pạc Săn từ năm 2007 – 2014 Kết quả nghiên cứu của ông cho thấy rằng: việc thu nộp ngân sách của cửa khẩu Quốc tế Nặm Phao có xu hướng tăng trưởng hàng năm, đặc biệt là năm 2013 – 2014 tăng đến 83,71%

so với năm 2012 – 2013

Trang 14

Như vậy chưa có công trình nào nghiên cứu tổng kết 20 năm hoạt động giao thương Việt Nam - Lào qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao (1997-2015) Do

đó nghiên cứu về “Hoạt động giao thương Việt Nam - Lào qua cửa khẩu

quốc tế Nặm Phao từ năm 1997 - 2015” là một đề tài hấp dẫn, có ý nghĩa thực

tiễn thể hiện đúng đắn đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta Qua đề tài, chúng ta thấy được vị trí, vai trò của cửa khẩu quốc tế Nặm Phao đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Bo Lị Khăm Xay nói riêng và của cả nước nói chung đồng thời đề tài này sẽ là nguồn tài liệu giúp ích cho công tác biên soạn lịch sử địa phương

3 Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về hoạt động giao thương Việt Nam - Lào qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao từ năm 1997 - 2015 với nội dung chủ yếu như: Hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, thương mại dịch vụ, du lịch, đầu tư

3.2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, ngoài làm rõ thực trạng hoạt động giao thương Việt Nam - Lào qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao từ năm 1997 – 2015, luận văn còn muốn chỉ ra tác động của hoạt động giao thương của cửa khẩu Nặm Phao đối với kinh tế, xã hội tỉnh Bo Lị Khăm Xay (Lào) và tỉnh Hà Tĩnh (Việt Nam) (1997-2015) Theo đó, việc tìm hiểu nghiên cứu này mong muốn góp phần nêu lên một cách chân thực, khoa học về một thời kì lịch sử trong quá khứ và bổ sung thêm nguồn tư liệu lịch sử địa phương trong bức tranh chung của Lịch sử hai dân tộc Việt - Lào

3.3 Nhiệm vụ của đề tài

Nhận định các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của hoạt động giao thương qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao

Trang 15

Làm rõ thực trạng hoạt động giao thương Việt Nam - Lào qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao (1997 - 2015)

Thấy được những tác động, phát sinh trong hoạt động giao thương giữa Việt Nam - Lào qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao từ đó góp phần phát triển kinh

tế xã hội, bảo vệ và xây dựng hai nước trong tình hình mới

Tổng kết những bài học kinh nghiệm thực tiễn bổ ích về hoạt động giao thương Việt Nam - Lào qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao là cơ sở để khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới của Đảng và nhà nước Lào cũng như sự vận dụng linh hoạt của Đảng bộ tỉnh Bo Lị Khăm Xay

3.4 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Hoạt động giao thương qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao bằng con đường chính ngạch và tiểu ngạch trên địa bàn tỉnh Bo Lị Khăm Xay

Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu về hoạt động giao thương giữa Việt Nam - Lào qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao từ năm 1997 đến năm 2015

Tuy nhiên trong chừng mực nhất định, luận văn có mở rộng về không gian và thời gian nhằm làm rõ hơn những yếu tố xã hội khác có ảnh hưởng đến hoạt động giao thương Việt Nam – Lào qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tư liệu

Đề tài nghiên cứu dựa vào các nguồn tài liệu chủ yếu sau: Nghị quyết của Đảng, chính phủ về hoạt động giao thương, thương mại; Nghị quyết của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bo Lị Khăm Xay, của các sở ban ngành trong tỉnh; văn bản hợp tác giữa hai tỉnh Bo Lị Khăm Xay (Lào) – Hà Tĩnh (Việt Nam)

Các sách báo, tài liệu đã được công bố, trong đó có sách tham khảo, chuyên khảo nghiên cứu về tỉnh Bo Lị Khăm Xay (Lào) và tỉnh Hà Tĩnh (Việt Nam)

Một số luận văn, luận án có liên quan đến hoạt động thương mại giữa Việt Nam - Lào

Tư liệu điền dã

Nguồn tài liệu truyền thông quốc tế: Mạng Internet

Trang 16

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chủ yếu là: phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác điều tra - khảo sát; thống kê - phân tích; phân tích - tổng hợp

5 Đóng góp của luận văn

Trình bày có hệ thống về thực trạng hoạt động giao thương Việt Nam - Lào qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao (1997 - 2015)

Tổng kết những bài học kinh nghiệm thực tiễn bổ ích về hoạt động giao thương Việt Nam - Lào qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao

Làm rõ những tác động, phát sinh trong hoạt động giao thương giữa Lào -Việt Nam qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao đồng thời thấy được vị trí, vai trò của cửa khẩu quốc tế Nặm Phao đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh

Hà Tĩnh (Việt Nam) và tỉnh Bo Lị Khăm Xay (Lào) nói riêng và của cả hai nước nói chung

Luận văn cũng sẽ là nguồn tài liệu giúp ích cho công tác biên soạn lịch

sử địa phương

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục, luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Điều kiện hình thành cửa khẩu quốc tế Nặm Phao

Chương 2: Hoạt động giao thương tại cửa khẩu quốc tế Nặm Phao

(1997 - 2015)

Chương 3: Tác động của hoạt động giao thương của cửa khẩu Quốc tế

Nặm Phao đối với kinh tế, xã hội tỉnh Hà Tĩnh (Việt Nam) và tỉnh Bo Lị Khăm Xay (Lào) từ năm 1997-2015

Trang 17

Chương 1

ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH CỬA KHẨU QUỐC TẾ NẶM PHAO

1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lý

Bo Lị Khăm Xay là một tỉnh nằm ở miền Trung của đất nước Lào, cách thủ đô Viêng Chăn khoảng 150 km theo đường bộ Tỉnh Bo Lị Khăm Xay được tái lập ngày 6 tháng 3 năm 1984 trên cơ sở tách ra từ tỉnh Viêng Chăn và tỉnh Khăm Muộn Diện tích tự nhiên: 14,863 km2 (chiếm 6,74% diện tích cả nước) Phía Bắc giáp thủ đô Viêng Chăn có chiều dài 49,41 Km và tỉnh Viêng Chăn có chiều dài 149,23 Km

Phía nam giáp tỉnh Khăm Muộn có chiều dài 184,87 Km

Phía đông bắc giáp tỉnh Xiêng Khuẩng có chiều dài 141,76 Km

Phía đông giáp tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Nghệ An nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có chiều dài 215,82 Km

Phía tây giáp tỉnh Nạ Khon Phạ Nôm và tỉnh Nong Khai Vương triều Thái Lan có chiều dài 192,62 Km

Hiện nay tỉnh Bo Lị Khăm Xay có 7 đơn vị hành chính (1 thành phố Pạc Săn, 6 huyện – Tha Phạ Bạt, Pạc Kạ Đing, Khăm Kợt, Bo Li Kăn, Viêng Thong và Xay Chăm Phon)

Bo Lị Khăm Xay có đường biên giới chung với nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam dài 215,82 km, bao gồm mốc biên giới 16 mốc ( từ mốc giới số ຖ (M).1 ຖ (M).14 và số ທ (N).1 ທ (N).2) Tỉnh Bo Lị Khăm Xay có Cửa khẩu Quốc tế Nặm Phao, có tuyến đường với tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Nghệ

An (Việt Nam) ở phía Đông

Trang 18

Trong điều kiện liên kết kinh tế phát triển mạnh và trở thành xu thế phát triển không thể đảo ngược được của thế giới, đặc biệt ở khu vực Đông Á, vị thế tỉnh Bo Lị Khăm Xay trở nên vô cùng quan trọng, tạo cho tỉnh những tiềm năng, lợi thế phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế Là một nút giao thông quan trọng, một bàn đạp cho Hai hành lang, một vành đai kinh tế trên cơ sở phát triển giao thương với các tỉnh phía Tây Nam của Việt Nam, các tỉnh, thành phố trong cả nước theo tuyến hành lang

Với vị trí địa lý đặc biệt này, tỉnh Bo Lị Khăm Xay trở thành đầu mối thông thương kinh tế và giao lưu văn hóa giữa hai nước Việt Nam với Lào nói riêng và quốc tế nói chung

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

Địa hình

Địa hình của tỉnh Bo Lị Khăm Xay rất đa dạng gồm có cả núi, cao nguyên, đồng bằng và thung lũng Địa hình dài theo dãy Trường Sơn (Phu Luẩng) nghiêng dần về lưu vực sông Mê Kông, có độ cao trung bình từ 300 đến

700 m trong đó có cao nguyên đá vôi Khăm Kợt Phía Tây dọc theo sông Mê Kông là đồng bằng bao gồm 3 huyện (huyện Pạc Săn, huyện Tha Phạ Bạt và huyện Pạc Kạ Đing), chiếm 36,3% diện tích toàn tỉnh Có dân cư sinh sống chiếm 54,8% của dân cư cả tỉnh; Phía Đông dọc theo dãy Trường Sơn (Phu Luẩng) là vùng núi và cao nguyên bao gồm 4 huyện (huyện Khăm Kợt, huyện Viêng Thong, huyện Xay Chăm Phon và huyện Bo Lị Khăn), chiếm 63,7% diện tích cả tỉnh Có dân cư sinh sống chiếm 45,2% của dân cư toàn tỉnh

Núi cao nhất là núi Choi Voi nằm ở huyện Khăm Kợt, vách đá cao nhất

là vách đá Ka Đông nằm ở huyện Xay Chăm Phon, rừng nguyên sinh vùng cao chiếm 214,764 ha nằm ở vùng huyện Bo Li Khăn, huyện Pạc Ka Đing, huyện Khăm Kợt, huyện Tha Phạ Bạt và huyện Viêng Thong Rừng nguyên sinh vùng thấp chiếm 5.868 ha nằm ở huyện Tha Phạ Bạt và huyện Pạc Ka Đing

Trang 19

Có 3 huyện nằm ở đồng bằng như: huyện Pạc Săn, huyện Tha Phạ Bạt và huyện Pạc Ka Đing; huyện Bo Li Khăn một nửa là vùng núi và một nửa là đồng bằng; và có 3 huyện nằm ở vùng núi non như: huyện Khăm Kợt, huyện Viêng Thong và huyện Xay Chăm Phon

Tài nguyên đất và rừng

Có 2 nhóm đất chính, đó là loại đất bảo tồn và loại đất sử dụng Trong đó

cả hai nhóm đất chính được chia làm nhiều loại đất khác nhau như: Đất rừng bảo vệ, Đất rừng tự nhiên, đất nông nghiệp, đất để làm ruộng, đất trồng trọt cây ngắn ngày, đất trồng cây hoa quả, đất chăn thả, đất trồng cây công nghiệp, đất viễn thông, đất ở, đất chuyên dùng, đất lâm nghiệp có rừng và đất chưa sử dụng, sông suối và núi đá Một số nhóm đất đang được sử dụng hiệu quả

Bảng 1.1: Loại đất rừng bảo tồn Loại đất Diện tích (ha) Phần trăm (%)

Trang 21

Khí hậu của tỉnh Bo Lị Khăm Xay chia làm 2 mùa như: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình ở vùng cao từ 190C - 270C, lương mưa trung bình từ 3330m-4427mm Còn nhiệt độ trung bình ở vùng thấp từ

220C - 380C, lương mưa trung bình từ 2315mm-3391mm Ở vùng cao có sương

mù xuất hiện phổ biến và có nơi có mức độ dày Đặc điểm khí hậu Bo Lị Khăm Xay thích hợp với các loại cây nông nghiệp và cây công nghiệp tạo nên cho tỉnh có lợi thế phát triển kinh tế

Tài nguyên nước

Tỉnh Bo Lị Khăm Xay có hệ thống sông suối rất dày đặc được phân bố khá đều trên địa bàn tỉnh với nhiều con sông lớn chảy qua như: sông Me Khong, sông Săn, sông Kạ Đing, sông Nghiếp, sông Phao Trong đó sông

Me Khong là con sông chính chảy qua 3 huyện của tỉnh (Có chiều dài đoạn chảy qua tỉnh là179 Km) như: huyện Pạc Săn, huyện Pạc Kạ Đing và huyện Tha Phạ Bạt Ngoài ra tỉnh trên địa bàn của tỉnh còn có nhiều con sông nhỏ chạy qua (có 16 con sông) Đây là điều kiện thuận lợi cho Bo Lị Khăm Xay phát triển các công trình thủy điện lớn, vừa và nhỏ Trong đó đã thăm dò và nghiên cứu xây dựng thủy điện quy mô lớn như: thủy điện Năm Thơn, thủy điện Năm Măng và thủy điện Năm Nghiệp Trong thời gian qua tỉnh đã hoàn thành đấu nối đường dây di truyền điện, xây dựng mạng lưới điện cao thể, điện trung áp 22 Kv và điện thấp áp 0,4 Kv

Tài nguyên khoáng sản

Tới nay đã phát hiện được nhiều điểm mỏ với nhiều loại khoáng sản, trong đó có một số khoáng sản đã được thăm dò và đánh giá trữ lượng như mỏ vàng ở huyện Khăm Kợt và vùng Nặm Pu, mỏ chì ở làng Nặm Xáng, mỏ muối

Ka Li ở vùng Thông Nhá Ngoài ra, còn quan lý khai thác khoáng sản như: khai

Trang 22

thá đá, cát, đất của các đơn vị kinh doanh cho họ hoạt động theo quy định của Nhà nước Toàn tỉnh có công ty khai thác khoáng sản 67 công ty

Nguồn tài nguyên khoáng sản của tỉnh rất phong phú và đa dạng là cơ sở

để ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản khẳng định là ngành công nghiệp mũi nhọn của tỉnh

Cửa khẩu quốc tế Nặm Phao – Cầu Treo cũng là một điểm du lịch thú vị

mà điểm dừng chân không thể là nơi nào khác thành phố Bo Lị Khăm Xay Hơn nữa, nơi đây còn giữ được cảnh quan môi trường đa dạng và trong sạch, đây là điều quan trọng tạo nên một điểm du lịch lý tưởng đối với du khách trong và ngoài nước

1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

1.2.1 Dân cư và nguồn lao động

Theo số liệu thống kê của tỉnh Bo Lị Khăm Xay, tổng số dân toàn tỉnh năm 2015 là 277,316 người, trong đó chia ra nam: 138,897 người, nữ: 138,419 người Mật độ dân số trung bình toàn tỉnh là 17,36 người/km2

Trang 23

Hiện nay Bo Lị Khăm Xay có 22 thành phần dân tộc cùng sinh sống, gồm có dân tộc Lào chiếm 53,49%, dân tộc Tay chiếm 17,93%, dân tộc Mông 14,67%, Kưm Mụ chiếm 5,17%, dân tộc Phóng 2,23% và còn lại là các dân tộc khác chiếm 6,51% [12, tr.18]

Bảng 1.3: Dân số tỉnh Bo Lị Khăm Xay trong giai đoạn 2010-2015

Nguồn: Trung tâm thống kê tỉnh Bo Lị Khăm Xay năm 2015

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2015 toàn tỉnh là 185,645 người (chiếm 66,9% dân số) Như vậy, Bo Lị Khăm Xay có kết cấu dân số trẻ, nguồn lao động khá dồi dào chiếm 66,9% tổng dân số Đây chính là nguồn lực quan trọng để Bo Lị Khăm Xay phát triển toàn diện về kinh tế - xã hội

1.2.2 Cơ sở hạ tầng

Hệ thống giao thông

Địa hình Bo Lị Khăm Xay vừa có đồi núi cao vừa có đồng bằng nên việc phát triển hệ thống giao thông của tỉnh vừa có vùng thuận lợi và vừa có vùng khó khăn Nhưng bằng sự nỗ lực hết mình trong 20 năm qua kể từ khi tái lập

Trang 24

tỉnh, tỉnh Bo Lị Khăm Xay đã xây dựng dược hệ thống giao thông thông suốt

để phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế - xã hội, đảm nhiệm được vai trò cầu nối của cả nước với vùng miền Trung Việt Nam Là một tỉnh có mạng lưới giao thông vận tải đa dạng, bao gồm: đường bộ và đường sông

Đường bộ: Có 4 tuyến quốc lộ chạy qua địa bàn tỉnh (số 13 Nam, 8A, 4B, 1D) với tổng chiều dài trên 510 Km, trong đó đường nhựa có tổng chiều dài 475 Km và còn 35 Km đang làm đường nhựa Có 7 tuyến tỉnh lộ với tổng chiều dài 614 Km, trong đó đường nhựa 121.2 Km, đường cấp phối 326.10

Km, đường tự nhiên 168.8 Km Có 12 tuyến huyện lộ với tổng chiều dài 325.8

Km, trong đó đường nhựa 5.5 Km, đường cấp phối 162.3 Km và đường đất đỏ

158 Km Và gần 200 Km đường liên xã, liên thôn Mạng lưới giao thông phân

bố rộng khắp và khá đồng đều trên địa bàn tỉnh các huyện, thị đảm bảo giao thông thuận lợi Có vai trò quan trọng là tuyến đường số 13 Nam chạy từ Bắc đến Nam và tuyến đường 8A chạy từ Thái Lan qua Lào thông suốt Việt Nam Đường 8A là quốc lộ ngắn nhất như có câu nói là: “Một ngày ăn cơm ở 3 nước,

ăn sáng ở Thái Lan, ăn trưa ở Lào và ăn tối ở Việt Nam”

Đường sông: Vì có nhiều con sông to nhỏ chạy qua địa bàn tỉnh như: song Me Khong, song Kạ Đing, sông Săn nên mạng lưới giao thông đương sông của tỉnh rất phong phú và có thể đi lại cả mùa khô và mùa mưa Trong thời gian qua giao thông đường sông chưa thực sự phát triển mạnh mặc do với giao thông đường bộ dù trên địa bàn tỉnh có nhiều sông lớn như sông Me Khong độ dài 1.898 Km (trong dó nội địa có 179 Km và chung biên giới với Thái Lan) Theo thống kê của ngành quản lý giao thông vận tải tỉnh cho biết giao thông đường sông chỉ chiếm 20% của toàn giao thông vận tải Hiện có thuyền 17 cái và có 4 thủy con tàu để chuyển hàng hóa ở cửa khẩu Pạc Săn sang Thái Lan

Trang 25

Hạ tầng điện - nước

Hạ tầng mạng lưới điện: 7/7 huyện, thành phố Pạc Săn; 322 làng có điện lưới quốc gia, 93,93% hộ dân được sử dụng điện lưới Tiềm năng sản lượng thủy điện của Bo Lị Khăm Xay là 622.000.000 KV, tăng 19%/năm Xuất khẩu điện 542 KV, tăng 20%/năm Đã cho phép đầu tư xây dựng nhà máy thủy điện nhỏ là 12 công trình với đơn vị kinh doanh về điện tất cả là 14 đơn vị (1 đơn vị doanh nghiệp và 13 đơn vị của tư nhân) Sản lượng thủy điện toàn tỉnh là để xuất khẩu, đảm bảo cung cấp dân số toàn tỉnh và đủ nhu cầu về điện để sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư trước mắt cũng như lâu dài

Hạ tầng mạng lưới cấp thoát nước: Hiện nay đã có hệ thống cung cấp nước sạch 5 công trình trong 7 huyện và một thành phố, chiếm 71,41% của các làng trong thị trấn; có thể cung cấp nước sạch được 59,52 triệu lít, chiếm tỉ lệ 11,904 triệu lít /năm

Hạ tầng thông tin liên lạc

Mạng lưới bưu chính – viễn thông đã được điều chỉnh và mở rộng đến trung tâm các huyện, thị trấn, các bản, nông thôn; có trung tâm dịch vụ bưu điện và chi nhánh công ty viễn thông ở các thị trấn tạo ra sự thuận lợi và nhanh chóng cho hệ thông liên lạc cả đối nội lẫn đối ngoại

Bưu chính có thể cung cấp dịch vụ bưu điện, thư và lưu trữ tem cả đối nội và đối ngoại Mở rộng mạng bưu chính đến các trung tâm phát triển chiếm 85%, với 6 điểm bưu chính và hơn 153 bưu cực Trong đó có thể gửi thư đối nội được 3.225 cái và gửi thư đối ngoại 716 cái

Viễn thông và công nghệ thông tin: Đã thực hiện truyền dẫn được thiết bị

hệ thống vi ba số (4E1- 16E7); hệ thống truyền dẫn cáp quang 2.151 Km, gồm

có 6 huyện; mạng lưới Internet 3G đã được phục vụ tới các huyện và thành phố trong toàn tỉnh; có 289/322 làng, thị trấn có máy điện thoại; 7/7 huyện và thành phố Pạc Săn đã được phủ sóng di động Đường truyền Internet đã được phổ

Trang 26

biến Trông 5 năm qua, toàn tỉnh có điện thoại công cộng 2.756 số, điện thoại công cộng không dây 12.082 số và điện thoại di động 210.698 số Đặc biệt tỉnh

Bo Lị Khăm Xay đã khai trương Cổng thông tin điện tử (www.bolikhamxay.gov.la) Hàng ngày có người vào tham gia 1.000 người

1.3 Lịch sử truyền thống hữu nghị Bo Lị Khăm Xay – Hà Tĩnh

Hai nước Việt Nam – Lào, cũng như hai địa phương Bo Lị Khăm Xay –

Hà Tĩnh núi liền núi, sông liền sông, là hai tỉnh láng giềng có mối quan hệ đặc

biệt Trong lịch sử, mối quan hệ giữa hai nước Việt Nam – Lào nói chung và mối quan hệ giữa nhân dân hai tỉnh Bo Lị Khăm Xay – Hà Tĩnh nói riêng luôn

luôn là mối quan hệ láng giềng hữu nghị đặc biệt và gắn bó thân thiết

Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân và đế quốc, đấu tranh giải phóng dân tộc và gianh độc lập của mỗi nước, sự phối hợp, sự giúp đỡ vô tư, chí tình giữa hai nước cũng như hai tỉnh hai nhân dân chúng ta là nhân tố quan trọng làm nên thắng lợi cửa cách mạng mỗi nước Đã có biết bao tấm gương chiến đấu, hy sinh của hàng triệu người con Lào và Việt Nam, nhiều người ngã xuống, vì độc lập, tự do của dân tộc Vì tình hữu nghị, đoàn kết chiến đấu Việt Nam – Lào, sự hy sinh cao đẹp và vô cùng to lớn đó trở thành sức mạnh song, nguồn động lực lớn lao, góp phần đưa cách mạng của hai nước Việt Nam - Lào đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn vào năm 1975

Quan hệ hữu nghị Việt Nam – Lào cũng như quan hệ hữu nghị của hai địa phương Hà Tĩnh – Bo Lị Khăm Xay thật sự đặc biệt, thật sự anh em và thật

sự máu thịt Sau thắng lợi 1975, hòa bình lập lại trên đất nước Việt Nam và Lào, quan hệ hai nước bước sang kỷ nguyên mới, kỷ nguyên hòa bình, độc lập

và chung tay xây dựng chủ nghĩa xã hội Nhận thức sâu sắc về ý nghĩa và tầm quan trọng của quan hệ đặc biệt đó, Chính phủ hai nước đã nhất trí ký kết Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác ngày 18-7-1977 Trong lĩnh vực giao thông vận tải,

Trang 27

Việt Nam đã tập trung hỗ trợ xây dựng các tuyến đường nối các địa phương ở Lào với các trung tâm kinh tế của Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho Lào

mở rộng giao thương với quốc tế Quan hệ hợp tác về an ninh, quốc phòng, văn hóa, thông tin, thể theo, y tế, ngày càng được củng cố và phát triển Đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, Việt Nam đã tiếp nhận nhiều học sinh, nghiên cứu sinh của Lào sang học tập và nghiên cứu tại Việt Nam

Kết quả hợp tác đã đạt được trong những năm qua thể hiện sự nỗ lực, phấn đấu không ngừng của Chính phủ, của các bộ, ngành, các địa phương, doanh nghiệp của hai nước cũng như hai tỉnh địa phương, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển của hai nước Trên lĩnh vực đối ngoại, sự phối hợp hiệu quả và hỗ trợ nhau trên các diễn dàn quốc tế đã mang lại những kết quả tốt đẹp, góp phần nâng cao vị thế của nước Lào và Việt Nam ở khu vực

và trên trường quốc tế, góp phần vào việc cùng cố hòa bình, hợp tác cùng phát triển ở Đông Nam Á và trên thế giới

Bước sang thời kỳ mới, đặc biệt là từ khi tái lập tỉnh Bo Lị Khăm Xay (năm 1984) tới nay, mối quan hệ giữa hai tỉnh Hà Tĩnh – Bo Lị Khăm Xay được nâng lên một tầm cao mới Với quan điểm hợp tác toàn diện trên tinh thần hữu nghị, hiểu biết lẫn nhau và cùng thống nhất các biện pháp nhằm xây dựng cửa khẩu ngày càng phát triển hai nước đã cùng nhau xây dựng hành lang kinh

tế với vị trí nằm trên trung điểm của các thành phố lớn Hà Nội – Huế - Viêng Chăn cửa khẩu Nặm Phao là nơi thuận lợi để giao lưu và thúc đẩy phát triển quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với Lào, Thái Lan và Mianma Trong tiến trình hội nhập với các nước ASEAN, tỉnh Bo Lị Khăm Xay đã và đang trở thành cầu nối giữa các tỉnh miền trung Lào với Việt Nam

Trong tương lai, hai địa phương Hà Tĩnh (Việt Nam) và Bo Lị Khăm Xay (Lào) với tình hữu nghị truyền thống láng giềng, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện cùng nhau xây dựng phát triển, sẽ trở thành biểu tượng về hình

Trang 28

mẫu của tình hữu nghị Việt Nam – Lào anh em Trong đó, hợp tác và phát triển trên tuyến biên giới Việt Nam – Lào là điểm trọng tâm

1.4 Sự thành lập cửa khẩu quốc tế Nặm Phao

Hai tỉnh Bo Lị Khăm Xay (Lào) và Hà Tĩnh (Việt Nam) có vị trí địa kinh

tế đặc biệt quan trọng, là vùng đệm khu mậu dịch ba nước Việt Nam, Lào và Thái Lan Những đặc điểm đó thực sự là lợi thế quan trọng giúp cho hai tỉnh dẩy mạnh giao lưu hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư và du lịch Đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các cửa khẩu trên tuyến biên giới Việt Nam – Lào

Hiệp định về cửa khẩu và quy chế quan lý cửa khẩu biên giới trên đất liền Việt Nam – Lào giữa Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đã được ký kết để thống nhất nâng cấp cặp cửa khẩu Nặm Phao – Cầu Treo và Đen Sạ Vẳn – Lao Bảo thành cửa khẩu quốc tế vào ngày 31 tháng 8 năm 1997 Hiệp định đã chỉ rõ khu vực xác định ở hai bên biên giới trên đất liền Việt Nam – Lào cho người, hàng hóa, vật phẩm, phương tiện giao thông vận tải trực tiếp xuất – nhập cảnh tại khu vực nhất định, bao gồm cửa khẩu song phương và cửa khẩu quốc tế

Cửa khẩu song phương là cửa khẩu được mở cho người, hàng hóa, vật phẩm, phương tiện giao thông vận tải của hai bên xuất, nhập cảnh qua biên giới

Cửa khẩu quốc tế là cửa khẩu được mở cho người, hàng hóa, vật phẩm, phương tiện giao thông vận tải của hai bên và nước thứ ba (khu vực) xuất, nhập cảnh qua biên giới

Hiệp định cũng chỉ rõ về vị trí, loại hình, thời gian mở, thời gian làm việc cửa khẩu biên giới trên đất liền Việt Nam – Lào Trong đó quy định của cửa khẩu Nặm Phao – Cầu Treo là nằm gần mốc biên giới số 460 trên biên giới

Trang 29

Kợt, tỉnh Bo Lị Khăm Xay, Lào và cửa khẩu Cầu Treo là ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, Việt Nam Cửa khẩu này là cửa khẩu quốc tế Thời gian làm việc phía Lào là 7h00 – 20h00 theo giờ địa phương Thời gian làm việc phía Việt Nam là 7h00 – 22h00 giờ Hà Nội

Cửa khẩu Nặm Phao có vị trí chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh quốc phòng của tỉnh Bo Lị Khăm Xay nói riêng và các tỉnh miền Trung của nước Lào nói chung Với vị trí nằm trên trung điểm của các thành phố lớn như Hà Nội – Huế - Viêng Chăn cửa khẩu Nặm Phao là nơi thuận lợi để giao lưu và thúc đẩy phát triển quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với Lào, Thái Lan Nhờ vị trí chiến lược đó, những năm qua, các hoạt động thương mại tại cửa khẩu Nặm Phao đã từng diễn ra sôi động Việt Nam xuất khẩu sang Lào và Thái Lan qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao là các sản phẩm như hải sản đông lạnh, nông sản, tơ tằm, vật liệu xây dựng và các dịch vụ du lịch Còn Lào

và Thái Lan xuất khẩu sang Việt Nam là một lượng tương đối lớn các sản phẩm như gỗ, khoáng sản, hàng tiêu dùng (như đồ điện, đồ nhựa và quần áo), và các máy móc nông nghiệp Hàng năm, có hàng chục ngàn lượt phương tiện thông qua tại cửa khẩu này, với kim ngạch xuất nhập khẩu hàng trăm triệu USD/năm

Cửa khẩu Nặm Phao là một cửa khẩu nằm trong lòng một huyện Khăm Kợt trực thuộc tỉnh Bo Lị Khăm Xay nên có cả hệ thống dịch vụ của huyện để phục vụ cho nhu cầu giao lưu thương mại, xuất nhập khẩu, quá cảnh và du lịch giữa hai nước Đây chính là lợi thế rất quan trọng của cửa khẩu Nặm Phao

Trang 30

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, tác giả đã khái quát chung về các yếu tố ảnh hưởng đến

sự phát triển giao thương giữa hai nước Việt Nam – Lào qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao như điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, điều kiện xã hội, điệu kiện lịch sử Những điều kiện đó là tiềm năng, nguồn lực tự nhiên và nguồn lực

xã hội để tài nên thế mạnh cho kinh tế của tỉnh Bo Lị Khăm Xay đó là hoạt động của kinh tế cửa khẩu

Tỉnh Bo Lị Khăm Xay có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, hệ thống giao thông rất thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội Nguồn tài nguyên thiên nhiên rất phong phú, đặc biệt là tài nguyên rừng, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên thủy điện, đặc điểm khí hậu thổ nhưỡng phù hợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp, nông nghiệp và dược liệu cho giá trị xuất khẩu cao Từ đó tỉnh Bo Lị Khăm Xay có lợi thế để sản xuất chế biến một số mặt hàng thế mạnh của mình để đẩy mạnh xuất khẩu

Với truyền thống hữu nghị, đoàn kết đặc biệt lâu đời giữa hai tỉnh Bo Lị Khăm Xay và Hà Tĩnh trong suốt chiều dài lịch sử, đã trở thành cơ sở, nền tảng cho quá trình đẩy mạnh hợp tác toàn diện trên các lĩnh vực của hai nược Việt Nam và Lào nói chung và của hai tỉnh địa phương Hà Tĩnh – Bo Lị Khăm Xay nói riêng Qua đó ta có thể khẳng định cơ sở lịch sử truyền thống hữu nghị, đoàn kết đặc biệt giữa Bo Lị Khăm Xay và Hà Tĩnh, chính là một yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển giao thương trong thời kỳ mới

Bên cạnh đó, với vị trí quan trọng trong tuyến hành lang kinh tế của các thành phố lớn như Hà Nội – Huế - Viêng Chăn và hành lang kinh tế của các nước láng giềng của nước Lào như Việt Nam và Thái Lan, cửa khẩu quốc tế Nặm Phao – Cầu Treo với hệ thống giao thông thuận tiện, cơ sở hạ tầng cửa

Trang 31

khẩu ngày càng khang trang hiện đại góp phần đẩy mạnh giao lưu trao đổi thương mại giữa Việt Nam – Lào

Như vậy, những cơ sở đó sẽ là yếu tố quan trọng để thúc đẩy hoạt động giao thương giữa hai nước Việt Nam – Lào qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao ngày càng phát triển

Trang 32

Chương 2

HOẠT ĐỘNG GIAO THƯƠNG TẠI CỬA KHẨU QUỐC TẾ

NẶM PHAO TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2015 2.1 Chủ trương phát triển quan hệ giao thương Việt Nam - Lào của tỉnh

Bo Lị Khăm Xay

Trên cơ sở đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước về đối ngoại nói chung và về quan hệ hợp tác Lào – Việt Nam nói riêng, hoạt động đối ngoại, trao đổi kinh tế - thương mại tỉnh Bo Lị Khăm Xay – Hà Tĩnh đã được Tỉnh ủy,

Ủy ban Nhân dân tỉnh Bo Lị Khăm Xay chú trọng triển khai một cách chủ động, tích cực và đã thu được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần thúc đẩy quan hệ hai nước Lào - Việt Nam nói chung, giữa hai tỉnh địa phương Bo Lị Khăm Xay và Hà Tĩnh nói riêng Trước hết phải kể đến những nỗ lực khôi phục và tăng cường quan hệ hữu nghị đặc biệt trên tuyến biên giới Lào – Việt Nam của Đảng bộ tỉnh Bo Lị Khăm Xay Những nỗ lực này đều được Đảng bộ thực hiện trên cơ sở bám vững chắc các chủ trương của Đảng và của Nhà nước Lào

Sau ngày tái lập tỉnh (tháng 3 năm 1984), thực hiện đường lối đổi mới, tăng cường hội nhập và hợp tác quốc tế, tỉnh Bo Lị Khăm Xay là một trong 9 tỉnh biên giới giáp với Việt Nam (Phông Sa Lỳ, Luông Pha Băng, Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Bo Lị Khăm Xay, Khăm Muộn, Sa Van Na Khệt, Sa La Văn

và Át Ta Pư) sớm khai thông và mở rộng quan hệ hợp tác toàn diện với Đảng và chính quyền 2 địa phương Bo Lị Khăm Xay – Hà Tĩnh của hai nước Việt Nam - Lào

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bo Lị Khăm Xay lần thứ nhất (từ ngày 13 đến 16 tháng 10 năm 1986) là mốc lịch sử quan trọng mở đầu giai đoạn mới trong quá trình phát triển, đi lên của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Bo

Lị Khăm Xay Ban chấp hành Đảng bộ khóa I, nhiệm kỳ 1986-1990 xác định:

Trang 33

“Vì sự ổn định và phát triển với truyền thống hữu nghị đoàn kết đặc biệt vốn có

và phương châm khép lại quá khứ, hướng tới tương lai, xây dựng vùng kinh tế trên biên giới và hợp tác toàn diện mà Đảng, Nhà nước, nhân dân hai nước Việt Nam – Lào đã dày công vun đắp”[15, tr.101] Trước mắt, Đảng bộ tỉnh

chủ trương phải cải tạo, nâng cấp và khôi phục các tuyến đường quan trọng như Quốc lộ 8A, 4B, 1D, 13 để làm thức dậy mối giao thương và đặt vai trò cầu nối trên tiến hành lang kinh tế Viêng Chăn – Huế - Hà Nội trong chiến lược phát triển của tỉnh Tiếp đó, được sự đồng thuận của Chính phủ hai nước mở lại cửa khẩu phụ và các lối mở truyền thống trên đường biên giới trên 215Km Bo Lị Khăm Xay-Hà Tĩnh-Nghệ An Trong đó, có 3 cửa khẩu phụ như: một là cửa khẩu Năm On, huyện Xay Chăm Phon (Bo Lị Khăm Xay); bên kia là cửa khẩu Thanh Thủy, huyện Thanh Chương (Nghệ An) Hai là cửa khẩu Thong Sen, huyện Xay Chăm Phon (Bo Lị Khăm Xay); bên Việt Nam là cửa khẩu Ca Veo, huyện Thanh Chương (Nghệ An) Bà là cửa khẩu Thong Mi Xay, huyện Viêng Thong (Bo Lị Khăm Xay); bên Việt Nam là cửa khẩu Tạp Hập, huyện Tương Dương (Nghệ An) Bên cạnh đó là việc hai tỉnh Bo Lị Khăm Xay và Hà Tĩnh tăng cường các chuyến thăm và làm việc giữa hai lãnh đạo cấp cao hai tỉnh, các ngành đã nối lại quan hệ hợp tác kinh tế - thương mại mở thông quan hệ biên giới để phục vụ cho dân biên giới thăm thân, trao đổi hàng hóa, những vấn đề hợp tác kinh doanh Xây dựng cơ sở hạ tầng và giải quyết công việc giữa hai bên biên giới

Tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bo Lị Khăm Xay lần thứ II họp từ ngày 4 đến 6 tháng 12 năm 1993 đã thông qua Nghị quyết phát triển kinh tế -

xã hội trong giai đoạn (1993 - 1998) Triển khai các công trình của Tỉnh ủy về phát triển kinh tế đối ngoại trên địa bàn tỉnh giai đoạn 1993 – 1998 Ủy ban

nhân dân tỉnh chỉ đạo các cơ quan chức năng xây dựng Đề án khai thác Khu

kinh tế cửa khẩu tỉnh Bo Lị Khăm Xay và đã được Chính phủ phê duyệt Đây là

Trang 34

một trong những đề án quan trọng trong chiến lược phát triển Kinh tế đối ngoại của tỉnh Các hoạt động thương mại, dịch vụ, đầu tư tại khu vực cửa khẩu được đẩy mạnh Các sở, ban, ngành, đơn vị đặc biệt là các cơ quan được giao trách nhiệm là đầu mối, chủ động xây dựng các dự án kêu gọi đầu tư trong và ngoài nước, từng bước cải tiến, đơn giản hóa các thủ tục đầu tư, qua đó đã thu hút được nhiều các doanh nghiệp trong và ngoài nước đến đầu tư, phát triển bước đầu thu ngân sách của tỉnh

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bo Lị Khăm Xay lần thứ III họp từ ngày 2 đến ngày 4 tháng 3 năm 1998, đại hội đã thông Nghị quyết phát triển kinh tế -

xã hội trong giai đoạn 1998 - 2002 Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của việc phát triển kinh tế đối ngoại và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Đảng bộ tỉnh Bo Lị Khăm Xay, xác định lợi thế của cửa khẩu quốc tế Nặm Phao và cửa khẩu quốc tế Pạc Săn trong phát triển kinh tế thương mại, dịch vụ, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bo Lị Khăm Xay khóa III đã xác định phát triển kinh tế cửa khẩu là một trong những đề án trong chương trình công tác trọng

tâm toàn khóa với mục tiêu: Khai thác tốt nhất những lợi thế về cửa khẩu, đưa

kinh tế cửa khẩu thực sự là mũi nhọn, là động lực để phát triển kinh tế địa phương Trong đó, Tỉnh uỷ đặc biệt chú trọng tới việc phát triển Dự án đẩy

mạnh sản xuất hàng hóa xuất khẩu của tỉnh Bo Lị Khăm Xay Dự án xác định thị trường chủ yếu và truyền thống của hàng hóa tỉnh Bo Lị Khăm Xay sản xuất

và xuất khẩu là tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An (Việt Nam) và Vương quốc Thái Lan,

“cửa ngõ chính” đối với hàng hóa của tỉnh Bo Lị Khăm Xay, của Lào và các nước ASEAN xâm nhập vào thị trường khu vực Bắc Trung Bộ đất nước Việt Nam Đây là khu vực đông dân cư và chậm phát triển hơn so với các khu vực khác ở Việt Nam, vì vậy nhu cầu nhập khẩu lớn và những yêu cầu của thị trường này đối với sản phẩm hàng hóa của tỉnh tương đối dễ dàng Tâm điểm

Trang 35

hoạt động đối ngoại trong những năm tiếp theo được Tỉnh ủy xác định là: Tiếp tục đẩy mạnh quan hệ hợp tác đối ngoại với Việt Nam đặc biệt là với huyện Hương Sơn, huyện Thanh Chương và huyện Tương Dương thuộc tỉnh Hà Tĩnh

và Nghệ An (Việt Nam) để tạo mối quan hệ thân thiện cũng như tăng cường phát triển kinh tế nhằm khai thác có hiệu quả hệ thống cửa khẩu và lối mở của tỉnh Bo Lị Khăm Xay nói riêng; Thu hút đầu tư của các tỉnh bạn, khai thác thế mạnh của họ để đầu tư vào các cơ sở sản xuất, dịch vụ tại tỉnh Bo Lị Khăm Xay; Tăng cường các hình thức trao đổi đoàn bằng cách tham quan, khảo sát học tập; trao đổi thông tin theo định kỳ (3 tháng, 6 tháng và cả năm sẽ có cuộc trao đổi thông tin làm việc giữa hai tỉnh Bo Lị Khăm Xay (Lào) và Hà Tĩnh (Việt Nam) Ký kết các văn kiện hợp tác về các lĩnh vực phát triển nông nghiệp (sản xuất giống), đào tạo du lịch, quy hoạch và quản lý đô thị các nhà lãnh đạo cấp cao hai tỉnh đã chủ động tạo và đón thời cơ, khai thác nguồn lực bổ sung cho nhau

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bo Lị Khăm Xay khoá IV, tiến hành từ ngày 9 đến ngày 11 tháng 4 năm 2005, đã thông qua Nghị quyết phát triển kinh

tế - xã hội giai đoạn 2006 - 2010 Trong xu thế hội nhập, hợp tác kinh tế quốc

tế, cùng với lợi thế của cửa khẩu, tiềm năng của thị trường Bắc Trung Bộ (Việt Nam) và vùng Đông Bắc Thái Lan, hoạt động giao lưu kinh tế, thương mại qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao và cửa khẩu quốc tế Pạc Săn ngày càng có cơ hội phát triển, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bo Lị Khăm Xay khoá IV khẳng định:

Tập trung đầu tư khai thác lợi thế vị trí “cầu nối” và điều kiện tự nhiên, nâng cao chất lượng, hiệu quả các loại dịch vụ trên địa bàn, đưa Khu kinh tế cửa khẩu thành vùng kinh tế động lực Ưu tiên đầu tư hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng Khu kinh tế cửa khẩu, bổ sung hoàn thiện các cơ chế chính sách, xây dựng Khu kinh tế cửa khẩu Bo Lị Khăm Xay trở thành Khu kinh tế trọng điểm phát triển

có tác dụng lan toả phát triển các vùng khác trong tỉnh

Trang 36

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bo Lị Khăm Xay lần thứ V, tiến hành từ ngày 27 đến ngày 28 tháng 5 năm 2010, Đại hội đã thông qua Nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010 - 2015 Nhằm thực hiện Nghị quyết của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bo Lị Khăm Xay khóa V về phát triển kinh tế đối ngoại và kinh tế cửa khẩu, trong khuôn khổ hội chợ thương mại Lào – Việt Nam năm 2010, lãnh đạo hai tỉnh Bo Lị Khăm Xay và Hà Tĩnh đã tiến hành hội đàm song phương nhằm đánh giá kết quả hợp tác giữa hai bên Lãnh đạo hai tỉnh khẳng định: trên cơ sở tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác toàn diện, bình đẳng, tin cậy, hiệu quả, cùng có lợi, cùng phát triển, tình hữu nghị hai bên không ngừng được củng cố và đạt được những kết quả to lớn Nhận thức được vai trò và vị trí của cặp cửa khẩu Nặm Phao – Cầu Treo trên tuyến hành lang này, trong thời gian qua tỉnh Bo Lị Khăm Xay đã và đang tích cực xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi nhất cho các tỉnh, thành phố, các doanh nghiệp của Lào, ASEAN, giao thương, buôn bán với Việt Nam và các tỉnh miền Trung Việt Nam qua cửa khẩu Quốc tế Nặm Phao (Bo Lị Khăm Xay) Đây có thể được coi là dấu mốc lịch sử đánh dấu cho sự thành công tốt đẹp, đem lại niềm tin mới, mở ra một tương lai hợp tác phát triển mới giữa hai tỉnh

Bo Lị Khăm Xay với Hà Tĩnh, góp phần tích cực vào việc mở rộng quan hệ

hợp tác toàn diện giữa Lào và Việt Nam trong giai đoạn mới

2.2 Những hoạt động chủ yếu tại cửa khẩu Nặm Phao trong giai đoạn

Trang 37

động giao thương qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao chưa được đẩy mạnh, trị giá xuất nhập khẩu qua cửa khẩu Nặm Phao chưa đạt được cao Trước những khó khăn và thử thách, Đảng bộ và chính quyền tỉnh Bo Lị Khăm Xay nêu quyết tâm xây dựng tỉnh ngày càng giàu mạnh, vững vàng nơi biên cương của Tổ quốc Đứng trước tình hình mới, Đại hội Đảng bộ tỉnh Bo Lị Khăm Xay lần thứ III (1998) đã xác định: “Tiếp tục sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu kinh tế cho phù hợp với tiềm năng tài nguyên và vị trí của một tỉnh có cửa khẩu quốc tế” Hội nghị Đại biểu giữa nhiệm kỳ 1998 – 2002 của Đại hôi đã đề ra chương trình khai thác và quản lý cửa khẩu quốc tế

Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới, mở cửa của Đảng và Nhà nước, tỉnh Bo Lị Khăm Xay đã chủ trương đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu và sản xuất hàng xuất khẩu, tăng cường hợp tác quốc tế Là địa phương có thế mạnh về kinh tế đối ngoại, tỉnh Bo Lị Khăm Xay đã chủ trương khai thác thế mạnh mậu dịch biên giới và mậu dịch địa phương giữa hai tỉnh Bo Lị Khăm Xay (Lào) và tỉnh Hà Tĩnh (Việt Nan) Tỉnh Bo Lị Khăm Xay đã chỉ đạo các ngành chức năng phối hợp chặt chẽ với các ngành tương ứng phía Việt Nam để tạo môi trường thuận lợi cho phát triển thương mại, du lịch, dịch vụ trên tuyến biên giới Xác định các hình thức kinh doanh xuất nhập khẩu tại Bo Lị Khăm Xay tập trung chủ yếu tại các cửa khẩu biên giới là: Xuất nhập khẩu mậu dịch Trung ương (do Bộ Công Thương quản lý cấp giấy phép); Xuất nhập khẩu mậu dịch địa phương (tiểu ngạch do Ủy ban nhân tỉnh quản lý và chỉ đạo); hoạt động buôn bán trao đổi hàng hóa giữa các tổ chức doanh nghiệp nhà nước và tư thương, cư dân biên giới giữa hai bên; hoạt động xuất nhập cảnh, tham quan du lịch, hàng hội chợ triển lãm, quảng cáo; hàng vận chuyển quá cảnh một chiều

từ Lào sang Việt Nam

Từ năm 2000 đến năm 2003, phát huy lợi thế của cửa khẩu quốc tế Nặm Phao – Cầu Treo, thương nhân các thành phần kinh tế trong và ngoài tỉnh Bo Lị Khăm Xay đã mở rộng quan hệ trao đổi buôn bán hàng hóa với tỉnh Hà Tĩnh và

Trang 38

các tỉnh Bắc Trung Bộ của Việt Nam Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao ngày càng tăng với tốc độ cao, năm 2001 - 2002 đạt 3,967,664.77 USD, năm 2002 - 2003 đạt 4,708,536.5 USD tăng 15,73% so với năm 2002 [7, tr.1]

Trong những năm 2001 - 2005, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao đạt 17,868,673.04 USD, tăng trưởng bình quân hàng năm 27,64% Qua đó có thể nhận thấy rằng kim ngạch trao đổi hàng hóa qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao có năm tăng, có năm giảm, tuy nhiên mức tăng chưa ổn định qua các năm Đáng chú ý là tốc độ tăng trưởng của tổng giá trị xuất nhập khẩu năm 2003 – 2004 giảm so với năm 2002 - 2003 là 23,09%, năm

2004 - 2005 kim ngạch xuất nhập khẩu có tăng so với năm 2003 – 2004 tăng lên 35,00% Tuy nhiên, đến năm 2005, kim ngạch xuất nhập khẩu của Lào sang Việt Nam qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao đã tăng nhanh, đạt 5,571,441.59 USD [7, tr.1]

Về hoạt động xuất khẩu, trong thời kỳ đầu hàng hóa xuất khẩu qua cửa

khẩu Nặm Phao còn hạn chế do đường lối chưa thuận lợi nhất là Quốc lộ 8A chưa được cùng cố, đường đi lại rất khó khăn nhất là mùa mưa, giá trị hàng xuất khẩu chưa cao chủ yếu là nguyên liệu thô chưa qua chế biến, tính cạnh tranh thấp và phụ thuộc nhiều vào chính sách biên mậu của Việt Nam Phải đến giai đoạn 2001 - 2005 kim ngạch xuất khẩu hàng hóa Lào vào thị trường Việt Nam qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao dần dần nhộn nhịp và sôi động Đó là do

hệ thống cơ chế chính sách về quản lý XNK của nhà nước hai bên đã tạo ra môi trường pháp lý thông thoáng và thuận tiện thu hút các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước tham gia kinh doanh và xuất nhập khẩu qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao

Trang 39

Bảng 2.1: Kim ngạch XNK Lào – Việt Nam qua cửa khẩu quốc tế

2001 - 2002 3,967,664.77 1,421,229.09 2,546,435.68 -1,125,206.59

2002 – 2003 4,708,536.5 1,698,986.22 3,009,550.28 -1,310,564.06

2003 – 2004 3,621,327.18 1,150,745.14 2,470,582.04 -1,319,836.9

2004 - 2005 5,571,441.59 2,387,601.47 3,183,840.12 -796,238.65

Nguồn: Sở Công thương tỉnh Bo Lị Khăm Xay măm 2001 -2005

Trong những năm 2001 - 2005 tổng kim ngạch xuất khẩu qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao đạt 6,658,561.92 USD tốc độ tăng trưởng bình quân là 35,88%/năm Đáng chú ý là tốc độ tăng trưởng của giá trị xuất khẩu năm

2004 - 2005 tăng 50% so với năm trước 2003 - 2004, đây là năm giá trị xuất khẩu tăng cấp hai Đồng thời cũng là giai đoạn đầu tiên mà tỉnh Bo Lị Khăm Xay khuyến khích các đầu tư trên địa bàn tỉnh, theo đó tỉnh đã khuyến khích các nhà đầu tư trong các lĩnh vực kinh doanh sản xuất, xuất nhập khẩu, du lịch và dịch vụ Bên cạnh đó giao thông giữa hai nước cũng như hai địa phương được cải thiện và đã tạo thuận lợi cho trao đổi hàng hoá hai bên Nhưng trong giai đoạn 2003 - 2004, là giai đoạn cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực nổ ra và ảnh hưởng đến nền kinh tế Lào, dẫn đến giao thương các nuớc trong khu vực giảm Tuy nhiên, đến năm 2005, kim ngạch xuất khẩu qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao đã tăng nhanh, đạt kết quả cao so với năm

2003 - 2004

Trang 40

Đạt được kết quả đó là sự chuyển biến tích cực thông qua hàng loạt các

cơ chế chính sách từ trung ương đến địa phương Chính phủ và Bộ Công Thương đã ban hành một số văn bản chỉ đạo hoạt động buôn bán với Việt Nam, trong đó có những văn bản điều chỉnh riêng các hoạt động trao đổi hàng hóa qua biên giới, cho phép các tỉnh có chung biên giới với Việt Nam (trong đó có tỉnh Bo Lị Khăm Xay) được thực hiện một số chính sách ưu đãi tại khu kinh tế cửa khẩu Nhằm tạo ra hành lang pháp lý và hình thành hệ thống chính sách cho hoạt động thương mại của Lào và Việt Nam Đó là những chính sách tích cực đẩy mạnh hoạt động buôn bán trao đổi hàng hóa của các tỉnh biên giới đặc biệt là tại khu vực cửa khẩu quốc tế Nặm Phao Trong những năm mà thực hiện chính sách của Chính phủ và Bộ Công Thương, tỉnh Bo Lị Khăm Xay đã có sự chuyển biến sâu sắc, tăng sức hấp dẫn của một khu vực cửa khẩu quốc tế Bên cạnh đó, phía Việt Nam cũng có nhiều chiến lược cụ thể đối với thương mại Việt Nam - Lào và cho áp dụng chính sách biên mậu với mục đích thu hút nguồn nguyên liệu từ các nước trong khu vực và tiêu thụ được hàng hóa

Trong cơ cấu hàng hóa trao đổi giữa hai bên qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao, tỉnh Bo Lị Khăm Xay đã xuất khẩu chủ yếu sang Việt Nam có các loại

gỗ, gỗ thành phẩm, khoáng sản, nông sản, đồ lâm sản v.v , Trong đó, các mặt hàng gỗ và hàng đồ lâm sản thường chiếm trên 80% Khác với các thị trường khác, các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Bo Lị Khăm Xay sang Hà Tĩnh thay đổi theo năm, chỉ có một vài mặt hàng là trùng trong các năm Đây chính là nét đặc trưng của buôn bán tiểu ngạch, có mặt hàng nào xuất mặt hàng ấy, có bao nhiêu xuất bấy nhiêu

Thời kỳ đầu, các mặt hàng xuất khẩu qua cửa khẩu Nặm Phao chủ yếu là các mặt hàng nguyên, nhiên liệu và đồ nông sản dưới dạng thô chưa qua chế biến, tính cạnh tranh thấp, phụ thuộc nhiều vào chính sách biên mậu của Việt Nam Sang những năm 2006 trở lên, hàng hóa xuất khẩu qua cửa khẩu quốc tế Nặm Phao sang Việt Nam dần dần được định hình rõ hơn, chủ yếu là các sản

Ngày đăng: 20/07/2020, 08:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w