1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn HOẠT ĐỘNG GIÁM sát của đoàn đại BIỂU QUỐC hội từ THỰC TIỄN TỈNH THANH hóa

78 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt động Giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội từ Thực tiễn Tỉnh Thanh Hóa
Tác giả Mai Việt Hà
Người hướng dẫn TS. Trần Văn Duy
Trường học Học viện Khoa học xã hội
Chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phù hợp với quan điểm này, khoản 1 Điều 2 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015 đã quy định: “Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

MAI VIỆT HÀ

HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

TỪ THỰC TIỄN TỈNH THANH HÓA

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số : 8 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TRẦN VĂN DUY

HÀ NỘI, năm 2021

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất

cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Học viện khoa học xã hội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Mai Việt Hà

Trang 3

1.1 Chức năng giám sát của Quốc hội và hoạt động giám sát của Đại biểu Quốc

1.2.Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giám sát 31

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TỈNH THANH HÓA

2.1 Đặc điểm địa kinh tế, chính trị tỉnh Thanh Hóa tác động đến hoạt động

2.2 Khái quát về Đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa

37

2.3 Thực trạng triển khai và thực hiện hoạt động giám sát của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa 39

Trang 4

2.4 Thực trạng công tác phối hợp giữa Đoàn đại biểu Quốc hội với các cơ quan

2.5 Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn hoạt động giám sát của đại biểu Quốc hội

và Đoàn đại biểu Quốc hội trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 50

CHƯƠNG III: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

VÀ ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TỈNH THANH HÓA

3.1 Phương hướng nâng cao hiệu quả của hoạt động giám sát của Đại biểu

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Đại biểu Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội tại tỉnh Thanh Hóa 64

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ĐBQH: Đại biểu Quốc hội

HĐND: Hội đồng nhân dân

UBND: Ủy ban nhân dân

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Giám sát là một trong những chức năng cơ bản của Quốc hội Giám sát là việc Quốc hội sử dụng các phương tiện và công cụ của mình để tìm hiểu chính sách, pháp luật do Quốc hội ban hành được thực thi ra sao, các cơ quan Nhà nước thực hiện như thế nào, trên cơ sở đó để bảo vệ lợi ích của đất nước, của nhân dân và thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước, thể hiện vai trò của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, bảo đảm tôn trọng và phát huy quyền dân chủ của nhân dân Như vậy, có thể khẳng định hoạt động giám sát của Quốc hội có vai trò vô cùng quan trọng, làm cho Quốc hội hoạt động có hiệu lực, hiệu quả

Việc nghiên cứu về quyền giám sát và hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam đã được quan tâm từ nhiều năm nay Song chủ yếu mới chỉ tập trung nghiên cứu về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội mà chưa đi sâu nghiên cứu về hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội Trong khi, theo quy định, chủ thể hoạt động giám sát của Quốc hội bao gồm: Đoàn đại biểu Quốc hội; Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội; Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Quốc hội”

Thực tiễn từ khi triển khai thực hiện các quy định của pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội cho thấy, kể từ khi Luật hoạt động giám sát của Quốc hội có hiệu lực thì hoạt động giám sát của Quốc hội nói chung Đoàn đại biểu Quốc hội nói riêng đã có nhiều chuyển biến tích cực, đã tập trung vào những vấn đề mà cử tri quan tâm, góp phần ổn định chính trị, thúc đẩy kinh tế,

xã hội ngày càng phát triển

Từ thực tiễn hoạt động giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa thời gian qua cho thấy, hiệu quả của công tác giám sát phụ thuộc vào nhiều yếu tố, tuy nhiên cũng còn tồn tại nhiều bất cập Cho nên nếu đề ra và thực hiện được đồng bộ các giải pháp phù hợp thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng giám

sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội Do đó, việc nghiên cứu đề tài "Hoạt động giám

Trang 6

sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa" là cần thiết, nhằm

đánh giá những kết quả đã đạt được cũng như những điểm còn hạn chế để nâng cao hoạt động giám sát của Quốc hội và hoạt động của Quốc hội, giữ vững, tăng cường lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Thời gian qua, hoạt động giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội được nhiều người quan tâm nghiên cứu với những cách tiếp cận khác nhau, ở phạm vi lớn trên quy mô cả nước cho đến những phạm vi nhỏ hơn như địa bàn tỉnh Có một số đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ và nhiều luận văn Tiến sĩ, Thạc sĩ với chủ

đề liên quan, tiêu biểu có thể kể một số nghiên cứu sau:

- Ông Thị Mai (2016), Tổ chức và hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội, qua thực tiễn áp dụng pháp luật tại tỉnh Quảng Nam, Luận

văn thạc sĩ Chính trị học tại Học viện Chính trị khu vực III Luận văn đã xây dựng các khái niệm cơ bản như khái niệm, chế định pháp lý, đồng thời làm rõ bản chất và hệ quả pháp lý của mỗi hình thức hoạt động trong thực tiễn áp dụng

và từ đó kiến nghị những giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này mà các quy định hiện hành chưa đề cập tới

- Phạm Văn Sơn (2016), Cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định pháp lý về đại biểu Quốc hội, Đoàn ĐBQH tỉnh ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ tại Trường Đại

học Nam Cần Thơ, Luận văn đã xây dựng các khái niệm cơ bản như khái niệm chế định pháp lý về đại biểu Đoàn ĐBQH tỉnh ở Việt Nam, chế định pháp lý về giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội, đồng thời làm rõ bản chất và vai trò pháp

lý của giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội Luận văn đã làm rõ cơ sở xã hội - lịch sử của việc giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội và chỉ ra những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới việc giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội nhằm bảo đảm cho nghĩa vụ đại biểu ở nước ta hiện nay Luận văn đã đề xuất ba nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của pháp luật về giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội nhằm bảo đảm cho nghĩa vụ đại biểu của Đoàn ĐBQH tỉnh

Trang 7

- Lê Minh Đoàn, Đổi mới tổ chức và hoạt động của ĐĐBQH và UBND các cấp,

Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6/2016 Bài viết đã nhấn mạnh đến vấn đề cần tiếp tục làm sáng tỏ mối quan hệ quyền lực giữa bộ máy nhà nước ở trung ương và bộ máy quyền lực nhà nước ở địa phương Tác giả khẳng định cần phải

có các biện pháp bảo đảm để ĐĐBQH có thực quyền, tránh tính hình thức của Đoàn ĐBQH

- Trần Văn Nam (2017), Quy định pháp luật về giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học tại Học

viện Hành chính cơ sở thành phố Hồ Chí Minh, đề tài đã triển khai nghiên cứu gồm 3 phần; (i) là khái quát chung về giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội, khái niệm chung, mục đích và nguyên tắc, pháp luật áp dụng giải quyết quan hệ giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội; (ii) những quy định cụ thể của pháp luật điều chỉnh vấn đề giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội; (iii) là thực trạng và giải pháp của quan hệ giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội ở Việt Nam

- Đoàn Văn Lâm (2018), Giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội và thực tiễn thực hiện tại thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ tại Học viện Hành chính Luận

văn đã đi sâu nghiên cứu một số vấn đề lí luận và thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội Phân tích thực tiễn thực hiện pháp luật về giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội, của đại biểu Hội đồng nhân dân tại thành phố Hà Nội; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về vấn đề này

- Vũ Ngọc Hà (2011), Quan hệ giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội và thực tiễn tỉnh Quảng Trị, luận văn thạc sĩ Luật học tại Đại

học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận

và quy định của pháp luật hiện hành về giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội của đại biểu Quốc hội Phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật tại Đoàn Đại biểu Quốc hội; từ đó đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật

và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về vấn đề này

Trang 8

Những luận văn, luận án và công trình nghiên cứu trên nêu lên tầm quan trọng của việc nghiên cứu và hoàn thiện các quy định về pháp luật giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội nhằm đảm bảo hoạt động giám sát phát huy hiệu quả trong thực tế

Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu để chỉ ra những mặt tích cực, hạn chế khi triển khai hoạt động giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội trên thực tế, và đề xuất được được những giải pháp khả thi sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội nói riêng và Quốc hội nói chung

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu đề tài

Luận văn làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn để xác định phương hướng và nâng cao hiệu quả hoạt động của Đoàn Đại biểu Quốc hội

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài đặt ra, tác giả thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Phân tích các khái niệm cơ bản, cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội

- Đánh giá thực công tác giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội và hệ thống pháp luật có liên quan ở Việt Nam hiện nay, từ đó chỉ ra những bất cập, hạn chế trong các quy định của pháp luật

- Đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Đoàn Đại biểu Quốc hội hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi

4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn

Luận văn đi sâu nghiên cứu hoạt động giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội Thanh Hóa trong thực tiễn

4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Phạm vi nghiên cứu về không gian: Hoạt động giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội tại tỉnh Thanh Hoá

Trang 9

Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Nghiên cứu hoạt động giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội giai đoạn 2015 - 2020

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu và trình bày, luận văn sử dụng kết hợp phương pháp phân tích, luận giải, bình luận, đánh giá, diễn giải, so sánh, tổng hợp, quy nạp

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn

6.1 Ý nghĩa khoa học của luận văn

Kết quả nghiên cứu của đề tài Luận văn góp phần hệ thống hóa các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, Đoàn Đại biểu Quốc hội tại tỉnh Thanh Hóa trong điều kiện hiện nay

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Các giải pháp và kiến nghị của đề tài luận văn trực tiếp góp phần hoàn thiện, nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa theo quy định của pháp luật Việt Nam

Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn cũng có ý nghĩa tham khảo đối với các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, Hội đồng nhân dân các cấp, Quốc hội và đại biểu Quốc hội các tỉnh, thành phố khác, tài liệu tham khảo cho tổ chức, cá nhân khi nghiên cứu về chủ đề giám sát của Quốc hội, Đoàn Đại biểu Quốc hội

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài các phần: Mục lục, danh mục các từ viết tắt, lời nói đầu, kết luận

và danh mục tài liệu tham khảo luận văn được chia làm ba chương như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hoạt động giám sát của của Đại biểu Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội

Trang 10

Chương 2: Hoạt động giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hoá

Trang 11

CHƯƠNG I:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA ĐẠI

BIỂU QUỐC HỘI VÀ ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

1.1 Chức năng giám sát của Quốc hội và hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu quốc hội tỉnh

1.1.1 Khái niệm giám sát

Theo từ điển Tiếng Việt, giám sát được hiểu là “theo dõi việc thực hiện những điều đã cam kết, quy định”, hay là "sự theo dõi, xem xét làm đúng hoặc sai những điều đã quy định” Dưới góc độ nghiên cứu, có ý kiến cho rằng, giám sát được hiểu là việc “theo dõi, xem xét, đánh giá”, bao gồm hành vi quan sát (theo dõi, xem xét, cân nhắc) và hành vi phán quyết (đánh giá) đối với hoạt động (hành vi) của đối tượng chịu sự giám sát Tuy nhiên, nếu hiểu đơn giản

theo quan điểm này thì giám sát chỉ đơn thuần được xem là các hoạt động diễn

ra trong nội tại của chủ thể giám sát mà không cho thấy mối liên hệ tác động qua lại mang tính tích cực, chủ động giữa chủ thể giám sát và đối tượng giám sát, không thể hiện được mục đích, vai trò của hoạt động giám sát là nhằm bảo đảm các đối tượng giám sát thực hiện đúng theo các cam kết, quy định

Giám sát là sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được những mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước; giám sát không chỉ dừng lại ở việc chủ thể giám sát quan sát, phán quyết mà còn bao gồm cả việc chủ thể giám sát bày tỏ thái độ, thực hiện các hành động để tác động lên

hành vi của đối tượng bị giám sát Phù hợp với quan điểm này, khoản 1 Điều 2 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015 đã quy định: “Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan,

tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật

về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý” Nội hàm có thể hiểu “Giám

Trang 12

sát” là việc một chủ thể có thẩm quyền (chủ thể giám sát) nhất định theo dõi một cách chủ động, theo trình tự, thủ tục do luật định đối với hoạt động của đối tượng đã được xác định (chủ thể chịu sự giám sát), qua đó xem xét, đánh giá hiệu lực, hiệu quả hoạt động cũng như việc tuân thủ pháp luật của các đối tượng, xem có vi phạm hay không, những hạn chế, bất cập và nếu có thì đưa ra biện pháp cần thiết để bảo đảm hoạt động của đối tượng đó tuân thủ các quy định và mục đích đã đặt ra Các biện pháp đưa ra thường dưới hình thức các yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý; một số chủ thể có thể trực tiếp quyết định xử lý theo thẩm quyền luật định

Như vậy, giám sát là sự theo dõi, quan sát mang tính chủ động, thường xuyên của cơ quan, tổ chức hoặc nhân dân đối với hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát và hướng các hoạt động đó đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã xác định từ trước, bảo đảm Hiến pháp và pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh Đồng thời, giám sát còn là quyền của nhân dân, của tổ chức xã hội xem xét đối với hoạt động của bộ máy nhà nước, của cán bộ, công chức nhà nước trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật

1.1.2 Khái niệm hoạt động giám sát

Quốc gia độc lập và thịnh vượng là khát vọng ngàn đời của dân tộc Nếu như cha ông ta thuở trước đã thực hiện tốt nhiệm vụ thứ nhất, thì xây dựng đất nước giàu mạnh đang là vấn đề đặt ra đối với thế hệ hôm nay Để thúc đẩy sự phát triển đòi hỏi mỗi cá nhân phải là một chủ thể năng động, đầy quyết tâm và phải có những “sợi dây” liên kết họ lại, tạo thành một hợp lực mạnh mẽ hướng

về phía trước Sự giàu có và thịnh vượng được tạo ra từ sức lao động và trí tuệ của nhân dân, nó không thể là vật phẩm do ai đó ban tặng Nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung được xây dựng trong giai đoạn đầu của nền cộng hoà và tồn tại trong suốt thời kỳ chiến tranh đã có những đóng góp quan trọng trong việc đáp ứng các nhu cầu của cuộc kháng chiến giành độc lập, thống nhất đất nước, về cơ bản phù hợp với quy luật của kinh tế thời chiến Tuy nhiên khi đất nước ra khỏi chiến tranh, cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trungđã không còn phù hợp và trở thành vật cản bước tiến của xã hội

Trang 13

Để mở đường cho sự phát triển xã hội, Đảng ta đã phát động công cuộc đổi mới từ năm 1986 với dung quan là chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung sang nền kinh tế theo cơ chế thị trường; xây dựng nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa Sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã

và đang có sự thay đổi sâu sắc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Người dân ngày càng tin tưởng vào nền kinh tế thị trường và triển vọng phát triển kinh tế đất nước Nhưng con đường tiến bộ xây dựng nền kinh tế thị trường, thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, hội nhập vào thế giới văn minh đang bị cản trở bởi sự đổi mới chậm chạp trong bộ máy nhà nước Mô hình Nhà nước pháp quyền không những chưa được định hình mà những đổi mới trong bộ máy nhà nước hiện nay chỉ phản ánh sự thay đổi về lượng, chưa thực sự thay đổi về chất Trong tổ chức

và hoạt động của bộ máy nhà nước, trách nhiệm cá nhân chưa được đề cao, cơ chế xin - cho vẫn còn tồn tại, thói quen quản lý và hành động theo pháp luật chưa hình thành, nguyên tắc dân chủ còn bị vi phạm, tính công khai, minh bạch thấp, tham nhũng, nhận hối lộ tràn lan Nếu tiếp tục duy trì một bộ máy nhà nước như vậy thì nền kinh tế thị trường năng động, hiện đại không thể xây dựng được

Hoạt động của Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội và mối liên hệ giữa đại biểu với cử tri đang là một vấn đề bức xúc hiện nay Hầu hết mọi người dân đều không nhớ và không biết mình có người đại diện Những cơ chế, quan niệm, giá trị cũ kỹ và cả những mâu thuẫn nội tại của pháp luật đang cản trở sự vận hành và phát triển của nền dân chủ đại diện.Giám sát được hiểu rộng hơn bởi để thực hiện được hoạt động giám sát thì không chỉ có chủ thể tiến hành và đối tượng chịu giám sát, nhất là giám sát mang tính chất quyền lực nhà nước như giám sát của Quốc hội và giám sát của ĐĐBQH, ĐBQH Đối tượng tác động còn gồm cả các đối tượng khác như công dân, cơ quan, tổ chức có liên quan như người được mời tham gia hoạt động giám sát, cơ quan, tổ chức phải cung cấp thông tin liên quan… Do đó, việc đánh giá hoạt động giám sát có ý

nghĩa chính trị pháp lý, theo Cuốn Từ điển Quản lý công, thì hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách thể) để tạo ra sản

Trang 14

phẩm cả về phía thế giới và cả về phía con người (chủ thể) Đây là quá trình

mà tâm lí của con người (của chủ thể) được bộc lộ, được khách quan hoá trong quá trình làm ra sản phẩm Như vậy, hoạt động là quá trình tác động qua lại tích cực giữa con người với thế giới khách quan mà qua đó mối quan hệ thực tiễn giữa con người với thế giới khách quan được thiết lập Trong mối quan hệ

đó có hai quá trình diễn ra đồng thời và bổ sung cho nhau, thống nhất với nhau

là quá trình đối tượng hoá và quá trình chủ thể hoá

Dưới góc độ trình tự thì hoạt động giám sát điều chỉnh từ giai đoạn chuẩn

bị, tiến hành giám sát và sau khi hành vi giám sát kết thúc (việc đưa ra hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát) Hoạt động về giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội trước đây, khi mà vai trò của cơ quan dân cử chưa được coi trọng, thường chỉ dừng ở quy định Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội giám sát ai và bằng hình thức nào, vì vậy trong thực tế, Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội khó thực hiện quyền giám sát

Với sự phát triển của xã hội, sự phát triển hình thức dân chủ, vị trí cơ quan đại diện của nhân dân được đề cao, theo đó, hoạt động quy định về hoạt động giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội càng chặt chẽ, đầy đủ, từ quy định về quyền giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội, trình tự, thủ tục tiến hành giám sát, hậu quả pháp lý hoạt động giám sát đến việc điều chỉnh các mối quan hệ giữa chủ thể giám sát và các đối tượng

có liên quan Từ quan điểm đó, có thể hiểu khái niệm hoạt động về giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội như sau:

Hoạt động về giám sát là quá trình pháp lý chính đáng thực hiện các quy phạm do nhà nước ban hành vào các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội giám sát; bao gồm các hoạt động:

dự kiến chương trình giám sát, triển khai hoạt động giám sát và quyết định hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát

1.1.3 Chức năng giám sát của Quốc hội

Giám sát là một hình thức để Quốc hội thể hiện tính đại diện cao nhất của Nhân dân, nó có mối liên hệ chặt chẽ với hoạt động lập pháp Để pháp luật được

Trang 15

thực thi trong đời sống, không thể thiếu hoạt động giám sát, hay nói cách khác, tính hiệu quả của pháp luật trong một chừng mực nhất định phụ thuộc vào hiệu quả của hoạt động giám sát Đây được hiểu là việc theo dõi các hoạt động của hành pháp có hiệu quả, minh bạch và trung thực hay không, để đảm bảo các quyết định phê duyệt ngân sách của Quốc hội được thực hiện đúng mục đích đề

ra và có hiệu quả Theo Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015, chủ thể giám sát bao gồm Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân Giám sát tối cao là việc Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý Giám sát tối cao được thực hiện tại kỳ họp Quốc hội

Giám sát của Quốc hội bao gồm giám sát tối cao của Quốc hội, giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội Hoạt động giám sát có ý nghĩa quan trọng trong đảm bảo quyền lực tối cao của Nhân dân Chính vì vậy Hiến pháp các nước đều ghi nhận điều này mà không phụ thuộc vào hình thức chính thể Tuy nhiên, giám sát của Quốc hội khác với giám sát của hệ thống hành pháp, tư pháp Điều này xuất phát từ việc hoạt động theo nguyên tắc tập thể, Quốc hội không giám sát tất cả các hoạt động của BMNN và cá nhân mà thực hiện giám sát các vấn đề ở tầm vĩ mô, tập trung vào hoạt động của Chính phủ và các thành viên Đối với các trường hợp khác thường là những sai phạm nghiêm trọng, kéo dài của tư nhân, tập đoàn nhà nước được giao thực hiện chức năng công quyền, gây bức xúc trong dư luận Do vậy, giám sát của Quốc hội là hình thức mang tính đặc trưng riêng của hệ thống cơ quan đại diện thông qua các công cụ giám sát của cơ chế làm việc tập thể và thường mang tính chất chính trị, đó là chất vấn, giải trình, điều trần và những hình thức tương tự

Trang 16

Hoạt động giám sát của Quốc hội thường được thực hiện chủ yếu tại các

kỳ họp thông qua việc tiến hành các phiên hỏi - đáp; thực hiện chất vấn; tiến hành phiên điều trần tại các ủy ban và Hội đồng dân tộc Trong trường hợp cần thiết, nhiều quốc gia quy định Quốc hội có thể thành lập các ủy ban đặc biệt để giám sát các vấn đề quan trọng Ngay tại nước Mỹ, nơi sự phân quyền diễn ra triệt để thì ngoài quyền lập pháp, Quốc hội có nhiều quyền quan trọng tiêu biểu như giám sát hoạt động của Chính phủ, quyền điều tra thông qua việc thành lập một số cơ quan, giao những nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể Các cơ quan này có trách nhiệm báo cáo với Quốc hội những công việc mà hệ thống hành pháp đang thực hiện

Đối với Đại biểu Quốc hội, các hoạt động tiếp xúc cử tri, tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo cũng là phương thức thu thập thông tin, kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả thực thi pháp luật tại cơ sở Từ đó đại biểu yêu cầu các cơ quan hữu quan trả lời kiến nghị; giám sát quá trình hậu kiến nghị, bỏ phiếu tín nhiệm của Quốc hội đối những chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn nhằm thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội Để đảm bảo tính chuyên sâu các vấn đề tài chính, ngân sách Quốc hội các nước thường thành lập nhóm

cơ quan chuyên môn như Thanh tra Quốc hội, Kiểm toán lập pháp (Kiểm toán Nghị viện), cơ quan Bảo hiến Số lượng các cơ quan chuyên môn này phụ thuộc vào nội dung vấn đề mà Quốc hội thấy cần phải giám sát Sau khi thành lập, các

cơ quan này độc lập với cả lập pháp, hành pháp, tư pháp Ngay cả Quốc hội cũng không trực tiếp đứng ra điều hành mà chỉ ban hành văn bản luật quy định chức năng, quyền hạn và cung cấp tài chính Các cơ quan này có trách nhiệm báo cáo cho Quốc hội những nội dung theo yêu cầu giám sát

Tóm lại, là cơ quan đại diện cao nhất, Quốc hội có các hình thức thực thi thể hiện tính chất đại diện cao nhất mà không một cơ quan tổ chức nào có được Các hình thức đó được tiến hành mang tính chất chính trị, do tập thể thực hiện

để tìm tiếng nói thống nhất theo nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số Nhờ các hình thức thực thi đó, Quốc hội thực hiện được quyền lực của mình, thực hiện được vai trò đại diện trên các phương diện lập pháp, quyết định và giám sát tối

Trang 17

cao Nhờ đó hoàn thành sứ mệnh chính trị mà Nhân dân giao phó, trở thành chủ

thể gắn bó, trung thành, bảo vệ tốt nhất cho quyền và lợi ích của Nhân dân 1.4 Địa vị pháp lý của Đại biểu quốc hội và Đoàn đại biểu quốc hội trong hoạt động giám sát

1.4.1 Vị trí, vai trò của Đại biểu Quốc hội trong hoạt động giám sát

Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 tại Điều 47 quy định các hoạt động giám sát của đại biểu Quốc hội

1 Đại biểu Quốc hội giám sát thông qua các hoạt động sau đây:

a) Chất vấn những người bị chất vấn quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 4 của Luật này;

b) Giám sát văn bản quy phạm pháp luật; giám sát việc thi hành pháp luật;

c) Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân

2 Đại biểu Quốc hội tự mình tiến hành hoạt động giám sát hoặc tham gia hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội; tham gia Đoàn giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội tại địa phương khi có yêu cầu

Như vậy, trước hết, đại biểu Quốc hội phải là người được cử tri lựa chọn qua bầu cử có đông đảo ứng cử viên có năng lực tham gia, mang tính cạnh tranh cao và được tổ chức theo những trình tự thủ tục chặt chẽ, đảm bảo tính chính xác, minh bạch, công khai Chỉ khi đó, người thắng cử mới cảm nhận được hết giá trị và vinh dự của người chiến thắng, mới có được niềm tự hào và động cơ mạnh mẽ trong hành động, đồng thời chịu trách nhiệm cá nhân trước cử tri đã bầu ra mình Đại biểu Quốc hội phải giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân thông qua những hình thức tiếp xúc cử tri đa dạng, phong phú Đại biểu Quốc hội có văn phòng làm việc riêng, là nơi tiếp nhân dân và có bộ phận giúp việc Đại biểu Quốc hội phải chứng minh sự cần thiết của mình đối với nhân dân Ngoài những vấn đề lớn lao liên quan đến quốc kế dân sinh, tương lai dài hạn của dân tộc, đại biểu Quốc hội phải quan tâm giúp đỡ nhân dân giải quyết những khó khăn, bức xúc hiện tại của cuộc sống Từ việc giúp giải quyết khiếu

Trang 18

nại, tố cáo, hướng dẫn, giải thích pháp luật, chính sách đến những công việc từ thiện, giúp đỡ người nghèo, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đứng ra kêu gọi, huy động nguồn lực xã hội xây điện, đường, những công trình phúc lợi v.v Những hoạt động này tuy nhỏ so với nhiệm vụ nặng nề của đại biểu Quốc hội những có ý nghĩa sâu sắc giúp nhân dân gần gũi hơn với người đại diện của mình, sẵn sàng chia xẻ những tâm tư, nguyện vọng, hay đề xuất những sáng kiến hoàn thiện chính sách Đó là những gì người đại biểu rất cần nhưng họ chỉ

có được khi họ thực sự gần gũi và thiết thực cho người dân Sự cần thiết của đại biểu đối với nhân dân, với xã hội được thể hiện qua sự quan tâm của nhân dân tới người đại diện của mình Trong Nhà nước pháp quyền, Văn phòng đại biểu Quốc hội phải là nơi nhân dân ghi nhớ và tìm đến khi gặp khó khăn, vướng mắc

về chính sách và pháp luật hoặc có những đề xuất, kiến nghị với Nhà nước Đại biểu Quốc hội cần có mối quan hệ tốt với các cơ quan thông tin đại chúng, biết

sử dụng báo chí như một phương tiện để bày tỏ chính kiến của mình về một vấn

đề cụ thể, vận động, thuyết phục người khác cùng ủng hộ sáng kiến của mình Thực tiễn hoạt động của Quốc hội cho thấy khi quyền lực của đại biểu Quốc hội, của Quốc hội, qua kênh thông tin đại chúng, được gắn kết với ý chí, nguyện vọng, dư luận của nhân dân sẽ được cộng hưởng và trở nên vô cùng mạnh mẽ Chính những ý nghĩa trên khi thực hiện tốt nhiệm vụ giám sát, Đại biểu Quốc hội thực hiện công tác lập pháp phải đi đôi với giám sát việc tổ chức thực hiện, thi hành pháp luật thì mới có hiệu quả Nhà nước pháp quyền đòi hỏi đại biểu Quốc hội phải phát huy vai trò tích cực của mình để quyền giám sát của Quốc hội được thực hiện, góp phần đảm bảo tính tối thượng của pháp luật Hoạt động giám sát bắt đầu từ việc tiếp cận, khai thác, xử lý thông tin Đại biểu Quốc hội cần chủ động đa dạng hoá nguồn thông tin, không lệ thuộc vào thông tin một chiều từ các báo cáo, giải trình của cơ quan hành pháp Ngoài ra, các đại biểu cần phát triển quan hệ hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu, tổ chức nghề nghiệp v.v để có các thông tin chuyên sâu về vấn đề, làm tăng hiệu quả của công tác giám sát Hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội cần diễn ra thường xuyên, với các hình thức chất vấn đa dạng, phong phú, không chỉ diễn ra

Trang 19

tại phiên họp toàn thể Quốc hội mà còn tại các Uỷ ban, dưới sự chứng kiến và đưa tin của tổ chức thông tấn, báo chí Chất vấn phải gắn liền với bỏ phiếu tín nhiệm mới đảm bảo hiệu quả giám sát Bỏ phiếu tín nhiệm là một quyền năng quan trọng của Quốc hội, Quốc hội chỉ sử dụng như một giải pháp cuối cùng sau khi các chất vấn, kiến nghị của mình không được đối tượng chất vấn tiếp thu hoặc thực hiện không đạt kết quả theo yêu cầu của Quốc hội Bỏ phiếu tín nhiệm do vậy là quá trình xác định trách nhiệm cá nhân Nhà nước pháp quyền trao cho đại biểu Quốc hội quyền khởi động thủ tục bỏ phiếu tín nhiệm, giúp đại biểu Quốc hội hoàn thành nhiệm vụ giám sát của mình, đồng thời đòi hỏi đại biểu Quốc hội chịu trách nhiệm cá nhân về việc sử dụng quyền năng đó trước Quốc hội và trước cử tri

1.4.2 Vị trí, vai trò của Đoàn Đại biểu Quốc hội trong hoạt động giám sát

Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 tại Điều 48 quy định các hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội, theo

đó, Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức hoạt động giám sát thông qua các hoạt động sau đây: (i) Giám sát chuyên đề việc thi hành pháp luật ở địa phương; (ii) Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân mà đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội đã chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết; (iii) Cử đại biểu Quốc hội trong Đoàn đại biểu Quốc hội tham gia Đoàn giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc,

Ủy ban của Quốc hội tại địa phương khi có yêu cầu

Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức để đại biểu Quốc hội trong Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện giám sát tại địa phương Đại biểu Quốc hội lập chương trình giám sát hằng năm của mình và gửi đến Đoàn đại biểu Quốc hội Đoàn đại biểu Quốc hội căn cứ vào chương trình giám sát của từng đại biểu Quốc hội, chương trình giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, tình hình thực tế của địa phương, đề nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh và ý kiến, kiến nghị của cử tri tại địa phương lập chương trình giám sát hằng năm của Đoàn đại biểu Quốc hội và báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức thực hiện các hoạt

Trang 20

động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội và tổ chức để đại biểu Quốc hội trong Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện chương trình giám sát của mình Hằng năm, Đoàn đại biểu Quốc hội có trách nhiệm báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc thực hiện chương trình giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội và của các đại biểu Quốc hội trong Đoàn

Như vậy, Đoàn Đại biểu Quốc hội tiến hành giám sát thông qua các phương thức: Tổ chức Đoàn giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội, tổ chức để các Đại biểu Quốc hội trong Đoàn thực hiện việc giám sát thi hành pháp luật ở địa phương; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương trả lời về những vấn đề mà Đoàn Đại biểu Quốc hội, các Đại biểu Quốc hội quan tâm; cử đại biểu Quốc hội trong Đoàn tham gia Đoàn giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội khi có yêu cầu

1.1.5 Hoạt động giám sát của Đại biểu Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội 1.1.5.1.Đối tượng giám sát

Chức năng giám sát của Quốc hội đóng vai trò quan trọng trong đời sống chính trị và trong việc khẳng định vị thế, vai trò của Quốc hội Hiến pháp năm

2013 đã tạo một bước tiến mới trong việc phân công rõ ràng hơn nhiệm vụ của Quốc hội và Chính phủ, là cơ sở quan trọng cho lập pháp kiểm soát quyền lực của hành pháp Tuy vậy, sẽ thiếu hiệu quả nếu chỉ dừng ở việc sửa đổi các quy định của pháp luật mà không tính đến việc tăng cường các biện pháp bảo đảm cho hoạt động giám sát hiệu lực, hiệu quả

Có thể thấy đối tượng chịu sự giám sát của Quốc hội là các cơ quan nhà nước chịu sự giám sát trực tiếp của Quốc hội như Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước Trong bộ máy nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đại biểu Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội được xác định thuộc cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, đồng thời là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Bên cạnh

Trang 21

thẩm quyền lập hiến, lập pháp và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước thì Đại biểu Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội nước ta còn có thẩm quyền tham gia giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước cùng với Quốc hội

Pháp luật hiện hành quy định Giám sát là việc Quốc hội, Uỷ ban thường

vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội

và đại biểu Quốc hội xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Ngoài ra, chất vấn là một hoạt động giám sát, trong đó đại biểu Quốc hội nêu những vấn đề thuộc trách nhiệm của Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và yêu cầu những người này trả lời

Giám sát của Quốc hội thông qua hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh

án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước (Khoản 1, Điều 80, Hiến pháp 2013) Theo chức năng, nhiệm vụ của mình, giám sát việc thực hiện Hiến pháp và pháp luật do nhiều cơ quan nhà nước tiến hành như Hội đồng nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân…Nhưng sự giám sát của Quốc hội là sự giám sát cao nhất bởi: Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân Mà Quốc hội là do nhân dân cả nước trực tiếp bầu ra vì vậy Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân đồng thời là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất Các cơ quan nhà nước khác như Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, có chức năng, quyền hạn được luật định nhưng đều phải có trách nhiệm báo cáo trước Quốc hội và chịu sự giám sát của Quốc hội Mục đích việc thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội đó là nhằm đảm bảo cho những quy

Trang 22

định của Hiến pháp và pháp luật được thi hành triệt để, nghiêm chỉnh và thống nhất Quốc hội giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước nhằm bảo đảm cho các cơ quan này hoàn thành nhiệm vụ, quyền hạn đã được quy định, làm cho bộ máy nhà nước hoạt động nhịp nhàng, có hiệu lực và hiệu quả, chống những biểu hiện tham nhũng, quan liêu

Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội thực hiện quyền giám sát đối với toàn bộ hoạt động của các cơ quan nhà nước bao gồm hoạt động theo dõi tính hợp hiến và hợp pháp đối với nội dung các văn bản do các cơ quan nhà nước chịu sự giám sát trực tiếp của Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội ban hành, cũng như tính hợp hiến, hợp pháp trong hoạt động thực tiễn của các

cơ quan nhà nước trung ương và địa phương nếu thấy cần thiết thuộc thẩm quyền

Như vậy, có thể thấy đối tượng chịu sự giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội là các cơ quan nhà nước chịu sự giám sát trực tiếp của Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội như chủ tịch nước, chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, và các cơ quan khác theo luật định

Trang 23

Đại biểu Quốc hội lập chương trình giám sát hằng năm của mình và gửi đến Đoàn đại biểu Quốc hội Đoàn đại biểu Quốc hội căn cứ vào chương trình giám sát của từng đại biểu Quốc hội, chương trình giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, tình hình thực tế của địa phương, đề nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh và ý kiến, kiến nghị của cử tri tại địa phương lập chương trình giám sát hằng năm của Đoàn đại biểu Quốc hội và báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức thực hiện các hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội và tổ chức để đại biểu Quốc hội trong Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện chương trình giám sát của mình Hằng năm, Đoàn đại biểu Quốc hội

có trách nhiệm báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc thực hiện chương trình giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội và của các đại biểu Quốc hội trong Đoàn Theo chương trình công tác hàng năm, Đoàn Đại biểu Quốc hội chủ trì tổ chức các cuộc khảo sát, giám sát tại địa phương để các Đại biểu Quốc hội nghiên cứu nắm tình hình, thu thập tài liệu giúp cho việc thảo luận và tham gia quyết định những vấn đề quan trọng tại kỳ họp Quốc hội hoặc tìm hiểu tình hình thi hành chính sách, pháp luật ở địa phương

Việc thực hiện chức năng giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội được thể hiện bằng các hoạt động, đó là: tổ chức làm việc giữa Đoàn Đại biểu Quốc hội với lãnh đạo các ngành trong khối nội chính: Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Thanh tra tỉnh, Công an tỉnh, Sở Tư pháp về sự phối, kết hợp trong việc cung cấp thông tin, báo cáo tình hình, phối hợp giám sát những vấn đề bức xúc nổi lên trong công tác xét xử, giam giữ, tạm giữ, tạm tha, các vụ việc vi phạm pháp luật khác Tổ chức các hội nghị chuyên đề liên quan đến việc thi hành pháp luật, trước hết là những vụ việc nổi cộm ở địa phương; vấn đề mà những văn bản pháp lý còn có những nội dung khác nhau, chưa phù hợp với thực tiễn cần phải điều chỉnh, sửa đổi Tổ chức khảo sát về hiệu quả và tác dụng của việc thi hành các đạo luật và các nghị quyết của Quốc hội tại địa phương và cơ sở, như khảo sát về các luật thuế, luật ngân sách, luật đầu tư nước ngoài, luật khiếu nại, tố cáo thực hiện các chương trình dự án

Trang 24

được Quốc hội thông qua Trên cơ sở đó, đề xuất những vấn đề mà các văn bản pháp lý còn có những nội dung chưa phù hợp với thực tiễn cần phải điều chỉnh, sửa đổi Tổ chức cho ĐBQH nghe Uỷ ban nhân dân tỉnh và các ngành báo cáo tình hình kinh tế - xã hội và tình hình thực hiện các nghị quyết trọng tâm của Quốc hội để nắm được tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, về tình hình thực hiện nghị quyết của Quốc hội

Tổ chức các cuộc khảo sát, giám sát ở cơ sở để giúp Đại biểu Quốc hội nắm được tình hình thực thi pháp luật, những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện

Để hoạt động giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội ngày càng hiệu quả, chất lượng, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khoá XI, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015 đã quy định cụ thể về cơ chế thực hiện giám sát, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức bị giám sát, hậu quả pháp lý của việc giám sát Đồng thời cũng đã quy định rõ cơ chế bảo đảm điều kiện cần thiết, như bộ phận tham mưu giúp việc, kinh phí để thực hiện hoạt động giám sát

- Về thẩm quyền giám sát, chủ thể thực hiện quyền giám sát: Theo quy định tại Điều 1 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội: “Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao của mình tại kỳ họp Quốc hội trên cơ sở hoạt động giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội” Để cụ thể hoá hơn nữa quy định này, Điều 3 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội đã quy định về thẩm quyền giám sát đối với từng chủ thể

- Về căn cứ thực hiện quyền giám sát của Quốc hội: Quốc hội là cơ quan

có quyền lập hiến, lập pháp và quyền giám sát tối cao nhưng trong hoạt động của mình Quốc hội cũng phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật vì Quốc hội cũng là một cơ quan nằm trong bộ máy nhà nước chứ không phải là một tổ chức đứng trên nhà nước Do đó để đảm bảo tính khách quan trong hoạt động giám sát, bảo đảm cho Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao theo đúng quy định

Trang 25

của Hiến pháp và pháp luật, khi thực hiện chức năng giám sát của mình, Quốc hội phải có những căn cứ nhất định: Thứ nhất, căn cứ vào những quy định của Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội Thứ hai, căn cứ vào nội dung văn bản đã ban hành của các cơ quan nhà nước chịu sự giám sát của Quốc hội và căn cứ vào thực tế hoạt động của những cơ quan nhà nước đó

1.1.5.3.Hình thức giám sát

Thứ nhất, hoạt động giám sát thông qua việc xem xét báo cáo Quốc hội,

Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan khác của Quốc hội thực hiện chức năng giám sát bằng cách xem xét, thẩm tra báo cáo công tác hằng năm, nửa năm

và báo cáo chuyên đề của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng kiểm toán nhà nước Quốc hội, các

cơ quan của Quốc hội có thể yêu cầu các thành viên của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước trực tiếp đến báo cáo hoặc báo cáo bằng văn bản hay cung cấp các tài liệu mà Quốc hội

và các cơ quan của Quốc hội quan tâm Cùng với việc tổng hợp các ý kiến của

cử tri và qua hoạt động giám sát của các đại biểu Quốc hội là cơ sở để đánh giá việc thi hành pháp luật

Thứ hai, hoạt động giám sát thông qua kiểm tra việc ban hành các văn

bản quy phạm pháp luật Với việc thực hiện chức năng này, Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội có quyền hủy bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành các văn bản trái với quy định của Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết của Quốc hội, của

Ủy ban Thường vụ Quốc hội Ví dụ, như Giám sát Việc thực hiện chính sách,

pháp luật về thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2012-2018, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa đề nghị Quốc hội ưu tiên bố trí nguồn lực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững nhằm đảm bảo nguồn lực được phê duyệt tại Nghị quyết số 100/2015/QH13 ngày 12/11/2015 phê duyệt chủ trương đầu tư các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-

2020 Đề nghị Quốc hội xem xét, sửa đổi Luật Đầu tư công theo hướng đẩy

Trang 26

mạnh phân cấp trong quản lý hoạt động đầu tư công, phân cấp điều chỉnh dự án, phân cấp phê duyệt chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư gắn với trách nhiệm của từng cấp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý sử dụng vốn nhà nước đối với toàn bộ quá trình đầu tư Cần có sự thay đổi căn bản về chính sách, chú trọng việc tích hợp, lồng ghép một số các chính sách cho giảm nghèo bền vững Trước mặt nên tập trung chủ yếu vào một số nội dung chủ yếu như sau: Giao thông (bao gồm giao thông nông thôn và giao thông nội đồng); đất sản xuất; tín dụng (bỏ chính sách cho không, đẩy mạnh tín dụng về sản xuất; tín dụng cho giải quyết việc làm; tín dụng cho cải thiện nhà cửa; tín dụng cho đào tạo, học nghề, xuất khẩu lao động); nước (bao gồm nước sản xuất và nước sinh hoạt); dạy nghề, giáo dục

Đối với Chính phủ, các bộ, ngành, đề nghị Chính phủ quan tâm chỉ đạo sớm ban hành Đề án tổng thể phát triển kinh tế - vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng đặc biệt khó khăn theo hướng tích hợp các chính sách, giải pháp nhằm phát triển nhanh, bền vững hơn cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi

Đề nghị Chính phủ tiếp tục rà soát, tích hợp các chính sách phân định xã, huyện, tỉnh là miền núi, vùng cao với chính sách theo tiêu chí phân định vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển Quyết định ban hành tiêu chí kịp thời theo giai đoạn để các chính sách áp dụng cho phù hợp; rà soát tích hợp văn bản chính sách về giảm nghèo nhất là các văn bản tích hợp thuộc trách nhiệm của 06 cơ quan: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Quốc phòng.Đề nghị các Bộ, ngành có liên quan trình Chính phủ cân đối, bố trí bổ sung nguồn vốn cho vay Ngân hàng chính sách xã hội đối với chương trình cho vay nhà ở

xã hội theo Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ, vay giải quyết việc làm, nâng mức cho vay chương trình tín dụng nước sạch nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn tại địa phương

Thứ ba, hoạt động giám sát thông qua việc trả lời chất vấn Thông qua

việc trả lời của người bị chất vấn, Quốc hội có thể giám sát được hoạt động của các cơ quan này Chất vấn là quyền của từng đại biểu Quốc hội, nhưng khi đại

Trang 27

biểu thực hiện quyền này thì có tính chất là một hoạt động giám sát của Quốc hội Hình thức chất vấn thể hiện trực tiếp quyền giám sát của Quốc hội, nó có tính công khai, dân chủ trong hoạt động của Quốc hội, nên nó có ý nghĩa rất quan trọng Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội, như quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, tòa án nhân dân tối cao và bổ sung thêm chất vấn Tổng kiểm toán nhà nước Có hai hình thức chất vấn của đại biểu Quốc hội: chất vấn của đại biểu Quốc hội tại kỳ họp Quốc hội và giữa hai kỳ họp Quốc hội Trong những năm gần đây, hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn của Quốc hội được tiến hành thường xuyên, nghiêm túc thể hiện tinh thần và trách nhiệm cao của các đại biểu Quốc hội, của Chính phủ và các cơ quan liên quan trước nhân dân Thông qua hoạt động này nhiều vấn đề kinh tế – xã hội đã được làm sáng tỏ góp phần thực hiện tốt hơn chức năng giám sát của Quốc hội

Thứ tư, hoạt động giám sát của Quốc hội được thực hiện thông qua các

đoàn đi giám sát ở các địa phương Hằng năm Quốc hội, hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội thành lập các Đoàn giám sát để đi giám sát hoạt động của các cơ quan thuộc Chính phủ, hoạt động của cơ quan chính quyền địa phương Việc thành lập các đoàn dựa trên cơ sở chương trình giám sát của các chủ thể có quyền giám sát Tùy theo tính chất của sự việc và cấp độ mà thành phần mỗi đoàn giám sát có thể bao gồm: Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đại diện của Hội đồng dân tộc, các

Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội Ngoài ra, căn cứ tính chất của từng việc giám sát mà có thể có đại diện của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao Để hoạt động giám sát có chất lượng, các đoàn giám sát phải chuẩn bị kế hoạch giám sát, chương trình giám sát, nội dung yêu cầu của việc giám sát… gửi xuống các địa phương để phối hợp hoạt động Khi tiến hành giám sát, đoàn giám sát có quyền yêu cầu cơ quan, đơn vị, tổ chức bị giám sát cung cấp các tài liệu liên quan tới hoạt động giám sát, hoặc yêu cầu các tổ chức đơn vị, cá nhân trả lời những vấn đề mà đoàn giám sát quan tâm Như vậy, hoạt

Trang 28

động giám sát của Quốc hội được pháp luật nước ta quy định rõ ràng, cụ thể trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau Căn cứ vào các quy định của pháp luật, Quốc hội tổ chức hoạt động giám sát với nhiều hình thức và nội dung khác nhau Các hoạt động giám sát của Quốc hội được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau đã tác động vào các chủ thể bị giám sát, làm cho các chủ thể đó hoạt động phù hợp với Hiến pháp, Luật, các văn bản dưới luật thì gọi là hiệu lực hoạt động giám sát của Quốc hội

1.1.5.4 Phương pháp giám sát

Căn cứ Chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường

vụ Quốc hội, căn cứ tình hình thực tế của địa phương, các Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội cũng chủ động xây dựng chương trình giám sát của mình với nhiều phương pháp giám sát khác nhau:

(i) Về giám sát chuyên đề theo chương trình của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và theo chương trình giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội Theo chương trình của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, hầu hết các địa phương đã tổ chức giám sát chuyên đề của Quốc hội

và Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bảo đảm theo đúng kế hoạch đã đề ra; đồng thời, phân công đại biểu Quốc hội trong Đoàn tham gia các Đoàn giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội khi tiến hành giám sát tại địa phương, cơ

sở

Trong phạm vi địa phương, hoạt động giám sát của các Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội tiếp tục được đổi mới, cải tiến, tập trung vào những vấn đề bức xúc, nổi lên có ảnh hưởng đến đời sống kinh tế - xã hội, được

cử tri quan tâm Công tác phối hợp của Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội với Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh trong các hoạt động giám sát, khảo sát được tăng cường; bảo đảm không trùng nội dung, đối tượng, thời gian giám sát, hạn chế ảnh hưởng đến hoạt động của các đơn vị, địa phương thuộc đối tượng giám sát Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, các sở, ngành đã cử thành viên tham gia Đoàn giám sát, khảo sát theo đề nghị của Đoàn Đại biểu Quốc

Trang 29

hội, Đại biểu Quốc hội tỉnh, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát Với phương pháp làm việc dân chủ, cởi mở, thẳng thắn, tích cực, thu thập các nguồn thông tin từ nhiều chiều, nhận thức của các cơ quan, đơn vị và địa phương về hoạt động giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội được nâng lên Các cơ quan, đơn vị chịu sự giám sát đã thực hiện nghiêm túc chương trình, kế hoạch và các yêu cầu cũng như tiếp thu đầy đủ ý kiến, kiến nghị qua công tác giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội Từ

đó, các Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội có điều kiện tổng hợp đưa

ra những ý kiến góp ý quan trọng tại nghị trường Quốc hội vừa có tính lý luận,vừa có tính thực tiễn cao

(ii) Về các hoạt động giám sát khác: Đoàn đại biểu Quốc hội cũng tích cực tiến hành giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật tại địa phương ; xây dựng kế hoạch và tổ chức khảo sát một số ý kiến, kiến nghị của cử tri và một số

vụ việc khiếu nại, tố cáo theo đơn thư của công dân Công tác tiếp dân, xử lý đơn, thư và giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đã được các Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội thực hiện nghiêm túc, đúng quy định của pháp luật, góp phần tích cực vào kết quả giải quyết các vụ việc, giữ vững sự ổn định tình hình chính trị, xã hội trên địa bàn, nâng cao vị trí, vai trò của Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội tại địa phương Trong đó phải

kể đến việc sử dụng hệ thống phần mềm số giúp Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội tỉnh cập nhật, tổng hợp kịp thời quá trình xử lý đơn, thư của các

cơ quan có thẩm quyền, kể cả các đơn, thư mà Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội tỉnh chưa nhận được

Bên cạnh việc tích cực tham gia các hoạt động giám sát chung của Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội, từng cá nhân Đại biểu Quốc hội, Đoàn Đại biểu Quốc hội đã phát huy tốt vai trò của mình trong hoạt động tiếp xúc cử tri, nắm bắt thông tin, tích cực theo dõi, giám sát việc trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri; đặc biệt đầu tư nghiên cứu tài liệu liên quan đến nội dung chất vấn, dành thời gian lắng nghe, tiếp thu ý kiến nhiều chiều từ cử tri, có xem xét thực

tế chất vấn có chiều sâu, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ giám sát của Đoàn

Trang 30

Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội …Cá biệt có Đại biểu Quốc hội chuyên trách của tỉnh còn giám sát theo định kỳ hàng tháng các vụ việc do Tổ tư vấn tham mưu giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh

Mặc dù các Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội thực hiện giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc giải quyết kiến nghị của công dân đạt được kết quả nhất định, nhưng so với yêu cầu, vẫn còn những hạn chế do pháp luật chưa quy định thẩm quyền, trách nhiệm, trình tự, thủ tục, phạm vi giám sát việc giải quyết ý kiến, kiến nghị thuộc thẩm quyền của các cơ quan ở địa phương Đây là vấn đề mà đại biểu và cử tri rất quan tâm Bên cạnh đó, việc đại biểu Quốc hội tự mình tiến hành hoạt động giám sát còn hạn chế; chưa có kinh nghiệm ở một số lĩnh vực giám sát, nhất là giám sát văn bản quy phạm pháp luật đòi hỏi Đại biểu Quốc hội, Đoàn Đại biểu Quốc hội phải có kiến thức khá toàn diện về pháp luật và nhiều lĩnh vực mà văn bản pháp luật đó điều chỉnh; việc tập hợp tài liệu, thông tin để cung cấp cho Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội chưa thật đầy đủ

(iii) Về các kiến nghị giám sát: hầu hết các Đoàn Đại biểu Quốc hội đều có tổng hợp các kiến nghị sau mỗi nội dung giám sát để kịp thời chuyển những kiến nghị, các vấn đề còn bất cập, tồn tại trong cơ chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước tới các cơ quan chức năng có thẩm quyền để tiếp thu, sửa đổi, bổ sung, góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý, điều chỉnh chính sách cho phù hợp; đồng thời, cũng đã thực hiện việc tiếp tục giám sát thường xuyên, nắm chắc tình hình thực hiện các kiến nghị sau giám sát, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả của từng cuộc giám sát

1.2.Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giám sát

1.2.1 Cơ cấu và chất lượng của đại biểu

Hiện nay (19.9.2019), Quốc hội Việt Nam khóa XIV có 483 đại biểu (trong đó có 19 người ngoài đảng và 464 đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam) Nếu chỉ xem xét đơn thuần từ góc độ nhân sự, rõ ràng Quốc hội nước ta hoàn toàn chiếm ưu thế so với Chính phủ và Toà án Tuy nhiên, trong suốt thời gian qua, thực sự vai trò của Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội thực hiện

Trang 31

việc giám sát theo thẩm quyền của mình chưa được đánh giá cao và nhiều lúc còn bị lấn át bởi chính những cơ quan quyền lực được coi là yếu thế hơn Điều này đặt ra câu hỏi là liệu có phải Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội thực hiện việc giám sát theo thẩm quyền của mình là cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước ta hay không? Và nếu đúng thì lý giải nó như thế nào cho thoả đáng trước sự yếu thế của Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội thực hiện việc giám sát theo thẩm quyền của mình hiện nay

Trong mô hình của các cơ quan lập pháp trên thế giới, rõ ràng chúng ta không theo những tư tưởng phân quyền mạnh mẽ của các Nhà nước pháp quyền

tư sản Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội thực hiện việc giám sát theo thẩm quyền của mình nước ta với đặc thù là: Cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Và từ đây quyền lực mới được chuyển tiếp đến các nhánh quyền lực còn lại Quy định này cũng đã làm cho quyền lực nhân dân bị chuyển tiếp qua những bước trung gian, làm hạn chế hiệu quả hoạt động của cơ quan này

Đối với vấn đề nhân sự, khi hiệp thương lựa chọn các đại biểu để ứng cử vào Quốc hội chúng ta đã lựa chọn rất nhiều công chức, viên chức nhà nước để làm Đại biểu Quốc hội Thành phần này sau khi được bầu vào Quốc hội thực hiện việc giám sát theo thẩm quyền của mình sẽ đóng vai trò là các đại biểu kiêm nhiệm Quá nhiều nhân sự kiêm nhiệm của hành pháp, tư pháp tham gia vào lập pháp đã đẩy Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội thực hiện việc giám sát theo thẩm quyền của mình nước ta vào tình trạng mất ưu thế ngay trong quá trình lập pháp Ví dụ: với cơ chế nhiệm kỳ, đồng thời với những quy định của pháp luật đối với công chức do lập pháp thông qua đã vô hình trung đẩy những thành viên kiêm nhiệm của hành pháp, tư pháp trong Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội thực hiện việc giám sát theo thẩm quyền của mình thành những người đại diện cho các cơ quan này

1.2.2 Các điều kiện hỗ trợ cho hoạt động giám sát

Các điều kiện hỗ trợ cho hoạt động giám sát bao gồm các yếu tố tổ chức

bộ máy cơ quan dân cử và các thiết chế công quyền khác có liên quan đến thực

Trang 32

hiện việc giám sát theo thẩm quyền của Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội và ý thức pháp luật

Xuất phát từ bản chất của của Nhà nước ta là nhà nước "của dân, do dân

và vì dân", nhân dân làm chủ, tham gia quản lý Nhà nước thông qua việc bầu ra các đại biểu đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình trong cơ quan quyền lực nhà nước đó là Hội đồng nhân dân tỉnh ở địa phương Tất cả đại biểu dân cử ở tỉnh (Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội, ) đều phải có trách nhiệm tiếp thu các ý kiến, kiến nghị của người dân, của cử tri đóng góp, đồng thời chịu

sự giám sát chặt chẽ của nhân dân thông qua việc phải báo cáo thường xuyên chương trình, nội dung và hiệu quả hoạt động công tác

Đối với Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội, thông qua thực hiện việc giám sát theo thẩm quyền các ý kiến, kiến nghị của cử tri, của nhân dân được Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội thu thập, chuyển tải tới các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các cơ quan này phải có trách nhiệm xem xét, giải quyết Đồng thời, thông qua hoạt động thực hiện việc giám sát theo thẩm quyền, Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội cung cấp thông tin cần thiết

về các mặt chính trị, thời sự, kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế cho cử tri; kết hợp tuyên truyền chủ trương, đường lối, pháp luật và chính sách phát triển kinh tế xã hội, an sinh xã hội, quốc phòng - an ninh Chính vì vậy, thực hiện việc giám sát theo thẩm quyền là một trong những nhiệm vụ thường xuyên quan trọng trong hoạt động của Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội, thực hiện càng tốt việc này càng góp phần mở rộng và phát huy dân chủ ở cơ sở Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, trong đó có việc củng cố và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân địa phương, cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương là những cơ quan có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính trị tại địa phương hỗ trợ Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội trong công tác giám sát

Trang 33

Khả năng áp dụng các phương tiện hiện đại Quốc hội đang hướng đến một Quốc hội thông minh của thời kỳ cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thời kỳ

số hoá Các đại biểu Quốc hội muốn hoạt động có hiệu quả, phát huy được vai trò nói chung và hoạt động chất vấn nói riêng cần có kỹ năng, tri thức và cần cả khả năng sử dụng các phương tiện hiện đại Gần đây Quốc hội nước ta đã đẩy mạnh việc áp dụng công nghệ thông tin, hạn chế sử dụng văn bản giấy mà tăng cường văn bản điện tử trong các dự luật Các đại biểu Quốc hội ngày càng quen hơn với việc sử dụng các phương tiện hiện đại, thay đổi cách tư duy, cách sử dụng các văn bản truyền thống mà chuyển sang văn bản điện tử và số hoá Điều này sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng của hoạt động chất vấn đồng thời nâng cao hiệu quả của việc kiểm soát quyền lực thông qua hoạt động nói chung của các đại biểu Quốc hội nói chung và hoạt động chất vấn nói riêng

1.2.3 Sự phối hợp của cơ quan, đơn vị trong thực hiện giám sát

Trong hoạt động giám sát, ngay sau khi được thành lập, Đoàn giám sát đã ban hành kế hoạch chi tiết để cụ thể hóa các hoạt động của Đoàn, giúp định hình hoạt động của Đoàn trong cả quá trình giám sát, chủ động tổ chức thực hiện, tránh bị động, chồng chéo, mang lại hiệu quả thiết thực Các thành viên Đoàn giám sát, đại biểu mời tham gia Đoàn giám sát và đại diện các bộ, ngành, cơ quan liên quan đã tích cực tham gia các hoạt động của Đoàn Trường hợp các thành viên vắng mặt vì lý do khách quan đều được báo cáo Trưởng Đoàn giám sát Các đề cương yêu cầu cơ quan chịu sự giám sát báo cáo được xây dựng khoa học, có chiều sâu, gắn với nội dung của chuyên đề giám sát; các cơ quan chịu sự giám sát đã phối hợp chặt chẽ, tạo điều kiện để các cơ quan của Quốc hội tiến hành giám sát Qua đó, giúp việc xây dựng các báo cáo kết quả giám sát được công phu, đánh giá sát thực các vấn đề đặt ra; việc nghiên cứu, tiếp thu, giải quyết các kiến nghị sau giám sát được kịp thời Tại các phiên giám sát của Quốc hội, việc trình chiếu hình ảnh qua video clip kết hợp với báo cáo của Đoàn giám sát là một cách làm mới, tạo hiệu ứng tích cực, được các đại biểu đánh giá cao Công tác tham mưu, đảm bảo hoạt động của Đoàn giám sát luôn

Trang 34

được đổi mới, cải tiến và dần đi vào nề nếp, tạo sự chủ động, linh hoạt trong tổ chức thực hiện Việc thành lập các Tổ giúp việc Đoàn giám sát đã phát huy hiệu quả tích cực, giúp cho việc phối hợp tham mưu giữa công tác chuyên môn và tổ chức phục vụ được chặt chẽ, thống nhất; việc thành lập các Tổ khảo sát để tiến hành khảo sát trước khi tiến hành giám sát tại các địa phương cũng đã được một

số Đoàn giám sát triển khai thực hiện; qua đó đã tham mưu kịp thời về các nội dung làm việc quan trọng, các địa điểm phù hợp mà Đoàn giám sát cần tập trung giám sát

Nhờ có sự đổi mới trong việc tổ chức hoạt động của các Đoàn giám sát đã tạo sự chủ động, linh hoạt cho Đoàn; các thành viên đoàn chủ động tham dự đông đủ, có nhiều thời gian nghiên cứu và giám sát chuyên sâu tại cơ sở, địa phương; bảo đảm đúng mục đích, yêu cầu của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội Qua hoạt động giám sát, đã có nhiều kiến nghị cụ thể gửi đến các cơ quan chức năng để có giải pháp điều chỉnh chính sách phù hợp, giải quyết những bức xúc, mang lại lợi ích cho người dân và các đối tượng thụ hưởng Sau giám sát, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành nghị quyết về kết quả giám sát, làm căn cứ quan trọng giúp Chính phủ, các bộ, ngành, các cơ quan

tư pháp và các cơ quan liên quan có những điều chỉnh phù hợp trong công tác chỉ đạo, điều hành, khắc phục những hạn chế, bất cập, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; đồng thời, giúp Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội

có điều kiện đánh giá, kiểm nghiệm, bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật

có liên quan, góp phần thực hiện tốt hơn chức năng lập pháp và quyết định các vấn đề quan trọng đối với lĩnh vực được giám sát

Tuy vậy, hoạt động giám sát chủ yếu vẫn dựa trên việc xem xét báo cáo của các cơ quan chịu sự giám sát, thông tin từ các chuyên gia, các cơ quan nghiên cứu, hoạt động độc lập còn chưa nhiều; việc cung cấp thông tin của các

cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán còn chậm hoặc thông tin chưa được sử dụng hiệu quả Một số cơ quan chịu sự giám sát chưa thực hiện nghiêm túc yêu cầu của Đoàn giám sát, việc gửi báo cáo của các cơ quan chịu sự giám sát còn chưa đúng thời hạn, chất lượng một số báo cáo còn chưa đạt yêu cầu Chế độ

Trang 35

chi tài chính cho hoạt động giám sát chuyên đề còn bất cập, hạn chế như: chế độ chi bồi dưỡng cho chuyên gia còn thấp, nhiều khoản mục chi của Đoàn chưa có trong quy định, một số định mức chi chưa phù hợp với thực tế

Giám sát là chức năng cơ bản của Quốc hội Trong số các chủ thể giám sát có đại biểu Quốc hội, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội có vai trò rất quan trọng, đảm bảo cho thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, góp phần thực hiện dân chủ, xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương Vai trò, quyền hạn, nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội trong hoạt động giám sát được pháp luật quy định, được thể hiện trong thực tiễn, ngày càng được nâng cao, hoàn thiện, đáp ứng vị thế người đại biểu đại diện của Nhân dân

Trang 36

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

VÀ ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TỈNH THANH HÓA

2.1 Đặc điểm địa kinh tế, chính trị tỉnh Thanh Hóa tác động đến hoạt động

giám sát của Đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa

Thanh Hóa là một tỉnh nằm ở cửa ngõ khu vực Bắc Trung Bộ, là 1 trong

số ít các tỉnh có đầy đủ 3 vùng địa lý, có quy mô lớn về diện tích, đứng thứ 5 cả

nước có tài nguyên thiên nhiên phong phú Đây là vùng đất “địa linh nhân kiệt”

với tên gọi có từ hơn 990 năm qua; dân số đông thứ 3 cả nước; nhiều di sản văn hoá, lịch sử đặc sắc; có nhiều đóng góp to lớn trong các cuộc kháng chiến của dân tộc, là “Kho người, kho của” trong kháng chiến Thanh Hóa là địa phương

có vị trí đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh; là nơi kết nối đồng bằng Sông Hồng với Tây Bắc, Bắc Trung Bộ Thanh Hóa có đầy đủ 5 loại hình giao thông; nằm trên tuyến đường huyết mạch Bắc-Nam và kết nối thuận lợi với các tỉnh, thành trong nước và quốc tế,

Trong 10 năm qua (Giai đoạn 2010-2020), Thanh Hóa có nhiều đột phá phát triển: Đặc biệt là đột phá về tăng trưởng, đột phá về thu ngân sách; đột phá

về thu hút vốn đầu tư; quy mô nền kinh tế nằm trong nhóm đầu cả nước Thanh Hóa có cơ sở hạ tầng kinh tế quan trọng đã được xây dựng trong thời kỳ vừa qua như, Khu Kinh tế Nghi Sơn; Cảng nước sâu; Cảng hàng không Thọ Xuân…Thanh Hóa đang cần một tầm nhìn mới cho phát triển và đang phấn đấu trở thành một cực tăng trưởng mới của cả nước, trở thành hình mẫu về phát triển hài hòa, nhanh, bền vững

Tuy đạt được nhiều thành tích quan trọng có ý nghĩa lịch sử, nhưng Thanh Hóa phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh, truyền thống cách

mạng hào hùng qua các thời kỳ và văn hóa lâu đời của đất và người xứ Thanh;

vẫn là tỉnh còn nhiều khó khăn, chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp, an ninh

và ổn định chính trị ở một số địa bàn trọng điểm còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp;

đời sống nhân dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới còn nhiều khó khăn,

Trang 37

thiếu thốn (thu nhập bình quân đầu người năm 2019 là 2.325 USD, thấp hơn bình quân chung của cả nước là 2.500 USD/người và đứng thứ 31/63 tỉnh, thành); văn hóa xã hội phát triển chưa đồng đều, khoảng cách phát triển giữa đô thị và nông thôn có xu hướng gia tăng; công tác xây dựng Đảng và hệ thống

chính trị, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, quản lý kinh tế - xã hội một số mặt còn

hạn chế, bất cập; năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Thanh Hóa chưa cao, đứng ở

vị trí trung bình trong cả nước (thứ 24/63 tỉnh, thành), trong đó so với khu vực Duyên hải miền trung, Thanh Hóa xếp thứ 6 trong tổng số 12 tỉnh, thành phố; Chỉ số cải cách hành chính chỉ xếp thứ 43/63 tỉnh, thành trong cả nước

2.2 Khái quát về Đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa

2.2.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa

Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa là tổ chức của các đại biểu Quốc hội

được bầu tại tỉnh Thanh Hóa hoặc được chuyển đến công tác tại Thanh Hóa

Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa có nhiệm vụ, quyền hạn sau

đây:

(i) Tổ chức để các đại biểu Quốc hội tiếp công dân; phối hợp với Thường

trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc ở địa phương tổ chức, bảo đảm các điều kiện để đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri với các hình thức phù hợp;

(ii) Tổ chức để các đại biểu Quốc hội thảo luận về dự án luật, pháp lệnh

và các dự án khác, dự kiến chương trình kỳ họp Quốc hội theo yêu cầu của Ủy

ban thường vụ Quốc hội;

(iii) Tổ chức hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh

Hóa và tổ chức để các đại biểu Quốc hội trong Đoàn thực hiện nhiệm vụ giám sát tại địa phương; tham gia và phối hợp với Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội trong các hoạt động giám sát tại địa phương; theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân mà đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa chuyển đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân

Trang 38

có thẩm quyền giải quyết; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp thông tin, báo cáo về những vấn đề mà Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa

được Trưởng đoàn ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ của Trưởng đoàn

Bảng 2.1: Danh sách đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa hiện nay

tính

Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa

đề xã hội của Quốc hội

Nam

Trang 39

6 Cao Thị Xuân Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội Nữ

(Nguồn: Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa)

Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa có trụ sở làm việc Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa là cơ quan tham mưu, giúp việc, phục

vụ hoạt động của các đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa tại địa phương Kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa do ngân sách nhà nước bảo đảm

2.2.2 Vị trí, điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh tác động đến hoạt động của Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa

+ Thuận lợi:

Thanh Hóa là tỉnh rộng, người đông nên số lượng Đại biểu Quốc hội được phân bổ cho địa phương lớn, có thể lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của dân nhiều hơn, đầy đủ hơn, bao trùm hơn và đưa ra được các đề xuất kiến nghị phù hợp hơn

Ngày đăng: 29/06/2021, 21:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Công tác đại biểu – Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử (2010), Gắn bó để đại diện cho cử tri, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gắn bó để đại diện cho cử tri
Tác giả: Ban Công tác đại biểu – Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
Năm: 2010
2. Dương Thanh Minh (2016),“Những chướng ngại cho đại biểu dân cử tham gia tiếp xúc cử tri”, của tác giả Dương Thanh Minh, Tạp chí Công thương, Số 14/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những chướng ngại cho đại biểu dân cử tham gia tiếp xúc cử tri”
Tác giả: Dương Thanh Minh
Năm: 2016
3. Đào Trí Úc (2010), Cơ chế giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước
Tác giả: Đào Trí Úc
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
4. Đoàn Văn Lâm (2018), Hoạt động giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội và thực tiễn thực hiện tại thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ tại Học viện Hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội và thực tiễn thực hiện tại thành phố Hà Nội
Tác giả: Đoàn Văn Lâm
Năm: 2018
5. Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa (2018), Báo cáo công tác năm 2018, Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác năm 2018
Tác giả: Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa
Năm: 2018
6. Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa (2019), Báo cáo công tác năm 2019, Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác năm 2019
Tác giả: Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa
Năm: 2019
7. Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa (2020), Báo cáo công tác năm 2020, Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác năm 2020
Tác giả: Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa
Năm: 2020
8. Hội thảo khoa học “Nhận diện khía cạnh pháp lý của hoạt động giám sát tối cao của đại biểu Quốc hội và một số kiến nghị xây dựng và hoàn thiện Luật Việt Nam” của Bộ Tư pháp năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện khía cạnh pháp lý của hoạt động giám sát tối cao của đại biểu Quốc hội và một số kiến nghị xây dựng và hoàn thiện Luật Việt Nam”
9. Lê Minh Thông (1999), Đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND và UBND các cấp, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND và UBND các cấp
Tác giả: Lê Minh Thông
Năm: 1999
10. Nguyễn Duy Quý, Nguyễn Tất Viễn (2010), Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân Lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân Lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Duy Quý, Nguyễn Tất Viễn
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
11. Nguyễn Đăng Dung (2008), Chế ước quyền lực nhà nước, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế ước quyền lực nhà nước
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2008
12. Nguyễn Đăng Dung (chủ biên) (2007), Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà nội
Năm: 2007
13. Ông Thị Mai (2016), Tổ chức và hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội, qua thực tiễn áp dụng pháp luật tại tỉnh Quảng Nam, Luận văn thạc sĩ Chính trị học tại Học viện Chính trị khu vực III Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội, qua thực tiễn áp dụng pháp luật tại tỉnh Quảng Nam
Tác giả: Ông Thị Mai
Năm: 2016
14. Phạm Văn Sơn (2016), Cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định pháp lý về đại biểu Quốc hội ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ tại Trường Đại học Nam Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định pháp lý về đại biểu Quốc hội ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Văn Sơn
Năm: 2016
15. Quốc hội (2015), Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Tổ chức chính quyền địa phương
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2015
16. Quốc hội (2105), Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
17. Quốc hội (2105), Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân ngày 20 tháng 11 năm 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân
18. Tạp chí nghiên cứu lập pháp - Văn phòng Quốc hội (2009), Quốc hội và các thiết chế trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội và các thiết chế trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Tạp chí nghiên cứu lập pháp - Văn phòng Quốc hội
Nhà XB: Nxb Lao Động
Năm: 2009
19. Tạp chí nghiên cứu lập pháp - Văn phòng Quốc hội (2010), Bàn về lập hiến, Nxb. Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về lập hiến
Tác giả: Tạp chí nghiên cứu lập pháp - Văn phòng Quốc hội
Nhà XB: Nxb. Lao động
Năm: 2010
20. Thái Vĩnh Thắng, Tổ chức chính quyền địa phương của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - quá trình hình thành và phát triển, những bất cập và phương hướng đổi mới, Tạp chí Luật học số 4/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức chính quyền địa phương của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - quá trình hình thành và phát triển, những bất cập và phương hướng đổi mới

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm