CHƯƠNG I TỔNG QUAN VĂN HÓA ẨM THỰC Văn hóa ẩm thực là những gì liên quan đến ăn uống nhưng mang nét đặc trưng của mỗi cộng đồng cư dân khác nhau, thể hiện cách chế biến và thưởng thức các món ăn, uống khác nhau, phản ảnh đời sống kinh tế, văn hóa – xã hội của tộc người đó. Ẩm thực Việt Nam là cách gọi của phương thức chế biến món ăn, nguyên lỳ pha trộn gia vị và những thói quen ăn uống của người Việt trên đất nước Việt Nam. Mặc dù có sự khác biệt nhưng ẩm thực Việt Nam vẫn bao hàm ý nghĩa khái quát nhất để chỉ tất cả những món ăn phổ biến trong cộng đồng các dân tộc thiểu số nhưng đã tương đối phổ biến trong cộng đồng người Việt. CHƯƠNG II: TRÀ VIỆT NAM I. TỔNG QUAN VỀ TRÀ VIỆT NAM 1. Về nguồn gốc cây Chè Việt Nam Theo thư tịch cổ Việt Nam, cây chè đã có từ xa xưa dưới 2 dạng : cây chè vườn hộ gia đình vùng châu thổ Sông Hồng và cây chè rừng ở miền núi phía bắc. Cây chè Suối Giàng Lê Quý Đôn trong sách Vân Đài loại ngữ (1773) có ghi trong mục IX, Phẩm vật như sau: ... Cây chè đã có ở mấy ngọn núi Am Thiên, Am Giới và Am Các, huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hoá, mọc xanh um đầy rừng, thổ nhân hái lá chè đem về giã nát ra, phơi trong râm, khi khô đem nấu nước uống, tính hơi hàn, uống vào mát tim phổi, giải khát, ngủ ngon. Hoa và nhị chè càng tốt, có hương thơm tự nhiên... Năm 1882, các nhà thám hiểm Pháp đã khảo sát về sản xuất và buôn bán chè giữa sông Đà và sông Mê Kông ở miền núi phía Bắc Việt Nam, từ Hà Nội ngược lên cao nguyên Mộc Châu, qua Lai Châu; đến tận Ipang, vùng Xípxoongpảnnả (Vân Nam), nơi có những cây chè đại cổ thụ. Hàng ngày những đoàn thồ lớn 100200 con lừa, chất đầy muối và gạo khi đi và nặng chĩu chè khi về. Ipang nổi tiếng về chất lượng chè đạt mức ngự trà cống nộp .cho Hoàng đế Trung Hoa. Loại chè cao cấp này không bán ngoài thị trường..; và ai cũng cố giấu lại một phần nhỏ, mặc dù có nguy cơ bị trừng trị nặng nề. Tôi đã trông thấy một nắm chè loại này màu trắng ngà, bao gồm những cánh chè rất nhỏ và rất xoăn. Vùng đất đai của Đèo Văn Trị ở Lai Châu, là hàng xóm láng giềng gần gũi của Ipang, vùng Xíp xoongpảnnả Sau những chuyến khảo sát rừng chè cổ ở tỉnh Hà Giang Việt Nam (1923), và tây nam Trung Quốc (1926), các nhà khoa học Pháp và Hà Lan, đã viết ...những rừng chè, bao giờ cũng mọc bên bờ các con sông lớn, như sông Dương Tử, sông Tsi Kiang ở Trung Quốc, sông Hồng ở Vân Nam và Bắc Kỳ (Việt Nam), sông Mê Kông ở Vân Nam, Thái Lan và Đông Dương, sông Salouen và Irrawađi ở Vân Nam và Mianma, sông Bramapoutrơ ở Assam. Năm 1976, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, sau những nghiên cứu về tiến hoá của cây chè, bằng phân tích chất catésin trong chè mọc hoang dại, ở các vùng chè Tứ Xuyên, Vân Nam Trung Quốc, và các vùng chè cổ Việt Nam (Suối Giàng, Nghĩa Lộ, Lạng Sơn, Nghệ An...), đã viết : “… Cây chè cổ Việt Nam, tổng hợp các catêchin đơn giản nhiều hơn cây chè Vân Nam…. Từ đó có sơ đồ tiến hoá cây chè thế giới sau đây Camellia → Chè Việt Nam → Chè Vân Nam lá to → Chè Trung Quốc → Chè Assam (ấn Độ) Tóm lại, đến nay các nhà khoa học thế giới đã xác nhận : Đại thể cây chè phát nguyên từ một vùng sinh thái hình cái quạt, giữa các ngọn đồi Naga, Manipuri và Lushai, dọc theo đường biên giới giữa Assam và Mianma ở phía Tây, ngang qua Trung Quốc ở phía Đông, và theo hướng Nam chạy qua các ngọn đồi của Mianma và Thái Lan vào Việt Nam, trục Tây Đông từ kinh độ 95o đến 120o Đông, trục Bắc Nam từ vĩ đ 29o đến 11o Bắc.
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2CHƯƠNG I TỔNG QUAN VĂN HÓA ẨM THỰC
- Văn hóa ẩm thực là những gì liên quan đến ăn uống nhưng mang nét đặc trưngcủa mỗi cộng đồng cư dân khác nhau, thể hiện cách chế biến và thưởng thứccác món ăn, uống khác nhau, phản ảnh đời sống kinh tế, văn hóa – xã hội củatộc người đó
- Ẩm thực Việt Nam là cách gọi của phương thức chế biến món ăn, nguyên lỳpha trộn gia vị và những thói quen ăn uống của người Việt trên đất nước ViệtNam Mặc dù có sự khác biệt nhưng ẩm thực Việt Nam vẫn bao hàm ý nghĩakhái quát nhất để chỉ tất cả những món ăn phổ biến trong cộng đồng các dântộc thiểu số nhưng đã tương đối phổ biến trong cộng đồng người Việt
CHƯƠNG II: TRÀ VIỆT NAM
I. TỔNG QUAN VỀ TRÀ VIỆT NAM
1. Về nguồn gốc cây Chè Việt Nam
xưa dưới 2 dạng : cây chè vườn hộ gia đình vùng
châu thổ Sông Hồng và cây chè rừng ở miền núi
phía bắc
Cây chè Suối Giàng Lê Quý Đôn trong sách "
Vân Đài loại ngữ " (1773) có ghi trong mục IX,
Phẩm vật như sau:
" Cây chè đã có ở mấy ngọn núi Am Thiên, Am Giới và Am Các, huyện Ngọc Sơn,tỉnh Thanh Hoá, mọc xanh um đầy rừng, thổ nhân hái lá chè đem về giã nát ra, phơi trongrâm, khi khô đem nấu nước uống, tính hơi hàn, uống vào mát tim phổi, giải khát, ngủngon Hoa và nhị chè càng tốt, có hương thơm tự nhiên "Năm 1882, các nhà thám hiểm Pháp đã khảo sát về sản xuất và buôn bán chè giữa sông
Trang 3Đà và sông Mê Kông ở miền núi phía Bắc Việt Nam, từ Hà Nội ngược lên cao nguyênMộc Châu, qua Lai Châu; đến tận Ipang, vùng Xípxoongpảnnả (Vân Nam), nơi có nhữngcây chè đại cổ thụ.
" Hàng ngày những đoàn thồ lớn 100-200 con lừa, chất đầy muối và gạo khi đi và nặngchĩu chè khi về Ipang nổi tiếng về chất lượng chè đạt mức ngự trà cống nộp cho Hoàng
đế Trung Hoa Loại chè cao cấp này không bán ngoài thị trường ; và ai cũng cố giấu lạimột phần nhỏ, mặc dù có nguy cơ bị trừng trị nặng nề Tôi đã trông thấy một nắm chèloại này màu trắng ngà, bao gồm những cánh chè rất nhỏ và rất xoăn Vùng đất đai củaĐèo Văn Trị ở Lai Châu, là hàng xóm láng giềng gần gũi của Ipang, vùng Xípxoongpảnnả "
Sau những chuyến khảo sát rừng chè cổ ở tỉnh Hà Giang Việt Nam (1923), và tây namTrung Quốc (1926), các nhà khoa học Pháp và Hà Lan, đã viết " những rừng chè, baogiờ cũng mọc bên bờ các con sông lớn, như sông Dương Tử, sông Tsi Kiang ở TrungQuốc, sông Hồng ở Vân Nam và Bắc Kỳ (Việt Nam), sông Mê Kông ở Vân Nam, TháiLan và Đông Dương, sông Salouen và Irrawađi ở Vân Nam và Mianma, sôngBramapoutrơ ở Assam "
Năm 1976, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, sau những nghiên cứu vềtiến hoá của cây chè, bằng phân tích chất catésin trong chè mọc hoang dại, ở các vùngchè Tứ Xuyên, Vân Nam Trung Quốc, và các vùng chè cổ Việt Nam (Suối Giàng, Nghĩa
Lộ, Lạng Sơn, Nghệ An ), đã viết :
“… Cây chè cổ Việt Nam, tổng hợp các catêchin đơn giản nhiều hơn cây chè VânNam… Từ đó có sơ đồ tiến hoá cây chè thế giới sau đây " Camellia → Chè Việt Nam →Chè Vân Nam lá to → Chè Trung Quốc → Chè Assam (ấn Độ)"Tóm lại, đến nay các nhà khoa học thế giới đã xác nhận : Đại thể cây chè phát nguyên từmột vùng sinh thái hình cái quạt, giữa các ngọn đồi Naga, Manipuri và Lushai, dọc theođường biên giới giữa Assam và Mianma ở phía Tây, ngang qua Trung Quốc ở phía Đông,
Trang 4và theo hướng Nam chạy qua các ngọn đồi của Mianma và Thái Lan vào Việt Nam, trụcTây Đông từ kinh độ 95o đến 120o Đông, trục Bắc Nam từ vĩ đ 29o đến 11o Bắc.
2. Văn hóa uống trà
Trước kia trong quá trình phát triển chè ở Việt Nam, khoa học sản xuất chè thườngtách rời khỏi mặt giá trị văn hóa tinh thần của trà Từ 1997 việc tổ chức các hoạt động vềvăn hoá trà đã được các cấp, các ngành và dư luận cả nước hoan nghênh, vì văn hóa đảmbảo tính bền vững của xã hội, tính kế thừa của lịch sử và bảo tồn được bản sắc dân tộckhi hội nhập vào những cộng đồng lớn hơn Nghiên cứu văn hóa trà thế giới và ViệtNam cho thấy uống trà không những để thưởng thức những giá trị vật chất, mà còn đểhưởng thụ những giá trị tinh thần Trong tiến trình lịch sử, uống trà đã kết hợp với môitrường thiên nhiên, nghệ thuật gốm sứ, thi ca, vũ nhạc, hoa pháp, thư pháp, hội hoạ, kiếntrúc, tôn giáo Chính sự kết hợp hài hòa hai giá trị nêu trên trong văn hóa trà Trung Hoa,Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc và Việt Nam đã tạo nên sắc thái văn hoá nghệ thuật của
"chén trà phương Đông"
Trong văn hóa Việt Nam, trà có một vai trò quan trọng trong giao tiếp xã hội và điều tiếtmối quan hệ giữa con người với con người gọi là Trà lễ, Trà đức Trà có mặt trong giaolưu tình nghĩa ở ngày hội làng, đình đám, đưa đón khách thập phương về thăm quê nhà.Chén trà đã làm mọi người xích lại gần nhau, xua đi những mặc cảm, oán thù, mọi ngườichung sống nhân bản hơn Trà còn sử dụng như một phương tiện giao tiếp, trong biếuxén, quà tặng, lễ lạt, cầu phúc, cưới xin, ăn hỏi, thờ cúng Trà mở đầu buổi sáng và kếtthúc bữa ăn tối của mọi gia đình Việt Nam được coi là cái nôi của cây chè Phong tụcuống chè và sự phát triển của cây chè Việt Nam gắn liền với lịch sử phát triển của dântộc Người Việt xưa dù là sống trên núi cao, dưới đồng bằng châu thổ hay bên bờ biển,
dù là người sang, kẻ hèn tất thảy đều giữ một tập tục uống trà Đó là tập tục biểu thị sựtrân trọng, lòng hiếu khách Đằng sau tách trà nóng là biết bao điều được đề cập, thổ lộ
từ việc hệ trọng nhất đến bình dân nhất Tập tục uống trà của người Việt Nam thật đặcbiệt ở cách dâng mời và đầy ngụ ý Dù vui hay buồn, dù nắng hay mưa khách cũngkhông thể chối từ một chén trà nóng khi chủ nhà trân trọng dâng mời
3. Trà trong ca dao, dân ca việt nam
Trang 5Đã từ lâu, chè đi vào thơ ca Việt Nam như là một biểu tượng của tâm hồn người Việt,đậm nét bản sắc văn hoá Việt Nam:
“Chè ngon, nước chát xin mời Nước non non nước, nghĩa người chớ quên”
(Ca dao Việt Nam)Trong cuộc sống dù còn nghèo, nhà lá đơn sơ nhưng bát nước chè xanh thể hiện tấmlòng rộng mở, tình cảm hiếu khách của con người Việt Nam
“Nhà lá đơn sơ Tấm lòng rộng mở Nồi cơm nấu dở Bát nước chè xanh Ngồi vui kể chuyện tâm tình bên nhau”
(Thơ Hoàng Trung Thông)Uống trà là thú ăn chơi tao nhã như cái thú hút thuốc lào, chơi cây kiểng … Mà đa phầndành cho đấng nam nhi:
“Làm trai biết đánh tổ tôm Uống trà liên tửu ngâm nôm thúy kiều”
( ca dao bắc )Hay :
“Uống nước trà tàu Ngồi ghế trường kỉ”
(Tục ngữ)Trà có nguồn gốc bên tàu theo ông Phạm Đình Hổ (1768- 1840) trong “ Vũ Trung Tùy Bút” thì vào thế kỉ 18, trà tàu rất quí chỉ có những người thế tộc mới được uống trà tàu
Vì vậy cho nên người uống trà tới nay vẫn giữ phong cách tao nhã như kiểu thế tộc quýphái ngày xưa Thế mới có câu :
“Trà Tiên rượu Thánh Trà lầu, tửu quán”
(tục ngữ)
II. CÁC LOẠI TRÀ
Văn hóa trà Việt Nam với những nét đặc trưng và tinh túy riêng, đã đóng góp vàonền văn hóa trà thế giới Người Việt Nam luôn tự hào với công phu tẩm ướp, pha
Trang 6trà và thưởng thức trà Trà Việt Nam có thể được chia làm 3 loại: trà hương, tràmạn và trà tươi.
Đây là loại trà đặc trưng của Việt Nam vì người Việt Nam rất thích uống trà ướphương của các loài hoa như hoa lài, hoa sói, hoa sen, hoa ngâu, hoa cúc , thườngtrà được ướp hoa trước và đóng gói sẵn để dễ dùng Nói đến trà hương là phải nóiđến 3 loại trà hương rất đặc sắc: trà sen, trà ngũ hương và trà hoa sứ
• Trà sen:
Trà sen được sử dụng phổ biến từ lâu tại Việt Nam Đặc biệt cư dân Hà Nộiluôn tự hào với cách tẩm ướp, pha trà và thưởng trà của họ Trà sen trở thành mộttinh thần đặc trưng của văn hóa trà Việt Nam, mang trong đó nhiều triết lý, lịch sự
và lòng kính trọng
• Trà ngũ hương:
Là trà uống trong các dịp lễ tết, nhất là Tết Nguyên Đán Một khay trà đặc biệt
có 5 chỗ trũng, đặt vào 5 loài hoa bắt hương nhất là lài, sói, sen, ngâu và cúc.Tráng ly cho nóng và đặt úp lên các bông hoa, đợi một chút rồi lấy ly đó để thưởngthức trà
• Trà hoa sứ:
Hoa sứ không thể ướp trực tiếp vào trà như các loài hoa trong ngũ hương, chỉ
có thể thưởng hương bằng một ly nhỏ nóng úp lên hoa rồi dùng lý đó uống trà
2. Trà mạn
Trà mạn là trà không ướp hương, chú trọng đến sự tinh tế trong cách thưởngthức trà Trà mạn có những tiêu phức tạp về trà, nước pha trà, ấm uống trà, cáchpha trà và bạn thưởng trà Trà mạn có hai loại chính là trà Tàu và trà Thiền
• Trà Tàu:
Trang 7Ảnh hưởng nhiều từ tinh thần và phong cách của trà Trung Hoa, thườngdùng trà Trung Quốc, chuộng ấm đất Nghi Hưng và rất tỉ mỉ về cách để có chén tràngon.
cả làng Trà tươi là cách thưởng trà hun đúc tình xóm, làm người than thiện và gầngũi nhau
Dùng là trà tươi rửa sạch, cũng giống như cách pha trà khô khác bằng cáchhãm trà, tức là nước đun sôi rồi chế nước vào ấm Sau 3 – 5 phút là có thế có chéntrà ngon.nếu pha bằng cách cho là trà vào nồi đun sôi lên thì nước trà màu khôngđẹp và rất đắng
4. Trà ngày nay
Cùng với sự phát triển và hội nhập rộng rãi kinh tế xã hội, ngành chế biến tràtrong nước và thế giới cũng bung ra với những bước tiến ào ạt về số lượng và chấtlượng Khái niệm về trà hiện nay không còn bó hẹp trong phạm vi các lọai trà chếbiến từ cây chè
• Trà thảo dược
Được trưng dụng để bổ sung vào danh sách các loại trà đang có trên thị trường
Có thế ai đã phàn nàn rằng, mấy thứ cây cỏ đó làm lệch khái niệm tình khiết củatrà
Trang 8Trà thảo dược có công dụng chữa bệnh: trà đắng nhuận gan, trà khổ qua mátphổi, trà dây giảm béo, trà có ngọt tốt cho người bị tiểu đường, trà linh chi hạ thấpcholesterol trong máu,…
• Trà túi lọc
Là lọai trà đen xay thành bột, đựng trong những cái túi nhỏ Riêng việc tìm racông thức chế biến lọai túi này cũng mất nhiều công sức Túi lọc phải giữ đượchương vị trà, phải chống ẩm, chống mốc, chống thẩm thấu cho trà và hương liệu,lại phải bảo đảm an toàn
Để thỏa mãn thị hiếu khách hàng, cùng một lọai nguyên liệu, nhà sản xuất có thểđưa ra nhiều lọai sản phẩm trà khác nhau Ví dụ như trà actiso có hơn 10 lọai : tràhòa tan, trà túi lọc, trà bông actisô, trà rễ, trà khúc lát….Khối lượng, kiểu đónggói, bao bì, mẫu mã, phầm cấp …cũng đa dạng và phong phú phẩm Với chứcnăng “lọc”, khi pha, chỉ có trà tan vào nước, còn bã trà vẫn giữ nguyên trong túi.Mỗi túi trà có khối lượng 5 g, đủ cho một ly 100 – 200 ml, tùy khẩu vị từng người.Hiện nay trên thị trường, ngòai trà Lipton nhãn vàng nổi tiếng, các lọai trà thảodược khác như actiso, trà thanh nhiệt, trà linh chi v.v…đều là lọai trà túi
• Trà hòa tan:
Trà được xay thành bột, tinh chiết, lọai bỏ chất không tan rồi sấy khô, tẩm ướphương liệu, chất bảo quản, chất tạo vị…Mỗi gói trà có khối lượng từ 10 - 20 g.Thêm vào 100 – 200 ml nước sôi là có một ly trà : Trà chanh, trà gừng, trà xanh,trà chanh dây v.v…Tùy theo sở thích, khách hàng có thể chọn lọai trà có đườnghoặc không đường, trà nguyên chất hay ướp hương liệu, trà chanh hay trà thườngv.v
Ngòai ra, còn có trà giải cảm, trà thanh nhiệt, trà hà thủ ô… gồm một số vị thuốcnam thông dụng, có tác dụng chữa bệnh : trà giải cảm để giải cảm, trà thanh nhiệt
hạ huyết áp, trà hà thủ ô làm đen tóc
Trang 9Trà đá
Khó có thể xác định trà đá xuất hiện từ bao giờ, ở Việt Nam không có băngtuyết, và các dụng cụ sản xuất nước đá mới chỉ dần được phổ biến trong nhữngthập niên cuối thế kỷ 20 Nước chè nguội có lẽ được người dân sử dụng phổ biến ở
xứ nóng như miền Nam Việt Nam, trong khi người Hà Nội nói riêng và miền Bắcnói chung thường chỉ uống trà pha nóng (kể cả với mục đích giải nhiệt)
Đây cũng là do đặc tính khí hậu khiến cho văn hóa ẩm thực mỗi miền mỗikhác Khi các dụng cụ làm đá, như tủ lạnh, trở nên thịnh hành hơn thì thay vì trànguội, một số người đã bắt đầu đập nước đá vào cốc và rót nước chè vào để uốngcho mát, hình thành nên món trà đá mà "bản quyền" của sản phẩm chắc chắn thuộc
về miền Nam Việt Nam, cụ thể là ở Sài Gòn Bởi vì ở miền Nam do nhiều yếu tốnhư khí hậu, thời tiết, tác phong làm việc đã dẫn đến việc người ta cho thêm đávào cốc trà hằng ngày để tăng tính giải khát mà vẫn giữ được hương vị của trà
Trong khoảng những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ 20, trà đá bắt đầu xuấthiện trong văn hóa ẩm thực của người miền Bắc Việt Nam, đầu tiên ở Hà Nội,cùng với món nước mía Ban đầu nó không được ủng hộ mấy, thậm chí đã từng bịmột số báo chỉ trích rằng bản chất của chè đã lạnh, thêm đá vào uống có hại chosức khỏe vì dễ gây lạnh bụng Tuy nhiên, nó đã không mất nhiều sức thuyết phục
để ảnh hưởng đến giới trẻ bình dân (sinh viên) và người cần lao ngoại tỉnh về HàNội làm ăn Nnhững ngày nóng nực của mùa hè Bắc Bộ, sự ngột ngạt có thể đượcgiải tỏa lập tức bằng một cốc trà đá thật mát với giá rất rẻ, đã khiến trà đá ngàycàng phổ biến ở miền Bắc và ngày nay, việc vào quán nước ven đường gọi mộtcốc trà đá uống cho đỡ khát và giải nhiệt là một điều bình thường ở miền Bắctrong những ngày nóng nực của mùa hè Còn trong những ngày đông giá Bắc bộhiếm khi thấy các quán nước bán loại đồ uống này
III. TRÀ ĐỐI VỚI SỨC KHỎE
Trang 101. Tăng cường hệ thống miễn dịch và mắc bệnh ung thư
Trong trà có chứa catechin, một chất chống oxy hóa giúp tăng cường hệ miễndịch Vitamin H, còn được gọi là chất bioti có trong trà cũng hỗ trợ cho hệ thốngmiễn dịch
Ngoài ra, trà còn chứa flavonoid, một loại chất chống oxy hóa có tác dụngngăn chặn các tế bào gây hại, bệnh tim mạch, bệnh về da, và ngăn chặn tia cựctím
2. Ngăn ngừa sâu răng và chống hôi miệng
Hợp chất florua trong trà có tác dụng ngăn ngừa sâu răng Catechin và các chấtchống oxy hóa có thể tiêu diệt vi khuẩn giúp ngăn ngừa chứng hôi miệng
Trong trà còn có canxi và magie, hai chất này tác dụng với nhau có tác dụnglàm cho răng chắc khỏe
3. Giúp xương chắc khỏe
Vitamin D trong trà có tác dụng giúp xương chắc khỏe Ngoài ra, các axitamino giúp hình thành protein trong cơ thể có lợi cho cơ bắp, xương, da, tóc và cótác dụng chống lại các loại vi khuẩn, vi rút gây hại
4. Bảo vệ tim mạch
Chất chống oxy hóa có trong trà xanh giúp tăng tốc độ phục hồi các tế bào tim
và giảm thiểu đến mức tối đa tỷ lệ tử vong sau những cơn đau tim hoặc đột quỵ.Trà cũng có tác dụng làm giảm nguy cơ mắc bệnh mạch vành vì trong trà cóchứa nhiều chất chống oxy hóa, đặc biệt là chất flavonoid làm giảm lượngcholesterol trong thành động mạch Trà còn có chứa năng chống viêm và cải thiệnmạch máu
5. Ngăn ngừa lão hóa và làm sạch ruột
Vitamin E có tác dụng chống oxy hóa trong trà có tác dụng làm chậm quá trìnhlão hóa Catechin giúp tiêu diệt vi khuẩn vi khuẩn trong ruột, duy trì một hệ thốngmiễn dịch khỏe mạnh và ngăn ngừa các bệnh như viêm loét dạ dày và xơ cứngđộng mạch
Trong trà có có chứa tannin giúp ngăn ngừa đau dạ dày và làm sạch đườngruột
6. Giảm lượng mỡ trong cơ thể
Catechin là chất chống oxy hóa có nhiều nhất trong trà xanh và trà đen có tácdụng giảm béo, nhất là béo bụng
Trang 11Trong đường tiêu hóa, catechin có tác dụng làm giảm sự hấp thu chất béo trongchế độ ăn uống bằng cách làm giảm khả năng hấp thụ của cơ thể xuống Catechincũng có tác dụng “đốt mỡ” trong cơ thể bằng cách kích hoạt các enzyme nhằmchuyển hóa lượng chất béo dự trữ.
7. Tăng cường trí nhớ và giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer
Chất chống oxy hóa EGCG (Epigallocatechin – 3 – gallate) có trong trà xanhgiúp bảo vệ não bộ chống lại bệnh Alzheimer EGCG có tác dụng làm giảm quátrình tạo ra một loại protein có tên beta amyloid, là nguyên nhân gây ra các mảng
Triết lý trong đạo trà
− Uống từ từ dành thời gian ngẫm về cuốc sống
− Mang lại sự bình yên, thanh thản cho người uống trà; sự êm dịu của tâm hồn và
sự khỏe mạnh của thể xác
− Trà đạo giúp cho con người nhận ra những bất ổn và ổn định trạng thái bất anmột cách nhanh nhất
− Muốn chú trọng đến sự sạch sẽ, nhất là tính cẩn trọng, tính trật tự, tính kiênnhẫn,… không gì tốt hơn bằng cách ngồi lại uống một chén trà
− Nói đến Trà đạo là nói đến Thiền Và “ khi đã xem trà Đạo là một phươngtir65n để tập tu Thiền, chúng ta nên biết qua bốn đức tính cao quý của Trà đạo,
đó là: Hòa, Kính, Thanh, Tịch Bốn đức tình này được xem là tinh thần mấuchốt của nghệ thuật Trà đạo”
− Triết lý của Trà đạo là triết lý của “Đạo sống”, là những lý luận về những diễnbiến tâm linh có đích đến, một cách chặt chẽ và có hệ thống Hàm ẩn ở đó sựvận dụng tâm nhẫn nại, tâm lặng lẽ, tâm tĩnh giác, để mỗi người tự thông vàthể hiện sự cộng đồng giữa con người và thế giới xung quanh
IV. SO SÁNH CÁCH UỐNG TRÀ XƯA VÀ NAY
TRÀ XƯA
1. Cách pha trà
Hồi xưa ông bà mình ở miệt vườn, nấu nước pha trà bằng cái siêu, làm bằngđất nung Cái siêu còn dùng làm sắc thuốc Bắc, thuốc Nam rất gần gũi với các bà,các cô nội trợ
Nước nấu bằng siêu, trước khi sôi có phát ra tiếng kêu gọi là “kêu siêu” nhưbáo trước nước sắp sôi Thuở xưa, người mình xài rơm, củi để nấu bếp, nên có rátnhiều khói Nuấ nướcp ha trà phải biết ý chớ không nước bị “hôi khói”
Trang 12Trà vào Việt Nam tạo ra phong cách uống trà Việt khác người Tàu mà có ngườigọi là “Trà đạo Việt” Cái trà đạo Việt thể hiện qua cách pha trà, rót trà, dụng cụuống trà đến khung cảnh uống trà,…
Với người Hà Nội, uống trà là một thú chơi thanh đạm Pha cho mình cũngnhư pha trà mời khách, người ta phải để vào đó nhiều công phu Những côngphu đó, dần trở thành lễ nghi Trong ấm trà ngon, người ta thấy phảng phất mộtmùi thơ và một vị triết lý Các trà nhân từ xưa rất chú ý đến nghệ thuật thưởng tràvới nhiều loại trà cụ(dụng cụ pha trà) cần thiết để làm sao cho người uống cũng cóthể cảm nhận và thể nghiệm giống như các thiền sư Dùng thìa gỗ múc trà chovào ấm đất nung nhỏ,được gọi là “Ngọc diệp hồi cung”
Để có được chén trà ngon thì bình trà và tách uống trà phải được làm nóng lênbằng nước sôi Trà cụ dùng để xúc trà, lấy bã trà đều bằng tre khô hoặc gỗ thơm.Khi châm nước lần một gọi là “cao sơn trường thuỷ” rồi chắt ngay ra Đây là thaotác tráng trà nhằm loại hết bụi bẩn và cho trà khô kịp thấm không nổi lềnh bềnh.Lần thứhai đổ nước vào ấm gọi là “hạ sơn nhập thuỷ” nên đổ nước cao, tràn miệngbình đển khi đậy nắp lại, bụi trà tràn ra hết, rồi dội nước sôi lênnắp để giữ nhiệt độ cao nhất cho ấm trà Nước hai chính là nước ngon nhất đượctạo ra trong vòng 1-2 phút, có hương vị đượm đà, thơm tho quyến rũ Khi rót tràphải chuyên đều các chén sao cho nồng độ trà như nhau bằng cách kê khít miệngchén lại và đưa vòi ấm quay vòng (Cách phổ biến trong truyền thống là rót rachén tống (chén hạt mít) rồi chia đều ra các “chén quân” Cách này ngày nay ítdùng vì phần làm nguội trà, phần hương trà phôi pha
Pha trà là một nghệ thuật Chọn ấm, chọn trà đã đành mà còn phải kén cả nước.Thường thì nên dùng nước lọc hoặc nước suối Còn nước cất thì người ta chê nhạt.một nguyên tắc chung là lục trà hay ô long dùng ấm nhỏ, chỉ có hồng trà mới dùng
ấm lớn Ấm nhỏ hãm màu mau, độ ủ trà càng cao càng để lâu
Trang 13Bước 2: Cho trà vào ấm Số lượng trà tùy thuộc vào khẩu vị của từng người
thích trà đậm hay nhạt và số lượng người thường thức trà (Độc ẩm, Nhị ẩm, Tam
ẩm hay Quần ẩm)
Bước 3 (tẩy sạch bụi bẩn): Rót nước sôi (từ 90 – 950) săm sắp vào trà và đợi 5giây sau đó rót trà đó vào bát loa để chén để tạo mùi hương trà cho chén
Bước 4 (Ủ trà): Rót nước sôi hai lần vào trà trong ấm Lượng nước tùy thuộc
vào số lượng người uống và mong muốn độ đậm nhạt của trà Trong lúc đợi trà,rót nước sôi vào chén trong bát loa Đợi 3 đến 4 phút trà tan ta gắp chén ra đĩa.Chú ý trong lúc đợi trà tan ta thường xuyên dội nước sôi kên ấm trà để giữ nhiệtcho ấm trà
Bước 5 (Rót trà ra chén): Ta nên rót đếu vòng tròn không nên rót từng chén
một, nếu rót từng chén một thì độ đậm nhạt các chén trà khác nhau Rót từng tímột, rót từng tí một để cho vụng trà k ra cùng, không rót đầy chén trà, chỉ nên rót
½ đến 2/3 chén trà, hết ta lại rót tiếp
Bước 6 (Thưởng thức trà): Cầm chén trà lên trong long bàn tay truyền từ tay
phải sang tay trái để cảm nhận độ ấm của chén trà và cảm nhận mùi hương của tràtỏa ra Trước khi uống hãy cảm nhận mùi của chén trà bằng cách đưa nhẹ chén tràqua mũi, hít vào nhẹ nhàng và nhâm nhi từng ngụm trà nhỏ Trà ngon là chén tràkhi uống vào sẽ có vị chat sau đó khi nuốt rồi cảm thấy vị ngọt
Trang 14 Triết lý âm dương ngũ hành trong trà cụ:
Âm và dương vốn là hai trạng thái của những phần tử vật chất trong vũ trụ.Những phần tử này dười sự thúc đẩy của lý cấu hiệp với nhau sinh ra ngũ hành,còn gọi là ngũ đế gồm: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ Ngũ hành chia ở bốn phương vàtrung tâm, trong đó:
- Kim ở phía Tây
- Mộc ở phía Đông
- Thủy ở phía Bắc
- Hỏa ở phía Nam
- Thổ ở trung tâmTrong trà cụ mỗi chi tiết đều thể hiện tính âm dương ngũ hành Torng đó:
Một bộ trà thường có 4 chén quân, một chén tống để chuyên trà: chén thường
là loại chén hạt mít (mắt trâu) Bình cũng có bình chuyên và bình tống Tùy theolối uống “độc ẩm”, “song ẩm”, hay “quần ẩm” mà có những loại bình tương ứng.Trước khi pha trà phải dùng nước sôi để tráng sơ chén và bình
Tuy nhiên cái bình uống trà ở miệt vườn xưa rất lớn, chứa hơn một lít nước, cótráng men và vẽ hoa văn, hình bát tiền … rất phổ biền đến nay Cho vào bìnhnguyên một gói trà, châm hết một siêu nước thì vừa đầy cái bình, bình này người
ta gọi là cái “bình tích” trà Độc đáo hơn là bình trà được đặt vào tring vỏ dừa khô,
để giữ nòng lâu
2. Cách uống trà
Pha trà xong thì rót ra hết, không để nước thừa vào trong ấm trà, vì nước sẽlàm chín trà, có thể làm úng trà trong ấm Nếu muốn uống trực tiếp thì rót nướcvào
Trang 15Dâng chén trà theo đúng cách là ngón giữa phải đỡ lấy đáy chén, ngón chỏ vàcái đỡ miệng chén gọi là “Tam long giá ngọc” Người dâng trà và người nhận đềuphải cung kính cúi đầu Trước khi uống, đưa chén trà sang tay trái, mắt nhìn theo,sau đó đưa sang phải “du sơn lâm thuỷ” Khi uống, cầm chén trà quay lòng bàn tayvào trong, dâng chén trà lên sát mũi để thưởng thức hương trà trước, sau đó tayche miệng nháp nháp từng ngụm nhỏ nhẹ Tay áo các quan lại phong kiến thườngrất rộng cũng một phần vì lẽ dùng che miệng khi uống trà là vậy Che miệngkhi ăn, uống, cười trong chèo, tuồng, trong đời sống người Việt xưa chính là mộthành vi văn hoá Người uống cũng phải chậm rãi mím miệng nuốt khẽ cho hươngtrà thoát ra đằng mũi vàđồng thời đọng trong cổ họng, nuốt tý nước bọt lần một,lần hai, lần ba để cảm nhận.
Ngoài cách uống trà trong gia đình, người Hà Nội xưa còn có các hình thứcHội trà, uống trà thưởng hoa đầu năm, uống trà thưởng hoa quý và uống tràngũ hương Trong đó, hội trà là hình thức tụ họp cùng thưởng trà khi có trà ngonhay dịp đặc biệt của các cụ Thưởng trà đầu xuân là thói quen của riêng các bậc taonhân chốn kinh thành xưa Thường thì trước Tết, đích thân các cụ đi chọn muahoa đào, cúc, mai trắng, thuỷ tiên ở tận vườn, chuẩn bị loại trà ngon nhất Sángmùng một, con cháu dành riêng cho cụ những giây phút đầu tiên để tịnh tâm vàngắm hoa, thưởng trà, sau đó mới là cả đại gia đình cùng ngồi quanh bàn trà chúcthọ cụ và nghe lời dặn dò
Uống trà thưởng hoa quý như hoa quỳnh, hoa trà cũng là cái thú của nhiềungười Tràng An Đó cũng là hình thức hội trà quanh chậu hoa quý vào tối hoa mãnkhai của những người cao tuổi, đàm đạo thế sự, văn chương và dặn dò lớp concháu
3. Không gian uống trà
Ngoài những không gian chính yếu như bếp núc, phòng ngủ, tiếp khách…không gian ẩm thực trong ngôi nhà Việt xưa nay còn tồn tại hình thức thưởng trà
Trang 16(nơi uống trà, nói chuyện, thư giãn vào buổi sớm hoặc chiều tối) mang đặc trưngvăn hóa Việt rất riêng mà cuộc sống hiện đại, ngôi nhà hiện đại nhiều khi bỏ quamột cách đáng tiếc Thực ra, góc thưởng trà là một vị trí giao hòa âm dương, tĩnhđộng khá linh hoạt và đem lại nhiều ích lợi về gia tăng đáng kể sinh khí cho nộithất.
Tùy theo từng gia đình, cấu trúc cụ thể mà vị trí góc thưởng trà có thể cố địnhhoặc không Mưa thuận gió hòa thì ngồi bên hiên, trong sân, nơi giếng trời có mái
dù che, chòi nghỉ nhẹ, ung dung thoải mái Còn khi mưa tạt gió hắt oi bức khóchịu thì lùi vào bên trong, cạnh bàn thờ gia tiên, kết hợp bàn ăn gia đình hay bàntiếp khách là vị trí lý tưởng để thưởng trà
Chính tính linh hoạt này khiến góc thưởng trà Việt không cố định hình thức,không bị đóng khung trong trà thất, đồng thời tạo ra một không gian mang tínhnghỉ ngơi có kèm theo ẩm thực
Tiêu chí phong thủy cơ bản nhất là cần gắn kết góc thưởng trà với một khoảngthiên nhiên (nhìn ra sân vườn, hồ cảnh) hoặc nhân tạo (tranh ảnh, tủ trưng bày…),mang tính Thổ trung hòa là chính Một số gia đình kết hợp nơi trà đàm với phòngsinh hoạt chung hoặc phòng khách, nhà khác lại sử dụng hàng hiên hoặc sân trong,thậm chí có khi là một khoảng ban-công hay hành lang nối giữa các phòng Dù bốtrí tại đâu, không gian trà đàm cũng cần giữ tính trung dung vừa phải, đơn giản làtốt nhất
Trang 17Người Việt uống trà luôn có bạn Bạn đối ẩm hữu hình và bạn vô hình, đó là cỏcây, tiếng chim hót hay cành sen mới nở Có 3 đặc tính không gian trà Việt cần xáclập để bố trí phù hợp, đó là:
- Không gian mở: mở của lòng người và mở của cung cách đón tiếp, tức là cóthể tùy nghi thay đổi đem lại cấu trúc linh hoạt theo tinh thần kiến trúc hiệnđại: vật liệu xanh, tiết kiệm và thuần chất
- Không gian tĩnh: uống trà không thể ồn ào, không thể vừa hát karaoke, nhảytheo hip hop vừa nhấp ngụm trà Chẳng cần bít bùng trà thất thâm nghiêm,nhưng phải giữ được chút lặng lẽ, tinh sạch cho tâm hồn
- Không gian mộc mạc: chỉ với những vật liệu thân thiện như tre-gỗ-gạch-gốmthì vẫn đủ độ ấm nồng hơn rất nhiều những chất liệu hiện đại mà lạnh Chẳngcần tinh xảo chăm chút như những đầu cột khung cửa, mà cũng không đến mứcquá thâm u hoài niệm hay rực rỡ sắc màu trang trí lòe loẹt Một bàn thấp, ghếnhẹ, cửa rộng, trần cao, ánh sáng ít mà chắt lọc, và không thể thiếu ánh sáng tựnhiên, gió tự nhiên, nắng tự nhiên Nếu trời trở lạnh, đêm ùa tới, thì nhữngngọn đèn lồng, ánh sáng vàng ít trang điểm cũng đủ sức làm tăng phần ấm áprồi
Từ một góc thưởng trà Việt giản dị, có thể thấy yếu tố phong thủy trong khônggian Việt thiên về sự thiết thực, tiết giảm và thân thiện, khác hẳn với các bài trí xahoa và mê tín Giao hòa Thiên – Địa – Nhân, đó là đích đến của nghệ thuật bài trínhà cửa hợp trời đất, hợp lòng người
4. Đối tượng thưởng thức
Bạn trà là người tri âm, cùng nhau thưởng trà, ngâm thơ, bộc bạch nỗi niềm,hay bàn chuyện gia đình, xã hội, nhân tình thế thái để cảm thấy trong trà có cảhương vị của đất trời, cỏ mây
Nếu trà dùng khi nhất ẩm (uống trà một mình) là lúc người đó đang nhâm nhilẩm nhẩm thi thơ ôn luyện, nếu song ẩm (hai người uống trà) thì cùng cởi mở vănbài tiêu dao, thậm chí hưng phấn cùng cầm kỳ thi họa và cùng nhau thưởng thứctiếng oanh nỉ non ngoài vườn Trà cũng như người bạn tâm giao của con người khi
có tâm sự, giúp cho người ta nhớ đến tri ân, tri kỷ hoặc suy ngẫm về người, vềmình, về nhân tình thế thái những năm tháng qua Khi giận dữ không ai tự pha
Trang 18được ấm trà ngon, chỉ sau khi nguôi ngoai người ta mới có thể ngồi uống trà nhưmột cách thiền “chánh niệm” vậy.
TRÀ NAY
1 Cách pha trà
Nhắc tới uống trà, người ta thường nghĩ tới thú vui tao nhã và thâm thúy dànhriêng cho các bậc bô lão thời xưa Cuộc sống hiện đại ngày nay với bao tất bậtcuốn phăng những thói quen truyền thống, thật quá khó và mất thời gian đểthưởng trà vào buổi sớm mai hay cùng với bạn tâm giao, tri âm, tri kỷ bàn chuyệnvăn chương kim cổ, suy thịnh việc đời Nhưng ngày nay, giới trẻ chẳng đợi đến giàmới uống trà mà hào hứng thưởng trà theo cách riêng của mình với bộ dụng cụpha trà Thường cách uống trà pha bằng bộ dụng cụ hay các gói trà công nghiệp sẽkhông mất quá nhiều thơi gian để pha nhưng vẫn mang lại một ấm trà ngon Thếnhưng, chính sự tiện lợi như thế mà văn hóa uống trà nagy ngay không được phổbiến như ngày xưa
đồ ăn nhẹ kèm với trà: kẹo lạc, kẹo vừng thanh, kẹo cu đơ, bánh cốm, bánh đậuxanh Đặc biệt, trong thời kì hội nhập, có nhiều loại thức uống của phương Tâytràn vào Việt Nam nhưng những quán trà đá vẫn thu hút giới trẻ Điều ấy chứng tỏsức hút của thứ đồ uống đặc biệt này
3 Không gian uống trà
Hiện nay, ở Việt Nam xuất hiện rất nhiều quán với nhiều loại trà và nhiều cáchthưởng trà Những quán trà này mang không khí hoài cổ và yên tĩnh, mỗi quán cóphong cách của riêng, là nơi bạn bè, đồng nghiệp, những người yêu nhau đến
Trang 19thưởng trà Đặc biệt, nó cũng chính là nơi lưu giữ và truyền bá văn hóa trà, nghệthuật thưởng thức trà của những người Việt Nam Ở những quán trà hiện nay có sửdụng những loại trà được ướp hương hoa pha chế thành trà hoa có hương thơmđặc trưng của loài hoa đó Cũng có các loại trà thảo mộc, thường được chia ra làmbốn vị: ngọt, cay, đắng, chát.
Đến với các quán trà Việthiện nay, người thưởng trà có rất nhiều sự lựa chọn như: trà hoa cúc, trà cung đình,long nhã hồng táo trà, trà hoàng thiên kim cúc Các loại trà được pha theo nhiềukiểu khác nhau, để phù hợp và theo kịp với cuộc sống hiện đại, đó là các loại như:hồng trà nóng, hồng trà đá, hồng trà sữa, hồng trà sữa ngọc trai Và không thểthiếu các loại trà cổ truyền như: trà hoa sen, trà hoa nhài, trà mộc
Trước kia, trà được xem là thú vui tao nhã của những người lớn tuổi, nhưnghiện nay trà đang rất được giới trẻ quan tâm và tìm hiểu về nó Những quán trà nàycũng thu hút rất nhiều khách quốc tế tới thưởng thức Không gian tại các quán tràViệt được rất yên tĩnh, cách bài trí đơn gian, gần gũi với thiên nhiên Một khônggian yên tĩnh, những bản nhạc không lời du dương là một không gian phù hợp đểthưởng trà
4 Phong cách uống trà
Phong cách uống trà của người Việt Nam rất đa dạng không theo chuẩn mựcnào, biểu hiện đầy đủ khía cạnh ngôn ngữ sâu xa trong văn hóa ứng xử đầy tính
Trang 20sáng tạo của người pha trà và người được mời uống trà đã được nâng lên bậc nghệthuật pha trà và văn hóa uống trà Những người hiểu biết về văn hóa uống trà,nghệ thuật pha trà của người Việt Nam thì không bao giờ chịu ảnh hưởng chút nàocủa người Trung Quốc, Hàn Quốc, càng không giống trà đạo của người Nhật Bản.
Có thể khẳng định ở Việt Nam không có trà đạo mà chỉ có nghệ thuật uống trà.Nghệ thuật uống trà phản ánh phong cách văn hóa ứng xứ của người Việt Nam.Trong goa đình truyền thống, người nhỏ pha trà cho người lớn, phụ nữ pha trà mờicác quý ông Người ta có thể uống trà trong yên lặng suy ngẫm như để giao hòavới thiên nhiên