Từ khi Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ năm 1991 tới nay, hoạt động giao thương qua biên giới giữa hai nước đã không ngừng phát triển góp phần quan trọng không chỉ đối với
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
VŨ NGỌC THANH
HOẠT ĐỘNG GIAO THƯƠNG VIỆT NAM - TRUNG QUỐC QUA CỬA KHẨU
QUỐC TẾ LÀO CAI (1991 - 2011)
CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số: 60.22.03.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Ngọc Cơ
Thái Nguyên - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu “Hoạt động giao thương Việt Nam - Trung Quốc qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai (1991 - 2011)” dưới sự hướng dẫn của GS.TS Nguyễn Ngọc Cơ là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi
Các số liệu sử dụng trong luận văn là trung thực Những số liệu tham khảo và kết quả nghiên cứu của các tác giả khác đều được trích dẫn rõ ràng Những tư liệu không có trích dẫn là do tác giả trực tiếp sưu tầm trong quá trình sưu tầm tài liệu địa phương
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng chấm luận văn và Nhà trường về sự cam đoan này
Thái Nguyên, tháng 04 năm 2015
Tác giả luận văn
Vũ Ngọc Thanh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả Luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Nguyễn Ngọc
Cơ đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử, tổ
bộ môn Lịch sử Việt Nam, Trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã động viên, chỉ dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả hoàn thành luận văn
Đồng thời tác giả xin chân thành cảm ơn các cơ quan ban ngành tỉnh Lào Cai: Ban quản lý Khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai, Cục Hải Quan tỉnh Lào Cai, Cục Thống kê tỉnh Lào Cai, Sở Thương mại và Du lịch tỉnh Lào Cai, Thư viện tỉnh Lào Cai…đã giúp đỡ nhiệt tình trong việc nghiên cứu thực tế, cung cấp số liệu, tài liệu
và nhiều thông tin hữu ích liên quan đến luận văn
Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn các bạn đồng nghiệp, gia đình
và người thân đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 04 năm 2015
Tác giả luận văn
Vũ Ngọc Thanh
Trang 4MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng iv
Danh mục viết tắt v
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 9
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ CỬA KHẨU QUỐC TẾ LÀO CAI VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG GIAO THƯƠNG 9
1.1 Khái quát về cửa khẩu quốc tế Lào Cai 9
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giao thương 12
1.2.1 Điều kiện tự nhiên 12
1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 18
1.2.3 Lịch sử truyền thống hữu nghị Lào Cai - Vân Nam 21
Tiểu kết chương 1 25
Chương 2 HOẠT ĐỘNG GIAO THƯƠNG VIỆT NAM - TRUNG QUỐC QUA CỬA KHẨU QUỐC TẾ LÀO CAI (1991 - 2011) 26
2.1 Hoạt động giao thương Việt Nam - Trung Quốc qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai trước năm 1991 26
2.2 Quá trình bình thường hóa Việt Nam - Trung Quốc và chủ trương phát triển quan hệ giao thương của tỉnh Lào Cai 30
2.2.1 Bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Trung Quốc 30
2.2.2 Chủ trương phát triển quan hệ giao thương Việt Nam - Trung Quốc của tỉnh Lào Cai 33
2.3 Hoạt động gıao thương Vıệt Nam - Trung Quốc qua cửa khẩu quốc tế Lào Caı (1991 - 2011) 38
2.3.1 Hoạt động xuất nhập khẩu 38
Trang 52.3.2 Các hình thức buôn bán, thương mại 55
2.3.3 Hoạt động xuất nhập cảnh 58
Tiểu kết chương 2 61
Chương 3 TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG GIAO THƯƠNG QUA CỬA KHẨU ĐỐI VỚI KINH TẾ VÀ XÃ HỘI TỈNH LÀO CAI (1991-2011) 62
3.1 Những tác động tích cực 62
3.1.1 Về kinh tế 62
3.1.2 Về xã hội 80
3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 85
3.2.1 Những hạn chế 85
3.2.2 Nguyên nhân của hạn chế 90
Tiểu kết chương 3 94
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Dân số tỉnh Lào Cai giai đoạn 2005 - 2011 18
Bảng 2.1: Kim ngạch XNK Việt Nam - Trung Quốc qua cửa khẩu Lào Cai (1995 - 2000) 41
Bảng 2.2: Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu qua CKLC (1995 - 2000) 43
Bảng 2.3: Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai (1995 - 2001) 45
Bảng 2.4: Kim ngạch XNK qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai (2001 - 2011) 49
Bảng 2.5: Tình hình XNK qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai (2001 - 2011) 52
Bảng 2.6: Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu qua CKLC (2001 - 2005) 53
Bảng 2.7: Thống kê tình hình XNC qua CKLC (2000 - 2011) 59
Bảng 3.1: Tình hình thu nộp ngân sách qua KKTCK Lào Cai (2000 - 2011) 64
Bảng 3.2: Tổng hợp du lịch Lào Cai giai đoạn 2005 - 2010 75
Bảng 3.3: Hiện trạng nguồn lao động và sử dụng lao động tỉnh Lào Cai (2005 - 2010) 83
Bảng 3.4: Tình trạng phạm tội mua bán phụ nữ và trẻ em trên địa bàn khu cửa khẩu quốc tế Lào Cai (2007 - 2011) 88
Bảng 3.5: Kết quả xử lý vi phạm trong công tác quản lý xuất, nhập cảnh trên địa bàn cửa khẩu quốc tế Lào Cai (2007 - 2011) 89
Trang 7DANH MỤC VIẾT TẮT
APEC Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ASEM Diễn đàn hợp tác Á - Âu
CKLC Cửa khẩu Lào Cai
CNH - HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
KKTCK Khu kinh tế cửa khẩu
UBND Ủy ban nhân dân
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
XNK Xuất nhập khẩu
XNC Xuất nhập cảnh
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trung Quốc - Việt Nam là hai quốc gia có nét tương đồng về kinh tế, văn hoá - xã hội Trong suốt chiều dài lịch sử, mối quan hệ giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc nói chung và mối quan hệ giữa nhân dân hai tỉnh Lào Cai (Việt Nam) - Vân Nam (Trung Quốc) nói riêng luôn là mối quan hệ láng giềng hữu nghị, gắn bó thân thiết Ở hai bên biên giới, hai tỉnh Lào Cai và Vân Nam có nhiều dân tộc anh
em như Dao, Giáy, Mông, Nùng sinh sống từ nhiều thế kỷ nay, trong đó có những dân tộc di cư từ nơi khác tới Nhiều bản làng, người dân có quan hệ hôn nhân, quan
hệ dòng tộc gắn bó và thường qua lại thăm nhau Đây là điều kiện thuận lợi để hai tỉnh Lào Cai (Việt Nam) và Vân Nam (Trung Quốc) tăng cường thúc đẩy hoạt động giao thương, nhằm gắn kết nhân dân hai địa phương, hai nước với nhau
Từ khi Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ năm 1991 tới nay, hoạt động giao thương qua biên giới giữa hai nước đã không ngừng phát triển góp phần quan trọng không chỉ đối với sự phát triển kinh tế của các tỉnh vùng núi phía Bắc, mà còn là đòi hỏi tất yếu trong quá trình mở rộng và phát triển kinh tế hai nước trong bối cảnh Việt Nam hội nhập WTO và Trung Quốc đang trên con đường trở thành một trong những quốc gia phát triển nhất thế giới
Kể từ khi tỉnh Lào Cai được tái lập vào tháng 10 năm 1991 (tách ra từ tỉnh Hoàng Liên Sơn), quan hệ giao thương giữa hai bên ngày càng được đẩy mạnh và
có những bước phát triển tốt, bộ mặt cửa khẩu biên giới được quy hoạch khang trang, hiện đại hơn Các hoạt động thương mại trao đổi hàng hóa, hoạt động đầu tư liên doanh liên kết, hợp tác kinh doanh, tham quan du lịch, giao lưu văn hóa, ngày càng sôi động, đa dạng và phong phú, đời sống kinh tế - xã hội cư dân biên giới được nâng cao, an ninh quốc phòng được củng cố, mối quan hệ hữu nghị, hợp tác cùng phát triển giữa hai địa phương của hai quốc gia được tăng cường và phát triển
Với vị trí nằm chính giữa Côn Minh và Hải Phòng, Lào Cai là điểm nút quan trọng trong tuyến hành lang kinh tế “Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng” Đặc biệt cửa khẩu quốc tế Lào Cai là cửa ngõ quan trọng với hành trình ngắn nhất nối Việt Nam với thị trường Tây Nam Trung Quốc (hơn 300 triệu dân),
Trang 9các nước ASEAN cũng như thế giới và ngược lại Thông qua cặp cửa khẩu quốc tế Lào Cai (Việt Nam) - Hà Khẩu (Trung Quốc), hàng hóa từ Việt Nam sang Trung Quốc có thể tới thẳng Côn Minh, thủ phủ của tỉnh Vân Nam, từ đó tỏa đi khắp các vùng của Trung Quốc Ngược lại, hàng hóa từ Trung Quốc sang Việt Nam có thể đến thủ đô Hà Nội, cảng Hải Phòng rồi có thể dễ dàng chuyển sang các nước ASEAN và thế giới Đây cũng là vùng đệm quan trọng nhất trong chiến lược xây dựng khu mậu dịch tự do ASEAN + Trung Quốc (đây là cung đường vận tải ngắn nhất nối Trung Quốc với các nước ASEAN Đường sắt từ Côn Minh - Vân Nam qua Lào Cai ra cảng Hải Phòng dài 850km nhưng nếu từ Côn Minh ra cảng nội địa gần nhất bằng đường sắt Phòng Thành - Quảng Tây thì phải mất đến 1.800km; đường
bộ cũng tương tự) Chính vì vậy, đây là địa điểm được cả hai nước Việt Nam và Trung Quốc đặc biệt quan tâm trong chính sách phát triển kinh tế của mình Sau khi
có sân bay Lào Cai, đây còn là cặp cửa khẩu chung duy nhất giữa hai nước Việt- Trung có tất cả các loại hình vận tải gồm đường bộ, đường sắt, đường sông và đường hàng không Cửa khẩu quốc tế Lào Cai nằm trong lòng một thành phố trực thuộc tỉnh nên có hệ thống dịch vụ, cơ sở hạ tầng khá phát triển, phục vụ cho nhu cầu giao lưu kinh tế - thương mại, xuất nhập khẩu, du lịch và dịch vụ giữa Việt Nam và Trung Quốc
Tuy nhiên hoạt động giao thương Việt Nam - Trung Quốc qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai vẫn chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có của hai nước Vấn đề đặt ra là tìm kiếm những giải pháp khả thi nhằm thúc đẩy hơn nữa quan hệ giao thương giữa Việt Nam và Trung Quốc nói chung và tại tỉnh Lào Cai nói riêng Để làm được điều đó chúng ta cần nắm rõ về thực trạng hoạt động giao thương giữa Việt Nam-Trung Quốc qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai, từ đó đánh giá được những tác động đối với sự phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Lào Cai nói riêng
và góp phần vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước nói chung Xuất phát từ
lý do trên tôi đã chọn đề tài “Hoạt động giao thương Việt Nam - Trung Quốc qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai (1991 - 2011)” làm luận văn tốt nghiệp
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề giao thương giữa Việt Nam - Trung Quốc trên cả phương diện lý luận
và thực tiễn đã được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu dưới các mức độ
Trang 10“Quan hệ kinh tế - Thương mại cửa khẩu biên giới Việt - Trung với việc phát triển kinh tế hàng hóa ở các tỉnh vùng núi phía Bắc” do PTS Phạm Văn Linh chủ
biên - NXB Thống kê, Hà Nội năm 1999 Tác giả đã làm rõ vị trí, vai trò và tiềm năng kinh tế của các cửa khẩu biên giới Việt Trung, phân tích sự tác động qua lại giữa các nhân tố ảnh hưởng tới quan hệ thương mại ở các cửa khẩu đối với việc phát triển kinh tế hàng hoá, tìm ra giải pháp thích hợp nhằm mở rộng thị trường, tăng cường trao đổi hàng hoá qua các cửa khẩu biên giới, tạo đà cho việc đẩy mạnh công cuộc CNH - HĐH ở khu vực này
“Khuyến khích đầu tư - thương mại vào các khu kinh tế cửa khẩu Việt Nam”
của Nguyễn Mạnh Hùng - NXB Thống kê, Hà Nội năm 2000 Tác giả phân tích một
số vấn đề lý luận, phương pháp luận, tình hình thực tế và chính sách đầu tư, thương mại các khu kinh tế cửa khẩu Việt Nam và góp phần vào công tác quy hoạch, xây dựng các kế hoạch hành động tích cực
“Các khu kinh tế cửa khẩu biên giới Việt - Trung và tác động của nó tới sự phát triển kinh tế hàng hoá ở Việt Nam” của Phạm Văn Linh - NXB Chính Trị
Quốc Gia, Hà Nội năm 2001 Tác giả đã phân tích vị trí, tầm quan trọng của khu kinh tế cửa khẩu trong quá trình phát triển kinh tế hàng hoá, hội nhập và mở cửa kinh tế, thực trạng quá trình hình thành, phát triển và tác động của bốn khu kinh tế cửa khẩu biên giới Việt Trung đã được phép thành lập (Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng và Lào Cai), trên cơ sở đó đề xuất các quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy tác dụng tích cực của mô hình kinh tế mới này
“Buôn bán qua biên giới Việt Trung Lịch sử - Hiện trạng - Triển vọng” của
Nguyễn Minh Hằng chủ biên - NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội năm 2001 Tác giả
đã trình bày quá trình buôn bán qua hai biên giới Việt Trung trong lịch sử, phân tích
và đánh giá những mặt được và chưa được của buôn bán qua biên giới Việt Trung
từ khi hai nước bình thường hoá đến nay và triển vọng của hoạt động buôn bán qua biên giới Việt Trung
“Thương mại Việt Nam - Trung Quốc hiện trạng và triển vọng”, đề tài cấp
viện Lê Tuấn Thanh, Trung tâm Khoa học Xã hội & Nhân văn Quốc Gia, năm
2003 Tác giả đã nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế, thương mại trong nội bộ
Trang 11của hai nước sau đó tác giả đưa ra cái nhìn tổng quan về triển vọng cho thương mại Việt Nam - Trung Quốc trong tương lai
“Hoạt động đối ngoại của một số tỉnh biên giới phía Bắc với Trung Quốc từ năm 1991 đến nay” đề tài cấp Bộ TS Phạm Thành Dung, Học viện chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh, Hà Nội năm 2005 Đây là công trình nghiên cứu tổng kết hơn 10 năm hoạt động đối ngoại của một số tỉnh biên giới phía Bắc trên từng mặt: kinh tế, thương mại, văn hóa xã hội và đầu tư của các tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Lào Cai
“Nghiên cứu về tình hình buôn bán biên giới ở vùng Tây Bắc Việt Nam”
của PGS.TS Đỗ Tiến Sâm và Th.s Hà Thị Hồng Vân, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội năm 2007 Các tác giả nghiên cứu về thực trạng phát triển kinh tế xã hội nói chung và hoạt động thương mại qua biên giới nói riêng, sau đó nêu lên một
số quan điểm và giải pháp nhằm phát triển kinh tế xã hội ở 4 tỉnh thuộc vùng Tây Bắc bao gồm Điện Biên, Lào Cai, Sơn La, Hoà Bình
Các công trình nghiên cứu của tỉnh Lào Cai
“Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lào Cai” tập I (1930 - 1954), NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội năm 1994 Đề cập đến vị thế và truyền thống của Lào Cai trong lịch sử Việt Nam, việc khai thông luồng lạch trên tuyến sông Hồng, tăng cường trao đổi hàng hóa với vùng Vân Nam dưới các triều đại phong kiến nhà Lê, Nguyễn
“Lào Cai vận hội mới”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2005 Đề
cập đến mối quan hệ hợp tác về các mặt kinh tế, văn hóa… giữa nhân dân hai nước Việt Nam - Trung Quốc nói chung và nhân dân hai tỉnh Lào Cai - Vân Nam nói riêng
“Lào Cai - cơ hội đầu tư và kinh doanh: Doanh nghiệp phát tài, Lào Cai phát triển” Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai, xuất bản năm 2007 nhằm quảng bá cho
hoạt động kinh tế thương mại của tỉnh Cuốn sách đã chỉ ra vị trí, vai trò của cửa khẩu quốc tế Lào Cai - Hà Khẩu trong tuyến hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai
- Hà Nội - Hải Phòng
“Lào Cai - một thế kỷ phát triển và hội nhập”, NXB Thông tấn xã Việt Nam -
Công ty văn hóa trí tuệ Việt, Hà Nội năm 2007 Đây là công trình nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ và sâu sắc về con người, xã hội, kinh tế, văn hóa Lào Cai nhân kỷ
Trang 12niệm 100 năm thành lập tỉnh (12/7/1907 - 12/7/2007) Những bài viết nêu lên truyền thống đoàn kết, nỗ lực phấn đấu, tích cực khai thác tiềm năng, thế mạnh về kinh
tế đối ngoại và kinh tế cửa khẩu của địa phương của Đảng bộ và nhân dân Lào Cai trong công cuộc đổi mới và hội nhập của đất nước
Ngày 28/11/2008, Hội thảo quốc tế “Hợp tác phát triển hành lang kinh tế Côn Minh- Lào Cai- Hà Nội- Hải Phòng, vai trò của tỉnh Lào Cai” được tổ chức
tại Lào Cai Các báo cáo tham luận tại hội thảo đã đề cập nhiều vấn đề liên quan tới hoạt động trao đổi buôn bán giữa vùng Bắc Bộ Việt Nam với vùng Tây Nam Trung Quốc, đồng thời khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của tỉnh Lào Cai trong các hoạt động này
“Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lào Cai” (1947- 2007), NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội năm 2010 Đề cập đến quá trình lãnh đạo của Đảng bộ Lào Cai trong sự nghiệp bảo vệ những thành quả cách mạng của Tổ quốc và địa phương, những chủ trương khai thác thế mạnh hoạt động mậu dịch biên giới và mậu dịch địa phương giữa hai tỉnh Lào Cai (Việt Nam) và Vân Nam (Trung Quốc) sau ngày tái lập tỉnh (tháng 10/1991), những kết quả đạt được và những bài học kinh nghiệm làm cơ sở cho việc chỉ đạo thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ trong giai đoạn tiếp sau
“Đặc san báo Lào Cai - Vị thế Lào Cai”, Công ty cổ phần in và thương mại
Lào Cai, xuất bản năm 2010 Viết về những nỗ lực khôi phục và tăng cường quan
hệ hữu nghị trên tuyến biên giới Việt - Trung của Đảng bộ Lào Cai sau ngày tái lập tỉnh (tháng 10/1991)
Những tài liệu trên tập trung nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trên các phương diện chính trị, ngoại giao, kinh tế thương mại, hợp tác đầu tư, văn hóa - xã hội, đã cung cấp những thông tin cần thiết giúp tác giả thực hiện đề tài của mình
Như vậy chưa có công trình nào nghiên cứu tổng kết 20 năm hoạt động giao thương Việt Nam - Trung Quốc qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai (1991-2011) Do đó
nghiên cứu về “Hoạt động giao thương Việt Nam - Trung Quốc qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai (1991 - 2011)” là một đề tài hấp dẫn, có ý nghĩa thực tiễn thể hiện
đúng đắn đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta Qua đề tài, chúng ta thấy
Trang 13được vị trí, vai trò của cửa khẩu quốc tế Lào Cai đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Lào Cai nói riêng và của cả nước nói chung đồng thời đề tài này sẽ là nguồn tài liệu giúp ích cho công tác biên soạn lịch sử địa phương
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về hoạt động giao thương Việt Nam - Trung Quốc qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai (1991 - 2011) với nội dung chủ yếu như: Hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, thương mại dịch vụ, du lịch, đầu tư
3.3 Nhiệm vụ của đề tài
Nhận định các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của hoạt động giao thương qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai
Làm rõ thực trạng hoạt động giao thương Việt Nam - Trung Quốc qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai (1991 - 2011)
Thấy được những tác động, phát sinh trong hoạt động giao thương giữa Việt Nam - Trung Quốc qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai từ đó góp phần phát triển kinh tế
xã hội, bảo vệ và xây dựng tổ quốc trong tình hình mới
Tổng kết những bài học kinh nghiệm thực tiễn bổ ích về hoạt động giao thương Việt Nam - Trung Quốc qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai là cơ sở để khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới của Đảng và nhà nước ta cũng như sự vận dụng linh hoạt của Đảng bộ tỉnh Lào Cai
Trang 144 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Đề tài nghiên cứu dựa vào các nguồn tài liệu chủ yếu sau: nghị quyết của Đảng, Chính phủ về hoạt động giao thương, thương mại; nghị quyết của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Lào Cai, của các sở ban ngành trong tỉnh; văn bản hợp tác giữa hai tỉnh Lào Cai (Việt Nam) - Vân Nam (Trung Quốc)
Các tài liệu nghiên cứu của các cơ quan hữu quan: Bộ Công thương, Ban Biên giới chính phủ, Bộ Ngoại giao, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê
Các sách báo, tài liệu đã được công bố, trong đó có sách tham khảo, chuyên khảo nghiên cứu về tỉnh Lào Cai (Việt Nam) và tỉnh Vân Nam (Trung Quốc)
Một số luận văn, luận án có liên quan đến hoạt động thương mại giữa Việt Nam - Trung Quốc
Tư liệu điền dã
Nguồn tài liệu truyền thông quốc tế: Mạng Internet
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chủ yếu là: phương pháp lịch sử
và phương pháp lôgic Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: điều tra, khảo sát; thống kê - phân tích; phân tích - tổng hợp
5 Đóng góp của luận văn
Trình bày có hệ thống về thực trạng hoạt động giao thương Việt Nam - Trung Quốc qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai (1991 - 2011)
Tổng kết những bài học kinh nghiệm thực tiễn bổ ích về hoạt động giao thương Việt Nam - Trung Quốc qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai
Làm rõ những tác động, phát sinh trong hoạt động giao thương giữa Việt Nam - Trung Quốc qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai đồng thời thấy được vị trí, vai trò của cửa khẩu quốc tế Lào Cai đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Lào Cai nói riêng và của cả nước nói chung
Luận văn cũng sẽ là nguồn tài liệu giúp ích cho công tác biên soạn lịch sử địa phương
Trang 156 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về cửa khẩu quốc tế Lào Cai và các yếu tố ảnh hưởng đến
hoạt động giao thương
Chương 2: Hoạt động giao thương Việt Nam - Trung Quốc qua cửa khẩu quốc tế
Lào Cai (1991 - 2011)
Chương 3: Tác động của hoạt động giao thương qua cửa khẩu đối với kinh tế và xã
hội của tỉnh Lào Cai (1991-2011)
Trang 16NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ CỬA KHẨU QUỐC TẾ LÀO CAI VÀ CÁC YẾU TỐ
ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG GIAO THƯƠNG
1.1 Khái quát về cửa khẩu quốc tế Lào Cai
Hai tỉnh Lào Cai (Việt Nam) và Vân Nam (Trung Quốc) có vị trí địa kinh tế đặc biệt quan trọng, thuộc tuyến hành lang kinh tế động lực Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, là vùng đệm khu mậu dịch ASEAN + Trung Quốc
Những đặc điểm trên thực sự là lợi thế quan trọng giúp cho hai tỉnh đẩy mạnh giao lưu hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư và du lịch, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các cửa khẩu trên tuyến biên giới Việt - Trung
Với Hiệp định về cửa khẩu và quy chế quản lý cửa khẩu biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc giữa Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được ký kết tại Bắc Kinh (Trung Quốc) ngày 18/11/2009, có hiệu lực kể từ ngày 14/7/2010 Hiệp định đã chỉ
rõ thuật ngữ “Cửa khẩu biên giới” và “Cửa khẩu” có nghĩa như nhau, là chỉ khu vực
xác định ở hai bên biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc dành cho người, hàng hóa, vật phẩm, phương tiện giao thông vận tải trực tiếp xuất - nhập cảnh tại khu vực nhất định, bao gồm cửa khẩu song phương và cửa khẩu quốc tế Căn cứ theo tính chất có thể chia ra cửa khẩu đường bộ, cửa khẩu đường sắt và cửa khẩu đường thủy
Cửa khẩu song phương là cửa khẩu được mở cho người, phương tiện giao thông vận tải, hàng hóa, vật phẩm của hai bên xuất, nhập cảnh qua biên giới
Cửa khẩu quốc tế là cửa khẩu được mở cho người, phương tiện giao thông vận tải, hàng hóa, vật phẩm của hai bên và nước thứ ba (khu vực) xuất, nhập cảnh qua biên giới
Hiệp định cũng chỉ rõ về vị trí, loại hình, thời gian mở, thời gian làm việc của cửa khẩu biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc Trong đó quy định cửa khẩu Lào Cai (đường bộ) - Hà Khẩu (đường bộ) nằm gần mốc giới số 102, 103 trên
Trang 17biên giới Việt - Trung Hai bên cửa khẩu là thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, Việt Nam và thị trấn Hà Khẩu, huyện Hà Khẩu, châu Hồng Hà, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc Cửa khẩu này là cửa khẩu quốc tế Thời gian làm việc phía Việt Nam là 7h00
- 22h00 giờ Hà Nội Thời gian làm việc phía Trung Quốc là 8h00 - 23h00 giờ Bắc Kinh và cửa khẩu Lào Cai (đường sắt) - Hà Khẩu (đường sắt) Cửa khẩu này nằm gần mốc giới số 102, 103 trên biên giới Việt Nam - Trung Quốc Hai bên cửa khẩu
là thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, Việt Nam và thị trấn Hà Khẩu, huyện Hà Khẩu, châu Hồng Hà, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc Cửa khẩu này là cửa khẩu quốc tế [7]
Đồng thời nhằm đẩy mạnh hơn nữa hoạt động giao lưu kinh tế thương mại qua biên giới đất liền giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 685 về việc mở cửa khẩu quốc tế đường bộ số II Kim Thành - Lào Cai thuộc cặp cửa khẩu quốc tế Lào Cai (Việt Nam) - Hà Khẩu (Trung Quốc) và đã được hai tỉnh Lào Cai (Việt Nam) và Vân Nam (Trung Quốc) thống nhất vận hành từ tháng 8 năm 2012 Vị trí cửa khẩu tại khu Kim Thành (Lào Cai, Việt Nam) - Bắc Sơn (Hà Khẩu, Trung Quốc), gần mốc giới số 99 và
100 trên biên giới Việt - Trung bên cửa khẩu là thành phố Lào Cai (tỉnh Lào Cai, Việt Nam) và huyện Hà Khẩu (châu Hồng Hà, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc) Loại hình, chức năng của cửa khẩu: Là cửa khẩu quốc tế dành cho người, phương tiện giao thông vận tải, hàng hóa, vật phẩm của hai bên và nước thứ ba (khu vực) xuất - nhập cảnh qua biên giới Giai đoạn trước mắt chủ yếu dành cho hàng hóa xuất - nhập khẩu, có thể dành cho khách du lịch xuất - nhập cảnh, sau này sẽ từng bước dành cho hàng hóa xuất - nhập khẩu và khách du lịch xuất - nhập cảnh Thời gian vận hành cửa khẩu bắt đầu từ 7h (giờ Hà Nội), 8h (giờ Bắc Kinh) Đây là cửa khẩu được nối với đường cao tốc Hà Nội - Lào Cai (Việt Nam) với Côn Minh (Trung Quốc), có vị trí quan trọng trong giao lưu kinh tế thương mại qua biên giới đất liền giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc Việc
mở cửa khẩu này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, góp phần đẩy mạnh hoạt động xuất - nhập khẩu chính ngạch và các hoạt động giao lưu giữa hai nước
Trang 18Để khuyến khích phát triển khu vực biên giới cũng như giao lưu kinh tế biên giới qua khu vực cửa khẩu quốc tế Lào Cai, Thủ tướng Chính phủ đã đưa ra Quyết định số 100/TTg ngày 26-5-1998 về việc áp dụng thí điểm một số chính sách tại khu vực cửa khẩu biên giới tỉnh Lào Cai và được chính thức áp dụng chính sách KKTCK theo Quyết định số 53/2001/QĐ -TTg ngày 19/4/2001
Hiện nay khu cửa khẩu quốc tế Lào Cai với diện tích khoảng 50 ha nằm trong KKTCK tỉnh Lào Cai: là khu vực hoạt động xuất nhập cảnh, xuất nhập khẩu, thương mại, du lịch, dịch vụ Cửa khẩu quốc tế Lào Cai với 03 địa điểm làm thủ tục hải quan, bao gồm: Cửa khẩu quốc tế đường bộ Lào Cai (Việt Nam) - Hà Khẩu (Trung Quốc) (cầu Hồ Kiều 1); Cửa khẩu quốc tế đường bộ số II Kim Thành (cầu Sông Hồng); Cửa khẩu quốc tế đường sắt Lào Cai (Việt Nam) - Hà Khẩu (Trung Quốc) (cầu Hồ Kiều 2) [55, tr.10]
Hai tỉnh Lào Cai - Vân Nam đã nỗ lực đầu tư, xây dựng hạ tầng khu vực cửa khẩu quốc tế Lào Cai - Hà Khẩu như: nhà liên ngành, kho bãi, hệ thống dịch vụ… nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời kỳ hội nhập Hiện tại, cặp cửa khẩu quốc tế Lào Cai - Hà Khẩu là một trong những cặp cửa khẩu khang trang, hiện đại nhất trên tuyến biên giới Việt - Trung
Với vị trí chiến lược Cửa khẩu Quốc tế Lào Cai là lối mở ngắn nhất, thuận tiện nhất cho tỉnh Vân Nam nói riêng, vùng Tây Nam rộng lớn của Trung Quốc nói chung để ra các cảng biển, nối với vùng Đông Nam Á và cả thế giới Nếu đi bằng đường sắt từ thành phố Côn Minh (thủ phủ tỉnh Vân Nam) qua Lào Cai về cảng biển Hải Phòng dài 854 km, trong khi đó tuyến đường sắt nội địa ngắn nhất đi từ Côn Minh ra cảng Phòng Thành tỉnh Quảng Tây Trung Quốc dài hơn 1.800 km Tuyến đường bộ hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng cũng
là tuyến đường ngắn nhất, thuận tiện nhất trong vận chuyển hàng hóa XNK quá cảnh từ Vân Nam đi Việt Nam, ra các nước thứ ba và ngược lại
Cửa khẩu Lào Cai - Hà Khẩu là cửa khẩu duy nhất giữa Việt Nam - Trung Quốc hội đủ tất cả các loại hình vận tải: Đường sắt, đường bộ, đường sông và trong tương lai sẽ có cả đường hàng không Tuyến đường sắt Côn Minh - Hà Nội - Hải Phòng dài 854 km được Pháp xây dựng trong thập niên đầu tiên của thế kỷ XX là
Trang 19tuyến vận tải ngắn nhất, hiệu quả nhất Hiện nay được xác định là tuyến đường sắt xuyên Á: Côn Minh - Hà Nội - Hồ Chí Minh - Singapore Tuyến đường bộ hành lang Côn Minh - Hải Phòng đi qua cửa khẩu Quốc tế Lào Cai đã và đang là tuyến đường huyết mạch vận chuyển hàng hóa giữa hai nước Việt - Trung Tuyến đường sông Hồng - con sông cái của vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam được bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam Trung Quốc, qua Lào Cai, về Hà Nội cũng là tuyến giao thông quan trọng Nếu được khai thông, nạo vét, tuyến giao thông này sẽ đem lại hiệu quả to lớn trong việc vận chuyển hàng hóa, phục vụ du lịch cho cả hai bên
Cửa khẩu Lào Cai là cửa khẩu nằm trong lòng một thành phố trực thuộc tỉnh, nên có cả hệ thống dịch vụ của một thành phố phục vụ cho nhu cầu giao lưu thương mại, XNK, quá cảnh và du lịch giữa hai nước Đây là lợi thế rất quan trọng của cửa khẩu Lào Cai
Song song với những thuận lợi trên, đối diện với cửa khẩu Lào Cai là cửa khẩu Hà Khẩu của cả vùng Tây Nam Trung Quốc rộng lớn Đây là vùng miền núi, nhiều dân tộc, trình độ sản xuất và mức sống của nhân dân chưa phát triển bằng vùng duyên hải Trung Quốc như: Quảng Đông, Phúc Kiến, Thượng Hải Nhằm cải thiện đời sống nhân dân, rút ngắn khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa miền Đông và miền Tây Đặc biệt những năm gần đây, Đảng và Chính phủ Trung Quốc
đã tiến hành triển khai chính sách "Đại khai phá miền Tây", với nhiều chủ trương, chính sách ưu đãi, tập trung nguồn vốn lớn để xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế thương mại cho vùng này Nhu cầu về hàng hóa ở đây rất đa dạng, yêu cầu
về tiêu chuẩn, chất lượng hàng hóa không cao lắm, phù hợp với trình độ sản xuất hàng hóa hiện có của Việt Nam Như vậy, Tây Nam là một trong những thị trường giàu tiềm năng đối với các doanh nghiệp Việt Nam và việc phát triển khu cửa khẩu quốc tế Lào Cai là tất yếu khách quan
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giao thương
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
1.2.1.1 Vị trí địa lí
Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới, nằm chính giữa vùng Đông Bắc và vùng
Trang 20bộ Tọa độ địa lí từ 22040’56” đến 22050’30” vĩ Bắc; 103030’24” đến 104038’21” kinh Đông
Phía bắc giáp tỉnh Vân Nam, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Phía nam giáp tỉnh Yên Bái
Phía đông giáp tỉnh Hà Giang
Phía tây giáp tỉnh Sơn La và Lai Châu
Lào Cai được tái lập tháng 10/1991 trên cơ sở tách ra từ tỉnh Hoàng Liên Sơn Từ ngày 1/1/2004 (sau khi tách huyện Than Uyên sang tỉnh Lai Châu) diện tích tự nhiên: 6.383,88 km2 (chiếm 2,44% diện tích cả nước, là tỉnh có diện tích lớn thứ 19/64 tỉnh, thành phố cả nước) Hiện nay tỉnh có 09 đơn vị hành chính (1 thành phố, 8 huyện - Bảo Thắng, Bảo Yên, Bát Xát, Bắc Hà, Mường Khương, Si Ma Cai,
Sa Pa, Văn Bàn )
Lào Cai có đường biên giới chung với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa dài 203 km, trong đó có 59 km đường đất liền và 144 km đường sông, suối Đặc biệt Lào Cai có Cửa khẩu Quốc tế Lào Cai, có tuyến đường sắt liên vận quốc tế Hà Nội - Lào Cai - Côn Minh cùng các tuyến quốc lộ 70, 4E, 79 nối Lào Cai với các tỉnh phía nam của tỉnh (Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội ) và với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) ở phía bắc Các quốc lộ 40, 32 nối Lào Cai với Lai Châu, đường
279 nối Lào Cai với các tỉnh Hà Giang, Sơn La Ngoài giao thông đường sắt, đường
bộ, Lào Cai còn tham gia vào mạng lưới giao thông đường thủy quan trọng vào bậc nhất ở phía bắc với 130km sông Hồng chảy qua tỉnh, có đoạn là ranh giới chung giữa Việt Nam và Trung Quốc trên suốt chiều dài khoảng 50km
Trong điều kiện liên kết kinh tế phát triển mạnh và trở thành xu thế phát triển không thể đảo ngược được của thế giới, đặc biệt ở khu vực Đông Á, vị thế Lào Cai trở nên vô cùng quan trọng, tạo cho tỉnh những tiềm năng, lợi thế phát triển kinh tế -
xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế Là một nút giao thông quan trọng, một bàn đạp cho hai hành lang, một vành đai kinh tế trên cơ sở phát triển giao thương với các tỉnh phía Tây Nam - Trung Quốc, các tỉnh, thành phố trong cả nước theo tuyến hành
Trang 21lang Hơn nữa, khi hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng đi vào hoạt động thì Trung Quốc sẽ thâm nhập vào ASEAN qua tuyến hành lang này
Với vị trí địa lý đặc biệt này, Lào Cai trở thành đầu mối thông thương kinh
tế, giao lưu văn hóa giữa hai nước Việt Nam với Trung Quốc nói riêng và quốc tế nói chung
1.2.1.2 Địa hình, đất đai
Đặc điểm địa hình
Địa hình Lào Cai rất phức tạp, phân tầng độ cao lớn, mức độ chia cắt mạnh Hai dãy núi chính là dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Con Voi cùng có hướng tây bắc - đông nam nằm về phía đông và phía tây tạo ra các vùng đất thấp, trung bình giữa hai dãy núi này và một vùng về phía tây dãy Hoàng Liên Sơn Ngoài ra còn rất nhiều núi nhỏ hơn phân bố đa dạng, chia cắt tạo ra những tiểu vùng khí hậu khác nhau Do địa hình chia cắt nên phân đai cao thấp khá rõ ràng, trong đó độ cao từ 300m - 1000m chiếm phần lớn diện tích toàn tỉnh Điểm cao nhất là đỉnh núi Phan
Xi Păng trên dãy Hoàng Liên Sơn có độ cao 3.143m so với mặt nước biển, Tả
Giàng Phình: 3.090m [17, tr.49]
Dải đất dọc theo sông Hồng và sông Chảy gồm thành phố Lào Cai, Cam Đường, huyện Bảo Thắng, huyện Bảo Yên và phần phía Đông huyện Văn Bàn thuộc các đai độ cao thấp hơn (điểm thấp nhất là 80m thuộc địa phận huyện Bảo Thắng), địa hình ít hiểm trở hơn, có nhiều vùng đất đồi thoải, thung lũng ruộng nước rộng, là địa bàn thuận lợi cho sản xuất nông - lâm nghiệp hoặc xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng
Tài nguyên đất
Có 10 nhóm đất chính, được chia làm 30 loại đất, 10 nhóm đất là: đất phù sa, đất lầy, đất đen, đất đỏ vàng, đất mùn vàng đỏ, đất mùn alit trên núi, đất mùn thô trên núi, đất đỏ vàng bị biến đổi do trồng lúa, đất sói mòn mạnh trơ sỏi đá và đất dốc tụ Một số nhóm đất đang được sử dụng hiệu quả
Nhóm đất phù sa: diện tích nhỏ, chiếm 1,47% diện tích tự nhiên, phân bố chủ
yếu dọc sông Hồng và sông Chảy, có độ phì tự nhiên khá cao, thích hợp đối với các
Trang 22Nhóm đất đỏ vàng: thường có màu nâu đỏ, đỏ nâu, đỏ vàng hoặc vàng đỏ
rực rỡ Hình thành và phân bố rộng khắp trên địa bàn toàn tỉnh ở độ cao 900m trở xuống, diện tích chiếm trên 40% diện tích tự nhiên Nhóm đất này có độ phì nhiêu khá cao, thích hợp với cây công nghiệp dài ngày, cây hàng năm
Nhóm đất mùn vàng đỏ: chiếm trên 30% diện tích tự nhiên, phân bố tập trung
tại các huyện Sa Pa, Mường Khương, Bắc Hà, Bát Xát, Văn Bàn Nhóm đất này thích hợp trồng các loại cây dược liệu quý, cây ăn quả và nhiều loại rau ôn đới quan trọng của tỉnh đồng thời nhóm đất này có thảm thực vật rừng phong phú, đa dạng bậc nhất của tỉnh
Nhóm đất mùn alit trên núi: chiếm 11,42% diện tích tự nhiên, tập trung ở
huyện Sa Pa, Văn Bàn có thảm rừng đầu nguồn khá tốt, thích hợp với một số loại cây trúc cần câu, đỗ quyên, trúc lùn, rừng hỗn giao
Nhóm đất đỏ vàng bị biến đổi màu do trồng lúa: đây là các loại đất feralit
hoặc mùn feralit ở các sườn và chân sườn ít dốc được con người bỏ nhiều công sức tạo thành các ruộng bậc thang để trồng trọt hoa màu Diện tích chiếm khoảng 2% diện tích tự nhiên phân bố rải rác ở các huyện tạo nên những cảnh quan ruộng bậc thang rất đẹp mà tiêu biểu là hai huyện Bắc Hà và Sa Pa
Với đặc điểm đất đai nói trên, trong quá trình quản lý, sử dụng được chia như sau:
Đất nông nghiệp: 76.253,82 ha (bằng 12,0% diện tích tự nhiên) bao gồm: đất
trồng cây hàng năm chiếm 53.665 ha, trong đó đất trồng lúa có 17.304 ha; đất trồng cây lâu năm chiếm 10.512 ha; đất cỏ dùng vào chăn nuôi là 3.840,78 ha; đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản là 1.241,35 ha [17, tr.49]
Đất lâm nghiệp có rừng: 278.907 ha, chiếm 5,04%, trong đó rừng tự nhiên
chiếm 229.296,61 ha
Đất ở: 2.998,33 ha, trong đó đất ở đô thị chỉ có 497,11 ha
Đất chuyên dùng: 13.781 ha (bằng 2,17% diện tích tự nhiên)
Đất chưa sử dụng và sông suối, núi đá: 263.766,68 ha (bằng 41,49% diện
tích tự nhiên) [18, tr16]
Trang 231.2.1.3 Khí hậu và nguồn nước
Khí hậu
Lào Cai có khí hậu nhiệt đới gió mùa, song do nằm sâu trong lục địa bị chia phối bởi yếu tố địa hình phức tạp nên diễn biến thời tiết có phần thay đổi, khác biệt theo thời gian và không gian Đột biến về nhiệt độ thường xuất hiện ở dạng nhiệt
độ trong ngày lên cao hoặc xuống thấp quá (vùng Sa Pa có nhiều ngày nhiệt độ xuống dưới 00C và có tuyết rơi) Khí hậu Lào Cai chia làm hai mùa: mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình ở vùng cao từ 150C - 200C (riêng Sa Pa từ 140C - 160C và không có tháng nào lên quá 200C), lượng mưa trung bình từ 1.800mm - >2.000mm Nhiệt độ trung bình nằm ở vùng thấp từ 230C - 290C, lượng mưa trung bình từ 1.400mm - 1.700mm [17, tr.49] Sương mù thường xuất hiện phổ biến trên toàn tỉnh, có nơi ở mức độ rất dày Trong các đợt rét đậm, ở những vùng núi cao và các thung lũng kín gió còn xuất hiện sương muối, mỗi đợt kéo dài 2 - 3 ngày
Đặc điểm khí hậu Lào Cai rất thích hợp với các loại cây ôn đới Vì vậy, Lào Cai có lợi thế phát triển các đặc sản xứ lạnh mà các vùng khác không có được như: hoa, quả, thảo dược và cá nước lạnh
Tài nguyên nước
Lào Cai có hệ thống sông suối dày đặc được phân bố khá đều trên địa bàn tỉnh với 2 con sông lớn chảy qua là sông Hồng (chiều dài chảy qua tỉnh là 130 km)
và sông Chảy (có chiều dài đoạn chảy qua tỉnh là 124 km) Ngoài 2 con sông lớn, trên địa bàn tỉnh còn có hàng nghìn sông, suối lớn nhỏ (trong đó có 107 sông, suối dài từ 10 km trở lên) Đây là điều kiện thuận lợi cho Lào Cai phát triển các công trình thuỷ điện vừa và nhỏ Bên cạnh đó, nguồn nước nguồn ước tính có trữ lượng xấp xỉ 30 triệu m3, trữ lượng động khoảng 4.448 triệu m3 với chất lượng khá tốt, ít
bị nhiễm vi khuẩn [18, tr17] Theo các tài liệu điều tra, trên địa bàn tỉnh có bốn nguồn nước khoáng, nước nóng có nhiệt độ khoảng 400C và nguồn nước siêu nhạt ở huyện Sa Pa, hiện chưa được khai thác, sử dụng
1.2.1.4 Tài nguyên khoáng sản, du lịch
Tài nguyên khoáng sản
Tới nay đã phát hiện được 150 mỏ và điểm mỏ với trên 30 loại khoáng sản, trong đó có một số mỏ khoáng sản đã được thăm dò, đánh giá trữ lượng, chất lượng
Trang 24thuộc loại quy mô lớn nhất nước và khu vực như: mỏ Apatit Cam Đường với trữ lượng 2,5 tỷ tấn, mỏ sắt Quý Sa trữ lượng 124 triệu tấn, mỏ đồng Sin Quyền trữ lượng 53 triệu tấn, mỏ Molipden Ô Quy Hồ trữ lượng 15,4 nghìn tấn [18, tr.17]
Nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng là cơ sở để ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản khẳng định là ngành công nghiệp mũi nhọn của tỉnh
Tài nguyên du lịch
Với hơn 20 dân tộc cùng sinh sống, Lào Cai trở thành mảnh đất phong phú về bản sắc văn hóa, về truyền thống lịch sử, di sản văn hóa Trong đó người Việt chiếm số đông, có mặt khá sớm và đặc biệt chiếm tỉ lệ cao trong những năm
1960 bởi phong trào khai hoang và cán bộ được điều động từ các tỉnh Phú Thọ, Hải Phòng, Thái Bình, Hà Nam lên Trong số các dân tộc khác thì đông hơn cả là Người H’Mông, Tày, Dao, Người Dáy, Người Hoa chiếm tỉ lệ đáng
kể Chính sự phong phú về đời sống các dân tộc đã tạo ra một bản sắc riêng của Lào Cai Việc các tỉnh Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai cùng phối hợp tiến hành khai
thác Du lịch về cội nguồn chính là phát huy thế mạnh này và đã thu hút được sự quan tâm của du khách
Khu du lịch nghỉ mát Sa Pa - một trong những điểm du lịch nổi tiếng nhất của Việt Nam Sa Pa nằm ở độ cao trung bình từ 1.200m - 1.800m, khí hậu mát mẻ quanh năm, có phong cảnh rừng cây núi đá, thác nước và là nơi hội tụ nhiều hoạt động văn hoá truyền thống của đồng bào các dân tộc như chợ vùng cao, chợ tình Sa Pa Đỉnh núi Phan Xi Păng - nóc nhà của Việt Nam có dãy núi Hoàng Liên Sơn và khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên hấp dẫn nhiều nhà khoa học, khách du lịch Lào Cai có nhiều địa danh lịch sử, hang động tự nhiên và các vùng sinh thái nông nghiệp đặc sản như mận Bắc Hà, rau ôn đới, cây dược liệu quý, cá hồi (Phần Lan), cá tầm (Nga) đặc biệt, đây còn là nơi mang đậm nét đặc trưng văn hoá độc đáo của nhiều dân tộc anh em
Cửa khẩu Quốc tế Lào Cai - Hà Khẩu cũng là một điểm du lịch thú vị mà điểm dừng chân không thể là nơi nào khác ngoài thành phố Lào Cai Đặc biệt là tỉnh miền núi, Lào Cai còn giữ được cảnh quan môi trường đa dạng và trong sạch Đây là điều quan trọng tạo nên một điểm du lịch lý tưởng đối với du khách trong và ngoài nước
Trang 25Tài nguyên nhân văn
Với hơn 20 nhóm dân tộc cùng sinh sống, Lào Cai trở thành mảnh đất phong phú
về bản sắc văn hoá, về truyền thống lịch sử, di sản văn hoá, Theo kết quả điều tra, hiện dân tộc Thái còn lưu trữ hơn 100 bộ sách bằng chữ Pali ra đời từ thế kỉ XIII; dân tộc Tày, Dao, Giáy có hàng nghìn bản sách cổ bằng chữ Nôm [18, tr18] Đặc biệt tại huyện Sa Pa có bãi đá cổ được chạm khắc hoa văn thể hiện các hình tượng, bản đồ, chữ
ký, ký hiệu, Hơn nữa, những biến động trong lịch sử đã để lại cho Lào Cai nhiều di tích nổi tiếng như đền Bảo Hà, đền Thượng, kiến trúc nhà Hoàng A Tưởng, Không chỉ nhiều di sản vật thể và phi vật thể được phát hiện, bảo tồn mà một kho tàng văn học dân gian đồ sộ đến nay vẫn chưa được khám phá hết
1.2.2 Điều kıện kinh tế - xã hộı
1.2.2.1 Dân cư và nguồn lao động
Theo số liệu Niên giám thống kê tỉnh Lào Cai, tổng số dân toàn tỉnh năm
2011 là 637.520 người, trong đó chia ra nam: 320.756 người, nữ: 316.764 người
Mật độ dân số trung bình toàn tỉnh là 100 người/km2
Lào Cai hiện có 13 dân tộc với 20 nhóm, ngành khác nhau cùng chung sống, các dân tộc chính gồm: Dân tộc Kinh chiếm 35.9%; Dân tộc Mông chiếm khoảng 22%; Dân tộc Tày chiếm 15,9%; Dân tộc Dao chiếm 13,9%; Dân tộc Dáy chiếm 4,9%; Còn lại là các nhóm, ngành dân tộc khác
Bảng 1.1: Dân số tỉnh Lào Cai giai đoạn 2005-2011
Trang 26Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên toàn tỉnh là 434.57 nghìn người (chiếm
68,2% dân số), trong đó lực lượng lao động nam 215.28 nghìn người, nữ 219,29 nghìn người Cơ cấu lao động phân theo các loại hình kinh tế: Nhà nước 10,15%; ngoài nhà nước 89,61%; Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 0,24% [21, tr.47]
Như vậy, Lào Cai có kết cấu dân số trẻ, nguồn lao động khá dồi dào chiếm 68,2% tổng dân số, cơ cấu lao động trong các nghành kinh tế ngày càng hợp lý Đây chính là nguồn lực quan trọng để Lào Cai phát triển toàn diện về kinh tế - xã hội.1.2.2.2 Cơ sở hạ tầng
Hệ thống giao thông
Là một tỉnh miền núi nên địa hình Lào Cai phức tạp, nhiều đồi núi cao, chia cắt mạnh, rất khó khăn cho việc phát triển giao thông Nhưng bằng sự nỗ lực hết mình trong 20 năm qua kể từ khi tái lập tỉnh, Lào Cai đã xây dựng được một hệ thống giao thông thông suốt, phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế - xã hội, đảm nhiệm được vai trò cầu nối của cả nước với vùng Tây Nam - Trung Quốc rộng lớn Lào Cai là một trong số ít tỉnh miền núi có mạng lưới giao thông vận tải đa dạng, bao gồm: đường bộ, đường sắt, đường sông
Đường bộ: Có 4 tuyến quốc lộ chạy qua địa bàn tỉnh (4D, 4E, 279,70) với
tổng chiều dài trên 400 km; 8 tuyến tỉnh lộ với gần 300 km và gần 1.000 km đường liên xã, liên thôn Mạng lưới giao thông phân bố rộng khắp và khá đồng đều trên địa bàn các huyện, thị đảm bảo giao thông thuận lợi Có vai trò quan trọng là tuyến đường cao tốc Hà Nội - Lào Cai đang được Bộ Giao thông Vận tải và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) triển khai xây dựng, đây là tuyến đường cao tốc chính của trục kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng
Đường sắt: Tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai dài 296 km, đoạn qua địa
phận Lào Cai dài 62 km được nối với đường sắt Trung Quốc, năng lực vận tải khoảng 1 triệu tấn/năm và hàng ngàn lượt khách/ngày đêm Ngoài ra còn có đường sắt nối từ Phố Lu (Bảo Thắng) vào mỏ Apatít Cam Đường và một nhánh từ Xuân Giao đi Nhà máy Tuyển quặng Tằng Loỏng, với tổng chiều dài 58 km, theo thiết kế
có 50 đôi tàu/ngày đêm [17, tr.58]
Trang 27Trong tương lai tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng sẽ đạt tiêu chuẩn và chất lượng quốc tế để hàng hóa của Vân Nam (Trung Quốc) và các tỉnh vùng Tây Nam - Trung Quốc quá cảnh qua tuyến này và ngược lại hàng hóa của ASEAN qua cảnh vào vùng Tây Nam - Trung Quốc, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh
Đường sông: Có 2 tuyến sông Hồng và sông Chảy chạy dọc tỉnh, tạo thành
hệ thống giao thông đường thuỷ liên hoàn Đường sông Lào Cai chưa thực sự phát triển mạnh mặc dù trên địa bàn tỉnh có rất nhiều sông lớn như sông Hồng dài 130
km (trong đó nội địa có 75 km và chung biên giới với Trung Quốc khoảng 50 km) Tuy nhiên do nhiều ghềnh thác nên khả năng vận tải còn hạn chế
Đường hàng không: Trong tương lai gần Lào Cai sẽ có Cảng hàng không tại
xã Gia Phú, huyện Bảo Thắng; cách trung tâm thành phố Lào Cai 13 km (ngày 05/12/2011, Bộ Giao thông vận tải đã có quyết định số 2717/QĐ-BGTVT về việc phê duyệt Cảng hàng không Lào Cai giai đoạn 2020 và định hướng đến năm 2030) [55, tr.8] Chính phủ đã có chủ trương xây dựng sân bay tại Lào Cai trong giai đoạn
2010 - 2015
Trong lĩnh vực giao thông đối ngoại, ngành giao thông vận tải Lào Cai đã có quan hệ chặt chẽ với ngành giao thông Vân Nam - Trung Quốc Những năm qua, hai bên thường xuyên trao đổi các vấn đề liên quan đến giao thông giữa hai nước như: xây dựng các cầu qua sông biên giới hai nước, thực hiện tốt Hiệp định vận tải
đã ký kết
Hạ tầng điện - nước
Hạ tầng mạng lưới điện: 8/8 huyện, thành phố Lào Cai; 164 xã, phường, thị trấn có điện lưới quốc gia, 75% hộ dân được sử dụng điện lưới Tiềm năng thuỷ điện của Lào Cai khoảng 11.000MW; đã cho phép đầu tư 68 công trình với tổng công suất 889MW Ngoài ra từ năm 2006, ngành Điện lực Việt Nam đã hoàn thành đấu nối đường dây 220 KV Yên Bái - Lào Cai - Hà Khẩu để nhập khẩu điện từ Vân Nam (Trung Quốc) với nhu cầu sản lượng khoảng 300MW đảm bảo cung cấp đủ nhu cầu
về điện cho sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư trước mắt cũng như lâu dài
Trang 28Hạ tầng mạng lưới cấp thoát nước: Hiện tại đã có hệ thống cấp nước sạch tại thành phố Lào Cai và hầu hết các huyện, cùng với hệ thống giếng khoan đang cung cấp nước sạch cho 69% dân số toàn tỉnh
Hạ tầng thông tin liên lạc:
Bưu chính: Mạng bưu chính đã được mở rộng đến trung tâm các huyện, thị trấn, thị tứ, các xã trong tỉnh với hơn 300 bưu cục, gần 100 điểm bưu điện văn hoá xã
Viễn thông và công nghệ thông tin: Đã thực hiện truyền dẫn được thiết bị
vi ba số và truyền dẫn cáp quang; chuyển mạch sử dụng thiết bị điện kỹ thuật số; mạng lưới thông tin đã phục vụ tới các xã phường trong toàn tỉnh; có 148/164 xã, phường, thị trấn có máy điện thoại; 8/8 huyện và thành phố Lào Cai đã được phủ sóng di động Đường truyền Internet tốc độ cao đã được phổ biến Năm 2005, tỉnh Lào Cai đã khai trương Cổng thông tin điện tử (www.laocai.gov.vn) và sàn giao dịch thương mại điện tử Lào Cai (www.laocai.com.vn) với 3 thứ tiếng Việt - Trung
- Anh nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong công tác xúc tiến thương mại và đầu tư
1.2.3 Lịch sử truyền thống hữu nghị Lào Cai - Vân Nam
Hai nước Việt Nam - Trung Quốc, cũng như hai địa phương Lào Cai - Vân Nam núi liền núi, sông liền sông, là hai tỉnh láng giềng có mối quan hệ đặc biệt, có chung đường biên giới quốc gia dài trên 200 km và có chung dòng sông Hồng dài trên 50km Trong lịch sử, mối quan hệ giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc nói chung và mối quan hệ giữa nhân dân hai tỉnh Lào Cai - Vân Nam nói riêng luôn là mối quan hệ láng giềng hữu nghị, gắn bó thân thiết
Thời Bắc thuộc, Lào Cai đã trở thành cửa ngõ nối liền Giao Chỉ (Bắc Bộ) với các quốc gia vùng Tây Nam (Trung Quốc) và có thể thông thương với các nước Tây Vực Do đó cư dân Lào Cai đã có sự giao lưu kinh tế với các cư dân Vân Nam và qua Vân Nam tới Trung Á, Trung Nguyên Thời kỳ này đường giao thông thủy bộ (dọc thung lũng sông Hồng) đã phát triển nối liền Lào Cai với đồng bằng Bắc Bộ, từ Lào Cai có thể ngược lên phía Bắc tới Côn Minh, Tứ Xuyên Việc giao thương buôn bán đã tạo lập mối quan hệ gắn kết giữa hai tỉnh Lào Cai và Vân Nam
Đến thời phong kiến tự chủ (từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX), mối quan hệ giao lưu kinh tế văn hóa giữa Lào Cai và Vân Nam tiếp tục phát triển mạnh mẽ Bảo
Trang 29Thắng Quan (thành phố Lào Cai ngày nay) trở thành một cửa khẩu quan trọng, đã thúc đẩy mối quan hệ giao lưu hợp tác phát triển kinh tế - văn hóa giữa hai tỉnh Lào Cai và Vân Nam thời phong kiến
Ngoài quan hệ giao thương truyền thống, nhân dân các dân tộc hai tỉnh Lào Cai và Vân Nam còn kề vai sát cánh chống quân xâm lược, cùng chống kẻ thù chung Vào đầu thế kỷ XIII đế quốc Mông Cổ xúc tiến mạnh mẽ công cuộc thôn tính nước Tống và các quốc gia phong kiến vùng Vân Nam Năm 1236, Mông Cổ chính thức xâm lược nhà Nam Tống Năm 1256, toàn bộ nước Đại Lý (nay là tỉnh Vân Nam) đã chia thành phủ, huyện đặt dưới quyền cai trị của người Mông Cổ Đồng thời chúng đưa quân áp sát vùng Thủy Vĩ - Quy Hóa (địa phận tỉnh Lào Cai ngày nay), nhòm ngó Đại Việt Khi đó Châu Thủy Vĩ được coi là vị trí cửa ngõ xung yếu, quan trọng nhất của nước ta Quân dân Lào Cai đã luôn nêu cao cảnh giác chuẩn bị kháng chiến chống quân xâm lược Trước tình hình đó vào năm 1257, đích thân vị tướng trẻ Trần Quốc Tuấn đã trực tiếp chỉ huy quân đội Ðại Việt tiến lên Thủy Vĩ phòng giữ biên ải và lãnh đạo quân, dân đánh tan quân Nguyên - Mông
Để tưởng nhớ công lao của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, nhân dân các dân tộc Lào Cai đã lập đền thờ ông trên đồi Hỏa Hiệu, thành phố Lào Cai Ngày nay, mỗi dịp đầu xuân nhân dân Lào Cai, nhân dân Vân Nam và du khách bốn phương lại tìm về đền Thượng để tưởng nhớ và cầu mong thiên hạ thái bình, nhân dân hai bên biên giới Việt - Trung hạnh phúc ấm no
Thời Pháp thuộc, sau khi thôn tính toàn bộ Việt Nam thì Lào Cai và Vân Nam
đã trở thành trọng điểm khai thác của thực dân Pháp, một trong những chương trình đầu tư hàng đầu của thực dân Pháp là mở tuyến đường sắt Hải Phòng - Hà Nội - Lào Cai - Côn Minh Để thực hiện điều đó, vào năm 1898 thực dân Pháp ký với triều đình Mãn Thanh một hiệp định cho Pháp “thành lập đường xe lửa từ Hải Phòng qua Lào Cai đi Vân Nam phủ do một Công ty tư doanh lấy tên Công ty Đường sắt Việt Điền” Tuyến đường sắt từ Hà Khẩu đến Côn Minh dài hơn 400 km khởi công xấy dựng từ năm 1904 đến năm 1910 mới hoàn thành [17, tr.26] Trong 7 năm thi công đã có hàng vạn công nhân Việt Nam và Trung Quốc đã phải hy sinh mồ hôi, nước mắt và xương
Trang 30(Việt Nam) Đây là tuyến đường sắt mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất so với các tuyến đường sắt khác mà Pháp đã xây dựng tại Việt Nam
Sau khi có tuyến đường sắt, việc giao thương, buôn bán giữa Vân Nam và Lào Cai tăng lên nhanh chóng, nhờ đó mà mỗi năm thực dân Pháp đã thu được những nguồn lợi lớn, đặc biệt là thuế nhập cảnh
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, phong trào cách mạng Việt Nam phát triển nhanh Trước tình hình đó thực dân Pháp tăng cường đàn áp, khủng bố cách mạng Tuyến đường sắt Hải Phòng - Lào Cai - Côn Minh bị kiểm soát gắt gao
Ở Lào Cai chúng tiến hành chia rẽ các dân tộc, tuyên truyền nói xấu cách mạng nhiều chiến sĩ cách mạng phải ra nước ngoài hoạt động Được sự giúp đỡ của Việt kiều và nhân dân Vân Nam, nhiều cơ sở cách mạng được xây dựng tại đây, tiêu biểu
là Chi bộ Vân Quý - một Chi bộ của Đảng Cộng sản Đông Dương, thành lập năm
1935 tại Côn Minh Năm 1937, cuộc chiến tranh Trung - Nhật đe dọa nền hòa bình châu Á Chi bộ Vân Quý quyết định thành lập Hội Việt Nam dân chúng hưởng ứng Trung Quốc chống Nhật (Hội chống Nhật) [17, tr.26] Đến khi cuộc chiến tranh Trung - Nhật bước vào giai đoạn quyết liệt, vũ khí đạn dược của Vân Nam đều đi qua cửa biển Hải Phòng, chuyên chở bằng đường sắt lên Côn Minh Dưới sức ép của Nhật, thực dân pháp không thực hiện chuyên chở Trước tình hình đó, Hội chống Nhật đã đề nghị tổ chức một cuộc đình công trên dọc tuyến đường sắt Côn Minh - Hà Khẩu đòi Công ty xe lửa phải chuyên chở vũ khí của Vân Nam từ Hải Phòng tới Côn Minh, kết hợp với yêu cầu đòi tăng lương cho công nhân Ngay sau
đó Ủy ban đình công của công nhân viên chức Hoa - Việt được thành lập Trước áp lực đó, Công ty xe lửa Pháp phải nhượng bộ cho chuyên chở vũ khí đến Côn Minh
Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và tiễu phỉ, lực lượng vũ trang của Lào Cai và Vân Nam đã có sự phối hợp chặt chẽ Từ những năm 50 nhằm cứu vãn tình thế nguy ngập của quân Pháp trên dọc tuyến biên giới Việt - Trung, thực dân Pháp một mặt tăng cường hoạt động quân sự, kích động nổi phỉ ở Lào Cai, Hà Giang, Mặt khác giúp cho bọn thổ phỉ, đặc vụ và tàn quân Tưởng tổ chức các cuộc phục kích quấy rối ở các khu vực Kha Phàng, Sèo Thầu, Mù Sa (Trung Quốc) Trong chiến dịch Lê Hồng Phong I (chiến dịch Tây Bắc), Ban Thường vụ
Trang 31Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương chỉ thị cho liên khu 10, lấy Lào Cai làm hướng chính, với nhiệm vụ phối hợp với giải phóng quân Trung Quốc tiêu diệt tàn quân Quốc dân Đảng nếu chúng tràn qua biên giới, làm tan rã khối ngụy binh, tiêu diệt một số vị trí địch, khôi phục Lào Cai, mở thông đường quốc tế Trong chiến dịch này, lực lượng vũ trang hai bên đã phối hợp ăn khớp và giành thắng lợi lớn Lực lượng vũ trang Lào Cai và Vân Nam còn lập nhiều chiến công xuất sắc, trong đó có trận tiêu biểu tiêu diệt tên trùm thổ phỉ Châu Quán Lồ
Sau khi miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng (1954), nhân dân các dân tộc Lào Cai tiến hành xây dựng cuộc sống mới xã hội chủ nghĩa và góp phần chi viện cho miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược Mối quan hệ hợp tác giữa Lào Cai và Vân Nam bước sang một trang mới thắm tình hữu nghị Nhà máy điện Phố Mới - Lào Cai chẳng những cung cấp điện cho thị xã Lào Cai mà còn cung cấp điện cho cả thị trấn Hà Khẩu (Trung Quốc) Đây có thể nói là ánh sáng của tình hữu nghị giữa hai địa phương của hai nước Việt Nam - Trung Quốc Bên cạnh đó bộ đội Trung Quốc sang giúp Lào Cai sửa chữa, nâng cấp nhiều tuyến đường liên huyện, liên tỉnh Tiêu biểu là Quốc lộ 70 trước đây thường được gọi với tên là đường “Hữu Nghị 7”
Sang thời kỳ đổi mới, đặc biệt là từ khi tái lập tỉnh Lào Cai (10/1991) đến nay, mối quan hệ giữa hai tỉnh được nâng lên một tầm cao mới Với quan điểm hợp tác toàn diện trên tinh thần hữu nghị, hiểu biết lẫn nhau và cùng thống nhất các biện pháp nhằm xây dựng cửa khẩu ngày càng phát triển hai nước đã cùng nhau xây dựng hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, nhằm đem lại lợi ích cho hai tỉnh và nhân dân hai nước Trong tiến trình hội nhập với các nước ASEAN, Lào Cai đã và đang trở thành cầu nối giữa các tỉnh thành của Việt Nam với tỉnh Vân Nam và vùng Tây Nam - Trung Quốc
Trang 32Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, tác giả đã khái quát chung về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển giao thương giữa Việt Nam - Trung Quốc qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai như điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, điều kiện lịch sử Những điều kiện đó là tiềm năng, nguồn lực tự nhiên và nguồn lực xã hội để tạo nên thế mạnh cho kinh tế của tỉnh Lào Cai đó là hoạt động của kinh tế cửa khẩu
Lào Cai có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, hệ thống giao thông rất thuận lợi cho
sự phát triển kinh tế - xã hội Nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đặc biệt là tài nguyên khoáng sản và tài nguyên rừng, đặc điểm khí hậu thổ nhưỡng phù hợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp, nông nghiệp và dược liệu cho giá trị xuất khẩu cao Từ
đó Lào Cai có lợi thế để sản xuất chế biến một số mặt hàng thế mạnh của mình để đẩy mạnh xuất khẩu
Với truyền thống hữu nghị lâu đời giữa nhân dân hai tỉnh Lào Cai và Vân Nam trong suốt chiều dài lịch sử, đã trở thành cơ sở, nền tảng cho quá trình đẩy mạnh hợp tác toàn diện trên các lĩnh vực của hai nước Việt Nam - Trung Quốc nói chung và của hai địa phương Lào Cai - Vân Nam nói riêng Qua đó ta có thể khẳng định cơ sở lịch sử truyền thống hữu nghị giữa Lào Cai và Vân Nam chính là một yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển giao thương trong thời kỳ đổi mới
Bên cạnh đó với vị trí quan trọng trong tuyến hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, cửa khẩu quốc tế Lào Cai - Hà Khẩu với hệ thống giao thông thuận tiện, cơ sở hạ tầng cửa khẩu ngày càng khang trang hiện đại góp phần đẩy mạnh giao lưu trao đổi thương mại giữa Việt Nam - Trung Quốc
Trang 33Chương 2 HOẠT ĐỘNG GIAO THƯƠNG VIỆT NAM - TRUNG QUỐC QUA CỬA KHẨU QUỐC TẾ LÀO CAI (1991 - 2011)
2.1 Hoạt động giao thương Việt Nam - Trung Quốc qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai trước năm 1991
Lào Cai là vùng đất có giá trị chiến lược về kinh tế, chính trị, nơi đây là “cửa ngõ phên dậu” phía Tây Bắc của Tổ quốc Ngay từ thời bình minh của lịch sử
dựng nước, Lào Cai đã là một trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị lớn của toàn vùng Từ trung tâm này Lào Cai đã vươn lên, khẳng định vị trí của mình Việc tận dụng khai thác triệt để những thế mạnh của tự nhiên và vị trí địa lý chiến lược góp phần thúc đẩy sự giao lưu buôn bán Lào Cai - Vân Nam Do vậy mà con đường giao thương qua cửa khẩu Lào Cai dọc theo sông Hồng đã hình thành từ rất sớm trong trong lịch sử
Đầu thế kỷ thứ IX, Giả Đam - Tể tướng thời Đức Tông (niên hiệu Trinh Nguyên) nhà Đường có viết “An Nam qua Thái Bình Giao chỉ hơn 100 dặm đến Trung Thành châu, lại đi 200 dặm đến Đa Lợi châu (vùng Hưng Khánh - Chấn Yên), lại đi 300 dặm đến Chu Quý châu (Văn Bàn), đi tiếp 400 dặm đến Đan Trường châu (Cam Đường)” [17, tr.25] Hoạt động giao thương qua cửa khẩu Lào Cai đã hình thành và phát triển mạnh mẽ theo đường giao thông thủy bộ (dọc thung lũng sông Hồng)
Thời kỳ Phong kiến tự chủ, Lào Cai là địa bàn của châu Thủy Vĩ, châu Văn Bàn, một phần thuộc châu Chiêu Tấn và một phần nhỏ thuộc châu Lục Yên, thuộc phủ Quy Hóa, tỉnh Hưng Hóa Quan hệ giao thương qua cửa khẩu Lào Cai tiếp tục được đẩy mạnh Từ giữa thế kỷ XIX, Lào Cai trở thành một trung tâm buôn bán sầm uất, thuế quan mỗi năm thu được từ 50.000 đến 60.000 quan Hàng năm, từ Hà Nội lên Lào Cai có khoảng 2000 thuyền buôn chở hàng ngược sông Hồng qua cửa khẩu Lào Cai lên Mạn Hảo [18, tr.49] Đây là một minh chứng cho mối quan hệ giao lưu hợp tác và phát triển kinh tế - văn hóa giữa hai tỉnh Lào Cai và Vân Nam thời phong kiến
Trang 34Thời Pháp thuộc, hoạt động buôn bán giữa Lào Cai (Việt Nam) và Vân Nam (Trung Quốc) phát triển mạnh Hàng hoá của nước Pháp cũng như hàng hoá từ các tỉnh Bắc Kỳ được vận chuyển lên Lào Cai xuất khẩu sang thị trường Vân Nam (Trung Quốc) và lượng hàng hoá các nhà buôn thu gom từ nội địa Trung Quốc được đưa đến Mông Tự và vận chuyển đến Mạn Hảo, xuôi dòng sông Hồng vào Lào Cai Đây cũng là con đường giao thương từng nhộn nhịp trên bến dưới thuyền, mang hàng hóa và ước vọng phồn thịnh, giao lưu văn hóa của cộng đồng của người dân dọc lưu vực sông Hồng
Bắt đầu từ Phố Hiến, Kinh Kỳ con đường ngược sông Hồng qua Lão Nhai (Lào Cai) đến Vân Nam, Tứ Xuyên (Trung Quốc) Từ các triều đại phong kiến, hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hoá giữa Lào Cai và Vân Nam chủ yếu thông qua đường sông Hồng Tuy nhiên, phải đến thời kỳ Pháp thuộc (đặc biệt là trong 20 năm trước khi tuyến đường sắt Điền - Việt khánh thành), hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hoá giữa Lào Cai và Vân Nam mới phát triển mạnh cả về số lượng và chủng loại hàng hoá cho đến số lượng tàu, thuyền qua lại buôn bán giữa hai bên Lào Cai
và Vân Nam Không những Lào Cai trở thành một trong những trung tâm xuất khẩu hàng hoá của các tỉnh Bắc Kỳ vào tỉnh Vân Nam mà đây còn là nơi nhập khẩu các mặt hàng nguyên, nhiên liệu phục vụ nhu cầu sản xuất cho các xí nghiệp của Pháp
và các mặt hàng phục vụ nhu cầu tiêu dùng cho thị trường Bắc Kỳ Đặc biệt, Lào Cai còn là điểm trung chuyển hàng hoá quốc tế, hàng hoá từ Vân Nam quá cảnh qua Lào Cai vận chuyển đến Hải Phòng để đưa sang Hồng Kông và thị trường các nước
tư bản Ngược lại, hàng hoá từ Hông Kông cập cảng Hải Phòng ngược sông Hồng quá cảnh ở Lào Cai để thâm nhập thị trường Vân Nam Thời Pháp thuộc, các mặt hàng chủ yếu được buôn bán giữa Lào Cai và Vân Nam thường là các sản phẩm thế mạnh của mỗi bên Hàng hoá Việt Nam từ Lào Cai xuất sang Vân Nam chủ yếu gồm: Diêm, rượu gạo, gỗ thơm, sợi bông, bột, dầu lạc, giấy bản, dầu hoả, cá muối, sành sứ, thuốc lào, vải lụa, quần áo Hàng hoá Trung Quốc qua Vân Nam được đưa vào Lào Cai chủ yếu gồm các mặt hàng như: Quế, tinh dầu, củ nâu, thiếc, đường, miến, mật ong [43] Các mặt hàng xuất khẩu của Lào Cai được vận chuyển
từ các tỉnh Bắc Kỳ tập kết tại Lào Cai xuất sang Vân Nam Hàng hoá của Vân Nam
Trang 35được thu gom từ các địa phương về Mông Tự và vận chuyển đến Mạn Hảo, từ đây các thuyền vận chuyển hàng hoá xuất qua cửa khẩu Lào Cai vào Bắc Kỳ
Do những hạn chế của hệ thống giao thông đường sông trong việc phát triển buôn bán Lào Cai - Vân Nam như: tàu thuyền không thể lên Lào Cai trong các tháng mùa cạn, thời gian vận chuyển hàng hoá chậm, khối lượng hàng hoá vận chuyển ít, đồng thời nhằm thực hiện chính sách khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp Ngay từ những năm cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp đã đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Hải Phòng - Lào Cai và tuyến đường sắt Lào Cai - Vân Nam Đến năm 1910, toàn bộ tuyến đường sắt Hải Phòng - Hà Nội - Lào Cai - Vân Nam (đường sắt Việt - Điền) được thông xe Đây là sự kiện quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ở một tỉnh biên giới, không những vậy tuyến đường sắt này còn tạo tiền đề giao lưu kinh tế, trao đổi hàng hóa giữa Việt Nam với Trung Quốc, giữa vùng Bắc Bộ với Vân Nam Đầu thế kỷ XX, có khoảng 6000 chuyến thuyền chở hàng hóa qua Mạn Hảo đi Lào Cai, chuyên chở 13.000 tấn hàng hóa, nhưng đến năm 1907 đã có 18.431 chuyến thuyền vận chuyển 57.369 tấn hàng hóa thông thương Vân Nam - Lào Cai Từ năm 1902 - 1910, lượng hàng xuất khẩu của Vân Nam qua Lào Cai vẫn chiếm 77% đến 89,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của Vân Nam [18, tr.50] Như vậy, cùng với con đường thủy theo sông Hồng trước đây và tuyến đường sắt mới khánh thành thực sự là cánh cửa lớn nhất cho quan hệ giao thương giữa Việt Nam - Trung Quốc qua cửa khẩu Lào Cai
Có thể nói, vào thời kỳ Pháp thuộc việc buôn bán giữa Lào Cai và Vân Nam
đã không ngừng phát triển Sự phát triển của hoạt động trao đổi, buôn bán giữa Lào Cai - Vân Nam là một nhân tố quan trọng tạo nên một thị trường thống nhất rộng lớn trên toàn bộ khu vực Bắc Kỳ và vùng lãnh thổ Vân Nam Một tác động nữa là, thông qua phát triển buôn bán này đã từng bước hình thành một hệ thống đô thị ven theo tuyến giao thương, trong đó Lào Cai là một đô thị đầu tầu của vùng Bắc
Kỳ Lào Cai trở thành một trung tâm buôn bán sầm uất, một chốn phồn hoa đô hội ở vùng biên cương Trung tâm đô thị không chỉ bó hẹp trong thành cổ mà còn phát triển mạnh sang hữu ngạn sông Hồng (khu vực Cốc Lếu) và phía Nam (khu vực Phố Mới) Đô thị Lào Cai thực sự trở thành một trung tâm kinh tế - văn hoá, chính trị
Trang 36của toàn tỉnh Lào Cai, có hệ thống dịch vụ đáp ứng nhu cầu mở cửa, trao đổi buôn bán với Vân Nam Tại đây hình thành các bến cảng, nhà ga, kho bãi, quảng trường…Lào Cai nằm trên tuyến giao thông đường sắt huyết mạch trở thành một vị trí cầu nối giữa Vân Nam với vùng Bắc Bộ Việt Nam
Đầu 1/1950 Ban Thường vụ Trung ương chủ trương: Mở chiến dịch Tây Bắc (Lê Hồng Phong I) để phối hợp với Quân giải phóng Trung Hoa tiêu diệt tàn quân Quốc dân Đảng Tưởng Giới Thạch nếu chúng tràn qua biên giới; làm tan rã khối ngụy binh và phá ngụy quyền; tiêu diệt một số vị trí địch; khôi phục lại Lào Cai, mở thông đường quốc tế với kết quả đạt được của chiến dịch Lê Hồng Phong 1 Đến Tháng 6/1950, Thường vụ Trung ương Đảng quyết định mở Chiến dịch Biên giới với mật danh là Chiến dịch Lê Hồng Phong II, hướng chính của chiến dịch là địa bàn ba tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, mở rộng khu căn cứ địa Việt Bắc và khai thông một phần đường biên giới Việt - Trung, nối liền khu căn cứ cách mạng đầu não của ta với các nước xã hội chủ nghĩa Phối hợp với hướng chính của chiến dịch, phía Tây Bắc mà địa bàn chính là tỉnh Lào Cai có nhiệm vụ đánh nghi binh, thu hút và kiềm chế quân địch, không để chúng ứng cứu cho mặt trận chính Cao - Bắc - Lạng Thực hiện nhiệm vụ của Trung ương giao, Tỉnh ủy Lào Cai chỉ đạo các lực lượng địa phương ra sức tuyên truyền vận động nhân dân tham gia chiến dịch, tăng cường đưa cán bộ vào vùng địch chiếm đóng để vận động nhân dân đấu tranh, cho lực lượng biệt động đột kích vào thị xã, thị trấn phá hủy các phương tiện chiến tranh của địch, gây rối làm hoang mang tinh thần quân địch thực hiện chỉ đạo của Khu 10, quân dân Lào Cai tổ chức các trận đánh lớn trên địa bàn nhằm hướng sự chú ý của địch ở Cao - Bắc - Lạng sang Tây Bắc Giữa lúc Chiến dịch Lê Hồng Phong trên hướng Lào Cai được đẩy mạnh, thì ngày 17/10/1950, trên hướng chính Cao - Bắc - Lạng, chiến dịch kết thúc thắng lợi đã làm cho quân địch trên địa bàn Lào Cai hoang mang cực độ Nhận định thời cơ giải phóng Lào Cai đã đến, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, toàn quân, toàn dân Lào Cai đã tập trung phối hợp với hai trung đoàn bộ đội chủ lực 148,
165 quyết tâm đánh địch, giải phóng quê hương Đến ngày 1/11/1950, Lào Cai được toàn giải phóng khỏi ách chiếm đóng của thực dân Pháp xâm lược, tạo điều kiện
Trang 37thuận lợi cho giao lưu văn hoá và trao đổi kinh tế giữa Lào Cai với Vân Nam Đầu tháng 2/1953 cửa khẩu Lào Cai được mở cửa, đến tháng 12/1953 cửa khẩu Bát Xát cũng mở cửa thông quan Đây là sự kiện mở ra bước phát triển mới trong quan hệ giao thương giữa Lào Cai - Vân Nam Thời kỳ này Lào Cai đang tập trung truy quét thổ phỉ, xây dựng chính quyền, khôi phục kinh tế Nhưng quan hệ kinh tế biên mậu bước đầu được khôi phục Ngành thương nghiệp Lào Cai tích cực vận chuyển sa nhân, thu mua thảo quả, hàng nông sản xuất khẩu sang Trung Quốc Đồng thời nhập khẩu một số mặt hàng tiêu dùng, gạo cung cấp cho vùng cao
Từ năm 1955 đến 1960, quan hệ thương mại giữa hai tỉnh Lào Cai - Vân Nam
có những bước phát triển mới Năm 1955, tổng lượng hàng hoá xuất khẩu mới được
837 tấn, nhập khẩu 617 tấn nhưng năm 1957 nhờ thông tuyến đường sắt nên xuất khẩu của Lào Cai sang Vân Nam đạt 37.300 tấn, nhập khẩu 4.110 tấn Năm 1960 hàng hoá xuất nhập khẩu giữa Lào Cai và Vân Nam tăng nhanh, xuất khẩu 351.964 tấn, nhập khẩu 2666.135 tấn đạt trọng lượng lớn nhất giai đoạn 1950-1991 [43]
Từ sau năm 1978, quan hệ hữu nghị của hai nước trở nên phức tạp, khu vực biên giới trở thành những điểm nóng về an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội
đã phải đóng cửa hàng loạt các cửa khẩu biên giới Quan hệ kinh tế thương mại bị ngừng trệ, đã có ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ phát triển kinh tế của hai nước và đặc biệt là kinh tế khu vực cửa khẩu biên giới
Sau nhiều nỗ lực cố gắng của cả hai bên, quan hệ giữa hai nước đã khởi sắc và trở lại bình thường hoá vào cuối năm 1991 Từ đó cho đến nay, quan hệ giữa hai nước nói chung và quan hệ kinh tế - thương mại giữa Lào Cai - Vân Nam nói riêng, đã phát triển ngày càng mạnh, ngày càng bền vững và đang trở thành một bộ phận quan trọng trong chính sách đối ngoại của cả hai nước
2.2 Quá trình bình thường hóa Việt Nam - Trung Quốc và chủ trương phát triển quan hệ giao thương của tỉnh Lào Cai
2.2.1 Bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Trung Quốc
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, núi liền núi, sông liền sông,
có truyền thống quan hệ hữu nghị lâu đời, nồng thắm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
Trang 38khái quát thành hai câu thơ nổi tiếng: “ Mối tình thắm thiết Việt - Hoa, vừa là đồng chí vừa là anh em” Ngay sau khi nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ra đời 1/10/1949 thì đến đầu 1950 đã công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Quan hệ Việt - Trung từ khi được thiết lập, đã trải qua những thăng trầm nhưng cho đến nay nhìn chung là tốt đẹp và có xu hướng ngày càng phát triển
Tuy nhiên cuộc chiến tranh biên giới tháng 2/1979 là một vết đen trong lịch
sử quan hệ Việt - Trung Mối quan hệ giữa hai nước diễn ra căng thẳng trong khoảng 10 năm sau đó, đã làm ảnh hưởng xấu trong quan hệ bang giao của hai nước, hai dân tộc từ hàng ngàn năm Việt Nam luôn tỏ rõ thiện chí sẵn sàng đàm phán bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc
Trên tinh thần đó, và căn cứ vào tình hình thế giới, khu vực châu Á Thái Bình Dương, Đông Dương, đặc biệt là tình hình trong nước Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam (12/1986) đã nêu: “Trên tinh thần bình đẳng, đảm bảo độc lập chủ quyền và tôn trọng lẫn nhau, sẵn sàng đàm phán để giải quyết những vấn đề thuộc quan hệ Việt Nam giữa Việt Nam và Trung Quốc, bình thường hoá và khôi phục tình hữu nghị giữa hai nước, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hoà bình của Đông Nam Á và trên thế giới” [26, tr.107]
Trong hai ngày 3 đến 4 tháng 9 năm 1990, Hội nghị cấp cao Việt Nam - Trung Quốc đã diễn ra tại Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc) Đây được coi là hội nghị mở đường cho việc khai thông và bình thường hoá quan hệ Việt - Trung và cũng là cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa các nhà lãnh đạo cấp cao của hai Đảng, hai Nhà nước Thực hiện chủ trương bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, từ ngày 05 đến ngày 10 tháng 11 năm 1991, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam - Đỗ Mười và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng Hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Võ Văn Kiệt đã dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm chính thức nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa Hai bên đã ra thông cáo chung tuyên bố bình thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc Đây là sự kiện đánh dấu sự chấm dứt giai đoạn không bình thường trong quan hệ giữa hai
Trang 39nước, mở đầu cho một thời kì phát triển mới của quan hệ Việt - Trung “Cuộc gặp cấp cao Trung - Việt đánh dấu sự bình thường hoá quan hệ giữa Việt - Trung phù hợp với lợi ích cơ bản và lâu dài của nhân dân hai nước và cùng có lợi cho hoà bình
ổn định và sự khôi phục của khu vực” [31, tr.212]
Hai bên tuyên bố, hai nước Việt Nam và Trung Quốc sẽ phát triển quan hệ hữu nghị và láng giềng thân thiện trên cơ sở 5 nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, bình đẳng cùng có lợi và cùng tồn tại hoà bình Hai Đảng sẽ khôi phục quan hệ bình thường trên các nguyên tắc độc lập tự chủ, hoàn toàn bình đẳng tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau Cuộc hội đàm này là một mốc son lịch sử, mang một ý nghĩa quan trọng của thời đại mới: khép lại quá khứ, mở ra tương lai Có thể nói bình thường hoá quan hệ Việt - Trung là phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, xu thế hoà bình, ổn định hợp tác và phát triển trên thế giới, phù hợp với nguyện vọng của hai Đảng hai Nhà nước và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước Những văn bản thoả thuận giữa Việt Nam và Trung Quốc là cơ sở cho sự phát triển quan hệ Việt - Trung trong tương lai
Từ năm 1991, mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ bình thường hóa quan hệ hai nước, mở ra chương mới phát triển toàn diện quan hệ Việt - Trung Trên cơ sở những nguyên tắc đã được thỏa thuận, hàng năm các cuộc tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao Đảng và Nhà nước Việt Nam - Trung Quốc thường xuyên được tổ chức dưới những hình thức khác nhau Thông qua các cuộc tiếp xúc này lãnh đạo hai nước đã ký được 5 bản thông cáo chung (năm 1991, 1992, 1994, 1995 và năm 2004) và 3 bản tuyên bố chung (năm 1999 2000 và 2001) Thông cáo chung và tuyên bố chung là những văn bản có tính nguyên tắc, tư tưởng, chỉ đạo cơ bản, thể hiện sự hiểu biết lẫn nhau và tăng cường hữu nghị giữa hai nước Đặc biệt tại cuộc gặp gỡ cấp cao 2/1999, lãnh đạo hai nước đã thỏa thuận xây dựng quan hệ Việt
Nam - Trung Quốc theo phương châm 16 chữ: “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” Tiếp đó phấn đấu xây dựng quan hệ hai nước, hai Đảng đạt 4 tốt: “ Đồng chí tốt, láng giềng tốt, bạn bè tốt, đối tác tốt”
Trang 40Ngoài các cuộc gặp cấp cao, hàng năm có rất nhiều cuộc gặp gỡ, tiếp xúc giữa các ngành, các địa phương, các tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội theo phương thức ngoại giao Đảng, Nhà nước và ngoại giao n hân dân với nhiều hình thức đa dạng phong phú Ngoài ra hai bên còn tăng cường hợp tác, phối hợp hoạt động trên các diễn đàn khu vực và quốc tế như Liên Hợp Quốc, APEC, ASEM,…
Như vậy, quá trình bình thường hóa quan hệ, sự hợp tác về chính trị ngoại giao giữa hai Đảng và Nhà nước ở những cấp độ khác nhau đã phát triển mạnh cả
về bề rộng và chiều sâu Sự hợp tác về chính trị, ngoại giao phát triển là khởi điểm,
cơ sở và điều kiện thúc đẩy phát triển quan hệ toàn diện trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, khoa học kĩ thuật
2.2.2 Chủ trương phát triển quan hệ giao thương Việt Nam - Trung Quốc của tỉnh Lào Cai
Trên cơ sở đường lối đổi mới của Đảng về đối ngoại nói chung và về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc nói riêng, hoạt động đối ngoại, trao đổi kinh tế - thương mại Lào Cai - Vân Nam đã được Tỉnh ủy, UBND tỉnh Lào Cai chú trọng triển khai một cách chủ động, tích cực và đã thu được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần thúc đẩy quan hệ hai nước Việt Nam - Trung Quốc nói chung, giữa hai tỉnh Lào Cai và Vân Nam nói riêng Trước hết phải kể đến những nỗ lực khôi phục và tăng cường quan hệ hữu nghị trên tuyến biên giới Việt - Trung của Đảng bộ tỉnh Lào Cai Những nỗ lực này đều được Đảng bộ thực hiện trên cơ sở bám vững chắc các chủ trương của Đảng, của Nhà nước
Sau ngày tái lập tỉnh (10/1991), thực hiện đường lối đổi mới, tăng cường hội nhập và hợp tác quốc tế, Lào Cai là một trong 7 tỉnh biên giới phía Bắc (Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh) sớm khai thông
và mở rộng quan hệ giữa Đảng, chính quyền 2 địa phương Lào Cai - Vân Nam của hai nước Việt - Trung [24, tr.104]
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ X (từ ngày 9 đến 11 tháng 1 năm 1992) là mốc lịch sử quan trọng mở đầu giai đoạn mới trong quá trình phát triển, đi lên của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Lào Cai Ban chấp hành Đảng bộ