Theo dại bách khoa toàn thư xo viết: Sáng tạo là hoạt động của con người trên cơ sở các quy luật khách quan của thực tiễn, nhằm biến đổi thế giới tự nhiên, xã hội phù hợp với các mục đích và nhu cầu của con người, sáng tạo là hoạt động được đặc trưng bởi tính không lặp lại, tính độc đáo và tính duy nhất. Theo R.L.Solsor: Sáng tạo là một hoạt động nhận thức đem lại một cách nhìn nhận hay giải quyết mới mẻ đối với một vấn đề hay một tình huống. Theo Henry Glitman: Sáng tạo là năng lực tạo ra những giải pháp mới hoặc duy nhất cho một vấn đề thực tiễn và hữu ích.
Trang 1Con người chủ yếu dùng ngôn ngữ để nhận thức vấn đề, để tiến hành các thao tác trí tuệ và biểu đạt kết quả của tư duy
Tư duy mang tính khái quát: Phản ánh những thuộc tính chung, những mối quan hệ có tính quy luật của hàng loạt sự vật, hiện tượng
Tư duy mang tính gián tiếp: Phản ánh bằng ngôn ngữ
Tư duy mang tính trừu tượng: Nội dung có tính chất đặc thù của sự vật và hiện tượng
Sản phẩm của tư duy: Là những khái niệm, phán đoán, suy luận được biễu đạt bằng những từ, ngôn, câu, … ký hiệu, công thức
Tư duy quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính và bắt đầu từ nhận thức cảm tính
Tư duy có khái quát và trừu tượng đến đâu thì trong nội dung của tư duy cũng vẫn chứa đựng các thành phần cảm tính
Tư duy chi phối khả năng phản ánh phản ánh của cảm giác, tri giác, làm cho khả năng cảm giác con người tinh vi, nhạy bén hơn, làm cho tri giác của con người mang tính lựa chọn, tính ý nghĩa
Tư duy bắt nguồn từ nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính đều nảy sinh từ thực tiễn và lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn kiểm tra tính đúng đắn của nhận thức
Ví dụ 1.1 [SGK Toán 9 tập 1 tr11]: Tính: 16 25 196 : 49
1.2.Quá trình tư duy
Tư duy là một hoạt động trí tuệ với quá trình 4 bước cơ bản:
Trang 2GV: ĐẶNG XUÂN QUỲNH Bước 1: Xác định vấn đề, biễu đạt nó thành nhiệm vụ tư duy (Tìm được câu hỏi cần giải đáp)
Bước 2: Huy động tri thức, vốn kinh nghiệm, liên tưởng, hình thành giả thuyết
và cách giải quyết vấn đề, cách trả lời câu hỏi
Bước 3: Xác minh giả thuyết trong thực tiễn, nếu giả thuyết đúng thì qua bước sau, nếu sai thì phủ định nó và hình thành giả thuyết mới
Bước 4: Quyết định, đánh giá kết quả, đưa ra sử dụng
3.Trừu tượng hóa và khái quát hóa
4.Cụ thể hóa đặc biệt hóa
Theo dại bách khoa toàn thư xo viết: Sáng tạo là hoạt động của con người trên
cơ sở các quy luật khách quan của thực tiễn, nhằm biến đổi thế giới tự nhiên, xã hội
Trang 3GV: ĐẶNG XUÂN QUỲNH phù hợp với các mục đích và nhu cầu của con người, sáng tạo là hoạt động được đặc trưng bởi tính không lặp lại, tính độc đáo và tính duy nhất
Theo R.L.Solsor: Sáng tạo là một hoạt động nhận thức đem lại một cách nhìn nhận hay giải quyết mới mẻ đối với một vấn đề hay một tình huống
Theo Henry Glitman: Sáng tạo là năng lực tạo ra những giải pháp mới hoặc duy nhất cho một vấn đề thực tiễn và hữu ích
Theo Nguyễn cảnh toàn: Người có óc sáng tạo là người có kinh nghiệm về phát hiện và giải quyết vấn đề đã đặt ra
Theo từ điển tiếng việt: Sáng tạo là tạo ra những giá trị mới về vật chất hoặc tinh thần (Sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó phụ thuộc vào cái đã có
Tóm lại: Sáng tạo là tìm ra cái mới, có ích, độc đáo
2.2.Quá trình sáng tạo
Theo Wallas thì quá trình sáng tạo trải qua 4 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Giai đoạn chuẩn bị cho công việc có ý thức
Giai đoạn này ta hình thành vấn đề đang giải quyết và thử giải quyết vấn đề các cách khác nhau, vai trò là huy động các thông tin hữu ích còn tiềm ẩn mà vận dụng chúng có thể cho lời giải cần tìm, giai đoạn này yếu tố suy luận và trực giác của việc tìm kiếm lời giải cũng tồn tại
Giai đoạn 2: Giai đoạn ấp ủ
Giai đoạn này bắt đầu giải quyết vấn đề có một cách ý thức ngừ lại, tiếp tục với hoạt động của các lực lượng tiềm thức, có sự cố gắng ý thức ban đầu là quan trọng cần thiết
George Polya: Chỉ có những bài toán mà ta đã tập trung suy nghĩ nhiều, thì khi trở lại mới được biến đổi, sáng tạo Hình như sự cố gắng có ý thức và lao động trí óc
là cần thiết để buộc tiềm thức làm việc
Giai đoạn 3: Giai đoạn bừng sáng
Là một bước nhảy vọt về chất trong tiến trình nhận thức giai đoạn này quyết định của quá trình tìm lời giải, trực giác xuất hiện đột ngột không thấy trước được
Gauss công nhận: Việc giải một bài toán mà tôi loay hoay trong vài năm không xong bỗng cuối cùng vụt đến cách đây vài hôm Cách giải quyết đã đến bất ngờ như
Trang 4GV: ĐẶNG XUÂN QUỲNH một tia chớp lóe sáng Tôi không thể nói được cái đã nối liền những kiến thức trước kia của tôi với cái đã làm ra sự thành công của tôi là cái gì?
Giai đoạn 4: Giai đoạn kiểm chứng
Chúng ta triển khai lập luận, chứng minh lôgic và kiểm tra lời giải nhận được
từ trực giác, rất cần thiết vì tri thức nhận được bằng giác là chưa chắc chắn, có tính giả thuyết, có thể đánh lừa người giải
Trong 4 giai đoạn kể trên của quá trình sáng tạo thì hai giai đoạn: ấp ủ và bừng sáng là quan trọng nhất Ở giai đoạn bừng sáng mới phát hiện ra cái mới, mới giải quyết được vấn đề Tuy vậy hai giai đoạn này chưa được nghiên cứu đầy đủ, còn nhiều tranh cãi
Với toán học thì sáng tạo nếu chủ thể tự đương đầu với những vấn đề mới mà chủ thể chưa từng biết Một bài toán được xem như là mạng yếu tố sáng tạo, thao tác giải không bi chi phối những mệnh lệnh nếu như người giải chưa biết thuật toán để giải và tiến hành tìm kiếm với những bước đi chưa biết trước
Như vậy cấp độ của sáng tạo là biễu hiện những năng lực của hoạt động của con ngườ, đó là khả năng, tài năng và thiên tài, trong đó tài năng và nhất là thiên tài thể hiện sự sáng tạo cao nhất
Trog quan hệ của sáng tạo còn có những vấn đề “Phát minh” và “Sáng chế” cần phải xác định rõ
Trang 5GV: ĐẶNG XUÂN QUỲNH Phát minh là sự phát hiện ra, tìm ra những cái tồn tại sẵn có trong tự nhiên, trong xã hội và trong con người ma chúng ta chua biết tới
Nói khác: Phát minh là sự phát hiện ra các quy luật, những tính chất hay những hiện tượng của thế giới vật vật chất tồn tại một cách khách quan, mà chưa ai biết, từ
đó làm thay đổi nhận thức của loài người
Phát minh và sáng tạo có những điểm trùng nhau, cũng có điểm khác nhau Phát minh dựa trên cơ sở tài năng và thiên tài là sản phẩm trí tuệ của tài năng và thiên tài Đặc điểm của phát minh là tìm ra cái còn ẩn dấu trong đối tượng mà loài người chưa biết Sáng tạo nghiên về các tài năng, thiên tài, tạo ra những cái mới, những cái mang giá trị mới, có ý nghĩa lớn đối với xã hội loài người
Phát minh gắn liền với lĩnh vực khoa học cơ bản, sáng chế lại gắn liền với khoa học kỹ thuật nghĩa là một bên là sự tìm tòi, phát hiện những cái còn ẩn dấu trong đối tượng, một bên là tạo ra những sự vật mới để tạo nên tính khách quan của con người, tạo phương tiện phục vụ con người Sáng chế là tìm ra những sản phẩm vật chất mới
mà trước chưa có Hiểu theo nghĩa chân chính là giải pháp kĩ thuật có tính mới mẻ, khác về cơ bản đối với cái đã biết, đem lại lợi ích rõ nhất trên phương diện vật chất
Sáng chế là sự tạo ra cái mới mà trước đó chưa từng có trong thế giới vật chất trên cơ sở kĩ năng, kĩ thuật, khoa học Khái niệm sáng chế không đồng nhất với khái niệm sáng tạo Sáng chế một mặt gắn liền với hoạt động bậc cao, hoạt động sáng tạo, mặt khác mang một nội dung đặc thù khác, không chỉ phát hiện, khám phá cái mới bằng tinh thần, mà nghiêng nhiều hơn về việc kiến tạo ra những mẫu hình vật chất mới, những mẫu hình này phục vụ cho sinh hoạt, lao động, sản xuất, chiến đấu, nghiên cứu phát minh sáng chế khác
Giữa sáng tạo, phát minh, sáng chế vừa có những điểm tương đồng vừa có những nét đặc biệt sáng tạo có mặt trong cả phát minh và sáng chế Còn phát minh, sáng chế là lĩnh vực sáng tạo cụ thể, gắn liền với khoa học, kỹ thuật công nghệ
3.TƯ DUY SÁNG TẠO
3.1.Tư duy sáng tạo là gì?
Theo các nhà tâm lí học: Con người chỉ tư duy tích cực khi có nhu cầu tư duy, tức là khi đứng trước một khó khăn về nhận thức cần phải khắc phục, một tình huống gợi vấn đề
Trang 6GV: ĐẶNG XUÂN QUỲNH Theo Rubinstein (1960): TDST luôn luôn bắt đầu bằng một tình huống gợi vấn
đề
Từ các kết quả nghiên cứu về TDST ta có các tính chất cơ bản sau:
3.1.1.Tính mềm dẻo: Khả năng dễ dàng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác
3.1.2.Tính nhuần nhuyễn: Khả năng tìm được nhiều giải pháp trên nhiều góc độ và tình huống khác nhau
3.1.3.Tính độc đáo: Khả năng tìm kiếm và giải quyết phương thức giải quyết là hoặc duy nhất
3.1.4.Tính hoàn thiện: Khả năng lập kế hoạch, phối hợp các ý nghĩ và hành động, phát hiện ý tưởng, kiểm tra và chứng minh ý tưởng
3.1.5.Tính nhạy cảm vấn đề: Năng lực nhanh chóng phát hiện ra vấn đề, mâu thuẫn, sai lầm, sự thiếu lôgic, chưa tối ưu, … do đó nảy sinh ý muốn cấu trúc hợp lí, hài hòa, tạo ra cái mới
Ngoài các tính chất cơ bản trên đây thì cón có các yếu tố quan trọng khác là tính chính xác, năng lực định giá trị, năng lực định nghĩa lại
Ví dụ: Phân tích mô hình J.B.Renzuli năm 1993 [SGK tr13]
3.2.Những biểu hiện đặc trưng của TDST
Đặc trưng 1: Thực hiện độc lập việc di chuyển các tri thức kĩ năng, kĩ xảo sang tình huống mới hoặc gần hoặc xa, bên trong hay bên ngoài hay giữa các hệ thống kiến thức
Đặc trưng 2: Nhìn thấy những nội dung mới trong tình huống bình thường Đặc trưng 3: Nhìn thấy chức năng mới của đối tượng quen biết
Đặc trưng 4: Độc lập kết hợp các phương thức hoạt động đã biết tạo thành cái mới
Đặc trưng 5: Nhìn thấy cấu trúc của đối tượng đang nghiên cứu
Đặc trưng 6: Nhìn thấy mọi cách giải quyết có thể có, tiến trình giải theo từng cách và lựa chọn cách giải quyết tối ưu
Đặc trưng 7: Xây dựng phương pháp mới về nguyên tắc, khác với các nguyên tắc quen thuộc đã biết
3.3.Trí tưởng tượng và TDST
Trang 7GV: ĐẶNG XUÂN QUỲNH Trí tưởng tượng là phẩm chất rất quan trọng trong TDST Thể hiện chủ thể xây dựng trước hình ảnh của kết quả hoạt động và đảm bảo việc thành lập chương trình hành động trong các tình huống có vấn đề và sự bất định Không hình dung được kết quả công việc nên khó có thể bắt đầu công việc đây là sự khác nhau cơ bản giữa hoạt động lao động của con người và hình thành hành động bản năng của các loài vật trí tưởng tượng cho phép người ta đưa ra quyết định hay tìm ra lối thoát trong các tình huống có vấn đề, ngay cả khi không đủ thông tin
Trong nghiên cứu thì trí tưởng tượng chia làm 3 loại:
a.Trí tưởng tượng lôgic: Là cái đem lại cho người nghiên cứu khả năng dự đoán tương lai từ hiện tại nhờ các biến đổi lôgic
b.Trí tưởng tượng phê phán: Là cái đem lại cho người nghiên cứu khả năng nhận biết những cái chưa hoàn thiện, cái cần thay đổi cho tốt hơn
c.Trí tưởng tượng sáng tạo: Là cái cho phép người nghiên cứu đưa ra các ý tưởng mới về nguyên tắc, ý tưởng đó chưa có hình mẫu trong thực tế dựa trên những yếu tố có thực Trí tưởng tượng sáng tạo là một trong các yếu tố đóng vai trò quyết định năng lực tư duy sáng tạo của con người
Các yếu tố cấu thành quá trình TDST ơ con người nói chung là giống nhau Tuy nhiên ở những con người khác nhau, các yếu tố đó thể hiện ở các trình độ khác nhau và chúng được tổ hợp lại với nhau theo những cách khác nhau Đó chính là nguyên nhân tạo nên tính đa hình đa dạng về trình độ và năng lực sáng tạo của con người
3.4.Vai trò của trực giác và tưởng tượng trong TDST
Theo tác giả Libikhơ: [tr15]
Theo Ribo: [tr15]
Theo Candillac: [tr15]
Theo Louis De Broglie: [tr15]
Theo đại bách khoa toàn thu Xô viết thì trực giác là năng lực nhận thức được chân lý bằng xét đoán trực tiếp không có sự biện giải bằng chứng minh
Theo V.A.Kruteki: Trong nhiều trường hợp, sự bừng sáng đột ngột của học sinh có năng lực có thể được giải thích bởi sự ảnh hưởng vô thức của kinh nghiệm
Trang 8GV: ĐẶNG XUÂN QUỲNH quá khứ mà cơ sở của chúng ta là năng lực khái quát hóa các đối tượng, các quan hệ, các phép toán và năng lực tư duy bằng các cấu trúc rút gọn
Trực giác toán học được hiểu với nhiều nghĩa khác nhau và trong thực tế tồn tại nhiều dạng khác nhau Trực giác có thể coi là sự bừng sáng đột ngột chưa nhận thức được, có thể là trực quan cảm tính và cũng có thể là kết quả của sự vận động không có ý thức các các hình thực hành động khái quát và cấu trúc rút gọn
Theo X.L.Rubinxtein khẳng định: Trong tiến trình dạy học, sự thay đổi các kết hợp được thực hiện liên tục theo hai hướng ngược nhau, một mặt các mối liên hệ phức tạp lên, mặt khác do quá trình lĩnh hội được tự động hóa nên xảy ra sự giản lược các kết hợp
3.5.Vai trò của tư duy biện chứng trong sáng tạo
Theo tác giả nguyễn cảnh toàn: Sáng tạo là sự vận động của tư duy từ những hiễu biết đã có đến những hiễu biết mới
Theo tôi thì: Sáng tạo là sự hoạt động của tư duy trí não từ những cái đã biết và đến những hiểu biết mới hơn
Đối với học sinh các kiến thức mới mà học sinh tìm ra là các kiến thức đã có sẵn trong sách, cái quý là lao động tìm tòi, sáng tạo mà học sinh tự tin vào hả năng của minh, các kiến thức mới đáng quý là học sinh tìm ra, tự lĩnh hội kiến thức do minh khám phá
Học sinh trong quá trình sáng tạo để đi đến cái mới trong toán học phải kết hợp
tư duy biện chứng và tư duy lôgic cả tư duy hình tượng và các tư duy khác Trong việc định hướng và cách giải quyết vấn đề thì tư duy biện chứng đóng vai trò chủ đạo, khi hướng giải quyết vấn đề đã có thì tư duy lôgic đóng vai trò chính, do vậy mà
tư duy biện chứng đóng vai trò quyết định trong sáng tạo ra cái mới
PHẦN II: BIỆN PHÁP
Trang 9GV: ĐẶNG XUÂN QUỲNH
1.CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CÁC BIỆN PHÁP SƯ PHẠM
1.1.Cơ sở triết học
1.1.1.Toán học có nguồn gốc từ thực tiễn
1.1.2.Bảo đảm tính thống nhất giữa cụ thể và trừu tượng
Theo V.I.Lenin: Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn là con đường biện chứng của nhận thức chân lí, của nhận thức thực tại khách quan
1.2.4.Về tư duy
Tư duy trừu tượng khái quát ngày càng phát triển, tư duy hình tượng, cụ thể vẫn giữ vai trò quan trọng
1.2.5.Về quan hệ giao tiếp
HS thường nảy sinh cảm giác về sự trưởng thành, nhu cầu được thừa nhận là người lớn
Trang 10GV: ĐẶNG XUÂN QUỲNH Tóm lại: Tâm lí của HS THCS có những yếu tố thuận lợi cho các PPDH phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS mà GV cần phải khai thác, nhưng cũng
có những yếu tố bất lợi mà GV cần phải nắm vững để chủ động phòng tránh
2.NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG CÁC BIỆN PHÁP SƯ PHẠM
Nguyên tắc 1: Phải xuất phát từ cơ sở khoa học về việc hình thành và rèn luyện TDST, tương thích với nội dung chương trình và SGK toán THCS
Nguyên tắc 2: Phải đảm bảo phù hợp với cấu trúc lôgic của nội dung, phương pháp, kết hợp với các lí thuyết dạy học truyền thống và hiện đại để rèn luyện TDST cho HS
Nguyên tắc 3: Bảo đảm sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của thầy và vai trò chủ động của HS
3.BIÊN PHÁP SƯ PHẠM
3.1.Biện pháp 1: Tập cho HS thói quen dự đoán, mò mẫm, phân tích, tổng hợp
3.1.1.Cơ sở khoa học của biện pháp
Thể hiện rõ nét con đường biện chứng của sự nhận thức chân lí vận dụng trong môn toán
Theo Lenin: Thực tiễn cao hơn nhân thức, bởi nó không những có ưu điểm là tính phổ biến mà còn có ưu điểm là tính thực hiện trực tiếp
Theo nguyễn cảnh toàn: Đừng nghĩ rằng mò mẫm thì có gì là sáng tạo, nhiều nhà khoa học lớn phải dùng đến nó, không dạy mò mẫm thì người thông minh nhiều khi phải bó tay chỉ vì không nghĩ đến hoặc không biết mò mẫm
Để trở thành nhà nghiên cứu, chuyên gia, người học giỏi toán thì các bạn cần phải biết dự đoán, mò mẫm và có khả năng phân tích tổng hợp các dữ liệu toán học 3.1.2.Nội dung của biện pháp
Từ những trực quan, hình tượng cụ thể mò mẫm nêu dự đoán rồi dùng các phương pháp tương thích phân tích, tỗng hợp để kiểm tra lại tính đúng đắn của các dự đoán đó
3.1.3.Yêu cầu khi vận dung biện pháp
Trang 11Quy đồng thu gọn lại ta tìm được x=1
Ta hỏi x=1 có phải là nghiệm không? Vì sao?
3.2.Biện pháp 2: Tập cho học sinh biết nhìn tình huống đặt ra dưới nhiều góc độ
khác nhau
3.2.1.Cơ sở khoa học của biện pháp
Thể hiện mối quan hệ biện chứng của cặp phạm trù nội dung và hình thức, với một nội dung có thể diễn tả dưới nhiểu hình thức khác nhau, chuyển từ hoạt động tư duy này sang hoạt động tư duy khác, nhìn đối tượng, vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau, nhìn trong mối tương quan với các hiện tượng khác nhau, từ đó có các giải quyết sáng tạo
3.2.2.Nội dung của biện pháp
Nhìn nhận vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau, giải quyết vấn đề dưới nhiều khía cạnh, biện luận diễn giải các khả năng xảy ra
3.2.3.Yêu cầu khi vận dung biện pháp
Qua phân tích các vấn đề, xuất hiện các trường hợp cần phải giải quyết
3.2.4.Ví dụ
Tính biểu thức: [( 20,83).0, 2 ( 9,17.0, 2)] :[2, 47.0,5 ( 3,53.0,5)]
Từ ví dụ này học sinh phải nhìn nhận dạng toán nhiều khía cạnh khác nhau để tính toán
3.3.Biện pháp 3: Tập cho HS biết giải quyết vấn đề bằng nhiều phương pháp khác
nhau và lựa chọn cách giải quyết tối ưu