1 Sự cần thiết phải thành lập công ty quản lý nợ và khai thác tài sản ở Việt Nam Thời gian gần đây, khi đánh giá về tình hình kinh tế và đề ra định hướng pháttriển đối với lĩnh vực ngân
Trang 1THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY QUẢN LÝ NỢ VÀ KHAI THÁC TÀI SẢN NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT
TRIỂN NÔNG THÔN.
1 Sự cần thiết phải thành lập công ty quản lý nợ và khai thác tài sản ở Việt Nam
Thời gian gần đây, khi đánh giá về tình hình kinh tế và đề ra định hướng pháttriển đối với lĩnh vực ngân hàng, Đảng và Chính phủ thường nêu lên thực trạng nợquá hạn của các tổ chức tín dụng và định hướng khẩn trương có biện pháp xử lý thựctrạng này là phải thành lập công ty quản lý tài sản tồn đọng ngân hàng để xử lý vấn đề
nợ tồn đọng Sự cấp thiết của việc thành lập công ty quản lý nợ và khai thác tài sản tạiViệt Nam thể hiện ở những lý do sau:
Thứ nhất, nợ xấu trong nền kinh tế cao và vẫn tiếp tục gia tăng Hoạt động
tín dụng là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại, là nguồnchủ yếu đem lại lợi nhuận Nghiệp vụ này luôn phải gắn với rủi ro tín dụng, và nước
có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn của ngân hàng Trong hệ thống ngân hàngthương mại Việt Nam, tỷ lệ nợ quá hạn là một vấn đề khá nghiêm trọng Theo tínhtoán của World Bank, nợ khó đòi phải xử lý theo tiêu chuẩn kế toán Việt Nam của hệthống ngân hàng đạt trên 1 tỷ USD N ếu căn cứ theo tiêu chuẩn kế toán quốc tế thì số
nợ khó đòi lên tới 3-4 tỷ USD Còn theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, tính đếntháng 5/2000, nợ xấu trong toàn hệ thống chiếm 12,7%, tương đương 19.261 tỷ đồng.Trong đó nợ quá hạn khó đòi, nợ khoanh, nợ chờ xử lý lên đến 17.198 tỷ và vẫn tiếptục gia tăng so với mức 13.000 tỷ vào thời điểm cuối tháng 2/1999, riêng khối ngânhàng quốc doanh đã chiếm 81% Số dư nợ chờ xử lý có tài sản xiết nợ và tài sản đangnằm trong các vụ án của toàn hệ thống là 6.202 tỷ (các ngân hàng quốc doanh chiếm78%), nợ được khoanh là 3.900 tỷ, nợ được xoá: 1.260 tỷ Đó là chưa kể hiện nay việcxếp loại nợ khó đòi của ta chủ yếu dựa vào tiêu chí thời gian quá hạn, chưa tính đếncác tiêu chí khác như nợ còn đang trong diện quá hạn thông thường nhưng thực tếdoanh nghiệp đã bị thua lỗ nặng, không còn khả năng trả nợ Như vậy, một phần số dư
nợ được coi là nợ quá hạn thông thường trên thực tế đã là nợ quá hạn khó đòi
Trang 2Tình hình nợ quá hạn của nước ta không chỉ cao, trong khoảng 10 năm liềnluôn cao hơn mức an toàn (5%), mà nguy hiểm hơn là tình trạng nợ đọng biến độngbất thường và không có dấu hiệu suy giảm rõ ràng.
Bảng 1: Tình hình Nợ quá hạn/tài sản có của hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh Việt Nam giai đoạn 1991-2001.
Đơn vị: %Năm 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001
(Tạp chí khoa học và đào tạo Ngân hàng số 2/2003)
Thứ hai, tình trạng nợ tồn đọng trong nền kinh tế Việt Nam đã ăn vào vốn
tự có của các ngân hàng Theo tổng hợp của Ngân hàng Nhà nước, tính đến ngày
30/5/2000 tổng dư nợ cho vay nền kinh tế của toàn bộ hệ thống các tổ chức tín dụng là151.962 tỷ đồng (tương đương 38% GDP năm 1999) Trong đó riêng dư nợ tín dụngcủa các ngân hàng thương mại quốc doanh đạt 113.640 tỷ đồng, chiếm 75% tổng dư
nợ cho vay nền kinh tế của toàn hệ thống Khách hàng vay của các ngân hàng quốcdoanh chủ yếu là các doanh nghiệp Nhà nước, với số dư nợ chiếm khoảng 70-80%tổng dư nợ của các ngân hàng quốc doanh Tình hình này cho thấy nhu cầu vốn củanền kinh tế nước ta lệ thuộc chủ yếu vào hệ thống ngân hàng, nơi cung cấp nguồn vốnlớn cho các doanh nghiệp Trong điều kiện thị trường tài chính Việt Nam chưa pháttriển thì lực lượng chủ yếu cung ứng vốn cho nền kinh tế là các ngân hàng thương mại
mà chủ lực là các ngân hàng thương mại quốc doanh: Ngân hàng Công thương, Ngânhàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng Đầu
tư và Phát triển, Ngân hàng phục vụ người nghèo (giờ là Ngân hàng chính sách xãhội), Ngân hàng Phát triển nhà ở và cơ sở hạ tầng đồng bằng sông Cửu Long ở nước
ta, tỷ lệ nợ quá hạn của các ngân hàng trong toàn hệ thống nếu so với GDP chưa phải
là cao nhưng đã vượt quá vốn tự có của toàn hệ thống Vốn tự có đã bổ sung của một
số ngân hàng quốc doanh năm 2000 là: Ngân hàng Ngoại thương 2063 tỷ đồng, Ngânhàng Công thương 1637 tỷ đồng, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển 1892 tỷ đồng, Ngânhàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2755 tỷ đồng Trong khi đó, tỷ lệ nợ quáhạn/tổng vốn tự có của các ngân hàng quốc doanh lên tới 234% thời điểm cuối 1999
Trang 3Đến 31/12/2000, nợ tồn đọng ở các ngân hàng thương mại nhà nước đã gấp 4 lần vốn
tự có Nợ quá hạn cao trong khi vốn tự có quá thấp gây nguy cơ mất khả năng thanhtoán cho các ngân hàng vào bất cứ lúc nào Nếu vấn đề này không được giả quyết cơbản và nhanh chóng sẽ gây tác động tiêu cực cho không chỉ hệ thống ngân hàng màcòn toàn bộ nên kinh tế
Thứ ba, nợ đọng có nguy cơ gây khủng hoảng kinh tế Các số liệu trên cho
thấy, nền kinh tế nước ta đang bị tồn đọng một lượng vật chất lớn đóng băng, khôngđược khai thác, doanh nghiệp không trả được nợ cho ngân hàng, làm suy giảm sứcmạnh của các ngân hàng Hệ thống ngân hàng không thu hồi được vốn để tiếp tụcquay vòng phục vụ các doanh nghiệp, tăng chi phí, giảm lợi nhuận, giảm uy tín vàthậm chí chứa đựng nguy cơ đổ vỡ cục bộ, trước tiên là đối với các ngân hàng yếukém, xa hơn có thể dẫn tới đổ vỡ hệ thống Với vai trò cung ứng vốn, điều tiết lưuthông tiền tệ và thực hiện chính sách của Chính phủ, sự đổ vỡ của hệ thống ngân hàng
có thể gây ra khủng hoảng kinh tế làm mất an ninh chính trị, đảo lộn trật tự xã hội.Chúng ta đã từng chứng kiến bài học này từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu
Á 1997
Nguyên nhân của tình trạng tỷ lệ nợ quá hạn ngày càng gia tăng trong hệ thốngngân hàng Việt Nam có thể được tóm lược là:
- Một số khoản nợ từ thời bao cấp không chi trả được
- Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp đi vay vẫn chưa cải thiện nhiều
- Các ngân hàng thương mại quốc doanh còn bị ảnh hưởng của cơ chế quản lý hànhchính trong hoạt động kinh doanh do vừa thực hiện chức năng kinh doanh vừa thựcthi nhiệm vụ chính sách kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước Nhiều doanh nghiệpnhà nước vẫn được cho vay theo chỉ đạo, chỉ thị mà không tính toán đến rủi rotín dụng, đến điều kiện hoàn vốn và lãi, các doanh nghiệp này lại chiếm tỷ lệ vốnvay rất lớn
- Bản thân hoạt động ngân hàng còn nhiều yếu kém, bất cập Các ngân hàng thươngmại quốc doanh có vai trò chủ đạo và chủ lực trong hệ thống ngân hàng nhưng cònthiếu kinh nghiệm hoạt động trong nền kinh tế thị trường Các ngân hàng thươngmại cổ phần thì còn quá non trẻ, yếu về tài chính, thiếu kinh nghiệm hoạt động.Một số cán bộ ngân hàng trình độ chưa đáp ứng yêu cầu, một số khác bị biến chất,gây các vụ thiệt hại lớn
Trang 4- Luật và các quy chế của ta chưa đồng bộ, còn khiếm khuyết và đặc biệt là ảnhhưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực vừa qua.
- Ngoài ra còn nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác như các nguyênnhân bất khả kháng: thiên tai, bão lụt, hoả hoạn (nợ được khoanh, được xoá), cácdoanh nghiệp nhà nước gặp khó khăn trong kinh doanh do việc mất giá của thịtrường tiêu thụ sản phẩm, biến động giá cả thị trường, do sắp xếp lại doanh nghiệp,sát nhập, giải thể, biến động trên các thị trường nhạy cảm như bất động sản
Thứ tư, quá trình hội nhập, tham gia các tổ chức quốc tế đòi hỏi củng cố, lành mạnh hoá hệ thống tài chính-ngân hàng Trong điều kiện nền kinh tế toàn cầu
hoá như hiện nay, muốn phát triển thì một nền kinh tế không thể đứng ngoài xu hướnghội nhập đó Việc tham gia hội nhập rõ ràng đưa lại những thuận lợi, những cơ hội vềvốn, kỹ thuật, quản lý những đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức lớn, đặc biệt làđối với những nền kinh tế còn chưa thực sự phát triển như nền kinh tế nước ta Ngànhngân hàng, xét trên góc độ cả nền kinh tế, có một vai trò hết sức quan trọng trong việcthúc đẩy sự phát triển của các ngành, các hoạt động kinh tế xã hội khác thông qua hoạtđộng cung ứng vốn và các dịch vụ liên quan, tạo điều kiện giúp các doanh nghiệp, cácsản phẩm trong nước có đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp và sản phẩm nướcngoài Xét trên góc độ bản thân ngành, hệ thống ngân hàng, cũng giống như nhữngngành, những lĩnh vực khác, phải chịu sức ép cạnh tranh rất lớn từ quá trình hội nhậpkhu vực và thế giới Để có thể gia nhập các tổ chức, các khối kinh tế, ngành ngânhàng cũng phải đạt được những chỉ tiêu do tổ chức, khối kinh tế đề ra cũng như dobản thân các ngân hàng tự đặt ra để củng cố sức mạnh của chính mình trước thềm hộinhập Lành mạnh hoá tình hình tài chính, củng cố hoạt động, giải quyết vấn đề nợ tồnđọng, đưa tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ vào trong mức giới hạn an toàn là nhữngcông việc mà ngân hàng cần thực hiện một cách nghiêm túc và hiệu quả để có thểhoàn thành được nhiệm vụ của mình trong giai đoạn phát triển mới
Thứ năm, mọi biện pháp để xử lý nợ đọng được áp dụng đều không đạt hiệu quả mong đợi Như vậy, vấn đề xử lý nợ tồn đọng đã trở thành một nhu cầu bức
xúc đối với nước ta Để giải quyết vấn đề này chúng ta đã sử dụng nhiều biện pháp từkhuyến khích đến cưỡng chế, giao cho các ngân hàng tự xử lý Tuy nhiên, do vướngphải các quy định về pháp luật, do chồng chéo chức năng, do không đủ thẩm quyền
mà việc mua bán nợ không thực hiện được, hoặc chỉ thực hiện được với các tài sản
Trang 5nhỏ lẻ Nhu cầu đó đòi hỏi phải thành lập một tổ chức đặc trách các khoản nợ quá hạnkhó đòi tồn đọng trong hệ thống ngân hàng bằng các phương thức mua, quản lý, tàitrợ nhằm tối đa hoá giá trị của nó để bán, cho thuê, góp vốn thu hồi lại vốn.
Trước đòi hỏi của thực tế, bắt đầu từ năm 2000, ta đã tiến hành chương trình cơcấu lại hệ thống ngân hàng thương mại với nội dung chính là cơ cấu tài chính, trong
đó giảm tỷ lệ nợ quá hạn là một mục tiêu quan trọng của chương trình Để giảm,khống chế tỷ lệ nợ tồn đọng trong giới hạn cho phép, rất nhiều các biện pháp cần phảiđược thực hiện một cách đồng bộ như: nâng cao chất lượng tín dụng, chú trọng đếncông tác quản lý rủi ro và thành lập các công ty quản lý nợ và khai thác tài sản đểgiải quyết dứt điểm những khoản nợ khê đọng khó đòi từ thời điểm 31/12/2000 trở vềtrước Quyết định 150/2001/QĐ - TTg do Thủ tướng Phan Văn Khải ký ngày05/10/2001, tiếp theo là quyết định 1389/2001/QĐ - NHNN do Phó Thống đốc ngânhàng nhà nước Trần Minh Tuấn ký ngày 07/11/2001 cùng các quyết định, thông tưkhác về ban hành điều lệ mẫu, hướng dẫn chế độ tài chính đã tạo điều kiện về pháp
lý cho sự ra đời của nhiều công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc ngânhàng thương mại ở nước ta Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản đã được thành lậptại không chỉ các ngân hàng thương mại quốc doanh (Ngân hàng Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển ) mà còn ở cả các ngân hàng thươngmại cổ phẩn như Sài Gòn Thương tín (Sacombank) Mặc dù mới được thành lập, chưa
có nhiều kinh nghiệm trong quản lý, xử lý tài sản, và còn gặp phải khó khăn từ nhiềuphía, công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc ngân hàng thương mại đã gópphần không nhỏ vào việc giải quyết nợ tồn đọng, cơ cấu lại hệ thống ngân hàng Tínhđến cuối năm 2001, gần 40% số nợ tồn đọng của hệ thống ngân hàng đã được xử lý
1 Khái quát về công ty quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
2.1 Lịch sử hình thành công ty quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Ở nước ta, trong điều kiện thị trường vốn còn chưa thực sự phát triển, việc huyđộng vốn, cung ứng vốn cho các hoạt động kinh tế còn phụ thuộc rất nhiều vào hệthống ngân hàng mà đặc biệt là các ngân hàng thương mại quốc doanh với lợi thế về
Trang 6quy mô vốn cũng như kinh nghiệm, chất lượng phục vụ tương đối vượt trội so với cácngân hàng thương mại cổ phần Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, vớimạng lưới chi nhánh rộng khắp, vươn tới tận các thôn, xã và với mức vốn hoạt độngban đầu được cấp là 2200 tỷ đồng (mức vốn được cấp từ ngân sách của các ngân hàngthương mại quốc doanh khác chỉ là 1100 tỷ đồng), đóng một vai trò hết sức quantrọng không chỉ đối với hoạt động của hệ thống ngân hàng nói riêng mà còn đối với sựphát triển của cả nền kinh tế nói chung; bất kỳ biến động xấu nào trong hoạt động củangân hàng cũng có thể gây nên những tác động tiêu cực tới nền kinh tế Vì vậy, cơ cấulại nợ, lành mạnh hoá tình hình tài chính của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn là một đòi hỏi không phải chỉ của bản thân ngân hàng mà còn là của cả hệthống kinh tế.
Trong hoạt động của mình, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thônvừa phải thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ với hoạt động chủ yếu trong lĩnh vựcnông nghiệp và phát triển nông thôn, vừa phải thực thi cả nhiệm vụ đầu tư tín dụngchính sách theo chỉ định của Chính phủ (cho đến 04/10/2002 khi có quyết định củaChính phủ về việc thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội từ Ngân hàng phục vụngười nghèo) Đặc trưng kinh doanh này khiến hoạt động tín dụng của Ngân hàngNông nghiệp và Phát triển nông thôn gặp không ít những khó khăn, rủi ro Tính đến
2001, số nợ tồn đọng của ngân hàng đã chiếm xấp xỉ 14% trên tổng dư nợ; cụ thể,tổng số nợ tồn đọng đến 31/12/2000 là khoảng 7917 tỷ đồng Nguyên nhân của tìnhtrạng nợ tồn đọng trên có thể tóm tắt là do:
Các nguyên nhân khách quan, bao gồm: nguyên nhân bất khả kháng như thiên
tai, bão lụt, hạn hán, mất mùa, dịch bệnh; các doanh nghiệp gặp khó khăn trong kinhdoanh; cho vay thực hiện một số mục đích theo chỉ đạo của Chính phủ, theo kế hoạchcủa Nhà nước; thay đổi cơ chế chính sách
Các nguyên nhân chủ quan, bao gồm: Một số cán bộ ngân hàng và doanh
nghiệp làm sai trái, thậm chí lừa đảo; yếu kém trong hoạt động ngân hàng, chậm điềuchỉnh, chỉ đạo nghiệp vụ không sâu sát, kịp thời; khách hàng vay thiếu kiến thức vàkinh nghiệm hoạt động trong cơ chế thị trường, quản lý kinh doanh yếu kém
Số nợ tồn đọng đã ảnh hưởng rất lớn đến kết quả tài chính của Ngân hàng Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn, giảm năng lực cạnh tranh, đồng thời làm ảnh hưởngxấu tới uy tín, vị trí, vai trò của một ngân hàng thương mại quốc doanh lớn Nợ tồn
Trang 7đọng quá lớn sẽ làm tăng gánh nặng cho ban điều hành ngân hàng, không thể tậptrung vào công tác cải cách và hướng tới nguồn lực cho các hoạt động sinh lời lànhmạnh, không đáp ứng được các chuẩn mực tài chính quốc tế Vì vậy, yêu cầu bức xúcđặt ra cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là: một mặt đẩy mạnh tăngtrưởng nguồn vốn và đầu tư tín dụng có chất lượng cao, đồng thời phải tích cực xử lý
nợ tồn đọng và giải toả tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh để tái tạo lại vốn bằng tiền
Để đáp ứng yêu cầu trên, ngày 22 tháng 11 năm 2001, công ty quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam được thành lập theo quyết định 438/QĐ-HĐQT/TCCB.
2.3 Khái quát về Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản – Ngân hàng nông nghiệp và phát triểnnông thôn Việt Nam là công ty trực thuộc Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nôngthôn được thành lập theo Quyết định số 438/QĐ-HĐQT/TCCB ngày 22 tháng 11 năm
2001 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thônViệt Nam Công ty chính thức khai trương và đi vào hoạt động từ 11/4/2002 Công tyhạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, có con dấu riêng,tài khoản mở tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn và các ngân hàngthương mại khác khi được Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Namchấp thuận Công ty hoạt động trong lĩnh vực quản lý nợ và khai thác tài sản bảo đảm
nợ vay trong hệ thống Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, muabán nợ tồn đọng với các tổ chức tín dụng và các công ty quản lý nợ và khai thác tàisản của các ngân hàng thương mại khác Thực hiện các nhiệm vụ khác theo uỷ quyềncủa Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam theo quy định của Phápluật
Trang 8Tên viết tắt bằng tiếng Anh là : AMC - AGRIBANK
Trụ sở chính của công ty là: Số 4 Phạm Ngọc Thạch – Quận Đống Đa – Thànhphố Hà Nội
• Thời hạn hoạt động:
Thời hạn hoạt động tối đa của công ty là 30 năm kể từ ngày ký quyết địnhthành lập, thời hạn hoạt động thực tế tuỳ thuộc vào quyết định của Hội đồng quản trịphù hợp với tình trạng nợ tồn đọng và tài sản đảm bảo tiền vay của Ngân hàng nôngnghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
Công ty có thể được giải thể trong các trường hợp sau:
- Khi đã hoàn thành việc quản lý nợ và khai thác tài sản bảo đảm nợ vay mà không
có nhu cầu hoạt động tiếp
- Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền yêu cầu giải thể
- Có nhu cầu giải thể và được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận
- Kết thúc thời hạn hoạt động (30 năm) mà không có quyết định gia hạn của Ngânhàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
• Vốn hoạt động của công ty gồm:
- Vốn điều lệ ban đầu của công ty là 10.000.000.000 (Mười tỷ đồng), do Ngân hàngnông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam giao và được bổ sung khi cần thiết
- Vốn vay của tổ chức tài chính, tổ chức tín dụng trong nước và nước ngoài
- Các quỹ theo quy định của pháp luật
- Các nguồn vốn khác được hình thành trong quá trình hoạt động theo quy định củapháp luật
• Nội dung hoạt động của công ty:
- Tiếp nhận, quản lý các khoản nợ tồn đọng (bao gồm: nợ có tài sản bảo đảm và nợkhông có tài sản bảo đảm) và tài sản bảo đảm nợ vay (tài sản thế chấp, cầm cố; tàisản gán nợ; tài sản Toà án giao ngân hàng) liên quan đến các khoản nợ để xử lý,thu hồi vốn nhanh nhất cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn ViệtNam
- Hoàn thiện hồ sơ có liên quan đến các khoản nợ theo quy định của pháp luật trìnhBan Chỉ đạo cơ cấu lại tài chính ngân hàng thương mại của Chính phủ xem xét,
Trang 9trình Thủ tướng Chính phủ cho phép Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nôngthôn Việt Nam được xử lý.
- Chủ động bán các tài sản bảo đảm nợ vay thuộc quyền định đoạt của Ngân hàngnông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đã giao cho công ty quản lý và khaithác theo giá thị trường (giá bán tài sản có thể cao hoặc thấp hơn giá trị nợ tồnđọng) theo hình thức sau:
+) Tự bán công khai trên thị trường
+) Bán qua Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản
+) Bán cho công ty mua, bán nợ của Nhà nước (khi được thành lập)
- Lập và tổ chức thực hiện đề án cơ cấu lại nợ tồn đọng bằng các biện pháp: Giãn
nợ, miễn giảm lãi suất, đầu tư thêm, chuyển đổi nợ thành vốn góp theo chỉ đạo củaNgân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
- Sử dụng nguồn vốn của công ty để xử lý tài sản bảo đảm nợ vay được giao quản lý
và khai thác bằng các biện pháp thích hợp: cải tạo, sửa chữa, nâng cấp tài sản đểbán, cho thuê, khai thác kinh doanh Riêng góp vốn, liên doanh bằng tài sản thựchiện theo đề án của công ty khi được Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nôngthôn Việt Nam chấp thuận
- Mua, bán nợ tồn đọng của các Tổ chức tín dụng khác, của các Công ty quản lý nợ
và khai thác tài sản của ngân hàng thương mại khác theo quy định của pháp luật
- Thực hiện các hoạt động khác theo uỷ quyền của Ngân hàng nông nghiệp và pháttriển nông thôn Việt Nam
• Chế độ tài chính, hạch toán kế toán, trích lập và sử dụng quỹ
Công ty thực hiện chế độ tài chính theo quy định của Bộ tài chính và hướngdẫn của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
Công ty thực hiện hạch toán, kế toán, báo cáo kế toán và báo cáo thống kê theoquy định của Bộ tài chính, Ngân hàng Nhà nước và hướng dẫn của Ngân hàng nôngnghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
Công ty được trích lập và sử dụng các quỹ theo quy định của pháp luật vàhướng dẫn của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
• Mô hình tổ chức của công ty:
Trang 10- Giám đốc: Giám đốc là người chịu trách nhiệm trước Ngân hàng nông nghiệp và
phát triển nông thôn Việt Nam và pháp luật về việc điều hành hoạt động của công
ty Giám đốc do Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng nông nghiệp và phát triểnnông thôn Việt Nam bổ nhiệm và miễn nhiệm theo đề nghị của Tổng Giám đốcNgân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam Giám đốc có nhữngquyền hạn và nhiệm vụ sau:
+) Tiếp nhận vốn và các nguồn lực khác được Ngân hàng nông nghiệp và pháttriển nông thôn Việt Nam giao cho công ty quản lý và sử dụng
+) Trình Tổng Giám đốc Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn ViệtNam về việc:
Sửa đổi, bổ sung Điều lệ Công ty
Mở chi nhánh, văn phòng đại diện
Cơ cấu tổ chức bộ máy điều hành tại trụ sở chính của công ty, cơ cấu tổ chức
bộ máy điều hành tại chi nhánh, văn phòng đại diện của công ty
Bổ nhiệm, miễn nhiệm Phó Giám đốc, Tổ trưởng tổ kiểm tra nội bộ, Giám đốcchi nhánh, Trưởng văn phòng đại kiện của công ty và các chức danh tương đươngkhác của công ty
Quy chế tổ chức và hoạt động của công ty
Phương án hoạt động kinh doanh, phương án sử dụng lợi nhuận sau thuế Thông qua quy chế hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện của công ty
để Giám đốc ký ban hành
Giải thể công ty, chia, tách, sáp nhập, chấm dứt hoạt động của chi nhánh côngty
Tổ chức kiểm toán độc lập thực hiện kiểm toán công ty
Báo cáo tài chính tổng hợp và quyết toán hàng năm của công ty
Hướng dẫn cụ thể việc thực hiện các quy định của Nhà nước và của các cơquan Nhà nước có thẩm quyền
+) Bổ nhiệm, miễn nhiệm Trưởng và Phó phòng chuyên môn, nghiệp vụ của công
ty (trừ Trưởng phòng kế toán, Tổ trưởng tổ kiểm tra nội bộ); Phó Giám đốc chinhánh, Phó văn phòng đại diện; Trưởng và Phó phòng chuyên môn nghiệp vụ củachi nhánh
Trang 11+) Tuyển dụng, sử dụng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện các chế độ chính sáchcán bộ của công ty theo đúng quy định của Ngân hàng nông nghiệp và phát triểnnông thôn Việt Nam và của pháp luật.
+) Thực hiện phương án hoạt động kinh doanh, phương án sử dụng lợi nhuận sauthuế khi được Hội đồng quản trị Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thônViệt Nam phê duyệt
+) Điều hành và quyết định các vấn đề có liên quan đến các hoạt động kinh doanhcủa công ty theo đúng pháp luật, Điều lệ công ty và quyết định của Hội đồng quảntrị Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam; chịu trách nhiệm vềkết quả kinh doanh của công ty
+) Đại diện cho công ty trong quan hệ dân sự, tố tụng, tranh chấp, giải thể
+) Được áp dụng các biện pháp vượt thẩm quyền của mình trong trường hợp khẩncấp (thiên tai, địch hoạ, hoả hoạn, ) và chịu trách nhiệm về những quyết định củamình, sau đó phải báo cáo ngay với Hội đồng quản trị và Tổng Giám đốc Ngânhàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
+) Chịu sự kiểm soát của Hội đồng quản trị, kiểm tra, kiểm toán nội bộ của Ngânhàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, các cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền đối với hoạt động của công ty
+) Báo cáo Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàngNhà nước và các cơ quan Nhà nước theo quy định của pháp luật về kết quả hoạtđộng kinh doanh của công ty
+) Thực hiện các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật, của Ngânhàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
- Các phó giám đốc: là người điều hành một hoặc một số lĩnh vực hoạt động của
công ty theo sự phân công của Giám đốc và chịu trách nhiệm trước Giám đốc vàpháp luật về nhiệm vụ được Giám đốc phân công
- Tổ kiểm tra kiểm toán nội bộ: có nhiệm vụ tổ chức thực hiện kiểm tra việc chấp
hành pháp luật và các quy định nội bộ về các hoạt động nghiệp vụ của công ty theochương trình kiểm tra kiểm toán nội bộ của Ngân hàng nông nghiệp và phát triểnnông thôn Việt Nam
- Các phòng nghiệp vụ, chức năng: Bộ máy chuyên môn, nghiệp vụ có chức năng
tham mưu, giúp Giám đốc trong việc điều hành hoạt động của công ty Cơ cấu tổ
Trang 12chức và hoạt động của bộ máy chuyên môn nghiệp vụ do Hội đồng quản trị quyếtđịnh Phòng nghiệp vụ kinh doanh sẽ là bộ phận thực hiện các hoạt động chính củacông ty: làm việc với ngân hàng, tiếp nhận nợ và tài sản bảo đảm, tiến hành nghiêncứu, phân tích, cơ cấu lại nợ, xử lý tài sản Phòng kế toán thực hiện công tác kếtoán, thống kê của công ty, có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.Trưởng phòng kế toán do Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng nông nghiệp vàphát triển nông thôn Việt Nam bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Tổng Giámđốc Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
Trang 13Mô hình bộ máy tổ chức của công ty quản lý nợ và khai thác tài sản - Ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
GIÁM ĐỐC
CÁC PHÓGIÁM ĐỐC
tổ kiểm tra kiểm toán nội bộ
phòng nghiệp
vụ kinh doanh
phòng tài chính kế toán
phòng tổng hợp
phòng hành chính nhân sự
- VĂN PHÒNG ĐẠIDIỆN
- Chi nhánh, văn phòng đại diện: ở những thành phố, những trung tâm lớn, tập
trung hoạt động của Ngân hàng nông nghiệpvà Phát triển nông thôn như Hảiphòng, Bắc ninh, Thanh Hoá công ty có thành lập các chi nhánh, văn phòng đạidiện để kịp thời, sâu sát nắm bắt tình hình nợ tồn đọng và đề ra biện pháp xử lýthích hợp cho hoạt động ngân hàng ở những địa bàn đó
Trang 142 Thực trạng hoạt động của công ty quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
3.1 Tình hình hoạt động của công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trong năm qua.
3.1.1 Thực trạng nợ tồn đọng đến 31/12/2000 của Ngân hàng nông nghiệp và phát triểnnông thôn Việt Nam
Nợ tồn đọng luôn là một vấn đề nhức nhối và cần được giải quyết trong hoạtđộng tín dụng của ngân hàng nói chung Tuy nhiên, không phải mọi khoản nợ đềuđược đưa vào chương trình giải quyết nợ đọng, cơ cấu lại tài chính cho hệ thống nhânhàng thương mại hiện nay Theo chỉ thị số 01/2002/CT-NHNN của Thống đốc Ngânhàng Nhà nước Việt Nam về việc xử lý nợ tồn đọng của các ngân hàng thương mạiban hành dựa trên tinh thần Quyết định số 149/2001/QĐ-TTg ngày 5/10/2001 của Thủtướng Chính phủ thì phạm vi xử lý nợ tồn đọng của các ngân hàng thương mại là cáckhoản nợ tồn đọng còn dư nợ đến thời điểm ngày 31/12/2000 Do vậy, hoạt động muabán nợ của các công ty quản lý nợ và khai thác tài sản nói chung cũng như công tyquản lý nợ và khai thác tài sản Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ViệtNam nói riêng, xét trên khía cạnh nào đó, thì chỉ liên quan đến các số liệu về nợ đọng
từ thời điểm 31/12/2000 trở về trước
Tính đến thời điểm 31/12/2000 Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam có số nợ tồn đọng là khoảng 7917 tỷ đồng Nợ tồn đọng được phân
chia theo 3 nhóm chính:
Nhóm 1: nợ tồn đọng có tài sản bảo đảm.
Đơn vị: tỷ đồng
Nợ trên tài khoản 28.1 (xiết nợ) 18,88
Nợ trên tài khoản 28.2 (vụ án) 23,52
Trang 15(Nguồn: Đề án xử lý nợ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
Nhóm 2: nợ tồn đọng không có tài sản bảo đảm và không còn đối tượng để thu.
2 Nợ khoanh đã được vay tái cấp vốn 480,61 289,5 770,11
3 Nợ khoanh, xoá chưa được vay tái
cấp vốn
226,06 19,5 245,56
4 Nợ xoá bằng nguồn dự phòng rủi ro
của Ngân hàng Nông nghiệp
Trang 16Nhóm 3: là nợ tồn đọng không có tài sản bảo đảm nhưng con nợ vẫn tồn tại, đang
hoạt động
Đơn vị: tỷ đồng
1 Nợ khoanh đã được vay tái cấp vốn 121 11,51 132,51
2 Nợ khoanh chưa được vay tái cấp
(Nguồn: Đề án xử lý nợ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
Như vậy, tổng số nợ tồn đọng đến 31/12/2000 là 7917 tỷ đồng, trong đó:
- Gốc: 6906 tỷ đồng.
- Lãi: 1011 tỷ đồng.
Qua các số liệu trên có thể thấy tình hình nợ đọng của hệ thống Ngân hàngNông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam đã tương đối nghiêm trọng và kháphức tạp 7917 tỷ đồng nợ đọng là một con số không nhỏ so với 2755 tỷ đồng vốn tự
có đã được bổ sung năm 2000 của ngân hàng này
Trong cơ cấu nợ đọng của ngân hàng, nợ nhóm 1, nợ tồn đọng có tài sản bảođảm, chỉ chiếm 1,68% tổng số nợ Còn lại, nợ nhóm 2 (nợ tồn đọng không có tài sảnbảo đảm và không còn đối tượng để thu nợ) và nợ nhóm 3 (nợ tồn đọng không có tàisản bảo đảm nhưng con nợ còn tồn tại, đang hoạt động) chiếm đa số với tỷ lệ 25,2%tổng số nợ là nợ nhóm 2, 73,12% tổng số nợ là nợ nhóm 3
Tình trạng nợ nhóm 2, 3 cao như vậy có thể được giải thích bằng một số lý donhư sự ưu đãi, buông lỏng trong cơ chế cho vay đối với các doanh nghiệp nhà nước,
cơ chế cho vay theo chỉ định, sự khó khăn về môi trường kinh tế đối với hoạt độngcủa bản thân các doanh nghiệp trong thời kỳ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp
và thời kỳ đầu mới mở cửa với nhiều bỡ ngỡ, thử thách
Trong cơ cấu nợ, nợ tín dụng chính sách và chương trình của Chính phủ khóthu hồi chiếm một tỷ lệ đặc biệt cao, tới 85% nợ nhóm 3 và khoảng 62% tổng số nợđọng cần xử lý của hệ thống Như đã biết, từ trước đến nay, Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn luôn phải đảm nhận một lúc hai nhiệm vụ là thực hiện hoạt
Trang 17động kinh doanh tiền tệ cho bản thân ngân hàng và thực hiện hoạt động đầu tư tíndụng chính sách theo chỉ định của Chính phủ Chính đặc điểm kinh doanh này củaNgân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam đã tạo nên sự khác biệttương đối lớn trong cơ cấu nợ đọng của ngân hàng so với các ngân hàng thương mạikhác Bên cạnh đó, sự biến động bất thường của thị trường nông sản phẩm thế giới về
số lượng, chất lượng, giá cả , tình hình thiên tai, bão lụt xảy ra liên tục với sức tànphá ngày một mãnh liệt đã khiến việc thu hồi nợ trở nên vô cùng khó khăn, tỷ lệ nợtín dụng chính sách và chương trình của Chính phủ khó thu hồi cao
1.1.1. Tình hình hoạt động của công ty quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam trong năm qua
Bảng 2: Tình hình xử lý nợ tồn đọng của công ty quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Đơn vị: tỷ đồng
TT Phương thức xử lý nợ nợ nhóm
1
nợ nhóm2
nợ nhóm3
311,9 22,199 334,099
76,127410,1