Một số công trình nghiên cứu về hoạt động chứng minh trong giai đoạn xét xử chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu ở góc độ lý luận và tham khảo thực tiễn hoạt động đánh giá chứng cứ của
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ QUỐC TUẤN
HOẠT ĐỘNG LẤY LỜI KHAI NGƯỜI LÀM CHỨNG THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Hà Nội, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ QUỐC TUẤN
HOẠT ĐỘNG LẤY LỜI KHAI NGƯỜI LÀM CHỨNG THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN ĐỨC HẠNH
Hà Nội, năm 2019
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1:MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG LẤY LỜI KHAI CỦA NGƯỜI LÀM CHỨNG THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 7
1.1 Một số vấn đề chung và khái niệm 7 1.2 Chủ thể có thẩm quyền lấy lời khai của người làm chứng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 19 1.3 Phân loại, quyền và nghĩa vụ người làm chứng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự 25 1.4 Mục đích lấy lời khai của người làm chứng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 30 1.5 Những yếu tố ảnh hưởng, tác động đến chất lượng của việc lấy lời khai của người làm chứng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 34
Chương 2: QUY ĐỊNH VỀ HOẠT ĐỘNG LẤY LỜI KHAI CỦA NGƯỜI
LÀM CHỨNG THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG NÀY TRÊN ĐỊA BÀN HUYÊN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC 37
2.1 Quy định về hoạt động lấy lời khai của người làm chứng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 37 2.2 Thực tiễn hoạt động lấy lời khai người làm chứng trên địa bàn huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước 46
Chương 3: GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG LẤY LỜI KHAI CỦA NGƯỜI LÀM CHỨNG THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 63
Trang 43.1 Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động lấy lời khai của người làm chứng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự 63 3.2 Kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạt động lấy lời khai của người làm chứng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự 69
KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Người làm chứng là người biết các tình tiết có liên quan đến vụ án và được các cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập để lấy lời khai về những nội dung có liên quan đến vụ án hoặc vụ việc có tính hình sự Lời khai của người làm chứng là một trong những nguồn chứng cứ lâu đời và phổ biến nhất Luật tố tụng hình sự của nhiều nước trên thế giới đều quy định về nguồn chứng cứ này, bởi lẽ người làm chứng nắm được diễn biến của vụ án hình sự, hoàn cảnh phạm tội, nhân thân người phạm tội, người bị hại Đây là nguồn chứng cứ rất quan trọng góp phần làm sáng
tỏ sự thật khách quan của vụ án hình sự [18,tr.1] Trong tố tụng hình sự nói chung, trong giai đoạn điều tra nói riêng, người làm chứng luôn giữ vai trò quan trọng trong xác minh làm rõ sự thật khách quan của vụ án hình sự Họ là người biết các tình tiết có liên quan đến vụ án nhưng do họ không phải là người có quyền lợi pháp
lý liên quan vụ án nên lời khai của họ thường trung thực, khách quan, có ý nghĩa lớn trong việc xác định sự thật của vụ án hình sự Lời khai người làm chứng là nguồn chứng cứ quan trọng trong giải quyết vụ án hay vụ việc mang tính hình sự Những thông tin được phản ánh và tái hiện lại qua lời khai của người làm chứng có chất lượng phụ thuộc tâm lý, kinh nghiệm xã hội, tính cách và nhân cách của người làm chứng
Việc hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự định đối với hoạt động lấy lời khai người làm chứng nhằm đảm bảo tính khách quan, trung thực trong hoạt động lấy lời khai người làm chứng sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc điều tra giải quyết vụ án hình sự; góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự công minh của pháp luật, của Nhà nước trong công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm
Tình hình tội phạm trong những năm trở lại đây ngày càng gia tăng, với những hình thức và thủ đoạn hết sức tinh vi nhằm che giấu hành vi phạm tội trước
cơ quan điều tra, nhất là các vụ án đặc biệt nghiêm trọng, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho người dân Xuất phát từ tình hình trên yêu cầu đặt ra là phải nhanh chóng điều tra phá án xử lý đúng người, đúng
Trang 6tội, bên cạnh đó là sự phối hợp của các ngành có liên quan và quan trọng hơn nữa là tinh thần tố giác tội phạm, kịp thời cung cấp những thông tin thật sự có giá trị cho
cơ quan điều tra để tiến hành xác minh làm rõ sự thật của các vụ án đã xảy ra trên địa bàn, để thực hiện có hiệu quả những yêu cầu trên thì người làm chứng cũng có vai trò quan trọng giúp cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhanh chóng làm sáng tỏ sự thật của vụ án đã xảy ra
Trong tố tụng hình sự thì hoạt động lấy lời khai người làm chứng là một hoạt động rất quan trọng, bởi người làm chứng là một trong những người tham gia tố tụng hình sự, do lời khai của người làm chứng là một trong những nguồn chứng cứ
để giải quyết vụ án, nhưng đồng thời đây cũng là hoạt động khó khăn và phức tạp trong quá trình điều tra vụ án Tuy nhiên, trong hoạt động lấy lời khai người làm chứng trong tố tụng hình sự vẫn còn một số thiếu sót, hạn chế nhất định, như: pháp luật tố tụng hình sự chưa quy định số lần phải tiến hành lấy lời khai người làm chứng nên có vụ án lấy lời khai nhiều lần gây lãng phí thời gian, công sức Bên cạnh đó, vấn đề bảo vệ người làm chứng chưa được luật qui định cụ thể đã có những tác động tiêu cực như ảnh hưởng xấu đến tâm lí, suy nghĩ của người làm chứng khiến họ cung cấp những tài liệu, chứng cứ liên quan vụ án cho các cơ quan tiến hành tố tụng sai sự thật, không dám khai báo những gì họ biết cho cơ quan tiến hành tố tụng vì sợ bị trả thù gây khó khăn cho quá trình điều tra, trong thời gian qua, thực tiễn hoạt động lấy lời khai người làm chứng của các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước còn gặp rất nhiều khó khăn cần được nghiên cứu, tổng kết để có những kiến nghị, giải pháp riêng và chung thích hợp
Xuất phát từ các lý do về lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài
“Hoạt động lấy lời khai người làm chứng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt
Nam từ thực tiễn huyện Chơn thành, tỉnh Bình Phước” làm luận văn thạc sĩ của
mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trang 7Hoạt động lấy lời khai người làm chứng là một trong số các hoạt động có ý nghĩa chứng minh trong tố tụng hình sự, Tình hình nghiên cứu hiện nay chủ yếu tập trung vào hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự mà chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu liên quan đến hoạt động lấy lời khai của người làm chứng nên người viết chủ yếu nghiên cứu hoạt động lấy lời khai người làm chứng trong các tài liệu liên quan đến hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự Đặc biệt, chứng minh là hoạt động phức tạp, nhạy cảm và được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu
Một số công trình nghiên cứu về hoạt động chứng minh trong giai đoạn xét
xử chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu ở góc độ lý luận và tham khảo thực tiễn hoạt động đánh giá chứng cứ của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình chứng minh vụ án hình sự như:
- Nguyễn Duy Thuận (1998), Sách “Quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự, lý luận và thực tiễn”;
- Vũ Văn Anh (2013), Chứng minh trong tố tụng hình sự, Luận văn Thạc sĩ
luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội;
- Nguyễn Thị Thúy Hà (2008), Đánh giá, sử dụng chứng cứ trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ luật
học, Trường Đại học Luật Hà Nội;
- Bùi Hữu Danh (2013), Lấy lời khai người làm chứng, Luận văn thạc sĩ
Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Dưới góc độ bài viết đăng trên các tạp chí khoa học pháp lý có những công trình điển hình như: “Đặc điểm của hoạt động chứng minh trong giai đoạn xét xử vụ
án hình sự" (Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 8/2006) của tác giả Nguyễn Văn Du; “Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về hoạt động chứng minh” (Tạp chí Nghề luật, số 4/2008) của tác giả Nguyễn Văn Huyên; “Hoàn thiện chế định về chứng cứ và chứng minh trong tố tụng hình sự” (Tạp chí kiểm sát,
số 18+20/2008) của tác giả Mai Thế Bày v.v
Các công trình này đã đề cập đến các góc độ khác nhau về lý luận của hoạt động chứng minh trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, nhấn mạnh đến khái niệm
Trang 8chứng minh và vai trò, nhiệm vụ của Tòa án trong hoạt động kiểm tra, đánh giá chứng cứ để đưa ra phán quyết cũng như việc hoàn thiện các quy định của Bộ luật
tố tụng hình sự hiện hành nhằm nâng cao hiệu quả và tính chính xác của hoạt động chứng minh trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, trạng và hoàn thiện pháp luật về chế định người làm chứng Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu và các bài viết trên chỉ nghiên cứu chuyên sâu ở một khía cạnh nhất định, hay mới chỉ đề cập đến việc đánh giá thực tiễn, mà chưa có một công trình nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện về hoạt động lấy lời khai người làm chứng trong tố tụng hình sự, đánh giá những tồn tại trong thực tiễn áp dụng pháp luật về lấy lời khai người làm chứng và
để ra biện pháp khắc phục, nâng cao hiệu quả hoạt động này trong thực tiễn
Trên cơ sở kế thừa kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học nói trên, cũng như nhiều bài viết trong các tạp chí và sách chuyên khảo luật, luận văn đã tiếp cận nghiên cứu về chứng minh trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự một cách toàn diện về lý luận Trên cơ sở đó tham khảo thực tiễn hoạt động xét xử các vụ án hình
sự trên địa bàn huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước để minh chứng cho hoạt động này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm làm rõ lý luận về hoạt động lấy lời khai người làm chứng trong tố tụng hình sự, qui định của pháp luật tố tụng hình sự về hoạt động lấy lời khai người làm chứng và thực tiễn áp dụng thời gian qua Trên cơ sở đó đánh giá, rút ra những thiếu sót, hạn chế trong qui định của pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng pháp luật thực định về hoạt động lấy lời khai người làm chứng trong điều tra các vụ án hình sự Đồng thời, để xuất hoàn thiện các quy định của pháp luật thực định về hoạt động lấy lời khai người làm chứng và kiến nghị biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động này trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu là những vấn đề lý luận cơ bản về tố tụng hình sự, chủ thể tiến hành tố tụng, chủ thể tham gia tố tụng, chứng cứ và nguồn chứng cứ, các
Trang 9biện pháp điều tra, hoạt động lấy lời khai của người làm chứng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
- Luận văn nghiên cứu các hoạt động lấy lời khai của người bị hại trên địa bàn huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành
tố tụng gồm: Các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án từ đó xác định những thuận lợi và khó khăn vướng mắc nhằm nâng cao chất lượng hoạt động này trong tố tụng hình sự Việt Nam nói chung và hoạt động lấy lời khai người làm chứng trên địa bàn tỉnh Bình Phước nói riêng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn
+ Trong các vụ án hình sự có những người làm chứng đồng thời cũng là người bị hại và có những người làm chứng không bị hành vi phạm tội gây thiệt hại
về tài sản, thể chất hoặc tinh thần Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này tác giả chỉ đề cập và nghiên cứu đến hoạt động lấy lời khai người làm chứng không bị hành vi phạm tội gây thiệt hại về tài sản, thể chất hoặc tinh thần Đề tài cũng chỉ tập trung việc lấy lời khai người bị hại với ý nghĩa là hoạt động thu thập chứng cứ trong các giai đoạn tố tụng hình sự
+ Về không gian và vấn đề nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động lấy lời khai người bị hại trên địa bàn huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
+ Về thời gian Luận văn chỉ khảo sát số liệu thực tiễn trong phạm vi từ năm
2014 đến năm 2019
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
về xây dựng nhà nước pháp quyền
Tác giả sử dụng hệ thống phương pháp phổ biến hiện nay trong nghiên cứu khoa học như: phân tích, tổng hợp, thống kê, tham khảo ý kiến chuyên gia để làm
Trang 10cách thức tiếp cận đề tài Các biện pháp này quan hệ biện chứng hỗ trợ nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ để làm sáng tỏ mục tiêu của đề tài
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Các kết quả của luận văn có ý nghĩa trong việc bổ sung lý luận về hoạt động lấy lời khai của người làm chứng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Các kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, học tập cũng như làm tài liệu cho các cán bộ Kiểm sát trong hoạt động nghiệp
vụ của mình
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hoạt động lấy lời khai của người làm chứng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 2: Quy định về hoạt động lấy lời khai của người làm chứng theo
pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và thực tiễn hoạt động này trên địa bàn huyện
Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
Chương 3: Giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạt động lấy lời
khai của người làm chứng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Trang 11Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG LẤY LỜI KHAI
CỦA NGƯỜI LÀM CHỨNG THEO PHÁP LUẬT
xử và bảo đảm quyền con người Trong đó, quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và một số thủ tục thi hành án hình sự; nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân; hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự [12, tr.1] Bên cạnh đó, yêu cầu đặt ra đối với các cơ quan tiến hành tố tụng là phải phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội Quá trình này được diễn
ra liên tục, kể từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc vụ án, bao gồm các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật (kiểm tra xác minh nguồn tin, khởi tố vụ án hình
sự, tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án ) của cơ quan có thẩm quyền, với
sự tham gia tố tụng của những người có liên quan đến vụ án, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội cà của công dân nhằm góp phần vào việc giải quyết vụ án hình sự
Khi một sự kiện pháp lý xảy ra nếu chứa đựng hậu quả hoặc hành vi hay vừa chứa đựng hậu quả lại vừa chứa đựng hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm
cụ thể thì sự kiện pháp lý đó được gọi là vụ việc mang tính hình sự và các cơ quan
có thẩm quyền tố tụng được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự phải có trách nhiệm điều tra, xác minh làm rõ xem có khởi tố vụ án hay không
Vụ án hình sự là vụ việc mang tính hình sự, có dấu hiệu của tội phạm được
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố vụ án để tiến hành
Trang 12điều tra, truy tố, xét xử theo các trình tự, thủ tục đã được quy định ở Bộ luật tố tụng hình sự
Khái niệm tố tụng hình sự có thể hiểu là quá trình giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật Tố tụng hình sự gồm toàn bộ hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra), người có thẩm quyền tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Cán bộ được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra), người tham gia tố tụng (Bị can, Bị cáo, Người bào chữa, Người bị hại, nguyên đơn dân sự, Bị đơn dân sự ) của cá nhân, các cơ quan khác của Nhà nước và các tổ chức xã hội nhằm góp phần vào việc giải quyết vụ án theo quy định của luật tố tụng hình sự
Giải quyết vụ án hình sự là một quá trình liên tục, gồm nhiều bước khác nhau, mỗi bước trong quá trình tố tụng thể hiện một hướng nhất định, thực hiện một nhiệm vụ riêng, góp phần thực hiện nhiệm vụ của tố tụng hình sự và thường được tiến hành bởi những chủ thể nhất định Kết quả của các bước tố tụng thường được thể hiện bằng các văn bản tố tụng đặc thù, các bước đó được gọi là các giai đoạn tố tụng
Căn cứ vào mục đích, chủ thể tiến hành, văn bản tố tụng đặc thù và kết quả của tố tụng thì tố tụng hình sự Việt Nam được chia làm bốn giai đoạn gồm: Giai đoạn khởi tố, giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố và giai đoạn xét xử
- Giai đoạn khởi tố bắt đầu từ khi có tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đến khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hoặc không khởi
tố vụ án hình sự
- Giai đoạn điều tra bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án và kết thúc khi
cơ quan điều tra ra Bản kết luận điều tra chuyển hồ sơ vụ án đến Viện kiểm sát để
đề nghị truy tố và được Viện kiểm sát vào sổ thụ lý hoặc kết thúc khi Cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định đình chỉ vụ án của Cơ quan điều tra hoặc Khi cơ
Trang 13quan có thẩm quyền hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án không có căn cứ và trái pháp luật
- Giai đoạn truy tố bắt đầu Viện kiểm sát tiếp nhận hồ sơ do cơ quan điều tra chuyển đến và kết thúc khi có Quyết định truy tố (Cáo trạng) đề nghị truy tố, chuyển hồ sơ đến Tòa án đề nghị xét xử và Tòa án thụ lý hồ sơ hoặc kết thúc khi có Quyết định đình chỉ vụ án của Viện kiểm sát
- Giai đoạn xét xử bắt đầu khi Tòa án thụ lý hồ sơ vụ án và kết thúc khi có bản án có hiệu lực pháp luật hoặc khi có Quyết định đình chỉ vụ án của Tòa án
Lấy lời khai của người làm chứng là một trong những biện pháp điều tra được quy định tại Điều 186 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được thực hiện trước
và sau khi khởi tố vụ án hình sự
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của người làm chứng
Theo từ điển tiếng Việt, thuật ngữ người làm chứng dùng để chỉ những người chứng kiến một sự việc, hiện tượng đã xảy ra và có thể mô tả lại cho người khác về
sự việc đó [31, tr 539] Còn trong dân gian, thuật ngữ người làm chứng thường được gọi là “nhân chứng”, mà theo đó thì “nhân chứng” là người bằng mắt thấy, tai nghe hoặc do những nguồn tin khác cung cấp mà biết được những tình tiết có liên quan đến vụ án, được cơ quan điều tra lấy lời khai, được Tòa án, Viện kiểm sát triệu tập đến làm chứng trước và tại phiên tòa Làm chứng là một nghĩa vụ của công dân Nhân chứng có nhiệm vụ có mặt khi được cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập và phải khai báo đúng sự thật, nếu gian dối trong khai báo hoặc trốn tránh việc khai báo mà không có lý do chính đáng có thể bị xử lý theo pháp luật
Theo quan điểm của các nhà khoa học Đại học Luật Hà Nội thì: “Người làm chứng là người biết các tình tiết có liên quan đến vụ án và được các cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập để khai báo về những sự việc cần xác minh trong vụ án” [21, tr.145] Theo cách hiểu này thì người làm chứng là người biết được các thông tin, tình tiết liên quan đến vụ án đang điều tra nên họ được các cơ quan tiến hành tố tụng (gồm cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) triệu tập họ để họ khai báo về
Trang 14những gì họ biết liên quan vụ án phục vụ điều tra làm rõ vụ án để xử lý trước pháp luật
Còn theo quan điểm của các nhà khoa học thuộc Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh thì: “Người làm chứng là người biết được tình tiết có liên quan đến vụ án
và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập tham gia tố tụng” [22, tr.189] Theo quan điểm của các nhà khoa học thuộc Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh thì người làm chứng là người biết về các thông tin, tình tiết liên quan đến
vụ án, được các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập họ tham gia vào các hoạt động tố tụng, có thể là tham gia vào các hoạt động điều tra (lấy lời khai người làm chứng, thực nghiệm điều tra, đối chất, nhận dạng ) hay tham gia vào quá trình xét xử của Tòa án
Theo quy định tại Điều 66 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì người làm chứng
là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng
Người làm chứng tham gia vào quá trình tố tụng theo sự triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng hoặc tự nguyện đến cơ quan tiến hành tố tụng khai báo về các tình tiết mà mình biết, được các cơ quan tiến hành tố tụng xác định tư cách là người làm chứng trong vụ án hình sự
Nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới như Liên bang Nga, Vương quốc Thái Lan cho thấy, Bộ luật Tố tụng hình sự của các nước này, đều quy định về trình tự, thủ tục lấy lời khai của người làm chứng
Trong Bộ luật Tố tụng hình sự Liên bang Nga, địa điểm và thời gian hỏi cung người làm chứng được quy định tại Điều 187, thủ tục triệu tập người làm chứng để hỏi cung được quy định tại Điều 188, những quy định chung khi tiến hành hỏi cung được quy định tại Điều 189 Điều 189 quy định: “Trước khi hỏi cung, dự thẩm viên thực hiện những yêu cầu được quy định tại khoản 4 Điều 164 Bộ luật này Nếu dự thẩm viên nghi ngờ về việc người bị hỏi cung không sử dụng thành thạo ngôn ngữ được dùng trong tố tụng, thì dự thẩm viên giải thích cho người được hỏi cung trình bày nguyện vọng được khai báo bằng ngôn ngữ nào Nghiêm cấm
Trang 15đưa ra các câu hỏi có tính chất mớm cung dự thẩm viên được tự do lựa chọn chiến thuật hỏi cung”
Bộ luật Tố tụng hình sự Vương quốc Thái Lan quy định về trình tự, thủ tục hỏi cung người làm chứng, người bị hại và những người khác tại Điều 133: “Trong quá trình thẩm tra, điều tra viên có thể yêu cầu người đó tuyên thệ hoặc khẳng định
sự trung thực của lời khai trước khi khai báo, đồng thời điều tra viên phải tuân theo mọi quy định về chứng cứ, lời khai của Bộ luật này Không điều tra viên nào được phép gợi ý, khuyến khích hay dùng nhục hình để ngăn cản người bị lấy lời khai khai báo theo nguyện vọng của họ” [30, tr.37]
Bộ luật Tố tụng hình sự Hàn Quốc quy định về lời thề của người làm chứng tại Điều 156 và Điều 157 Điều 156 quy định: “Một nhân chứng sẽ bắt buộc phải thề trước khi bị thẩm vấn, trừ khi Luật quy định khác” [27, tr.33] Điều 157 Bộ luật quy định mẫu lời thề tuyên thệ: "Văn bản tuyên thệ sẽ ghi “Tôi thề rằng tôi sẽ nói sự thật, toàn bộ sự thật và không phải là cái gì khác ngoài sự thật mà tôi được biết, nếu
có điều gì sai trái trong lời nói của tội, tôi sẽ bị xử phạt” [27, tr.33]
Bộ luật Tố tụng hình sự Cộng hòa Pháp, ngoài việc quy định người làm chứng phải tuyên thệ và khai tại Điều 437, Điều 438 còn quy định cụ thể về trách nhiệm của người làm chứng: “Nếu người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa hoặc không chịu tuyên thệ, không chịu khai, thì Viện Công tố có thể yêu cầu Tòa tiểu hình xử phạt người này theo quy định tại Điều 109” [5, tr.197]
Đáng lưu ý, pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Malaysia phân loại người làm chứng thành hai loại: người làm chứng buộc tội và người làm chứng gỡ tội Để đảm bảo sự có mặt của người làm chứng tại phiên tòa, Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự Liên bang Malaysia quy định về cam kết của người làm chứng: “1 Người làm chứng buộc tội va người làm chứng gỡ tội cần phải có mặt tại phiên tòa xét xử trước Tòa án cấp cao, phải thực hiện cam kết trước cán bộ xét xử sẽ có mặt tại phiên tòa xét xử khi được triệu tập để cung cấp chứng cứ và cán bộ xét xử có thể cân nhắc yêu cầu họ đảm bảo chấp hành cam kết đó” [28, tr.67]
Trang 16Khác với pháp luật tố tụng hình sự các nước nói trên, pháp luật tố tụng hình
sự Nhật Bản quy định người làm chứng được từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào buộc tội những người thân thích của họ Điều 147 Bộ luật tố tụng hình sự Nhật Bản quy định: “Một người làm chứng có thể từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào mà có thể nghiêng về hướng buộc tội những người sau đây:
1 Vợ chồng, người thân ruột thịt trong phạm vi ba đời hoặc người bà con gần gũi trong phạm vi hai đời của người làm chứng hoặc người đã có mối quan hệ với người làm chứng
2 Người giám hộ, người giám sát của người giám hộ hoặc người phụ trách của người làm chứng
3 Người mà được người làm chứng giám hộ, phụ trách hoặc giám sát người giám hộ của người đó” [29, tr.26] Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử ở nước ta đã dựa trên những căn cứ (tiêu chí) nhất định để phân loại người làm chứng Việc phân loại người làm chứng thành các nhóm khác nhau dựa trên cơ sở một căn cứ xác định nhằm phục vụ cho việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ từ lời khai của người làm chứng có hiệu quả hơn Có nhiều cách phân loại khác nhau, nhưng trên thực tế, các cơ quan tiến hành tố tụng có thể sử dụng các cách phân loại dựa trên tiêu chí độ tuổi, quốc tịch, ngôn ngữ, nguồn gốc sự hiểu biết các tình tiết có liên quan đến vụ
án, sự liên quan đến vụ án hình sự, quan hệ với bị can, bị cáo, đặc điểm thể chất, tinh thần, trình độ học vấn
Sự phân loại người làm chứng theo các tiêu chí khác nhau ở trên có tác dụng giúp cho việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ từ lời khai của người làm chứng được khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác Trên cơ sở quan điểm này, chúng ta không đồng tình với quan điểm tư sản đánh giá chứng cứ dựa vào giới, địa vị xã hội của người làm chứng: “Khi những người làm chứng hợp pháp đáng tin cậy ngang nhau, trong trường hợp lời khai của họ mâu thuẫn với nhau thì người được hưởng
ưu tiên là: 1) đàn ông được ưu tiên hơn đàn bà; 2) người cao quý được ưu tiên hơn thường dân; 3) người học giả được ưu tiên hơn người không phải là học giả; 4) thầy
tu được ưu tiên hơn người thế tục” [17, tr.171]
Trang 17Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cho thấy, khi thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ từ lời khai của người làm chứng, phải chú ý cả những yếu tố khách quan lẫn những yếu tố chủ quan ảnh hưởng tới mức độ chính xác trong lời khai của người làm chứng: thời gian người làm chứng tri giác sự kiện, hiện tượng ngắn; khoảng thời gian từ khi tri giác sự kiện, hiện tượng cho đến khi cung cấp lời khai cho các cơ quan tiến hành tố tụng quá lâu; khoảng cách từ người làm chứng đến đối tượng được tri giác quá xa; điều kiện thời tiết không thuận lợi cho việc tri giác như sương
mù, mưa, gió ); những kẻ phạm tội đã cố ý ngụy trang vấn đề mà người làm chứng
đã nhận biết, tri giác; người làm chứng có mối quan hệ gia đình, công tác với bị can, bị cáo hoặc người bị hại; một số giác quan của người làm chứng có khuyết tật; người làm chứng không chú ý đến sự kiện, hiện tượng đã tri giác Trong trường hợp lời khai của những người làm chứng về cùng một sự kiện, hiện tượng có mâu thuẫn với nhau, thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải làm rõ mâu thuẫn đó, chứ không được áp đặt, suy diễn theo ý chí chủ quan
Người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến vụ án hình
sự và được cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập đến với tư cách người làm chứng để lấy lời khai theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự Lời khai của người làm chứng là lời trình bày của một người không bị người phạm tội xâm hại nhưng
đã biết được những tình tiết liên quan đến vụ án Do lời khai người làm chứng là nguồn chứng cứ phổ biến và là “một trong những nguồn chứng cứ lâu đời và phổ biến nhất” [25, tr.62] nên Bộ luật Tố tụng hình sự có quy định về nghĩa vụ khai báo
và trách nhiệm của người làm chứng về việc khai báo đó Ngoài ra, Bộ luật còn quy định người làm chứng phải là người có năng lực nhận thức, tỉnh táo không mắc bệnh tâm thần, phải có khả năng khai báo đúng đắn và có trách nhiệm đối với lời khai đó Những người bào chữa cho bị can, bị cáo không được làm chứng trong vụ
án
Từ những phân tích ở trên, theo tác giả, chúng ta có thể hiểu khái niệm người
làm chứng như sau: “Người làm chứng là người biết được các thông tin, tình tiết có liên quan đến vụ án hình sự và được các cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập để lấy
Trang 18lời khai của họ về những sự việc, thông tin tình tiết cần xác minh làm rõ trong vụ án hình sự”
Tuy có sự trình bày khác nhau về khái niệm “người làm chứng” người làm chứng trong vụ án hình sự đều có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, họ là người biết các tình tiết có liên quan đến vụ án đang điều tra
Những tình tiết mà người làm chứng biết được có thể liên quan đến đối tượng chứng minh được quy định tại Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 hoặc các tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án Việc họ biết được các tình tiết của vụ án là một thực tế khách quan và vì vậy, họ có thể được triệu tập đến để khai báo về các tình tiết của vụ án với tư cách là người làm chứng Việc biết có thể là:
- Biết trực tiếp: là trực tiếp tri giác, phát hiện những tình tiết có liên quan đến
vụ án đã xảy ra, thông qua các cơ quan cảm giác như mắt nhìn, tai nghe không thông qua khâu trung gian nào Do vậy, lời khai của người làm chứng biết trực tiếp thường có độ chính xác cao
- Biết gián tiếp: là việc họ biết được các tình tiết của vụ án thông quan khâu trung gian như nghe người khác kể lại, đọc tài liệu Do vậy, lời khai của người làm chứng biết gián tiếp thường bị thiếu đầy đủ, thiếu chính xác, sự khách quan bị hạn chế Tuy nhiên, từ lời khai của người làm chứng biết gián tiếp có thể xác định được người làm chứng biết trực tiếp của vụ án Lời khai của họ cũng góp phần củng cố thêm tài liệu, chứng cứ của vụ án; là cơ sở để tiến hành các hoạt động điều tra làm
rõ vụ án
Thứ hai, được Cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập đến để lấy lời khai theo
đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của pháp luật Tố tụng hình sự
Do người làm chứng biết được các tình tiết có liên quan đến vụ án đang được điều ttra nên họ được cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập đến để lấy lời khai theo đúng thủ tục pháp luật Tố tụng hình sự Trong một vụ án, có thể có nhiều người biết các thông tin liên quan đến vụ án nhưng không phải tất cả những người biết được các tình tiết liên quan đến vụ án đều là người làm chứng, mà chỉ những người nào được cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập đến để lấy lời khai mới là người làm chứng
Trang 19Do vậy, khi triệu tập người làm chứng để lấy lời khai của họ, các cơ quan tiến hành
tố tụng thường lựa chọn triệu tập những người biết được nhiều tin tức quan trọng, biết được các tình tiết một cách sâu sắc, chính xác, đầy đủ để lấy lời khai của họ với tư cách là người làm chứng Những người được triệu tập làm người làm chứng
có thể là người Việt Nam đã thành niên, người chưa thành niên, người nước ngoài đang sống ở Việt Nam hoặc thậm chí có thể là bị can, bị cáo của những vụ khác
Thứ ba, người làm chứng là người có thể khai báo chính xác, khách quan,
turng thực tất cả những thông tin mà họ biết về vụ án hình sự
Người làm chứng là người biết được các thông tin, tình tiết có liên quan đến
vụ án hình sự nhưng họ không phải là người có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến vụ án nên lời khai của họ thường trung thực, khách quan, có ý nghĩa lớn trong việc xác định sự thật của vụ án Do vậy, trong lựa chọn và triệu tập người làm chứng, các cơ quan tiến hành tố tụng phải lựa chọn triệu tập những người có khả năng mô tả một cách tốt nhất, trung thực nhất, khách quan nhất những hiểu biết của
họ về các tình tiết của vụ án
Trong điều tra vụ án hình sự, để đảm bảo lời khai của người làm chứng khách quan, trung thực thì những người sau đây không được triệu tập với tư cách là người làm chứng để lấy lời khai của họ gồm:
- Người bào chữa của người bị buộc tội Người bào chữa của người bị buộc tội có thể là: Luật sư, người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân Pháp luật quy định, người bào chữa chỉ được đưa ra những chứng cứ có lợi cho bị cáo Họ không thể làm chứng vì nghĩa vụ của người làm chứng là khai báo trung thực tất cả những gì họ biết về vụ án hình sự Nghĩa vụ đó mâu thuẫn với nghĩa vụ của người bào chữa Do đó, người bào chữa không được tham gia với hai
tư cách trong cùng một vụ án Họ có trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị can, bị cáo Khi đó nếu để cho họ là người làm chứng trong vụ án sẽ không đảm bảo tính khách quan, công minh của pháp luật
- Người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết liên quan nguồn tin về tội phạm, về vụ án hoặc
Trang 20không có khả năng khai báo đúng đắn Người làm chứng phải là người có khả năng nhận thức đúng đắn về một sự việc và phải có khả năng khai báo đúng đắn về sự việc đó Vì vậy, nếu vào thời điểm nhận thức sự việc hoặc thời điểm khai báo về sự việc mà họ do có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần mà không có khả năng nhận thực hoặc khai báo đúng đắn thì họ không được làm chứng Tuy nhiên, nếu các nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần không ảnh hưởng đến khả năng nhận thức và khai báo đúng đắn thì họ vẫn được làm chứng
Tóm lại, người làm chứng luôn giữ một vai trò quan trọng trong điều tra làm
rõ sự thật khách quan củ vụ án hình sự Họ có thể là người trực tiếp hoặc gián tiếp biết các tình tiết của vụ án nhưng họ là người không có quyền và lợi ích pháp lý liên quan đến vụ án nên lời khai của họ thường khách quan, trung thực, có giá trị chứng minh Việc nhận thức đúng về người làm chứng sẽ có ý nghĩa to lớn trong xác định
sự thật khách quan của vụ án hình sự, đảm bào xử lý đúng người, đúng tội, không
để lọt tội phạm, không làm oan sai người vô tội
1.1.3 Khái niệm, đặc điểm của hoạt động lấy lời khai người làm chứng
Lời khai của người làm chứng là một trong những nguồn chứng cứ truyền thống và phổ biến trong các vụ án hình sự vì người làm chứng là người biết được các thông tin, tình tiết của vụ án, như: biết được diễn biến của vụ án hình sự, hoàn cảnh phạm tội, thời gian, địa điểm, nhân thân người phạm tội, người bị hại Đây là nguồn chứng cứ rất quan trọng góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án hình sự Nhất là trong giai đoạn đầu điều tra vụ án, lời khai của người làm chứng thường là cơ sở để tiến hành những biện pháp cấp bách, như: khám nghiệm hiện trường, truy bắt thủ phạm sau khi thủ phạm gây án bỏ trốn, khám xét Do vậy, khi điều tra viên nhận được tin báo tố giác tội phạm cần khẩn trương xác định những người có thể biết được các thông tin, tình tiết của vụ án để tiến hành lấy lời khai của
họ với tư cách là người làm chứng để thu thập tin tức, tài liệu phục vụ điều tra truy bắt thủ phạm
Lời khai người làm chứng là nguồn chứng cứ mà nguồn phản ánh của nó là những con người cụ thể mang tính cá biệt cao vì lời khai người làm chứng là các
Trang 21thông tin về vụ án được lưu giữ trong ý thức của người làm chứng Và những thông tin, tình tiết của vụ án chỉ trở thành chứng cứ khi những thông tin, tình tiết này được phản ánh và tái hiện qua lời khai của người làm chứng - những con người cụ thể phản ánh và tái hiện qua lời khai của người làm chứng - những con người cụ thể hoàn toàn khác nhau về tâm lý, về kinh nghiệm xã hội, về tính cách, nhân cách
Do vậy, khi hoạt động tố tụng hình sự càng có tính tranh tụng bao nhiêu thì lời khai người làm chứng càng được sử dụng phổ biến bấy nhiêu Niềm tin vào lời khai người làm chứng trong việc làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án là một phần niềm tin của con người vào sự công minh, khách quan của hoạt động xét xử
Có thể nói trong tương lai, dù khoa học kỹ thuật có phát triển đến đâu đi chăng nữa,
dù máy móc tự động có thể thay thế con người trong nhiều lĩnh vực khác nhau trong
xã hội thì lời khai người làm chứng vẫn có vai trò to lớn trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự
Do lời khai người làm chứng là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng trong điều tra làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án hình sự Vì vậy, để lời khai người làm chứng đảm bảo khách quan, chính xác thì quá trình lấy lời khai phải đảm bảo công minh theo đúng qui định của pháp luật tố tụng hình sự
Hiện nay, theo quan điểm của các nhà khoa học thuộc Trường Đại học luật
Hà Nội thì lấy lời khai của người làm chứng được hiểu như sau: “Lấy lời khai của người làm chứng là hoạt động điều tra nhằm thu thập chứng cứ do người làm chứng đưa ra góp phần giải quyết vụ án hình sự” Như vậy, theo quan điểm của các nhà khoa học thuộc Trường Đại học Luật Hà Nội [21, tr.296] thì nội hàm thuật ngữ “lấy lời khai của người làm chứng” gồm 02 nội dung lớn sau:
Một là, lấy lời khai người làm chứng là hoạt động điều tra, tức là quá trình
thu thập tài liệu, chứng cứ nhằm xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án Như vậy, ngay từ đầu các nhà khoa học thuộc Đại học Luật Hà Nội đã khẳng định lấy lời khai của người làm chứng là một hoạt động điều tra theo pháp luật tố tụng hình sự
Trang 22Hai là, mục đích lấy lời khai của người làm chứng là nhằm thu thập chứng
cứ do người làm chứng đưa ra góp phần giải quyết vụ án hình sự Chứng cứ do người làm chứng đưa ra có thể là vật chứng mà người làm chứng thu giữ được, cũng có thể là những thông tin, tình tiết liên quan đến vụ án mà người làm chứng biết được
Bên cạnh đó, khi nhìn nhận về lấy lời khai người làm chứng thì các nhà khoa học thuộc Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh có quan điểm sau: “Lấy lời khai người làm chứng là hoạt động điều tra nhằm thu thập chứng cứ do người làm chứng đưa ra bằng việc đặt các câu hỏi để họ trả lời các câu hỏi đó” [22, tr.404] Như vậy, theo quan điểm của các nhà khoa học thuộc Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh thì quan điểm về lấy lời khai người làm chứng giống với quan điểm của các nhà khoa học thuộc Đại học Luật Hà Nội về bản chất, mục đích của lấy lời khai người làm chứng
Tuy nhiên, trong quan điểm của các nhà khoa học thuộc Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh thì nội dung lấy lời khai người làm chứng chỉ bó hẹp trong việc đặt các câu hỏi để người làm chứng trả lời các câu hỏi đó
Ngoài ra, theo quan điểm của khoa học Điều tra hình sự trong Công an nhân dân thì lấy lời khai người làm chứng có các đặc điểm đặc trưng sau:
Thứ nhất, lấy lời khai người làm chứng trong tố tụng hình sự là một biện
pháp điều tra nhằm làm rõ những tình tiết, thông tin của vụ án hình sự và những tình tiết, tài liệu khác có ý nghĩa đối với việc làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ
án hình sự Khác với bị can và người bị hại, người làm chứng chỉ có thể cung cấp cho điều tra viên những tin tức, tài liệu về một hay vài tình tiết nào đó của vụ án Lời khai của người làm chứng bao hàm những tin tức, tài liệu về những tình tiết của
vụ án cụ thể, đặc điểm nhân thân của bị can, người bị hại và những tin tức tài liệu khác mà người làm chứng biết Mục đích của lấy lời khai người làm chứng không chỉ nhằm thu thập những tin tức, tài liệu về vụ án mà còn thu thập cả những tin tức, tài liệu về những tình tiết xảy ra trước, trong và sau khi vụ án xảy ra, những tình tiết
có liên quan đến vụ án; những tài liệu có thể sử dụng trong quá trình điều tra để thu
Trang 23thập những chứng cứ mới; hay để kiểm tra và đánh giá những tài liệu, chứng cứ đã
có trong quá trình lấy lời khai của những người làm chứng
Thứ hai, lấy lời khai của người làm chứng phải được tiến hành nhanh chóng
nhằm thu thập những thông tin về vụ án, như: thời gian, địa điểm xảy ra vụ án; số lượng, đặc điểm, hướng chạy trốn của đối tượng gây án, tính chất của vụ án; hậu quả, tác hại do hành vi phạm tội gây ra; đặc điểm người bị hại, đặc điểm những vũ khí, công cụ, phương tiện gây án
Chính vì vậy, ngay sau khi tiếp nhận được tin báo, tố giác về vụ án xảy ra, Điều tra viên cần nhanh chóng xác định những người có thể biết được những tình tiết của vụ án để triệu tập và lấy lời khai của họ với tư cách là người làm chứng trong vụ án nhằm khai thác mọi khả năng hiểu biết của họ về vụ án, giúp cho quá trình điều tra làm rõ vụ án được nhanh chóng, chính xác, khách quan
Thứ ba, lấy lời khai người làm chứng còn là biện pháp điều tra mang tính
phổ biến, thường xuyên được tiến hành trong điều tra các vụ án hình sự
Thứ tư, lấy lời khai của người làm chứng là một trong những biện pháp điều
tra có hiệu quả nhất
Từ những phân tích ở trên, có thể hiểu hoạt động lấy lời khai người làm
chứng trong tố tụng hình sự là: “Hoạt động lấy lời khai của người làm chứng trong
tố tụng hình sự là biện pháp điều tra được tiến hành theo trình tự, thủ tục được qui định trong Bộ luật Tố tụng hình sự nhằm thu thập những thông tin, tình tiết, tài liệu làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án hình sự hoặc có ý nghĩa đối với việc làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án hình sự”
1.2 Chủ thể có thẩm quyền lấy lời khai của người làm chứng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
1.2.1 Giai đoạn khởi tố
Theo quy định tại Điều 186 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định Điều tra viên là chủ thể tiến hành lấy lời khai người làm chứng Để trở thành Điều tra viên thì họ phải là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết,
Trang 24trung thực, bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa [12] và phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về Điều tra viên được quy định trong Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015
“Điều tra viên là người được bổ nhiệm để làm nhiệm vụ Điều tra hình sự” được quy định tại Điều 45 của Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 Họ
là chủ thể được phân công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự và không được làm những điều mà người Điều tra viên không được làm, Điều tra viên
là người tham gia trực tiếp vào quá trình điều tra trong tố tụng hình sự, do đó họ được phép lấy lời khai người làm chứng, để đảm bảo tính khách quan, chính xác trong việc lấy lời khai và họ được đào tạo về trình độ và chuyên môn nghiệp vụ theo đúng quy định, bên cạnh đó họ còn phải có kinh nghiệm về lấy lời khai để họ
áp dụng vào thực tế cho phù hợp
Về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên được quy định cụ thể tại Điều 37 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 trong đó có quyền triệu tập và lấy lời khai người làm chứng Bên cạnh đó, tại khoản 3 Điều 186 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định việc trước lấy lời khai người làm chứng, trong mọi trường hợp Điều tra viên phải giải thích quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định tại Điều 66 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để họ nắm và biết được quyền và nghĩa
vụ có họ khi tham gia vào hoạt động tố tụng hình sự, cho họ biết được các quyền và nghĩa vụ phải thực hiện Việc giải thích quyền và nghĩa vụ của người làm chứng phải được ghi vào biên bản Từ những quy định trên cho thấy, Điều tra viên có quyền triệu tập và lấy lời khai người làm chứng theo quy định của pháp luật
Điều tra viên lấy lời khai người làm chứng trong giai đoạn khởi tố vụ án hình
sự, điều tra viên triệu tập người làm chứng đến để lấy lời khai để thu thập chứng cứ, nắm thêm các nguồn tin về vụ án như đối tượng gây án, hướng chạy trốn của đối tượng, hung khí gây án và những tình tiết khác về vụ án để khởi tố vụ án Đến giai đoạn điều tra vụ án, Điều tra viên tiếp tục tiến hành triệu tập người làm chứng đến lấy lời khai, để làm sáng tỏ thêm một số tình tiết có liên quan đến vụ án, khẳng định
Trang 25lại lời khai ban đầu của họ và chứng minh xem họ có khai đúng sự thật vụ án một cách trung thực, khách quan và chính xác hay không
Khi tiến hành lấy lời khai người làm chứng Điều tra viên phải nghiên cứu hồ
sơ vụ án, xác định được mục đích lấy lời khai, sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án xong, phải lập kế hoạch lấy lời khai, có kế hoạch Điều tra viên mới có sự chủ động, nắm chắc được những nội dung cần phải làm và cần lựa chọn hình thức triệu tập người làm chứng hợp lý nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thiết lập tiếp xúc tâm lý giữa Điều tra viên và người làm chứng, đồng thời Điều tra viên cũng là người lựa chọn thời gian và địa điểm lấy lời khai người làm chứng một cách phù hợp
1.2.2 Giai đoạn điều tra và giai đoạn truy tố
Trong giai đoạn này, bên cạnh thẩm quyền của điều tra viên, theo quy định tại khoản 5 Điều 186 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: “Trường hợp xét thấy việc lấy lời khai của Điều tra viên không khách quan hoặc có vi phạm pháp luật hoặc xét cần làm rõ chứng cứ, tài liệu để quyết định việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra hoặc để quyết định việc truy tố thì Kiểm sát viên có thể lấy lời khai người làm chứng Việc lấy lời khai người làm chứng được tiến hành theo quy định tại Điều này”
Để trở thành Kiểm sát viên thì họ phải là công dân Việt Nam trung thành với
Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết, trung thực, bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa [16] và đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về Kiểm sát viên được quy định trong Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân 2014
Theo quy định tại Điều 74 của Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân 2014
“Kiểm sát viên là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” Theo đó ta có thể hiểu Kiểm sát viên kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan,
tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự Về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên được quy định cụ thể tại Điều 42 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Từ những
Trang 26quy định trên cho thấy, Kiểm viên có quyền triệu tập và lấy lời khai người làm chứng theo quy định của pháp luật
Trong hoạt động lấy lời khai người làm chứng Kiểm sát viên thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, đặc biết để có căn cứ phê chuẩn, hủy bỏ các quyết định của cơ quan điều tra và kiểm sát hoạt động lấy lời khai người làm chứng của Điều tra viên Trong trường hợp Kiểm sát viên thấy việc lấy lời khai người làm chứng của Điều tra viên không khách quan, không đầy đủ chứng cứ, không trung thực hoặc có vi phạm pháp luật hoặc xét cần làm rõ chứng cứ, tài liệu để quyết định việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra hoặc
để quyết định việc truy tố thì Kiểm sát viên có thể lấy lời khai người làm chứng, để làm rõ thêm những nội dung mà cho rằng không khách quan hay thiếu chính xác về
vụ án Việc Kiểm sát viên tiến hành lấy lại lời khai người làm chứng là thật sự cần thiết do tình tiết khách quan của vụ án và những yêu cầu trong việc giám sát hoạt động điều tra, đảm bảo việc tiến hành tố tụng hình sự được đúng theo quy định của pháp luật
Trường hợp Kiểm sát viên xét thấy việc lấy lời khai người làm chứng của Điều tra viên không khách quan là việc Kiểm sát viên nhận thấy trong quá trình lấy lời khai người làm chứng của Điều tra viên không trung thực, khi đó lời khai của người làm chứng sẽ không chính xác, không đúng với sự thật của vụ án thì Kiểm sát viên sẽ tiến hành lấy lời khai người làm chứng lại, để đảm bảo tính khách quan và trung thực trong việc lấy lời khai người làm chứng
Trường hợp Kiểm sát viên xét thấy việc lấy lời khai người làm chứng của Điều tra viên có vi phạm pháp luật, có nghĩa là Kiểm sát viên nhận thấy trong quá trình lấy lời khai người làm chứng của Điều tra viên không thực hiện đúng nhiệm
vụ, quyền hạn và tiến hành lấy lời khai người làm chứng không đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định hoặc Điều tra viên có hành vi bức cung, nhục hình đối với người chứng, buộc người làm chứng phải khai theo ý muốn chủ quan của Điều tra viên, thì Kiểm sát viên sẽ tiến hành lấy lời khai người làm chứng lại nhằm đảm bảo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định
Trang 27Trường hợp Kiểm sát viên xét thấy việc lấy lời khai người làm chứng của Điều tra viên và dùng lời khai của người làm chứng dùng để xét cần làm rõ chứng
cứ, tài liệu để quyết định việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, là việc Kiểm sát viên nhận thấy trong quá trình lấy lời khai người làm chứng của Điều tra viên không trung thực, vi phạm pháp luật trong việc lấy lời khai, lời khai của người làm chứng không đủ căn cứ để làm rõ những chứng
cứ, tài liệu để quyết định việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, thì Kiểm sát viên sẽ tiến hành lấy lời khai người làm chứng lại, để làm rõ chứng cứ, tài liệu cho việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định tố tụng
Trường hợp Kiểm sát viên xét thấy việc lấy lời khai người làm chứng của Điều tra viên để quyết định việc truy tố, là việc Kiểm sát viên nhận thấy trong quá trình lấy lời khai người làm chứng của Điều tra viên không khách quan, vi phạm pháp luật hoặc lời khai của người làm chứng không đủ chứng cứ để quyết định truy
tố, thì Kiểm sát viên sẽ tiến hành lấy lời khai người làm chứng lại, để đưa ra đầy đủ chứng cứ để quyết định truy tố
1.2.3 Giai đoạn xét xử
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, hoạt động thu thập chứng cứ chủ yếu được thực hiện thông qua hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ của cơ quan điều tra Đến giai đoạn xét xử, các cơ quan và người tiến hành tố tụng chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra và đánh giá các chứng cứ đã được cơ quan điều tra thu thập
để trên cơ sở đó đưa ra kết luận về vụ án; thu thập bổ sung chứng cứ hoặc đề ra những yêu cầu điều tra bổ sung Tuy nhiên, với chức năng là cơ quan xét xử nên việc phát hiện, thu thập chứng cứ ở giai đoạn xét xử mang tính mờ nhạt, không được đề cao và các biện pháp thu thập chứng cứ áp dụng trong giai đoạn này cũng hạn chế
Để thu thập chứng cứ ở giai đoạn xét xử, Hội đồng xét xử có thể áp dụng một số phương pháp sau:
Trang 28- Triệu tập người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bị cáo, người giám định đến phiên tòa để xét hỏi nhằm kiểm tra lại tính đúng đắn của những lời khai và các tài liệu đã được thu thập trong giai đoạn điều tra Thông qua việc xét hỏi và đối chất công khai giữa những người tham gia tố tụng này giúp làm sáng tỏ những vấn đề mâu thuẫn và thông qua đó phát hiện những tình tiết mới phát sinh có liên quan đến việc giải quyết vụ án
- Tiến hành trưng cầu giám định, giám định bổ sung hoặc giám định lại khi
có nghi ngờ về các kết luận trước đó
- Xem xét tại chỗ nơi xảy ra tội phạm, những địa điểm có liên quan đến vụ án hoặc tại nơi có vật chứng mà không thể đưa đến phiên tòa được
- Yêu cầu các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án
Kiểm tra chứng cứ trong giai đoạn xét xử là hoạt động của Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm tiến hành nhằm xác định một cách thận trọng, toàn diện, khách quan tính chính xác của những thông tin thực tế và tính đáng tin cậy của những nguồn chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra để xác lập một cách đúng đắn mọi tình tiết của vụ án hình sự Kiểm tra chứng cứ chính là kiểm tra
về các thuộc tính, về giá trị sử dụng của các chứng cứ này Việc không kiểm tra hoặc kiểm tra không đầy đủ có thể dẫn đến việc ra các phán quyết không đúng với bản chất, nội dung vụ án
Kiểm tra chứng cứ trong giai đoạn xét xử phải tập trung làm rõ những vấn đề sau đây:
- Các chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra có khách quan không;
- Những chứng cứ này có liên quan đến đối tượng chứng minh do pháp luật quy định không, tình tiết cụ thể nào của đối tượng chứng minh, mức độ cụ thể ra sao;
- Nguồn của chứng cứ có ảnh hưởng đến tính khách quan của những thông tin để chứng minh mà nó phản ánh không;
Trang 29- Quá trình thu thập chứng cứ có tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự hay không;
Hoạt động kiểm tra chứng cứ chỉ có thể đạt được mục đích đề ra khi nó được tiến hành bằng những biện pháp khoa học Các phương pháp này được áp dụng trong thực tiễn có nhiều điểm khác nhau tùy theo các vụ án nhưng tựu trung đều hướng đến mục đích xác định giá trị chứng minh của các chứng cứ Cụ thể, khi tiến hành kiểm tra chứng cứ, Kiểm sát viêm, Thẩm phán và Hội thẩm phải:
- Phân tích nội dung của từng chứng cứ để xác định tính chân lý khách quan của chứng cứ;
- So sánh, đối chiếu chứng cứ cần kiểm tra với những chứng cứ khác đã được kiểm tra có phù hợp với thực tế khách quan hay không;
- Thông qua hoạt động kiểm tra chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa để đề ra yêu cầu điều tra bổ sung, thu thập các chứng cứ mới nhằm làm
rõ thêm chứng cứ cần kiểm tra
“Đánh giá” hiểu theo nghĩa chung nhất là “nhận thức cho rõ giá trị một người hoặc một vật”, là kết quả của việc kiểm tra để thừa nhận việc tồn tại hay không tồn tại của những sự kiện phạm tội, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn xét xử được nhìn nhận là hoạt động nhận thức phức tạp và quan trọng nhất của quá trình chứng minh
và cũng là hoạt động quan trong nhất trong giai đoạn xét xử
Như vậy, người viết cho rằng đối với hoạt động lấy lời khai người làm chứng
ở giai đoạn xét xử, thì thẩm phán, hội thẩm nhân dân, kiểm sát viên chủ yếu thực hiện hoạt động đánh giá lời khai của người làm chứng trong giai đoạn chuẩn bị xét
xử và giai đoạn xét xử Ngoài ra, theo Điều 186 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, chủ thể có thẩm quyền lấy lời khai người làm chứng là kiểm sát viên và điều tra viên
1.3 Phân loại, quyền và nghĩa vụ người làm chứng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự
1.3.1 Phân loại người làm chứng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự
Trang 30Thứ nhất, căn cứ vào nguồn hiểu biết của người làm chứng, có thể chia làm
hai loại là người làm chứng trực tiếp và người làm chứng gián tiếp, trong đó:
+ Người làm chứng trực tiếp là người làm chứng trực tiếp tri giác một phần hay toàn bộ các tình tiết có liên quan tới vụ án và bị can khi các sự kiện, tình tiết ấy đang xảy ra
+ Người làm chứng gián tiếp là người làm chứng nghe thuật lại những tình tiết liên quan đến vụ án là do người khác thuật lại cho
Thứ hai, căn cứ vào độ tuổi của người làm chứng mà chia thành người làm
chứng từ đủ 18 tuổi trở lên và dưới 18 tuổi
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định bổ sung, sửa đổi về thủ tục lấy lời khai người làm chứng dưới 18 tuổi Cụ thể:
Khi lấy lời khai người dưới 18 tuổi, cơ quan tiến hành tố tụng phải thông báo trước thời gian, địa điểm cho người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ biết Việc lấy lời khai người làm chứng phải có người đại diện hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ tham dự
Thời gian lấy lời khai người dưới 18 tuổi không quá 02 lần trong 01 ngày và mỗi lần không quá 02 giờ, trừ các trường hợp: lấy lời khai trong vụ án có nhiều tình tiết phức tạp; hỏi cung bị can phạm tội có tổ chức; để truy bắt người phạm tội khác đang bỏ trốn; ngăn chặn người khác phạm tội; để truy tìm công cụ, phương tiện phạm tội hoặc vật chứng khác của vụ án; hoặc vụ án có nhiều tình tiết phức tạp (khoản 4, khoản 5 Điều 421)
Thứ ba, căn cứ vào sự liên quan hay không liên quan tới tội phạm mà chia
người làm chứng thành hai loại:
+ Người làm chứng có mối quan hệ với những người tham gia tố tụng khác
là người mà trong vụ án đó họ có hành vi phạm pháp nhưng cơ quan điều tra chưa hoặc không khởi tố bị can Do đó, trong thời điểm lấy lời khai thì họ đang ở vị trí người làm chứng
Trang 31+ Người làm chứng không có mối quan hệ với những người tham gia tố tụng khác là người do điều kiện, hoàn cảnh nào đó mà họ ngẫu nhiên được biết sự kiện phạm tội hoặc những tình tiết khác của vụ án và bị can của vụ án đó
Thứ tư, ngoài những cách phân loại trên, có thể phân loại người làm chứng
án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng
Quyền của người làm chứng được quy định cụ thể tại khoản 3 Điều 66, gồm: a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này; b) Yêu cầu cơ quan triệu tập bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa;
c) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc mình tham gia làm chứng;
d) Được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy định của pháp luật
Như vậy, so với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật mới đã bổ sung một số quyền mới của người làm chứng để không chỉ bảo vệ người làm chứng mà còn bảo vệ người thân thích của họ, tạo tâm lý tốt cho người làm chứng khi tham tố tụng; cụ thể là:
Trang 32– Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
– Yêu cầu cơ quan triệu tập bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp khác của người thân thích của mình khi bị
đe dọa;
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 không quy định riêng về thủ tục tố tụng đối với người làm chứng là người chưa thành niên, mà chỉ quy định thủ tục tố tụng đối với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên Vậy nên, người chưa thành niên khi tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng thì
họ chỉ có quyền, nghĩa vụ như đối với người đã thành niên là chưa phù hợp với tâm
lý, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người chưa thành niên và chưa phù hợp với chuẩn mực quốc tế, nhất là với Công ước quốc tế về quyền trẻ em Khắc phục hạn chế của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (tại Chương 28, Phần thứ 7) đã quy định thủ tục tố tụng đặc biệt đối với người dưới 18 tuổi, trong đó có người làm chứng Theo đó, khi tham gia tố tụng với
tư cách người làm chứng, người dưới 18 được áp dụng thủ tục tố tụng đặc biệt nhằm bảo đảm các lợi ích tốt nhất của họ Đồng thời họ còn được áp dụng những quy định khác của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không trái với quy định tại Chương 28 Bộ luật này
Đối với việc lấy lời khai người làm chứng dưới 18 tuổi, Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thực hiện đúng quy định tại Điều 421 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tức là: Phải thông báo trước thời gian, địa điểm lấy lời khai cho người đại diện của người làm chứng; việc lấy lời khai người làm chứng phải có đại diện của họ tham dự; thời gian lấy lời khai người làm chứng dưới 18 tuổi không quá hai lần trong 01 ngày và mỗi lần không quá 02 giờ, trừ trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp Đây là quy định mới của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi Ngoài việc thực hiện đúng quy định tại Điều 421 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, việc lấy lời khai người làm chứng dưới 18 tuổi còn được áp dụng quy định tại các điều 127, 185, 186
và 187 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Trang 331.3.2.2 Nghĩa vụ của người làm chứng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Lời khai của nhân chứng trong một số vụ án hình sự có thể là những tình tiết quan trọng giúp làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án Đây cũng là nghĩa vụ của người làm chứng được quy định rõ tại điểm b, khoản 4, Điều 55 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (đang có hiệu lực thi hành) và điểm b khoản 4 Điều 66 Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2015
Trong một số vụ án, các nhân chứng đã có những lời khai hoàn toàn trái ngược với những gì họ đã khai với cơ quan điều tra trước đây Việc người làm chứng thay đổi lời khai, làm cho vụ án thêm phức tạp nhưng cũng đã góp phần làm
rõ một số tình tiết quan trọng có thể giúp làm sáng tỏ vụ án
Tuy nhiên, nếu các lời khai này qua xác minh, giám định, xác định là không đúng sự thật, cố tình bịa đặt, cung cấp tài liệu giả mạo, gian dối nhằm chuyển hướng dư luận, nhiễu loạn thông tin, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của các cơ quan tố tụng thì những người thực hiện hành vi này sẽ phải chịu chế tài hình
sự theo Điều 307 hoặc 308 Bộ luật hình sự Bởi lẽ, Điều 55 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về nghĩa vụ người làm chứng: Khai trung thực tất cả những tình tiết mà mình biết về vụ án Người làm chứng từ chối hoặc trốn tránh việc khai báo mà không có lý do chính đáng thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 308 của Bộ luật hình sự; khai báo gian dối thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 307 của
Bộ luật hình sự
Theo quy định tại Điều 307 Bộ luật hình sự năm 1999 thì người làm chứng
có thể chịu trách nhiệm hình sự về hành vi khai báo gian dối với mức cao nhất là 7 năm tù giam Các mức phạt cụ thể đối với hành vi người làm chứng khai báo gian dối như sau:
Người làm chứng mà khai gian dối hoặc cung cấp những tài liệu mà mình biết rõ là sai sự thật, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm;
Trang 34Nếu khai gian dối có tổ chức hoặc gây hậu quả nghiêm trọng thì người làm chứng đó sẽ bị phạt tù từ 1 năm đến 3 năm (tính chất gây hậu quả nghiêm trọng được Bộ luật hình sự năm 2015 giải thích cụ thể hơn là “dẫn đến việc kết án oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm”);
Nếu người làm chứng khai gian dối gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 3 năm đến 7 năm (Bộ luật hình sự năm 2015 nêu
rõ hơn về trường hợp phải chịu mức phạt này đó là khi người phạm tội thuộc 1 trong 2 trường hợp: Phạm tội 2 lần trở lên; và dẫn đến việc kết án oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm)
Ngoài ra, người làm chứng thực hiện hành vi khai báo gian dối ngoài các mức phạt trên còn có thể chịu hình phạt bổ sung đó là: Bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm
Còn đối với Tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu thì người nào từ chối khai báo nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 22 Bộ luật hình sự hoặc trốn tránh việc khai báo, việc kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu mà không có lý do chính đáng, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm.Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm
1.4 Mục đích lấy lời khai của người làm chứng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Người làm chứng tham gia trực tiếp vào hoạt động tố tụng trình bày cho Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng về những tình tiết, thông tin mà mình biết có liên quan đến vụ án, nguồn tin về tội phạm, để làm sáng tỏ những tình tiết cần thiết trong quá trình điều tra, chứng minh tội phạm Người làm chứng là một trong những người tham gia tố tụng thường có vai trò quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự bởi lời khai của họ là một trong những nguồn chứng cứ và cung cấp nguồn chứng
cứ cho cơ quan điều tra trong việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự
Trang 35Một vụ án hình sự bao giờ cũng để lại dấu vết và những dấu vết đó được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, nhằm xác định có hay không có hành vi phạm tội Cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng sẽ căn cứ vào các dấu vết đã thu thập được để khởi
tố, truy tố, xét xử một người có hành vi phạm tội Những dấu vết đó được gọi là chứng cứ Theo quy định khoản Điều 87 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì lời khai của người làm chứng được xác định là một trong nguồn chứng cứ góp phần xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án Thông qua việc xác định nguồn gốc lời khai của người làm chứng mà cơ quan tiến hành tố tụng
sẽ đề ra được biện pháp thu thập chứng cứ, kiểm tra, đánh giá chứng cứ một cách hợp pháp, từ đó xác định sự thật của vụ án, người làm chứng sẽ cung cấp thông tin hữu ích cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc chứng minh làm sáng tỏ vụ án Thêm vào đó người làm chứng tham gia với tư cách là người vì lợi ích chung, lợi ích xã hội, không có bất kỳ lợi ích cá nhân với mong muốn làm sáng
tỏ vụ án
Việc lấy lời khai người làm chứng nhằm mục đích tìm chứng cứ, thu thập các thông tin về vụ án để chứng minh sự thật của vụ án mà pháp luật quy định Việc chứng minh sự thật vụ án mới đủ căn cứ để kết luận cá nhân hoặc pháp nhân nào đó
có phạm tội hay không phạm tội, trong một vụ án đã xảy ra, nó có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác đấu tranh và phòng, chống tội phạm Chính vì điều đó, việc chứng minh sự thật vụ án không những là mục đích cuối cùng của việc điều tra vụ
án hình sự nói chung và hoạt động lấy lời khai người chứng nói riêng mà còn là yêu cầu của pháp luật đối với giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Ngoài ra trong quá trình lấy khai người làm chứng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì có thể phát hiện thêm một số tình tiết mới có liên quan đến vụ án đang điều tra, giúp cho cơ quan điều tranh nhanh chóng tìm ra thủ phạm
để kịp thời giải quyết vụ án, tránh gây dư luận trong quần chúng nhân dân Có những vụ án xảy ra trong quá khứ, công tác điều tra lại diễn ra ở thời điểm hiện tại
Trang 36thì hoạt động lấy lời khai người làm chứng sẽ làm sáng tỏ thêm một số nội dung của
vụ án, từ đó mới có sở pháp lý để chứng minh sự thật của vụ án
Thực tế đã có một số vụ án đã xảy ra thì các đối tượng đã dùng mọi thủ đoạn
để đánh lạc hướng của cơ quan điều tra như: xáo trộn hiện trường của vụ án, xóa các dấu vết mà đối tượng để lại hiện trường, tạo hiện trường giả…gây khó khăn cho việc điều tra vụ án của cơ quan điều tra Chính vì thế cần thiết tiến hành lấy lời khai người làm chứng nhằm thu thập chứng cứ, xác định đối tượng, để chứng minh sự thật khách quan của vụ án
Hoạt động lấy lời khai người làm chứng là một trong những biện pháp điều tra mang tính phổ biến nhằm xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội làm cơ sở giải quyết vụ án hình sự Đây là quá trình cơ quan điều tra thu thập những thông tin, tình tiết, tài liệu làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án hình sự hoặc có
ý nghĩa đối với việc làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án hình sự được lưu giữ, phản ánh trong ý thức của người làm chứng Theo đó, mục đích của hoạt động lấy lời khai người làm chứng gồm các nội dung sau:
Thứ nhất, xác định tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội và các tình
tiết khách quan của vụ án hình sự
Hoạt động lấy lời khai người làm chứng là một trong những biện pháp điều tra quan trọng nhằm xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội Do vậy, nhiệm vụ trọng tâm khi tiến hành lấy lời khai người làm chứng là cơ quan điều tra phải thu thập các thông tin, tình tiết liên quan đến vụ án mà người làm chứng biết để xác định có tội phạm xảy ra hay không? Thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm? Ai là người thực hiện hành vi phạm tội? Công cụ, phương tiện mà đối tượng
sử dụng để phạm tội Trong trường hợp chưa bắt được đối tượng phạm tội thì cơ quan điều tra phải lấy lời khai người làm chứng về tất cả những đặc điểm, dấu hiệu của người phạm tội, nguyên nhân, diễn biến vụ án mà người làm chứng biết, công
cụ phương tiện đối tượng sử dụng để phạm tội, hướng chạy trốn của đối tượng phạm tội sau khi gây án; những vật chứng còn lại của vụ án và nơi cất giấu để có biện pháp điều tra, truy bắt đối tượng và thu giữ vật chứng
Trang 37Trong nhiều trường hợp do trực tiếp chứng kiến vụ án xảy ra, người làm chứng có thể cung cấp cho điều tra viên rất nhiều tình tiết quan trọng về vụ án, như:
số lượng, đặc điểm của đối tượng gây án; hướng chạy trốn của đối tượng gây án; phương tiện mà đối tượng dùng để chạy trốn; nơi ẩn náu của đối tượng gây án (có trường hợp người làm chứng biết rõ được nơi ẩn náu của đối tượng gây án, cũng có trường hợp chỉ là những nhận định của người làm chứng về nơi ẩn náu của đối tượng gây án, thông qua những hiểu biết của người làm chứng về đối tượng phạm tội); vũ khí, công cụ, phương tiện mà người phạm tội đã sử dụng để thực hiện hành
vi phạm tội và các vật chứng khác của vụ án (như: tiền, vàng, xe máy, các loại tài sản khác, các giấy tờ, tài liệu có liên quan đến hành vi phạm tội của thủ phạm)
Ngoài ra, trong một số vụ án bị phát hiện, điều tra ở giai đoạn chuẩn bị, khi lấy lời khai của người làm chứng, điều tra viên cần phải thu thập những tin tức, tài liệu về âm mưu và hành động chuẩn bị gây án, như: thăm dò địa bàn, chuẩn bị công
cụ, phương tiện gây án, địa điểm các đối tượng tập trung để chuẩn bị thực hiện tội phạm Từ đó áp dụng các biện pháp ngăn chặn tội phạm
Thứ hai, thu thập những tin tức, tài liệu khác có ý nghĩa làm sáng tỏ vụ án
hình sự
Đây là nhiệm vụ cơ bản cần được giải quyết trong suốt quá trình lấy lời khai người làm chứng Mục đích của lấy lời khai người làm chứng bên cạnh việc thu thập các thông tin, tình tiết, tài liệu có ý nghĩa trong việc xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội thì cơ quan điều tra cần phải thu thập cả những thông tin, tài liệu khác có ý nghĩa trong việc làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ
án hình sự, như: các thông tin mà người làm chứng biết về người làm chứng khác, các thông tin về điều kiện thời tiết khi người làm chứng chứng kiến đối tượng thực hiện hành vi phạm tội
Thứ ba, phục vụ kiểm tra, đánh giá các nguồn chứng chỉ khác
Để điều tra làm rõ sự thật khách quan của vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp điều tra khác nhau, như: Hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn
Trang 38dân sự; khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, đối chất mỗi một hoạt động điều tra sẽ giúp cơ quan tiến hành thu thập được các tài liệu, chứng cứ khác nhau nhưng tất cả các nguồn chứng cứ này đều nhằm phục vụ mục đích chung là làm sáng tỏ sự thật khác quan của vụ án hình sự Do vậy, lời khai của người làm chứng còn có vai trò quan trọng trong việc kiểm tra, đánh giá các tài liệu, chứng cứ được thu thập qua các nguồn khác và phục vụ việc thực hiện các biện pháp điều tra khác theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự
Mặt khác, trong nhiều vụ án hình sự, có thể có vụ án có nhiều người làm chứng khác nhau với những khả năng nhận thức, khả năng thị giác, thích giác, trí nhớ, trạng thái tâm sinh lý khác nhau khi thu nhận, lưu giữ thông tin hoặc cung cấp lời khai Do vậy, lời khai người làm chứng còn có vai trò quan trọng trong kiểm tra, đánh giá tính chính xác, khách quan, trung thực trong lời khai của người làm chứng khác, góp phần làm sáng tỏ sự thật vụ án khách quan, chính xác
1.5 Những yếu tố ảnh hưởng, tác động đến chất lượng của việc lấy lời khai của người làm chứng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Người làm chứng trình bày những gì mà họ biết về vụ án, nhân thân của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, quan hệ giữa họ với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, người làm chứng khác
và trả lời những câu hỏi đặt ra Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là, mặc dù lời khai người làm chứng là rất cần thiết nhưng để trở thành chứng cứ có giá trị chứng minh, lời khai này còn phải phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án và người làm chứng phải trả lời rõ vì sao mà họ biết được những tình tiết đó Mặt khác, trong quá trình thu thập, đánh giá và sử dụng lời khai của người làm chứng, điều tra viên phải nắm vững được những yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau ảnh hưởng đến lời khai
và sự hiểu biết hay nhận thức của họ, như:
Thứ nhất, các yếu tố khách quan có thể ảnh hưởng đến lời khai của người
làm chứng như: thời gian để họ nhận biết sự việc, hiện tượng diễn ra quá nhanh hoặc thời gian xảy ra đã quá lâu; người làm chứng không có kiến thức về lĩnh vực
Trang 39đó; hiện trường nơi xảy ra tội phạm người phạm tội đã làm thay đổi, tẩy xóa; điều kiện thời tiết khí hậu xấu, nơi xảy ra tội phạm lại xa…
Thứ hai, các yếu tố chủ quan cũng có thể ảnh hưởng đến lời khai người làm
chứng Theo đó, “để có thể biết được lời khai người làm chứng có khách quan hay không, điều tra viên phải thận trọng, từng bước đi sâu vào nội tâm bên trong người làm chứng có bị dao động bởi động cơ cá nhân hay không, họ có mối quan hệ thân thích hay tư thù với những người trong vụ án, quyền lợi của họ có bị thay đổi, ảnh hưởng bởi phán quyết của Tòa án không” [4, tr.37-38] Cho nên, luật tố tụng hình
sự quy định trước khi hỏi về nội dung vụ án, điều tra viên cần xác định mối quan hệ giữa họ với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại và những người làm chứng khác)
Ngoài ra, tâm lý người làm chứng thường có ý nghĩ không dám khai báo hoặc không dám khai báo tất cả những gì họ biết về hành vi phạm tội Lý do đa số mọi người không thích làm chứng, bởi họ sợ mất thời gian, nhiều lần phải gặp điều tra viên, kiểm sát viên, phải ra trước phiên tòa; “họ sợ bị liên lụy, bị trả thù nếu mình trình báo, tố giác hay làm chứng để người phạm tội bị phát hiện và bị bắt nên tạo ra một tâm lý nặng nề, thiếu nhiệt tình cũng như sự yên tâm, tin tưởng của người làm chứng khi tham gia thực hiện nghĩa vụ của một công dân” Thực tế đã có nhiều trường hợp các gia đình của những người phạm tội đe dọa, trả thù thậm chí còn xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người làm chứng Sau nữa, người làm chứng tham gia tố tụng chỉ có nghĩa vụ mà chẳng hề có quyền lợi gì Nếu người làm chứng không đến theo giấy triệu tập thì có thể bị dẫn giải, ngoài ra nếu từ chối hay trốn tránh việc khai báo thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự
Tuy nhiên, do đây là nguồn chứng cứ có ý nghĩa rất lớn trong việc kết thúc nhanh chóng quá trình điều tra nên khi tiến hành lấy lời khai, điều tra viên phải thông báo, giải thích rõ trách nhiệm khai báo sự thật của họ Cụ thể, nếu người làm chứng biết được đến đâu thì khai đến đó, không được suy diễn, chỉ trình bày chính xác những điều mình biết và nếu khai báo gian dối hoặc từ chối khai báo sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự
Trang 40Tiểu kết chương 1
Chương 1 đã trình bày một cách khái quát và cơ bản hai vấn đề mang tính nền tảng lý luận và cơ sở pháp lý đối với việc nghiên cứu đề tài luận văn là “người làm chứng” và “lấy lời khai người làm chứng” như sau:
1 Người viết đã phân tích được những khái niệm cơ bản về vụ án hình sự, các mô hình tố tụng hình sự trên thế giới, tố tụng hình sự Việt Nam Trên cơ sở nền rảng lý luận, người viết nghiên cứu về trình tự tố tụng lấy lời khai người làm chứng theo pháp luật Việt Nam
2 Lời khai của người làm chứng là một trong những nguồn chứng cứ lâu đời
và phổ biến nhất Luật tố tụng hình sự của nhiều nước trên thế giới đều quy định về nguồn chứng cứ này, bởi lẽ người làm chứng nắm được diễn biến của vụ án hình sự, hoàn cảnh phạm tội, nhân thân người phạm tội, người bị hại Đây là nguồn chứng
cứ rất quan trọng góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án hình sự Vì vậy, người viết đã phân tích làm mục đích việc lấy lời khai người làm chứng, chủ thể có thẩm quyền tham gia hoạt động lấy lời khai người làm chứng và những vấn
đề lý luận, pháp lý có liên quan
Hai nội dung cơ bản trên đã được người viết khái quát trong Chương 1 nhằm tạo thành cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý để người viết phân tích thực trạng pháp lý trong Chương 2