NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài này là: Tìm hiểu các dạng bài Tập làm văn trong SGK Tiếng Việt lớp 4, nắm được đặc điểm của từng kiểu bài, nắm được những điểm mới về
Trang 1Lời cảm ơn
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo cô giáo trong khoa Đào tạo giáo viên Tiểu học trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên và trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Ninh đã tạo điều kiện cho em được thực hiện đề tài này.
Trong quá trình thực hiện em không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn đọc để đề tài của em được hoàn thiện hơn.
Quảng Ninh, ngày 15 tháng 7 năm 2010
Nhóm thực hiện
Vũ Thị Duyên – Nguyễn Hải Hậu – Nguyễn Thị Huyên
Trang 2PHẦN I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ở Tiểu học, văn học tuy không được dạy như một môn học độc lập nhưng việc dạy văn là tất yếu Trước hết bởi vì văn học là môn học dạy học sinh lòng nhân ái, trí thông minh, khả năng cảm thụ cái đẹp và nhu cầu tạo cái đẹp trong cuộc sống Thêm nữa trẻ em rất ham mê văn học Các em không chỉ có khả năng cảm thụ những tác phẩm văn học hợp với lứa tuổi mà còn hứng thú sáng tác văn học Môn văn sẽ thoả mãn nhu cầu học hỏi của các em, sẽ hướng các em biết nhận thức và cảm thụ đúng đắn
Tuy nhiên trong những năm trước, việc học văn chưa thực sự đem lại hiệu quả như mong muốn Các giờ làm văn nói học sinh còn gặp nhiều khó khăn như: Sự e thẹn, rụt rè làm các em rối trí quên cả nội dung cần nói Học sinh không dám nói hoặc nói theo bài đọc thực chất là đọc bài viết sẵn Bài tập làm văn chỉ có một hình thức độc thoại trước lớp Mà trong suốt bậc Tiểu học không có tiết nào, bài học nào hướng dẫn trình bày độc thoại trước mọi người Người dạy và người học tự giải quyết vấn đề này bằng kinh nghiệm của bản thân Còn trong giờ tập làm văn viết do lượng bài viết dài thời gian phân tích đề ít nên học sinh lúng túng nhiều khi không biết viết gì
Nhận thấy những hạn chế trên cho nên Tập làm văn trong sách giáo khoa Tiếng Việt 4 xuất bản năm 2005 đã có rất nhiều thay đổi để phù hợp với việc dạy và học hiên nay Chương trình Tiếng Việt lớp 4 mới đã được đưa vào sử dụng 5 năm nay đã có kết quả nhất định Sự đổi mới được thể hiện ở tất cả các phân môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng Là một giáo viên đã từng giảng dạy Tiểu học cả chương trình
cũ và đang thực hiện dạy theo chương trình SGK mới, tôi muốn đi sâu tìm
hiểu SGK Tiếng Việt lớp 4 chương trình mới Vì phạm vi đề tài khá rộng
Trang 3nên tôi chỉ tập trung nghiên cứu, tìm hiểu: "Các dạng bài Tập làm văn trong SGK lớp 4 chương trình Tiểu học mới".
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
1 Nắm kĩ hơn những điểm mới về kiến thức, nội dung cơ bản của phân môn Tập làm văn trong SGK Tiếng Việt lớp 4
2 Trên cơ sở hiểu được cấu trúc, cách biên soạn các bài Tập làm văn, ta có thể vận dụng linh hoạt các phương pháp để giúp học sinh tiếp thu một cách chủ động, tích cực
3 Rèn tư duy nghiên cứu khoa học và nâng cao trình độ nhận thức của bản thân
III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là khảo sát và tìm hiếu chương trình tập làm văn trong SGK Tiếng Việt lớp 4
IV NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài này là: Tìm hiểu các dạng bài Tập làm văn trong SGK Tiếng Việt lớp 4, nắm được đặc điểm của từng kiểu bài, nắm được những điểm mới về nội dung dạy học phân môn này
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Để nghiên cứu đề tài này chúng tôi kết hợp nhiều phương pháp:
1 Phương pháp thống kê - phân loại tài liệu
2 Phương pháp so sánh đối chiếu
3 Phương pháp tổng hợp
4 Phương pháp phân tích
Trang 4VI GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI:
Vì thời gian có hạn, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát, tìm hiểu được
"Các dạng bài Tập làm văn trong SGK Tiếng Việt 4 chương trình mới" của Nhà xuất bản Giáo dục 2005"
VII CẤU TRÚC ĐỀ TÀI:
Phần I: Một số vần đề chung
Phần II: Nội dung nghiên cứu
- Chương I: Cơ sở lí luận chung
- Chương II: Các dạng bài tập làm văn trong Tiếng Việt 4
- Chương III: Những điểm mới của chương trình phân môn Tập làm văn 4Phần III: Kết luận chung
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG
I MỤC TIÊU CỦA MÔN TIẾNG VIỆT Ở BẬC TIỂU HỌC
1 Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi
Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt góp phần rèn các thao tác của tư duy
2 Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội tự nhiên, con người và về văn hoá văn học Việt nam và nước ngoài
3 Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách của con người Việt Nam Xã hội chủ nghĩa Ở lớp 4, mục tiêu nói trên được cụ thể hoá thành những yêu cầu về kiến thức và kĩ năng đối với học sinh như sau:
Trang 5- Nghe - hiểu tác phẩm hoặc đoạn trích, văn học dân gian, thơ truyện, kịch Nhớ được nội dung, nhân vật, chi tiết có giá trị nghệ thuật, biết nhận xét về nhân vật và sự kiện trong từng tác phẩm tự sự.
- Ghi được ý chính của các văn bản đã nghe
- Đọc thầm có tốc độ nhanh hơn lớp 3
- Biết cách xác định đại ý, chia đoạn văn bản, nhận ra mối quan hệ giữa các
đồ vật, tình tiết trong bài, biết nhận xét về một số hình ảnh nhân vật trong bài tập đọc có giá trị văn chương
- Biết sử dụng từ điển học sinh, có thói quen ghi chép các thông tin
* Viết:
Trang 6- Viết đúng chính tả, chữ viết rõ ràng, viết hoa đúng quy định Có khả năng
tự sửa lỗi chính tả Có thói quen và biết cách lập sổ tay chính tả, hệ thống hoá các quy tắc chính tả đã học
- Biết cách lập dàn ý cho bài văn, rút ra dàn ý từ đoạn văn đã cho sẵn, chuyển dàn ý thành đoạn văn
- Biết cách viết thư, điền vào một số loại giấy tờ in sẵn, làm các bài văn kể chuyện, miêu tả đồ vật, cây cối, con vật Nắm vững cách viết mở bài, kết bài
+ Nắm được cấu tạo của tiếng (âm đầu, vần, thanh) và cấu tạo của từ (từ đơn, từ ghép, từ láy, từ phức)
- Về ngữ pháp và ngữ pháp văn bản:
+ Nắm được các khái niệm danh từ, động từ, tính từ
+ Nắm được các kiểu câu đơn và thành phần của câu đơn (chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ); các kiểu câu phục vụ những mục đích nói chuyên biệt: câu kể, câu hỏi, câu cảm, câu khiến
+ Nắm được kết cấu 3 phần của văn bản
Trang 72 MỤC TIÊU CỦA PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN:
1 Tập làm văn giúp cho học sinh:
- Bước đầu tiếp xúc với ngôn ngữ văn học, rung cảm trước vẻ đẹp của cuộc sống Từ đó hình thành và phát triển những nhận thức và thái độ tình cảm đúng đắn bởi mỗi văn bản viết ra không đơn thuần chỉ để kể hoặc tả mà đằng sau đó luôn là những bài học kinh nghiệm, ý kiến nhận xét của tác giả
- Bước đầu nắm được kĩ năng cơ bản về kể chuyện, miêu tả, tìm dàn ý, viết đoạn văn, nhận xét về các nhân vật, tác giả, tác phẩm để vận dụng trong học tập ở trên lớp và trong thưởng thức nghệ thuật ở ngoài lớp học Bên cạnh đó Tập làm văn còn rèn kĩ năng thuyết trình trao đổi, nâng cao kĩ năng viết thư, điền vào giấy in sẵn đã được hình thành từ các lớp dưới
2 Các kĩ năng làm văn (được rèn luyện thông qua các bài luyện tập thực hành):
- Kĩ năng định hướng hoạt động giao tiếp:
+ Nhận diện đặc điểm loại văn bản
+ Phân tích đề bài xác định yêu cầu
- Kĩ năng lập chương trình giao tiếp:
+ Xác định dàn ý của bài văn đã cho
+ Tìm ý và sắp xếp ý thành dàn ý trong bài văn kể chuyện
+ Quan sát đối tượng, tìm và sắp xếp ý thành dàn ý trong bài văn miêu tả
- Kĩ năng thực hiện hoá hoạt động giao tiếp:
+ Đối chiếu văn bản nói, viết của bản thân với mục đích của giao tiếp và yêu cầu diễn đạt
+ Sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt
- Kĩ năng kiểm tra, đánh giá hoạt động giao tiếp:
+ Đối chiếu văn bản nói, viết của bản thân với mục đích giao tiếp và yêu cầu diễn đạt
Trang 8+ Sửa lỗi về hình thức và nội dung diễn đạt.
CHƯƠNG II: CÁC DẠNG BÀI TẬP LÀM VĂN TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT 4
I NHẬN XÉT CHUNG:
1 Cấu trúc của chương trình Tập làm văn:
- Dựa vào chương trình Tiểu học (ban hành kèm theo Quyết định 43/2001/QĐ- BGD&ĐT ngày 9/11/2001 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, SGK Tiếng Việt 4 hai tập) đã thiết kế chương trình Tập làm văn lớp 4 như sau:
Số tiết trong văn bản được thực hiện trong 31 tuần không kể 4 tuần (tuần 9, tuần 18, tuần 27 và tuần 35) là thời gian dành cho ôn tập giữa học kỳ và cuối mỗi học kỳ
Như vậy mỗi tuần có 2 tiết Tập làm văn, mỗi tiết dạy 1 bài học
- Các loại văn bản khác được bố trí dạy xen kẽ với văn kể chuyện và văn miêu tả
Trang 9- Với số lượng tiết Tập làm văn đó, nó chiếm 20% tổng số tiết dạy của môn Tiếng Việt 4 trong chương trình mới.
2 Yêu cầu của phân môn Tập làm văn lớp 4:
Đối với học sinh lớp 4 đòi hỏi những yêu cầu về kiến thức và kĩ năng như sau:
- Khả năng đọc thầm, đọc lướt để xác định nội dung, ý chính của văn bản Bước đầu biết đọc một cách diễn cảm, có ý thức xác định được đề tài, nhận
ra được các đọan văn, các tình tiết chính, mạch cảm xúc trong bài văn
- Biết và tích cực hóa vốn từ để dùng từ đúng (có thể là hay hơn nữa) trong nói, viết, hiểu nghĩa của câu văn được sử dụng với dụng ý nghệ thuật, hiểu được ý nghĩa được tác giả gửi gắm trong tác phẩm
- Biết nhận xét với óc phê phán về nhân vật, sự việc, về cảm xúc và nghệ thuật của tác giả trong bài
- Biết lập dàn bài sơ lược hay chi tiết, liên kết các câu thành đoạn văn, chuyển câu văn ở dạng nói sang dạng viết và ngược lại; biết kể hay tả bằng một văn bản ngắn, trọn vẹn điều đã nghe, đã đọc, đã thấy, đã thích thú; biết viết thư cho bạn bè, người thân; bước đầu biết tranh luận, bảo vệ ý kiến cá nhân bằng chứng lý; biết tóm tắt thông tin
3 Nội dung của các bài tập làm văn 4:
Nội dung của các bài tập làm văn ở lớp 4 thường gắn liền với các chủ điểm đang học Đó là những vấn đề đời sống tinh thần của con người như tính cách, đạo đức, sở thích, năng lực cụ thể như sau:
SGK tập 1 gồm 5 chủ điểm học trong 18 tuần:
- Tuần 1, 2, 3: Thương người như thể thương thân (nhân ái)
- Tuần 4, 5, 6: Măng mọc thẳng (trung thực, tự trọng)
- Tuần 7, 8, 9: Trên đôi cánh ước mơ (ước mơ)
- Tuần 10: Ôn tập giữa học kỳ I
Trang 10- Tuần 11,12, 13: Có chí thì nên (nghị lực)
- Tuần 14, 15, 16, 17: Tiếng sao diều (vui chơi)
- Tuần 18: Ôn tập cuối học kì I
SGK tập II gồm 5 chủ điểm học trong 17 tuần:
- Tuần 19, 20, 21: Người ta là hoa đất (năng lực, tài trí)
- Tuần 22, 23,24: Vẻ đẹp muôn màu (óc thẩm mỹ)
- Tuần 25, 26, 27: Những người quả cảm (dũng cảm)
- Tuần 28: Ôn tập giữa học kỳ II
- Tuần 29, 30, 31: Khám phá thế giới (du lịch, thám hiểm)
- Tuần 32,33,34: Tình yêu cuộc sống (lạc quan, yêu đời)
- Tuần 35: Ôn tập cuối học kỳ II
Ở các lớp dưới, học sinh học tập làm văn chủ yếu là rèn luyện kĩ các nghi thức lời nói, viết văn bản dưới dạng một đoạn văn
Lên lớp 4, các em phải viết một bài văn hoàn chỉnh Đây là bước nhảy vọt về chất từ viết đoạn văn lên viết bài Chính vì vậy SGK đã chú ý rèn luyện cho các em về:
- Quan sát đối tượng của bài văn miêu tả
- Đoạn văn trong các kiểu bài
- Các kết bài, mở bài
- Đặc điểm của các nhân vật trong văn kể chuyện
Ngoài ra, Tập làm văn 4 cũng cung cấp cho học sinh một số kĩ năng giáo tiếp bằng lời nói (trao đổi ý kiến, giới thiệu địa phương) và bằng chữ viết (viết thư, điền giấy tờ in sẵn)
4 Các loại bài học:
Chương trình Tập làm văn được cụ thể hoá trong SGK Tiếng Việt 4 (2 tập) chủ yếu qua 2 loại bài học: Loại bài hình thành kiến thức và loại bài luyện tập thực hành
Trang 11* Loại bài thực hành kiến thức được cấu trúc theo 3 phần:
1 Nhận xét:
- Phần này bao gồm một số câu hỏi, bài tập gợi ý cho học sinh khảo sát văn bản để tự rút ra một số nhận xét về đặc điểm loại văn - kiến thức cần ghi nhớ
II CÁC DẠNG TẬP LÀM VĂN:
1 Văn kể chuyện:
1.1 Số bài văn và thời lượng học:
Văn kể chuyện được học trong 19 tiết, từ tuần 1 đến tuần 13 chiếm khoảng 30% tổng số tiết tập làm văn Cụ thể bao gồm những tiết sau:
- Thế nào là văn kể chuyện (1tiết)
- Đặc điểm của nhân vật (ngoại hình, hành động, lời nói, ý nghĩ): 4 tiết
- Cốt truyện: 2 tiết
- Đoạn văn: 3 tiết
- Phát triển câu chuyện: 4 tiết
- Mở bài trong bài văn kể chuyện: 1 tiết
- Kết bài trong bài văn kể chuyện: 1 tiết
- Kiểm tra viết: 1 tiết
- Trả bài: 1 tiết
- Ôn tập: 1 tiết
1.2.Yêu cầu của văn kể chuyện:
Trang 12Văn kể chuyện đòi hỏi phải có cốt truyện Mỗi câu chuyện viết ra đâu chỉ đơn giản là kể lại mà thông qua đó ta muốn kể về ý nghĩa của cuộc sống xung quanh về phẩm chất, tính cách con người; qua đó thấy cái hay cái dở của cuộc sống để thêm tin yêu, hăng hái, phấn đấu, tu dưỡng làm cho cuộc sống thêm tốt đẹp Do đó "sự việc có diễn biến" chỉ là phương tiện còn "ý nghĩa, điều muốn nói" mới là mục đích của truyện Người có thể kể câu chuyện thật, cũng có thể hư cấu ra câu chuyện, nhân vật dựa trên kinh nghiệm sống của mình nhưng không thể bịa ra ý nghĩa của cuộc đời Ý nghĩa
đó phải rất thật, gắn bó, thể hiện sâu sắc cách hiểu, niềm tin, lý tưởng đạo đức thiêng liêng của con ngưòi Tóm lại truyện đó hay hay không chính là nhờ ý nghĩa cuộc sống mà nó mang lại cho người đọc
- Khi kể chuyện cần đảm bảo các yếu tố: Cách sắp xếp câu chuyện, cách mở đầu, cách thắt nút, cách lựa chọn ngôi kể, giọng kể, lựa chọn chi tiết hay tình huống hay
1.3 Các dạng bài Tập làm văn kể chuyện:
- Kể chuyện đã nghe, đã đọc, đã học:
Dạng bài tập này bên cạnh nhiệm vụ chủ yếu là cách rèn luyện cách viết văn
kể chuyện cho học sinh, nó còn có tác dung củng cố và đi sâu hơn vào những tri thức mà các em đã có Đây cũng thể hiện một phần quan điểm dạy tích hợp trong môn văn
Ví dụ: Kể lại câu chuyện em đã được học (qua các bài tập đọc, kể chuyện,
tập làm văn), trong đó các sự việc được sắp xếp theo trình tự thời gian.
Hay ví dụ: Dựa theo nội dung trích đoạn kịch "Ở vương quốc tương lai"
(Tập đọc tuần 7) Hãy kể lại câu chuyện ấy theo trình tự thời gian.
(Bài tập 1/T84 - SGK I)
Hệ thống ngữ liệu được sử dụng trong dạng văn này thường là các bài tập đọc đã được học Quá trình học sinh thực hiện các kĩ năng phân tích để tìm
Trang 13ý, viết đoạn văn là cơ hội giúp các em mở rộng hiểu biết về cuộc sống theo chủ điểm đang học.
- Kể chuyện theo trí tưởng tượng:
Đặc điểm của dạng bài này là đề bài mở ra nhiều hướng để mỗi học sinh làm theo cảm nhận dựa vào vốn sống, vốn hiểu biết của bản thân Nó rèn trí tưởng tượng phong phú, phát huy tối đa sức sáng tạo của học sinh
Ví dụ cho tình huống sau:
Một bạn nhỏ mải vui đùa, chạy nhảy, lỡ làm một em bé ngã Em bé khóc
Em hãy hình dung sự việc và kể tiếp câu chuyện theo một trong hai hướng sau:
a Bạn nhỏ trên biết quan tâm đến người khác.
b Bạn nhỏ trên không biết quan tâm đến người khác.
(Bài tập 2/T14- SGK I)
Hay ví dụ: Hãy tưởng tượng và kể lại vắn tắt một câu chuyện có ba nhân vật:
bà mẹ ốm, người con của bà mẹ bằng tuổi em và một bà tiên.
(Bài tập trang 45- SGK I)
Giải quyết các bài tập trên, học sinh còn rút ra được những kinh nghiệm giao tiếp, cách ứng xử trong cuộc sống đời thường
1.4 Các kiểu bài tập trong văn kể chuyện:
Do Tập làm văn lớp 4 hướng vào rèn luyện kĩ năng lập dàn ý, viết đoạn, quan sát cho nên ứng với mỗi tiết cũng có những kiểu bài khác nhau phục vụ cho việc luyện tập các kĩ năng đó
Cụ thể như sau:
* Bài tập tìm hiểu đặc điểm của nhân vật:
- Điền tên nhân vật vào chỗ trống:
Trang 14+ Đặc điểm: Dựa vào đặc điểm của nhân vật đã cho sẵn và tình huống trong truyện, học sinh phải điền tên của các nhân vật vào chỗ trống sao cho phù hợp với nhân vật đó.
Ví dụ: Chim Sẻ và chim Chích là đôi bạn thân nhưng tính tình khác nhau
Chích xởi lởi hay giúp bạn còn Sẻ thì đôi khi bụng dạ còn hẹp hòi Dưới đây
là một số hành động của hai nhân vật ấy trong câu chuyện "Bài học quý" Em hãy điền tên nhân vật (Chích hoặc Sẻ) vào trước hành động thích hợp và sắp xếp các hành động ấy thành một câu chuyện.
1 Một hôm, được bà gửi cho hộp hạt kê.
2 Thế là hàng ngày nằm trong tổ ăn hạt kê một mình.
3 đi kiếm mồi, tìm được những hạt kê ngon lành ấy.
4 Khi ăn hết, bèn quẳng chiếc hộp đi.
5 không muốn chia cho cùng ăn
6 bèn gói cẩn thận những hạt kê còn sót lại vào một chiếc lá rồi đi tìm người bạn thân của mình.
7 Gió đưa những hạt kê còn sót trong hộp bay xa.
8 vui vẻ đưa cho một nửa.
9 ngượng nghịu nhận quà của và tự nhủ: " đã cho mình một bài học quý về tình bạn".
(Bài tập trang 21- SGK I)
+ Mục đích: Kiểu bài này rèn cho học sinh nhận diện về hành động, tính cách của nhân vật trong truyện và sắp xếp các hành động ấy theo trình tự hợp lí
- Miêu tả ngoại hình của nhân vật:
+ Đặc điểm:
Cho đoạn văn Yêu cầu học sinh xác định những chi tiết miêu tả ngoại hình của nhân vật
Trang 15Ví dụ: Cho đoạn văn sau miêu tả ngoại hình của một chú bé liên lạc cho bộ
đội trong kháng chiến Tác giả đã chú ý đến miêu tả những chi tiết nào? Các chi tiết ấy nói lên điều gì về chú bé?
“ Tôi nhìn em Một em bé gầy, tóc búi ngắn, hai túi của chiếc áo cánh nâu trễ xuống tận đùi như đã từng phải chịu nhiều thứ quá nặng Quần của
em chỉ ngắn tới gần đầu gối để lô đôi bắp chân nhỏ luôn động đậy Tôi đặc biệt chú ý đến đôi mắt của em, đôi mắt sáng và xếch khiến người ta có ngay cảm giác là một em bé vừa thông minh vừa gan dạ.
+ Mục đích: Giúp học sinh biết dựa vào đặc điểm ngoại hình để xác định tính cách nhân vật và ý nghĩa của truyện khi đọc truyện, tìm hiểu truyện Bước đầu biết lựa chọn những chi tiết tiêu biểu để tả ngoại hình nhân vật trong bài văn kể chuyện
- Sự chuyển đổi giữa lời dẫn trực tiếp và lời dẫn gián tiếp
+ Đặc điểm: Cho những đoạn văn trong đó có lời trong truyện có thể là lời của người dẫn truyện cũng có thể là lời của người trực tiếp tham gia vào tình huống trong truyện Yêu cầu học sinh chuyển từ lời dẫn trực tiếp thành lời dẫn gián tiếp và ngược lại
Ví dụ: Chuyển lời dẫn gián tiếp sau thành lời dẫn trực tiếp: “ Vua nhìn thấy
những miếng trầu têm rất khéo bèn hỏi bà bán hàng nước xem trầu đó ai têm Vua gặng hỏi mãi bà lão đành nói thật là con gái bà têm.”
(Bài tập 2/T33- SGK I) Chuyển lời dẫn trực tiếp sau thành lời dẫn gián tiếp:
Trang 16Kiểu bài này giúp học sinh vận dụng ngôi kể trong khi kể chuyện Tuỳ vào tình huống hoặc ngữ cách giao tiếp mà có thể kể nguyên văn (lời dẫn trực tiếp) hoặc kể bằng lời kể của người kể chuyện (lời dẫn gián tiếp).
* Bài tập về xây dựng cốt truyện:
Gồm các loại bài:
- Xếp các ý thành câu chuyện:
+ Đặc điểm: Cho các ý chính của câu chuyện đã bị xáo trộn Yêu cầu học sinh sắp xếp theo một trình tự logic
Ví dụ: Truyện "Cây khế" bao gồm các sự việc chính sau:
- Chim chở người em bay ra đảo lấy vàng, nhờ thế người em trở nên giàu có.
- Cha mẹ chết, người anh chia gia tài, người em chỉ được một cây khế.
- Người anh biết chuyện, đổi gia tài của mình lấy cây khế, người em bằng lòng.
- Cây khế có quả, người em phàn nàn và chim hẹn trả ơn bằng vàng.
- Chim lại đến ăn khế, mọi chuyện lại diễn ra như cũ những người anh may túi quá to và lấy quá nhiều vàng.
- Người anh bị rơi xuống biển chết.
Hãy sắp xếp các sự việc trên thành cốt truyện.
(Bài tập 1/T43- SGK I)
+ Mục đích: Giúp học sinh thấy được thế nào là cốt truyện và ba phần cơ bản của cốt truyện (mở đầu, diễn biến, kết thúc) Bước đầu biết vận dụng kiến thức đã học để sắp xếp các sự việc chính của một câu chuyện
- Kể vắn tắt một câu chuyện:
+ Đặc điểm: Đề bài thuộc dạng này thường chỉ yêu cầu học sinh kể về một câu chuyện, trong đó làm nổi bật được những ý chính
Ví dụ: Hãy tưởng tượng và kể lại vắn tắt một câu chuyện có 3 nhân vật: bà
mẹ ốm, người con của bà mẹ bằng tuổi em và một bà tiên
Trang 17- Viết đoạn văn còn thiếu:
+ Đặc điểm: Cho phần mở đầu, diễn biến hoặc kết thúc của đoạn văn Yêu cầu học sinh hoàn thành nốt những phần còn thiếu
Ví dụ; Bạn Hà viết thử 4 đoạn câu chuyện "Vào nghề" nhưng chưa viết được
đoạn nào hoàn chỉnh Em hãy giúp bạn Hà hoàn chỉnh một trong những đoạn ấy:
c Đoạn 3:
+ Mở đầu:
Trang 18+ Diễn biến: Những ngày đầu, Valia rất bỡ ngỡ Có lúc em nản chí Nhưng
cứ nhớ đến cô diễn viên phi ngựa, em lại thấy phấn chấn hẳn lên.
- Phát triển ý chính thành đoạn văn:
+ Đặc điểm: Cho một bức tranh minh hoạ Dưới mỗi bức tranh đều có các ý chính Dựa vào mỗi ý chính phát triển thành một đoạn văn
Ví dụ: Bài tập 2/67-SGK T1 có một bài gồm 6 bức tranh nói về câu chuyện
"Ba lưỡi rìu" Yêu cầu học sinh phát triển thành 6 đoạn văn
+ Mục đích: Giúp các em biết phát triển một ý thành một đoạn
* Bài tập về luyện tập phát triển câu chuyện:
+ Đặc điểm: Dạng bài tập này thường là những đề văn hoàn chỉnh
Ví dụ: Trong giấc mơ em được bà tiên cho 3 điều ước và em đã thực hiện cả
ba điều ước đó Em hãy kể lại câu chuyện đó theo trình tự thời gian.
(Bài tập trang 75- SGK I)
Hoặc: Dựa theo nội dung đoạn trích "Ở vương quốc tương lai" Hãy kể lại
câu chuyện ấy theo trình tự thời gian.
(Bài tập trang 84- SGK I)
Trang 19+Mục đích: Giúp học sinh biết cách sắp xếp các đoạn văn kể chuyện theo trình tự thời gian, không gian.
* Bài tập về cách viết mở bài, kết bài trong văn kể chuyện:
Gồm các loại bài sau:
- Nhận diện các cách mở bài, kết bài:
+ Đặc điểm: Cho một số cách mở bài, kết bài khác nhau của cùng một đề bài Yêu cầu học sinh xác định xem đó là cách mở bài, kết bài nào
Ví dụ: Đọc các mở bài sau và cho biết đó là những cách mở bài nào?
a Có một con rùa sống bên bờ sông Biết mình chậm chạp nên hôm nào cũng vậy, vừa sáng sớm tinh mơ nó đã ra bờ sông tập chạy.
b Xưa nay người cậy tài giỏi mà chủ quan, biếng nhác thì chẳng làm nên việc gì Ngược lại sức có kém nhưng quyết tâm nhẫn nại ắt thành công Câu chuyện"Rùa và Thỏ" đã chứng minh điều đó.
c Đầu năm học vừa qua, mấy bạn vì chủ quan lười biếng nên kết quả học tập sút hẳn so với hồi lớp ba Cô giáo bèn kể chuyện" Rùa và Thỏ" khuyên các bạn cố gắng chăm chỉ Câu chuyện như sau:
d Trong các loài thú mấy ai chạy nhanh bằng nhà Thỏ chúng tôi Thấy bóng chúng tôi trên đường đua thì hươu nai cũng còn phải kiêng nể, chứ nói gì đén bác Trâu, bác Lợn Thế mà có lần Thỏ tôi phải ngậm đắng nuốt cay chịu thua anh chàng Rùa nổi tiếng là lù đù chậm chạp Câu chuyện ấy dạy cho tôi một bài học nhớ đời Đầu đuôi thế này:
(Bài tập 1/T112 - SGK I)
Hoặc ví dụ: Sau đây là một số kết bài của truyện" Thỏ và Rùa" Em hãy cho
biết kết bài theo kiểu nào?
a Lúc sực nhớ đến cuộc thi, ngẩng đầu lên, Thỏ thấy Rùa đã gần đến đích bèn vắt chân lên cổ mà chạy Nhưng muộn mất rồi Rùa đã tới đích trước nó.
Trang 20b Câu chuyện" Thỏ và Rùa" là lời nhắc nhở nghiêm khắc đối với những ai hay ỉ vào sức mình mà chủ quan biếng nhác.
c Đó là toàn bộ câu chuyện về chú Thỏ hợm hĩnh phải nếm mùi thất bại trước anh chàng Rùa có quyết tâm cao.
d Nghe xong câu câu chuyện cô giáo kể, ai cũng tự nhủ: Không bao giờ được
lơ là trong học tập và rèn luyện bản thân.
e Cho đến bây giờ, mỗi khi nhớ lại câu chuyện chạy thi với Rùa, tôi vẫn còn
đỏ mặt vì xấu hổ Mong sao đừng ai mắc bệnh chủ quan hợm hĩnh như Thỏ tôi ngày nào.
(Bài tập 1/T123- SGK I)
+ Mục đích: Giúp học sinh nhận diện được cách mở bài, kết bài; hiểu được thế nào là mở bài trực tiếp và mở bài gián tiếp, kết bài mở rộng và kết bài không mở rộng
- Xác định mở bài, kết bài trong câu chuyện:
+ Đặc điểm: Cho một câu chuyện Yêu cầu học sinh xác định phần mở bài, kết bài
Ví dụ: Tìm phần kết bài của các câu chuyện sau và cho biết kết bài theo cách
- Viết mở bài, kết bài theo yêu cầu:
+ Đặc điểm: Đề bài thường yêu cầu học sinh viết mở bài, kết bài theo nội dung đã cho sẵn
Trang 21Ví dụ 1: Kể lại phần mở bài của câu chuyện ”Hai bàn tay” theo cách gián
tiếp.
(Bài 3/T114- SGK I)
Ví dụ 2: Viết kết bài của câu chuyện: "Một người chính trực", "Nỗi dằn vặt
của An-đrây-ca" theo cách kết bài mở rộng.
2 Văn miêu tả:
2.1 Số bài và thời lượng học:
Văn miêu tả được học trong 30 tiết từ tuần 14 đến hết tuần 35) trừ tuần
18 và chiếm khoảng 48% tổng số tiết làm văn
Văn miêu tả trong chương trình Tập làm văn 4 được chia như sau:
1 Miêu tả đồ vật gồm 10 tiết (6 tiết ở học kỳ 1, 4 tiết ở học kỳ II và học từ tuần 14 đến tuần 21)
2 Miêu tả cây cối gồm 11 tiết từ tuần 21 đến tuần 27
3 Miêu tả con vật gồm 8 tiết từ tuần 29 đến tuần 34
Cả ba loại bài đều được xây dựng theo cấu trúc như sau:
- Cấu tạo của bài văn miêu tả (đồ vật, cây cối, con vật)
- Quan sát các bộ phận
- Xây dựng đoạn văn
- Cách viết mở bài
- Cách viết kết bài
- Kiểm tra viết
- Trả bài kiểm tra
Tuỳ vào mỗi loại bài mà các tiết trên được dạy với số lượng khác nhau
2.2 Yêu cầu của văn miêu tả:
Văn miêu tả được học với số lượng nhiều nhất trong phân môn Tập làm văn lớp 4 bởi văn miêu tả phù hợp với đặc điểm tâm lý tuổi thơ (ưa quan sát, thích nhận xét, sự nhận xét thiên về cảm tính ), góp phần nuôi dưỡng mối
Trang 22quan hệ và tạo nên sự quan tâm của các em với thế giới xung quanh Trong
đó, quan trọng nhất là với thiên nhiên góp phần giáo dục tình cảm thẩm mỹ, lòng yêu cái đẹp, phát triển ngôn ngữ ở trẻ Học văn miêu tả, học sinh có thêm điều kiện để tạo nên sự thống nhất giữa tư duy và tình cảm, ngôn ngữ
và cuộc sống, con người với thiên nhiên với xã hội đều khêu gợi ra những tình cảm, cảm xúc, ý nghĩ cao thượng đẹp đẽ
Đề bài văn đạt kết quả tốt thì cần đảm bảo:
- Tính chân thực của bài văn miêu tả Bài văn miêu tả phải bắt nguồn sự quan sát trực tiếp đối tượng kết hợp với kinh nghiệm sống và trí tưởng tượng của học sinh, thể hiện được tình cảm, cảm xúc của các em trước đối tượng miêu tả
- Bài văn miêu tả mang tính thông báo thẩm mỹ chứa đựng tình cảm của người viết Người viết đánh giá chúng theo quan điểm thẩm mỹ, gửi vào ít nhiều tình cảm hay ý kiến đánh giá bình luận của mình
- Bài văn phải có tính sinh động tạo hình, nghĩa phải làm cho các sự vật, đồ vật, cây cối được miêu tả qua từng câu, từng dòng tưởng như có thể cầm nắm được Làm nên sự sinh động tạo hình của bài văn là những chi tiết gây
ấn tượng Cần chú ý tránh đưa quá nhiều chi tiết rườm rà theo kiểu liệt kê đơn điệu Cần gạt bỏ chi tiết thừa, không có sức gợi tả gợi cảm để bài văn miêu tả gọn và giàu chất tạo hình
2.3 Đối tượng, nội dung và ngôn ngữ miêu tả:
* Đối tượng miêu tả:
Đó là những vật gần gũi, xung quanh cuộc sống của các em như: cái trống, cặp sách, con mèo, cây ăn quả
* Nội dung miêu tả:
Mỗi vật thường có cấu tạo riêng, hình dáng riêng, hương vị riêng Những đặc điểm riêng như vậy cần được chú ý trong văn miêu tả Tuy
Trang 23nhiên, như vậy không có nghĩa là phải miêu tả đủ các bộ phận, đặc điểm của vật định tả mà chỉ nhằm vào dấu hiệu đặc trưng nào đó gây ấn tượng cảm xúc đối với người viết như: Đối với đồ vật, cần miêu tả những đặc điểm nổi bật về hình dáng, công dụng cũng như lợi ích của nó đối với con người; Đối với cây cối, tuỳ vào đặc điểm của từng loại cây, cây cho quả thì cần tập trung vào tả mùi vị của quả, cây lấy hương thì cần tả hương, cây lấy bóng mát tả dáng cây, tán lá Đối với con vật, cần tả hình dáng bên ngoài lẫn hoạt động, tính nết của con vật.
Văn miêu tả thường chứa đựng nhiều nhân tố cảm xúc và bộc lộ những tình cảm riêng của người viết đối với vật định tả
* Ngôn ngữ miêu tả:
Phương pháp nhân hoá được sử dụng khá phổ biến trong văn miêu tả Biện pháp này giúp cho các bài văn thể hiện rõ hơn, cụ thể hơn tình cảm của người viết Các đại từ xưng hô: chú, bác, anh, chị, tớ và hàng loạt các từ chỉ hoạt động chỉ tính chất được nói đến nhiều trong văn miêu tả đồ vật và con vật Ngoài ra, phép so sánh cũng giúp cho người đọc hình dung đối tượng miêu tả một cách dễ dàng, lời văn sinh động, giàu hình ảnh
2.4 Các kiểu bài trong văn miêu tả:
* Bài tập nhận diện thể loại văn miêu tả:
+ Đặc điểm: Cho một văn bản Yâu cầu học sinh tìm những từ, những đoạn
có tác dụng miêu tả
Ví dụ: Tìm những câu văn miêu tả trong bài "Chú đất nung".
(Bài tập 1/T141- SGK I)
+ Mục đích: Giúp các em hiểu được thế nào là miêu tả
- Bài tập về cấu tạo của bài văn miêu tả:
+ Đăc điểm: Cho một bài văn hoặc một phần của bài văn miêu tả Yêu cầu học sinh khảo sát văn bản bằng cách trả lời các câu hỏi bên dưới