1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " So sánh cách biểu đạt ý nghĩa bị động trong hai ngôn ngữ: Pháp và Việt " pptx

15 585 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 337,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mục đích đó, bài viết sẽ xem xét một cách cụ thể các vấn đề về cấu trúc, ý nghĩa và vai trò của dạng bị động để trả lời câu hỏi đâu là những cấu trúc phổ biến nhất trong tiếng Pháp v

Trang 1

247

So sánh cách biểu đạt ý nghĩa bị động trong hai ngôn ngữ:

Pháp và Việt Đinh Hồng Vân*

Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Pháp, Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN,

Phạm Văn Đồng, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

Nhận ngày 10 tháng 11 năm 2007

Tóm tắt Kết quả nghiên cứu t-rên lý thuyết cũng như khảo sát ngữ liệu cho thấy ở cả hai ngôn ngữ

Pháp và Việt đều có những phương tiện biểu đạt ý nghĩa bị động với những đặc thù riêng của mỗi ngôn ngữ Việc thể hiện ý nghĩa bị động trong tiếng Pháp phổ biến hơn trong tiếng Việt Tuy nhiên, lối nói tiếp thụ-bị động hay nói cách khác là việc xử dụng các cấu trúc để biểu đạt ý nghĩa bị động đang có xu hướng gia tăng trong tiếng Việt và đi kèm với xu hướng này là sự xuất hiện của một số cấu trúc mới được dùng để thể hiện ý nghĩa bị động Nguyên nhân có thể là do ảnh hưởng của giao thoa ngôn ngữ qua tiếp xúc và dịch thuật Một trong những biện pháp có thể giảm bớt khó khăn của người Việt Nam học tiếng Pháp khi phải sử dụng dạng bị động là tăng cường việc hướng dẫn người học chủ động so sánh đối chiếu dạng bị động tiếng Pháp với lối nói tiếp thụ-bị động tiếng Việt

Theo các nhà nghiên cứu, ý nghĩa bị động

tồn tại ở hầu hết các ngôn ngữ, sự khác biệt là

ở cách biểu đạt ý nghĩa này Một trong những

phương tiện thường được sử dụng để biểu

đạt ý nghĩa bị động là dạng bị động Đối với

các ngôn ngữ châu Âu thì dạng bị động là

một hiện tượng quen thuộc nhưng cho đến

hiện nay vẫn còn có nhiều quan niệm khác

nhau về dạng bị động nói chung và dạng bị

động trong tiếng Pháp nói riêng Trong tiếng

Việt thì đây là một hiện tượng ngữ pháp

đang phát triển vì vậy cách quan niệm về

dạng bị động trong ngôn ngữ này còn rất

E-mail: dhvan2001@gmail.com

khác biệt: có quan niệm cho rằng tiếng Việt không có dạng bị động, có quan niệm cho rằng trong tiếng Việt có tồn tại dạng bị động Khi học tiếng Pháp hay khi phải chuyển dịch giữa hai ngôn ngữ này, người Việt Nam không khỏi lúng túng

Tuy nhiên, mục đích của bài viết này không phải là để bàn về sự tồn tại hay không tồn tại của dạng bị động mà chỉ thử tìm hiểu,

so sánh cách biểu đạt ý nghĩa bị động trong tiếng Pháp và trong tiếng Việt Với mục đích

đó, bài viết sẽ xem xét một cách cụ thể các vấn đề về cấu trúc, ý nghĩa và vai trò của dạng bị động để trả lời câu hỏi đâu là những cấu trúc phổ biến nhất trong tiếng Pháp và trong tiếng Việt thường được dùng để biểu đạt ý nghĩa bị động? Bài viết này cũng sẽ dựa trên một số văn bản đã được dịch từ tiếng

Trang 2

Pháp sang tiếng Việt để có thể tìm hiểu về

những phương tiện tương đương cho phép

chuyển dạng bị động từ tiếng Pháp sang

tiếng Việt

2 Những quan niệm chung về dạng bị động

Dạng là gì? Theo quan niệm chung, dạng

là một phạm trù được dùng trong việc mô tả

cấu trúc câu hoặc mệnh đề chủ yếu liên quan

đến động từ, để thể hiện cách mà các câu có

thể lựa chọn mối quan hệ giữa chủ ngữ và bổ

ngữ của động từ, mà không làm thay đổi

nghĩa của câu Phạm trù dạng được thể hiện

bằng những hình thức khác nhau tùy theo

từng ngôn ngữ Chẳng hạn như ở tiếng

La-tinh, dạng được thể hiện bằng hình thái của

động từ Ví dụ như với động từ "yêu,

thương", cùng được chia ở thức chỉ định, thì

hiện tại nhưng có hình thức khác nhau ở

dạng chủ động và ở dạng bị động :

Dạng chủ động Dạng bị động

amo amor

amas amaris

amat amatur

amamus amamur

amatis amamini

amant amantur

Trong khi đó ở tiếng Pháp hoặc tiếng Anh

thì lại không có hình thái riêng biệt cho dạng

bị động, dạng này được thể hiện bằng sự kết

hợp giữa trợ động từ être, trong tiếng Pháp, to

be, trong tiếng Anh, với phân từ quá khứ Ví dụ:

- Jacques a surpris le voleur (Jacques đã bắt

gặp tên trộm.)

- Un voleur a été surpris par la police… (Tên

trộm đã bị công an bắt quả tang.)

- Millions of people have read that book

(Hàng triệu người đã đọc cuốc sách này.)

- That book has been read by millions of people (Cuốn sách này đã được hàng triệu người đọc)

Chẳng hạn như ở tiếng La-tinh, dạng được thể hiện bằng hình thái của động từ, trong khi đó ở tiếng Pháp thì lại không có hình thái riêng biệt cho dạng bị động, dạng này được thể hiện bằng sự kết hợp giữa trợ

động từ être với phân từ quá khứ Dạng bị

động là một hiện tượng ngữ pháp phổ biến ở nhiều ngôn ngữ Song, mỗi trường phái ngữ pháp đều có cách quan niệm riêng về hiện tượng ngữ pháp này

Trong ngữ pháp truyền thống, dạng bị động được coi là một phạm trù hình thái học thuần tuý Có thể đây là do chịu ảnh hưởng của cách quan niệm ở các ngôn ngữ như tiếng La-tinh hoặc Hy-lạp G Mauger [1], p.199] đã xếp dạng bị động vào mục chia động từ của tiếng Pháp Trong ngữ pháp ngữ pháp cải biến-tạo sinh, dạng bị động được coi là một hiện tượng ngữ pháp phổ quát gắn liền với phép cải biến bị động hay quá trình bị động hóa N Chomsky [2, p.88] câu bị động là kết quả của sự cải biến từ các câu chủ động tương ứng Theo quan niệm loại hình học cú pháp thì dạng bị động gắn liền với sự phân biệt về loại hình học cú pháp điển hình giữa các ngôn ngữ "thiên chủ ngữ" và các ngôn ngữ "thiên chủ đề" Sự phân biệt này do Ch

N Li và S A Thompson [3] đề ra lần đầu tiên

năm 1976 trong công trình "Subject and topic: a new typology of language" Theo các tác giả này,

bị động là một hiện tượng ngữ pháp điển hình của ngôn ngữ thiên chủ ngữ Ngữ pháp ngữ nghĩa - chức năng muốn kết hợp cả hai cách quan niệm của ngữ pháp cải biến -tạo sinh và loại hình học cú pháp để phân tích hiện tượng bị động Các tác giả thuộc trường phái này (Givón, Dixon, Palmer) cho rằng bị động là một hiện tượng ngữ pháp vừa có tính phổ quát vừa có tính loại hình: tính phổ quát

Trang 3

được thể hiện qua các đặc điểm ngữ

nghĩa-chức năng của dạng bị động, còn tính loại

hình được thể hiện qua các đặc điểm hình

thái cú pháp Do vậy, dạng bị động được

được phân tích trên cả ba phương diện Về

dụng học, dạng bị động được dùng để tránh

nêu tác thể, tập trung mô tả kết quả của hành

động và để thiết lập liên kết chủ đề Về cấu

trúc ngữ nghĩa, từ chủ động sang bị động thì

sẽ có một sự thay đổi về ý nghĩa do có một sự

thay đổi của các tham tố ngữ nghĩa cơ bản là

tác thể, đích thể và động từ Về hình thái cú

pháp, chủ ngữ của câu bị động biểu hiện đích

thể, còn thì tác thể thì bị tỉnh lược, nếu xuất

hiện thì thường đi sau một giới từ (by, par) và

giữ vai trò bổ ngữ chỉ tác nhân; động từ thì biến

từ hình thái diễn đạt hành động thành hình

thái thể hiện trạng thái của đích thể chủ ngữ

3 Những lý luận phổ biến liên quan đến

dạng bị động của tiếng Pháp

Nhìn chung, dạng bị động tiếng Pháp

được định nghĩa là sự đối lập với dạng chủ

động trên ba khía cạnh: sự hoán đổi vị trí

giữa chủ ngữ và bổ ngữ trực tiếp; sự thay đổi

của động từ; ở dạng bị động, động từ được

chia với trợ động từ "être"; sự hiện diện của

một giới từ (PAR hoặc DE) trước bổ ngữ chỉ

tác nhân Thường thì bổ ngữ chỉ tác nhân bị

tỉnh lược Cho đến nay, có ít nhất là năm cách

định nghĩa khác nhau về dạng bị động dựa

trên: nghĩa; hình thái; cú pháp; cả nghĩa lẫn

hình thái; cả hình thái lẫn cú pháp

3.1 Định nghĩa dựa trên ngữ nghĩa

Các nhà ngữ pháp thường đối lập dạng

chủ động, khi chủ ngữ thực hiện hành động,

với dạng bị động, khi chủ ngữ chịu sự tác

động của hành động Theo R L Wagner et J

Pinchon [4, p 46]: "Dạng bị động là dạng có chủ ngữ của động từ thể hiện đối tượng của hành động (tức là bổ ngữ chỉ đối tượng ở dạng chủ động)" Cách định nghĩa này đã bị phê phán

từ lâu, vả lại chính các tác giả thuộc trường phái này cũng đã chỉ ra những hạn chế của

nó Họ cho rằng cách định nghĩa này chỉ để đối lập các nghĩa khác nhau của bản thân một

động từ

3.2 Định nghĩa dựa trên hình thái

Dạng bị động được coi là một dạng thức của động từ và được đối lập với dạng chủ động Theo G MAUGER, một tác giả tiêu

biểu của cách định nghĩa này: "Tiếng Pháp không có dạng bị động đặc thù Chính sự kết hợp của trợ động từ être với phân từ quá khứ đóng vai trò của dạng bị động." [1], p 199] Thực

chất, quan niệm này chỉ xét trên phương diện thuần tuý hình thức, cơ bản dựa vào phép biến đổi dạng động từ chủ động sang bị động Vì thế nó dễ được người học tiếp thu,

áp dụng phép chuyển đổi Song hạn chế của quan niệm này là làm cho họ thường tiếp thu một cách máy móc, nhiều khi đưa ra những câu bị động khó chấp nhận trong tiếng Pháp:

"*La ville est traversée par une grande voiture" (*Thành phố bị đi xuyên qua bởi một chiếc ô tô to)

Mặt khác, cách quan niệm này có thể bị phản bác cả trên hai phương diện Về mặt hình thức, không thể chỉ có sự thay đổi về hình thái của động từ mà không có những thay đổi khác trong câu; cần phải thấy dạng bị động là một hiện tượng liên quan đến cả câu Về mặt

ngữ nghĩa, việc phân biệt thực hiện và chịu đựng hành động cũng không đủ vì có nhiều

câu thực sự là câu chủ động nhưng chủ ngữ lại thực sự chịu tác động Như vậy, hình thái

có thể là một điều kiện cần nhưng chưa phải

là một điều kiện đủ để xác định dạng bị động

Trang 4

3.3 Định nghĩa dựa trên cú pháp

Theo tinh thần của lý thuyết ngữ pháp cải

biến, lấy cơ sở là câu, J Dubois [5], p.50] đã

đề ra một giải pháp: "dạng bị động" vừa là một

phạm trù ngữ pháp, gắn liền với động từ, vừa

là một kiểu cấu trúc cú pháp Ơng lấy câu hạt

nhân gồm một danh ngữ (SN1) và một động

ngữ (SV) gồm một động từ một danh ngữ

(SN2) làm cơ sở: "Phép cải biến bị động cĩ chức

năng cơ bản là đảo ngược trật tự của các danh

ngữ mà vẫn giữ nguyên vai trị của chúng trên

bình diện nghĩa Phép cải biến bị động thay đổi

chức năng ngữ pháp của SN 1 nhưng khơng làm

ảnh hưởng tới vai trị tác thể của nĩ."

3.4 Định nghĩa dựa trên cả ngữ nghĩa lẫn hình thái

E A Referovskạa và A K Vassilieva [6],

p.183] cho rằng: "Hệ liên tưởng của dạng bị

động là các tổ hợp phức, gọi là "phân tích tính"

Các tổ hợp này được hình thành dựa trên các

"thời" của trợ động từ être và phân từ quá khứ

của động từ cần chia… Các dạng thức bị động

được sử dụng để chỉ ra rằng chủ ngữ của câu chịu

đựng tác động của hành động…" Ngay cả khi

hai tiêu chí này khơng được kết hợp với nhau

một cách tường minh trong định nghĩa về

dạng bị động dựa trên ngữ nghĩa thì sự kết

hợp này vẫn hàm ẩn trong các ví dụ: ngồi sự

đối lập liên quan đến chủ ngữ của câu, một

bên chính chủ ngữ là chủ thể hành động, một

bên chủ ngữ phải chịu tác động của hành

động, các ví dụ cho định nghĩa này luơn bao

gồm tổ hợp [être + phân từ quá khứ]

3.5 Định nghĩa dựa trên cả hình thái lẫn cú pháp

Đây là cách định nghĩa hiện đang được

nhiều nhà ngơn ngữ nêu ra trong nhiều sách

ngữ pháp Nhĩm tác giả của Đại học Tổng

hợp Strasbourg gồm Martin Riegel, Jean-Christophe Pellat và René Rioul [7] cũng coi

dạng bị động vừa là một phạm trù của "hình thái học động từ", vừa liên quan đến tồn bộ

cấu trúc câu, hoặc một dạng câu đặc biệt Sau khi giới thiệu định nghĩa về dạng bị động

gồm trợ động từ être được chia theo thời và

thức của động từ chính với phân từ quá khứ

là những biểu hiện phạm trù của động từ, các tác giả đã nhấn mạnh vấn đề dạng bị động của động từ ảnh hưởng đến tồn bộ cấu trúc câu Vì vậy hầu hết các nội dung liên quan đến bị động được các tác giả phát triển trong phần cú pháp

4 Những phương diện cơ bản của dạng bị động trong tiếng Pháp

Để cĩ một cách nhìn tương đối hồn chỉnh, chúng ta sẽ xem xét dạng bị động trong tiếng Pháp trên hai phương diện cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa

4.1 Dạng bị động nhìn từ phương diện cấu trúc

hình thức

Dạng bị động đã được tất cả các nhà ngữ pháp đề cập đến và tất nhiên là nĩ được giảng dạy một cách cĩ hệ thống ở mọi chương trình Tuy nhiên, hiện tượng ngữ pháp này của tiếng Pháp khơng đơn giản như

đã được giới thiệu trong các giáo trình:

- Khơng phải lúc nào chính các chủ ngữ

và bổ ngữ đối tượng của câu chủ động xuất hiện lại ở trong câu bị động dưới hình thức

ban đầu của chúng Chẳng hạn: "du lait - sữa" trong câu "Les chats boivent du lait (Những con mèo uống sữa) khơng thể xuất hiện lại y nguyên như vậy trong câu bị động: "* Du lait est

bu par les chats (*Sữa bị uống bởi những con mèo)

Trang 5

- Hoặc như đại từ chủ ngữ "Je" của câu

chủ động "J'ai vu ce film" (Tôi đã xem phim

này." khó có thể trở thành bổ ngữ chỉ tác nhân

trong câu bị động "*Ce film a été vu par moi"

(*Phim này đã được xem bởi tôi)

- Trong một số trường hợp, không phải là

chủ thể hành động xuất hiện trở lại dưới

dạng bổ ngữ chỉ tác nhân mà là một bổ ngữ

chỉ địa điểm: "La bouteille contenait ces objets"

(Cái chai đựng những vật này) "Ces objets

étaient contenus dans la bouteille"(Những vật

này được đựng trong chai)

Vì vậy, cần phải phân tích những yếu tố

thường được sử dụng để định nghĩa dạng bị

động trong tiếng Pháp như hình thái học

động từ bị động, sự hoán đổi vị trí giữa chủ

ngữ và bổ ngữ trực tiếp, tiêu chí đồng nghĩa

giữa câu bị động và câu chủ động tương ứng,

vấn đề bổ ngữ chỉ tác nhân, hành động phải

chịu đựng Đây sẽ là cơ sở để đề ra một số

tiêu chí để có thể giảm bớt khó khăn của việc

nhận diện dạng bị động của tiếng Pháp

4.1.1 Vấn đề hình thái học động từ bị động

"Hình thái học động từ bị động"

(morphologie verbale passive) là một trong

những nội dung cơ bản trong các nghiên cứu

về dạng bị động tiếng Pháp Hay nói cách

khác thì nét đặc trưng của dạng bị động, nếu

không muốn nói là duy nhất, là tổ hợp gồm

động từ "être" và phân từ quá khứ (être + PP),

trong đó động từ "être" được coi là trợ động

từ của dạng bị động Thậm chí một số tác giả

như G Mauger hay R L Wagner et J

Pinchon còn nói "chia động từ ở dạng bị động"

(conjugaison passive) và để dạng bị động vào

bảng chia động từ

Tuy nhiên, quan niệm này có những điều

bất cập Trước tiên, để bảo đảm tính nhất

quán, người ta chỉ có thể nói về hình thái học

khi đề cập đến những sự thay đổi về hình

thức của một từ Còn đối với những dạng

phức hợp của động từ, dù là chủ động hay bị động thì, về mặt nguyên tắc, chúng phải được xếp vào lĩnh vực cú pháp Mặt khác, nếu chỉ thuần tuý thay một động từ chủ động bằng một động từ bị động, thì chưa đủ để biến một câu chủ động thành một câu bị động vì nếu không có sự thay đổi về chủ ngữ thì có khi giữa những câu thu được sẽ xuất hiện một quan hệ trái nghĩa chứ không phải

là quan hệ đồng nghĩa:

- Le roi a chaleureusement salué le Premier ministre

- Le roi a été chaleureusement salué par le Premier ministre

Chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng câu thứ hai là một câu bị động nhờ vào ngữ động từ, nhưng đó không phải là câu bị động của câu thứ nhất Như vậy ta có thể khẳng định rằng nếu chỉ dựa vào dạng thức của động từ không thôi thì chưa đủ để chúng ta đem đối lập một câu chủ động với một câu bị động

4.1.2 Sự hoán đổi vị trí giữa chủ ngữ và bổ ngữ của động từ

Sự khác nhau về vị trí của chủ thể hành động và bổ ngữ chỉ đối tượng ở các câu bị động và câu chủ động tương ứng là một tiêu chí cú pháp thường được sử dụng để xác định câu bị động Khi thì tiêu chí này được sử dụng kết hợp với tiêu chí về hình thái, khi thì

nó được sử dụng như một đặc trưng cơ bản duy nhất của dạng bị động (chẳng hạn như trong quan niệm của J Dubois [5])

Hệ quả trực tiếp là dạng bị động không chỉ là một hiện tượng của động từ mà là một hiện tượng của câu và nó đòi hỏi phải có một

sự liên hệ với một cấu trúc khác, đó là một câu chủ động, có như vậy thì người ta mới có thể nói đến sự hoán đổi vị trí của các yếu tố

Trang 6

Tiêu chí về sự hoán đổi vị trí còn có một

hệ quả nữa là nó khiến những câu kiểu "Il a

été procédé à une enquête par la police" bị loại

khỏi danh sách cấu trúc bị động vì không có

câu chủ động tương ứng

Như vậy tiêu chí về sự hoán đổi vị trí có

thể là cần thiết nhưng không nên hiểu nó theo

một cách cứng nhắc

4.1.3 Vấn đề bổ ngữ chỉ tác nhân

Cho đến nay, hai giới từ thường được kể

đến nhiều nhất khi nói đến bổ ngữ chỉ tác

nhân đó là PAR và DE Tuy nhiên, theo nhiều

tác giả thì còn có một số giới từ khác cũng

được sử dụng để đánh dấu bổ ngữ chỉ tác

nhân trong câu bị động như à, avec, entre,

dans Song các dẫn chứng về khả năng đánh

dấu bổ ngữ chỉ tác nhân của các giới từ này

đều không có sức thuyết phục Ví dụ như giới

từ "à" được kể đến như một giới từ được

dùng để đánh dấu bổ ngữ chỉ tác nhân

Nhưng ngoài trường hợp "mangé aux mites,

aux vers, etc - bị mối ăn" đã được M Grévisse

[8] nêu ra trong cuốn Le Bon Usage thì hầu

như không có một ví dụ nào khác cho việc

dùng giới từ này trong thành phần bổ ngữ chỉ

tác nhân nữa Vậy, chừng nào chưa tìm được

câu bị động sử dụng giới từ "à", ngoài một số

câu "kinh điển" thì chừng đó chưa nên đưa

"à" vào danh sách các giới từ có thể được sử

dụng để dẫn nhập bổ ngữ chỉ tác nhân vào

trong cấu trúc bị động hoặc nếu có thì cũng

nên nói rõ rằng đây là một trường hợp ngoại

lệ, mang phong cách cá nhân

Kết quả phân tích về mức độ sử dụng hai

giới từ "par" và "de" cho thấy nhìn chung là

"par" được sử dụng nhiều hơn "de" để đánh

dấu bổ ngữ chỉ tác nhân Khi nghiên cứu khả

năng phân bố của "par" và "de" trong từng

nhóm động từ như các động từ chỉ sự nhận

thức (connaître), chỉ sự tri giác (regarder), chỉ

sự đi kèm (accompagner), chỉ sự trợ giúp (aider), chỉ sự chấp nhận (accepter), chỉ thành phần cấu tạo (composer), chỉ vị trí (précéder), chỉ tình cảm (aimer) thì thấy nếu động từ chỉ

trạng thái thì cả hai giới này đều có thể được dùng để đánh dấu bổ ngữ chỉ tác nhân nhưng

"par" có vẻ phổ biến hơn; nếu động từ chỉ hành động thì "par" được dùng phổ biến hơn,

đôi khi chỉ có giới từ này là được chấp nhận

(như trường hợp của các động từ adopter, refuser, composer, former,…) Đối với những động từ chỉ tình cảm như "aimer" chẳng hạn

thì chủ ngữ của câu bị động là nguồn thì giới

từ "de" lại phổ biến hơn, nhưng khi những

động từ này có mang ý nghĩa chỉ hành động

thì bổ ngữ tác nhân lại phải đi sau "par"

4.1.4 Các kiểu cấu trúc bị động có mặt trong ngữ liệu

Việc khảo sát ngữ liệu cho thấy: trong tiếng Pháp, ý nghĩa bị động có thể được biểu đạt bằng một cấu trúc đầy đủ nhưng cũng có thể bằng một cấu trúc giản lược Ở mức độ tối thiểu, cấu trúc giản lược đó có thể là phân từ quá khứ bị động mang các dấu hiệu về giống

số của danh từ mà nó bổ nghĩa; ở mức độ cao nhất là câu bị động Một cấu trúc bị động đầy

đủ bao gồm bốn thành tố: một chủ ngữ ngữ

pháp, động từ "être", một phân từ quá khứ, và

có thể một bổ ngữ gián tiếp hoặc một trạng ngữ hay một bổ ngữ chỉ tác nhân, một yếu tố

có thể bị tỉnh lược Các thành tố này có thể được biểu thị trong mô hình sau :

PPR = SN2 + être + PPP + par SN1

Trong đó PPR là mệnh đề bị động, par

SN1 là bổ ngữ chỉ tác nhân, SN2 là chủ ngữ ngữ pháp, PPP là phân từ quá khứ bị động

Từ công thức điển hình của dạng bị động hoàn chỉnh này, trên thực tế, sự kết hợp của các thành tố là rất đa dạng Trong ngữ liệu có các cấu trúc bị động sau :

Trang 7

FF1: "être + pp" không có tác thể

FF2: "être + pp + PAR + tác thể"

FF3: "être + pp + DE + tác thể"

FF4: Cấu trúc bị động có PP nhưng không

có động từ "être"

FF5: Cấu trúc bị động với động từ phản

thân

FF6: "se faire, se laisser + động từ nguyên

thể"

FF7: Cấu trúc bị động có cấu trúc vô nhân

xưng

Trong số các kiểu cấu trúc biểu đạt ý

nghĩa bị động này có những cấu trúc thường

xuyên được sử dụng, có những cấu trúc ít

được sử dụng hơn

Trong tổng số 1.730 câu bị động tiếng Pháp thống kê được trên ngữ liệu thuộc các phong cách văn chương, hành chính công vụ, khoa học, báo chí – công luận và sinh hoạt hàng ngày, thì hai cấu trúc phổ biến nhất là FF1 và FF4 với 1.281 câu, chiếm 75,35% Ngoài ra, việc so sánh tỷ lệ câu bị động có trong ngữ liệu còn cho thấy thứ nhất là việc

sử dụng dạng bị động phụ thuộc vào lứa tuổi, cụ thể là người lớn có xu hướng sử dụng nhiều dạng bị động hơn là trẻ em; thứ hai là ngay trong một phong cách, như phong cách khoa học chẳng hạn, dạng bị động được sử dụng trong ngôn ngữ viết (30,70%) nhiều hơn

là trong ngôn ngữ nói 6,04%)

Tỷ lệ các cấu trúc bị động trong ngữ liệu Văn chương Hành chính công vụ Báo chí khoa học Sinh họat hàng ngày Tổng số/Tỷ lệ FF1 120 19,67% 87 36,40% 310 35,92% 14 77,77% 531 30,69% FF2 91 14,91% 42 17,57% 51 5,90% 1 5,55% 185 10,69%

FF4 290 47,54% 95 39,74% 363 41,83% 2 11,11% 750 43,35% FF5 62 10,16% 4 1,67% 121 14,02% 1 5,55% 188 10,86%

610 12,44% 239 69,47% 863 30,70% 18 3,55% 1.730

4.2 Dạng bị động nhìn từ phương diện ngữ nghĩa

4.2.1 Vấn đề đồng nghĩa giữa câu bị động và

câu chủ động

Thường thì các nhà nghiên cứu cho rằng

chỉ có thể kết luận một câu nào đó là bị động

nếu có một câu chủ động tương ứng với nó

Tuy nhiên, ở một số trường hợp trong tiếng

Pháp, khó có thể biết đó là câu bị động hay

không vì có sự lẫn lộn giữa phân từ quá khứ

bị động với tính từ; ví dụ :

1 - L'enfant était lié/attaché à sa mère (Đứa

bé bện/gắn bó với mẹ nó)

2 - On avait lié/attaché l'enfant à sa mère (Người ta đã buộc/trói đứa bé vào mẹ nó)

3 - L'enfant avait été lié/attaché à sa mère (Đứa bé đã bị buộc/trói vào mẹ nó)

Rõ ràng là giữa câu 1 và câu 2 không hề

có một sự đồng nghĩa nào: câu 1 không hề mang ý nghĩa vật lý ("trói/buộc") của câu 2 Nếu như chúng ta muốn giữ nguyên nội dung thông tin về các mặt thời - thể của câu 2 thì phải công nhận là chỉ có câu 3 là câu bị động tương ứng của câu 2 Thực vậy, động từ của câu 3 có mang ý nghĩa vật lý của động từ

ở câu 2

Trang 8

Với tình trạng hiện tại, câu 1 chỉ có thể có

nghĩa tâm lý mà thôi Mà theo nghĩa tâm lý

thì lié và attaché phải được coi là tính từ hơn

là một phân từ quá khứ và vấn đề không

tương ứng giữa câu chủ động với câu bị động

chỉ xảy ra khi, ngay từ đầu, câu 1 được coi là

câu bị động Vấn đề thực sự ở đây là việc giải

thích nghĩa vật lý của câu 1 vì ngay cả khi nó

được coi như vậy thì cũng không có câu chủ

động tương ứng với nó tuy rằng cả "lié" và

"attaché" đều là phân từ quá khứ Theo hướng

này thì câu 1 có vai trò biểu thị kết quả của

một hành động hơn là bản thân hành động

Liệu câu này có thể được coi là câu bị động

hay không? Nếu có thì câu chủ động tương

ứng là câu nào?

Trong một số trường hợp, giữa hai câu

chủ động và bị động có một sự tương xứng

trên phương diện hình thức nhưng không

tương xứng về thể (aspect) Vấn đề này nảy

sinh chủ yếu đối với trường hợp câu chủ

động có động từ ở dạng đơn giản (forme

simple): lúc này, sự việc được trình bày dưới

dạng chưa hoàn thành Trong khi đó, câu bị

động tương ứng lại có một động từ ở dạng

phức hợp (forme composée), ấy vậy mà dạng

này lại thường được coi như là để thể hiện

các sự việc đã kết thúc Điều này lại càng

đúng đối với những câu bị động không có bổ

ngữ chỉ tác nhân hoặc bổ ngữ tình huống

Chẳng hạn như rõ ràng là hai câu sau đây

không có chung một ý nghĩa :

- On ferme la porte (Người ta đóng cửa)

- La porte est fermée (Cửa đóng)

Sự đối lập thể hoàn thành - thể không

hoàn thành có thể được mô tả như là sự đối

lập giữa một tiến trình với kết quả của tiến

trình đó Như vậy là phải lựa chọn một trong

hai giải pháp đặt ra với câu "La porte est

fermée":

+ Nếu đây được coi là một câu bị động do

hình thức động từ thì hệ quả sẽ là không nhất

thiết phải có sự đồng nghĩa giữa hai câu chủ động và bị động;

+ Hoặc ngược lại, nếu sự đồng nghĩa là một tiêu chí để định nghĩa cho dạng bị động thì đây không phải là câu bị động

Đôi khi, sự xuất hiện của các từ chỉ lượng

có thể phá vỡ sự đồng nghĩa giữa câu chủ

động và bị động tương ứng Ví dụ "Marie n'a pas invité beaucoup d'amis" (1) và "Beaucoup d'amis n'ont pas été invités par Marie" (2) Câu

(1) cho biết là Marie đã mời ít bạn bè Câu (2) chỉ cho biết là nhiều bạn bè không được mời, chứ không cho biết là Marie đã mời nhiều hay ít bạn

4.2.2 Vấn đề "hành động phải chịu đựng" Tiêu chí "hành động phải chịu đựng" đòi hỏi

câu bị động phải có một động từ thể hiện hành động Tuy nhiên, trên thực tế, động từ của rất nhiều câu bị động "truyền thống"

không thể hiện hành động "Subir" là một

động từ tiêu biểu cho những động từ không thể hiện hành động nhưng vẫn xuất hiện trong câu bị động Hiện tượng tương tự cũng xảy ra với nhiều động từ khác, những động

từ được coi là để miêu tả trạng thái như

"devoir, contenir, posséder"

Nhìn chung quan niệm về câu bị động dựa trên tiêu chí ngữ nghĩa này là không chặt chẽ, nó làm nảy sinh ra quá nhiều vấn đề khi phải xác định một cách chính xác cái gọi là dạng bị động

4.2.3 Bị thể bị biến đổi

"Bị thể bị biến đổi" là một tiêu chí ngữ

nghĩa khác cũng thường được đề cập đến khi người ta bàn về dạng bị động, đó là chủ ngữ trong câu bị động bị biến đổi do tác động của hành động Tuy nhiên những động từ như

"aimer" được dùng ở dạng bị động thì khó có

thể nói là chủ ngữ bị động bị biến đổi do tác

Trang 9

động của hành động, vì chủ ngữ đó là nguồn

của trạng thái tâm lý

Với những phân tích trên đây, dạng bị

động được định nghĩa như sau: "Trong tiếng

Pháp, dạng bị động được cấu tạo bằng một phân

từ quá khứ mà chủ ngữ không phải là chủ thể

hành động và có thể được kết nối với chủ ngữ

bằng động từ "être" mang nội dung ý nghĩa

thời-thể." Định nghĩa này có thể giúp giải quyết

được những vấn đề bất cập đã được nêu ra

trên đây

Tóm lại, việc một động từ ngoại động trực

tiếp có thể dùng được ở dạng bị động hay

không phải được xét trong một phạm vi lớn

hơn, chứ không phải riêng trong bản thân

động từ Nhiều khi, khả năng này có thể được

lý giải bằng "sự tương hợp ngữ nghĩa" giữa

động từ, chủ ngữ và bổ ngữ, tức là trên bình

diện toàn câu

5 Việc diễn đạt ý nghĩa bị động trong tiếng

Việt

Ở tiếng Việt, bị động là một trong những

vấn đề đã được bàn đến khá nhiều nhưng cho

đến nay vẫn chưa có quan niệm thống nhất:

có quan niệm cho rằng tiếng Việt không có

cấu trúc bị động, ngược lại có quan niệm cho

rằng tiếng Việt có cấu trúc bị động Tuy nhiên

cả hai trường phái đều công nhận rằng tiếng

Việt có những phương tiện cần thiết để biểu

đạt ý nghĩa bị động? Tác giả Nguyễn Minh

Thuyết [9] lập luận: do tiếng Việt khác hẳn

các ngôn ngữ Ấn-Âu về nguồn gốc cũng như

loại hình nên các phạm trù ngữ pháp: giống,

cách, ngôi, thời, thức, dạng vốn là đặc tính

của các ngôn ngữ này không thể xuất hiện

trong tiếng Việt Tác giả này cho rằng tiếng

Việt diễn đạt ý nghĩa bị động bằng phương

tiện từ vựng là các động từ bị và được

Nguyễn Kim Thản [10], tr.205] khẳng định:

"Tuy không dùng hư từ để biểu thị dạng bị động nhưng tiếng Việt lại dùng cấu trúc cú pháp để biểu thị ý nghĩa bị động" Về phương tiện đánh

dấu lối nói tiếp thụ - bị động, trong bài viết:

"Quá trình hình thành thế đối lập giữa ba từ

"được, bị, phải”, Nguyễn Tài Cẩn đã khẳng định rằng “[ ] ngay từ bây giờ - không cần phải chứng minh gì thêm - cũng đã có thể kết luận được rằng đó là ba từ: - Thứ nhất, dùng để diễn đạt ý nghĩa tiếp thụ; - Thứ hai, dùng để diễn đạt ý nghĩa tình thái.” [11] Trong cuốn “Ngữ pháp

tiếng Việt - từ loại”, Đinh Văn Đức cho rằng:

“Trong số các động từ tiếng Việt có một nhóm những động từ kiểu như: cần, muốn, có thể, toan, định, dám, bị, được rõ ràng là những động từ trống nghĩa Ở chúng các ý nghĩa từ vựng là rất

ít, chúng đã được ngữ pháp hoá nhưng lại chưa trở thành những từ thực sự, những động từ này

có nội hàm rất hẹp nên ngoại diên phải rộng Trong khi diễn đạt các ý nghĩa: yêu cầu (cần), khả năng (có thể), ý định (toan, định, dám), nguyện vọng (mong, muốn), quan hệ bị động (bị, được) các động từ này được sử dụng hoàn toàn theo cách đánh giá của người nói đối với thực tại Đó

là một quan hệ thể hiện nhận thức chủ quan: khi

ta nói: "Tôi được khen" hay "Tôi bị phạt" thì các

từ "được" "bị", một mặt là phương tiện diễn đạt

ý nghĩa ngữ pháp bị động nhưng bị động ở đây có thể được hiểu theo sắc thái "may" hay "rủi", mà

"may" hay "rủi" là theo nhận thức và đánh giá của người nói- do đó bị và được cũng lâm thời trở thành những từ tình thái ” [12], tr.139]

Các tác giả Nguyễn Hồng Cổn và Bùi Thị

Diên [13] cũng cho rằng: "[…] trong các ngôn ngữ phân tích tính điển hình như tiếng Việt, ý nghĩa bị động chủ yếu được biểu hiện bằng hư từ

và trật tự từ, và bị động có dáng dấp của một phạm trù thuần tuý cú pháp Từ cách nhìn đó, chúng tôi cho rằng mặc dù trong tiếng Việt không tồn tại dạng bị động với tư cách là một phạm trù

Trang 10

hình thái học thuần tuý, nhưng ý nghĩa bị động

với tư cách là một loại ý nghĩa ngữ pháp (đối lập

với ý nghĩa chủ động - ngoại động) vẫn được biểu

hiện bằng các phương tiện ngữ pháp nhất định là

hư từ và trật tự từ, và vì vậy tiếng Việt vẫn có các

cấu trúc bị động và câu bị động"

Tóm lại, có thể khẳng định rằng tiếng Việt

có cấu trúc thể hiện ý nghĩa bị động được đặt

trong tương ứng với cấu trúc chủ động và có

những đặc điểm sau:

5.1 Về ngữ nghĩa

- Chủ ngữ trong câu chủ động tương ứng

luôn ở vai tác thể (chủ thể hành động)

- Còn chủ ngữ trong câu thể hiện ý nghĩa

bị động có vai nghĩa điển hình nhất là bị thể

(đối tượng của hành động)

Ví dụ:

Câu chủ động Câu bị động

5.2 Về cấu trúc hình thức

Câu thể hiện ý nghĩa bị động trong tiếng

Việt có cấu trúc hình thức như sau :

- Chủ ngữ: chủ ngữ của câu thể hiện ý

nghĩa bị động chính là bổ ngữ trực tiếp của

câu chủ động tương ứng

Ví dụ:

Câu chủ động Câu bị động

Thầy giáo phạt học sinh Học sinh bị thầy giáo phạt

- Động từ: trong câu thể hiện ý nghĩa bị

động, động từ chính là tổ hợp của một trong

hai từ bị, được với ngoại động từ tương ứng

trong câu chủ động

Câu chủ động Câu bị động

Thầy giáo phạt học sinh Học sinh bị thầy giáo phạt

- Bổ ngữ chỉ tác nhân: bổ ngữ chỉ tác

nhân của câu thể hiện ý nghĩa bị động chính

là chủ ngữ trong câu chủ động tương ứng và

có thể bị lược bỏ, điều này hoàn toàn trùng hợp với bản chất của câu bị động của các ngôn ngữ phương Tây

Câu chủ động Câu bị động

Thầy giáo phạt học sinh Học sinh bị phạt

- Trong cấu trúc của một số câu thể hiện ý nghĩa bị động của tiếng Việt, có xuất hiện từ

“bởi” Từ này nếu xuất hiện thì sẽ đứng giữa

động từ và bổ ngữ chỉ tác nhân

Ví dụ:

Câu chủ động Câu bị động

Thầy giáo phạt học sinh Học sinh bị phạt bởi thầy giáo

Tuy nhiên kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ

xuất hiện của “bởi” rất thấp (0,46%) Điều đó

cho thấy rằng cách diễn đạt ý nghĩa bị động

với sự tham gia của từ "bởi" này hiện nay

chưa phải là phổ biến lắm, đây không phải là một cấu trúc cơ bản trong tiếng Việt Vả lại, lối nói này vẫn còn bị nhiều nhà nghiên cứu phê bình, cho đó không phải là tiếng Việt hay

là lối diễn đạt tiếng Việt rập khuôn theo các ngôn ngữ châu Âu Nhưng chắc chắn nó có ảnh hưởng đến văn phong của giới trẻ vì nó liên tục xuất hiện trên vô tuyến, ở các chương

trình ca nhạc “MTV I like”, “Ở nhà chủ nhật”

và các câu giới thiệu nhà tài trợ cho các chương trình phim truyện, sách báo

5.3 Cấu trúc bị động hiện có trong tiếng Việt

Trong thời đại mở cửa nền kinh tế, hội nhập quốc tế, với các hoạt động chuyển giao công nghệ thì việc sử dụng các cấu trúc bị động như hiện nay là một tất yếu khách quan, và chắc chắn là số lượng câu bị động sẽ ngày càng tăng trong tiếng Việt Quá trình thu

Ngày đăng: 28/03/2014, 14:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thái học thuần tuý, nhưng ý nghĩa bị  động - Báo cáo " So sánh cách biểu đạt ý nghĩa bị động trong hai ngôn ngữ: Pháp và Việt " pptx
Hình th ái học thuần tuý, nhưng ý nghĩa bị động (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm