Trong bầi cảnh đó, chính sách thương mại và chính sách công nghiệp cần phải được hoàn thiện nhằm thúc đẩy sự phát triển nền công nghiệp và các lĩnh vực kinh nghiệp của mình là "Mối quan
Trang 2MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI VÀ
CHÍNH SÁCH CỐNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM TRONG
BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thi Thu Hằng Lớp : Nhật Ì
Khóa : 45C Giáo Tiên hướng dẫn : TS Nguyễn Xuân Nữ
[Hũ V i e t i
Hà Nội, tháng 5 năm 2010
i u/ OÍQíậ- ị
Ì XM) j
Trang 31.1 Một số vấn đề cơ bản về chính sách thương mại: 4
1.1.1 Khái niệm về chính sách thương mại: 4
1.1.2 Phân loại chính sách thương mại: 5
1.1.2.3 Chính sách hô trợ xuất khau: 7
1.1.3 Vai trò của chính sách thương mại: 8
1.1.3.1 Chỉnh sách thương mại tác động đến việc thu hút các nguồn
vón quan trọng cho nền kinh tế quốc dân: 9
1.1.3.2 Chính sách thương mại ảnh hưởng đến việc tiếp nhận thành
tựu khoa học kỹ thuật phục vụ quả trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
10 1.1.3.3 Chỉnh sách thương mại tạo điêu kiện đê chuyần dịch cơ cấu
kinh tê tạo nên tàng cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa: li
1.1.3.4 Chính sách thương mại tạo môi trường cạnh tranh và nâng cao
năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp nham thúc đầy sản xuất
phát triần: Ị 2
1.2.1 Khải niệm về chỉnh sách công nghiệp: 12
1.2.2 Phân loại chính sách công nghiệp: 14
1.2.3 Vai trò của chính sách công nghiệp: 16
Trang 41.2.3.1 Chính sách cóng nghiệp góp phân chuyên đôi cơ cáu kinh tê
theo lợi thê của môi quốc gia trong quá trình hội nhập quác tê: 16
1.2.3.2 Chính sách cóng nghiệp thúc đay nâng cao trình độ khoa học
-công nghệ, đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội: 17
1.2.3.3 Chính sách cóng nghiệp là một công cụ quan trọng trong chủ
1.3 Mối quan hệ giữa chính sách thương mại và chính sách công
nghiệp trong hội nhập quốc tế: 18
1.3.1.3 Lợi ích cùa hội nhập quốc tể: 21
0)3 2 Mối quan hệ giữa hội nhập quốc tế và chỉnh sách thương mại,
chính sách công nghiệp: 22
C H Ư Ơ N G 2: T H Ự C T R Ạ N G G Ắ N K É T C Ủ A C H Í N H S Á C H
T H Ư Ơ N G MẠI V À C H Í N H S Á C H C Ô N G NGHIỆP TẠI VIỆT NAM.26
2.1 Tác động của chính sách thương mại đến nền kinh tế và sự gắn kết
vói chính sách công nghiệp: 26
2.1.1 Nhóm các chính sách bảo hộ cho ngành công nghiệp trong
nước: 26
2.1.1.2 Nhóm các chỉnh sách phi thuế quan: 31
2.1.2 Nhóm các chính sách
2.2 Tác động của chính sách công nghiệp đến nền kinh tế và sự gắn kết
với chính sách thương mại: 40
2.2.1 Tác động của chính sách công nghiệp đến thương mại: 40
2.2 ỉ 1 Chính sách thu hút lao động: 41
2.2.1.3 Quy hoạch các khu, cụm công nghiệp: 44
Trang 52.2.2 Tác động của chính sách một số ngành công nghiệp trọng diêm
đến thương mại: 46 2.2.2.1 Ngành sản xuât sản phàm và phụ tùng xe hai bánh gân máy: 46
2.2.2.2 Ngành cộng nghiệp dệt - may: 48
2.2.2.3 Ngành cóng nghiệp cơ khí: 50
2.2.2.4 Ngành sản phàm công nghệ cao: 52
2.3 Đánh giá sự gắn kết của chính sách thương mại và chính sách công
nghiệp tại Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế: 53
2.3.1 Những mục tiêu cùng đạt được của chính sách thương mại và
chính sách công nghiệp: 53
2.3.1.1 Thu hút von đau tư: 53
2.3.1.2 Tạo môi trường thuận lợi cho kình doanh và phát trỉên mạnh
mẽ các loại hình doanh nghiệp: 54
2.3.1.3 Phát triên khoa học - kỹ thuật: 55
2.3.1.4 Phát triên và chuyên dịch cơ cấu ngành: 56
2.3 ỉ 5 Tăng trưồng xuất khẩu: 58
2.3.2 Những hạn chế trong việc kết hợp giữa chính sách thương mại
và chính sách công nghiệp: 59
2.3.2.1 Vân đê sử dụng các nguồn lực: 59
2.3.2.2 Vân đê liền quan đến xúc tiến thương mại: 60
2.3.2.3 Hạn chê trong phát triển ngành cơ khí: 61
2.3.2.4 Hạn chê trong phát triển ngành công nghiệp điện tủ: 64
C H Ư Ơ N G 3: M Ộ T SỚ Đ Ề X U Ấ T N H Ả M N Â N G C A O HIỆU QUẢ 67
C Ủ A M Ó I Q U A N H Ệ C H Í N H S Á C H T H Ư Ơ N G M Ạ I V À C H Í N H
S Á C H C Ô N G NGHIỆP T R O N G GIAI Đ O Ạ N 67
H Ộ I NHẬP Q U ọ C T É 67 3.1 Kinh nghiệm xây dựng và điều chỉnh chính sách thương mại và
chính sách công nghiệp của các nước và bài học cho Việt Nam: 67
Trang 63.1.1 Kinh nghiệm và bài học của Thái Lan: 67
3.1.2 Kinh nghiệm và bài học của Nhật Bản: 69
3.1.3 Kinh nghiệm và bài học của Trung Quốc: 71
3.2 M ụ c tiêu và xu hướng phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam giai
3.2.1 Công nghiệp hóa hướng về xuất khấu và cơ cấu ngành công
nghiệp: 74 3.2.2 Tiếp tục đồi mới và chuyển đích cơ cấu kinh tế: 76
3.2.3 Mục tiêu phát triển của một số ngành công nghiệp trọng điểm: 78
3.2.3.1 Ngành công nghiệp xe máy Việt Nam: 78
3.2.3.2 Ngành dệt - may: 79
3.2.3.3 Ngành thép: 80
3.2.3.4 Các ngành cóng nghiệp áp dụng công nghệ cao: 81
3.3 Các biện pháp đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách
thương mại và chính sách công nghiệp: 82
3.3.1 Đối với chính sách thương mại: 83
3.3 ỉ ỉ Nhóm giải pháp liên quan đến thuế: 83
3.3.1.3 Nhóm giải pháp hô trợ xuất khâu: 84
3.3.2 Đối với chỉnh sách công nghiệp: 85
3.3.2.1 Nhóm giải pháp tác động đến toàn ngành công nghiệp: 85
3.3.2.2 Nhóm giải pháp tác động đèn một số ngành công nghiệp trọng
điểm: 87
K Ế T L U Ậ N 91
D A N H M Ụ C TÀI L I Ệ U T H A M K H Ả O 93
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH
Bảng 2.1 Thuế nhập khấu đối với xe có động cơ và các bộ phận, phụ tùng
của chúng 28
Bảng 2.2 Thuê nhập kháu đối với các mặt hàng thuộc ngành dệt may so
Bảng 2.3 Các mặt hàng theo chế độ hạn ngạch thuế quan 32
Bảng 2.4 Kim ngạch xuất khâu các sản phàm cơ khí giai đoạn 2008-2010 .51
Bảng 2.5 Tỷ trọng công nghiệp cơ khí 62
Bảng 3 ỉ Các chi tiêu chủ yếu trong Chiến lược phát triên ngành Dệt may
Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 80
Hĩnh 2.3 Kim ngạch xuất khâu cùa một số ngành công nghiệp 42
Hĩnh 2.4 Kim ngạch xuất khâu xe máy của Việt Nam 47
Hình 2.5 Kim ngạch xuât khâu của ngành dệt may Việt Nam 49
Hĩnh 2.6 Cơ câu các nhóm ngành công nghiệp 57
Hình 2.7 Kim ngạch xuất khẩu cùa Việt Nam 58
Trang 8L Ờ I M Ở Đ Ầ U
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Việt Nam đặt mục tiêu về cơ bản trở thành một nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa vào năm 2020 Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam được thực hiện cùng với quá trình hội nhập kinh tế quầc tế Việt Nam đang tích cực tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quầc tế và tham gia vào mạng lưới sản xuất khu vực và thế giới Bên cạnh đó, một sầ nước trong khu vực đã có những kết quả rất lớn trong quá trình phát triển kinh tế Trong bầi cảnh đó, chính sách thương mại và chính sách công nghiệp cần phải được hoàn thiện nhằm thúc đẩy sự phát triển nền công nghiệp và các lĩnh vực kinh
nghiệp của mình là "Mối quan hệ giữa chính sách thương mại và chính sách
công nghiệp của Việt Nam trong bổi cảnh hội nhập quốc tế"
Trang 92 Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của đề tài là phân tích sự tác động qua lại của chính sách thương mại và chính sách công nghiệp cũng như tác động của nó đến sự phát triển nền kinh tế Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách công nghiệp và chính sách thương mại trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới
3 Đ ố i tượng, phạm v i nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số chính sách thương mại và chính sách công nghiệp của Việt Nam trong bối cảnh nước ta đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và khu vực
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các chính sách liên quan đến các vấn
đề cụ thể như nguờn vốn, lao động, thương mại hàng hóa, công nghiệp sản xuất hàng hóa hữu hình của Việt Nam trong khoảng thòi gian từ sau năm
2002, ưu tiên xem xét giai đoạn từ năm 2005 đến nay Do phạm v i đề tài nghiên cứu lớn nên bài viết không viết đến các vấn đề thường được nghiên cứu cùng chính sách thương mại như chính sách về tỷ giá hối đoái và thị trường ngoại hối
4 Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sờ phương pháp luận về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lenin, đề tài nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong khoa học xã hội, bao gờm phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích và tổng họp, từ đó diễn giải, quy nạp để nghiên cứu Đ ố i với thông tin thứ cấp, đề tài sẽ dựa trên các nghiên cứu trước đây, các báo cáo, số liệu thống kê của Việt Nam
5 Nội dung nghiên cứu của đề tài:
Ngoài Lời mở đầu, Két luận, nội dung của đề tài được kết cấu thành 3 chương:
Trang 10Chương 1: Lý luận chung về chính sách thương mại và chính sách công nghiệp của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập Quốc tế
Chương 2: Thực trạng gắn kết của chỉnh sách thương mại và chính sách công nghiệp tại Việt Nam
Chương 3: Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả của mối quan hệ
chinh sách thương mại và chỉnh sách công nghiệp trong giai đoạn hội nhập Quốc tế
Do đây là một đê tài mang tính lý luận cộng với những hạn chế về tài
liệu thu thập, thời gian nghiên cứu cũng như năng lực của bản thân, bởi vậy
mặc dù đã cố gắng hết sức mình, bài viết không thể tránh khỉi những sai sót
và khiếm khuyết Em rất mong nhận được sự chỉ dẫn của các thầy giáo, cô
giáo và sự góp ý của bạn đọc
Em xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Xuân N ữ đã tận tình hướng dẫn
và có những gợi ý vô cùng quý báu giúp em hoàn thành bài khóa luận này
Trang 11CHƯƠNG 1:
LÝ LUẬN CHUNG VÈ CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM TRONG
BÓI CẢNH HỘI NHẬP QUÓC TÉ
1.1 Một số vấn đề cơ bản về chính sách thương mại:
Khái niệm về chính sách thương mại:
Trong quá trình phát triển của loài người, hoạt động trao đổi m u a bán giữa con người v ớ i con người trong cùng m ộ t quốc gia, giữa các quốc gia v ớ i nhau đã xuất hiện t ừ rất sớm Cùng v ớ i đó là sự ra đời của N h à nước và sự xuất hiện của nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ T ừ những chế độ xã h ộ i sơ khai nhất như chiếm h ữ u nô lệ, chế độ phong kiến, cho đến sự phát triển cao của tư bản chủ nghĩa, xã h ộ i chủ nghĩa, các hoạt động trao đổi mua bán v ẫ n luôn
c h i ế m g i ữ vai trò quan trọng trong sự phát triển k i n h tế và sự phỏn v i n h của mỗi quốc gia B a n đầu là các hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa đơn giản, nhỏ lẻ r ỏ i dần dần phát triển hơn thành các hoạt động giao lưu trao đ ổ i phức tạp hơn, tất cả các hoạt động đó được hiểu là hoạt động thương mại T u y nhiên, nếu để các hoạt động thương mại diễn ra một cách t ự phát theo các quy luật kinh tế thì xã h ộ i sẽ phải gánh chịu những nguy cơ và hậu quả nặng nề như phân hóa giàu nghèo, thất nghiệp tăng cao, an sinh xã h ộ i không đảm bảo Chính vì lý do này m ỗ i quốc gia trong quá trình tham gia vào h ộ i nhập nền k i n h tế the giới đều xây dựng cho mình m ộ t hệ thống chính sách thương mại phù hợp
Trong những điều kiện hoàn cảnh lịch sử và điều k i ệ n k i n h tế - xã h ộ i nhất định thì m ỗ i quốc gia lại theo đuổi những mục tiêu k i n h tế - xã h ộ i và đường lối chính trị khác nhau, vì thế đặt ra gánh nặng là phải xây dụng một hệ thống chính sách phù hợp v ớ i các mục tiêu phát triển đã đề ra Đ ể quản lý và
Trang 12điều chỉnh các hoạt động thương mại phát triển đúng hướng, Nhà nước đưa ra
các chính sách thương mại Ngày nay khi mà xu hướng hội nhập kinh tê thê giới và tự do hóa thương mại diễn ra mạnh mẽ thì hoạt động thương mại được
hiểu theo cách tiếp cận mới Theo WTO, khái niệm thương mại gồm bốn lĩnh vực: thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, thương mại liên quan đến sờ hữu trí tuệ và thương mại liên quan đến đàu tư Trong xu thế đó, khái niệm
thương mại ả các nước cũng đuợc thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp Điều này
được minh chứng rõ ràng qua việc xây dựng hệ thống chính sách thương mại
ả Việt Nam Theo Luật Thương mại năm 1997 quy định rang "hoạt động
thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của thương nhãn" [Điều 5, khoản 2 Luật Thương mại 1997] Còn đối với Luật Thương
mại Việt Nam năm 2005 định nghĩa "hoạt động thương mại là hoạt động
nhăm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu
tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác " [Điều
3, khoản Ì Luật Thương mại Việt Nam 2005] Qua hai cách lý giải này ta
nhận thấy ả Việt Nam cách hiểu về thương mại và hoạt động thương mại đã
được mả rộng, bo sung, sửa đổi cho phù hợp với cách hiểu của WTO, nhằm tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong bối
cảnh hội nhập quốc tế Chính sách thương mại được hiểu một cách đầy đủ
hơn: "Chính sách thương mại là một hệ thống bao gồm các nguyên tắc, luật
lệ, quy định, các biện pháp hành chính, kinh tế liên quan đến hoạt động thương mại mà Nhà nước áp dụng đê thực hiện đưỳng loi, mục tiêu, chiến lược phát triên kỉnh tê - xã hội cùa một nước trong từng thỳi kỳ nhất định "
[19]
1.1.2 Phăn loại chính sách thương mại:
ỉ 1.2 ỉ Chính sách thuế quan:
Thuế quan là một trong những công cụ chủ yếu của chính sách thương
mại của một quốc gia Thuế quan có nhiều loại, bao gồm thuế tính theo giá
Trang 13thuế tuyệt đối, thuế theo mùa, hạn ngạch thuế, thuế lựa chọn, thuê hỗn hợp
Cụ thể như sau:
- Thuế tính theo giá: là loại thuế đánh một tỷ lệ phần trăm (%) nhất định trên giá hàng nhập khẩu Việc áp dụng cách tính thuế theo giá làm cho số tiền thuế thu được biến động theo sự thay đặi của giá hàng nhập khâu Việc thu thuế theo tỷ lệ giá hàng nhập khẩu đòi hòi cơ quan thuế phải xác định được chuẩn xác giá nhập khẩu để thu thuế Đây là khó khăn đặt ra với cơ quan thuế
- Thuế tuyệt đối: là loại thuế quy định mức thuế theo giá trị tuyệt đối tính trên đơn vị hàng hóa nhập khẩu (số lượng, trọng lượng, dung tích ) Do
đó, giá hàng nhập khâu cao, thấp không ảnh hường đến quy m ô thuế thu Cách tính thuế này đơn giản Tuy nhiên khi giá cả nhập khẩu biến động sẽ nảy sinh không công bằng giữa các đối tượng chịu thuế
- Thuế theo mùa: là loại thuế áp dụng mức thuế khác nhau tùy thuộc vào mùa thu hoạch Vào mùa thu hoạch thì hàng nhập khẩu bị đánh thuế cao, vào thời điểm trái vụ thì thuế đánh thấp hơn do để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
- Hạn ngạch thuế: là chế độ áp dụng mức thuế suất thấp hơn khi hàng hóa nhập khau trong giới hạn hạn ngạch nhập khẩu quy định, nhưng khi vượt quá hạn ngạch nhập khâu thì phải chịu mức thuế cao hơn đối với phần vượt đó Các công cụ trên được sử dụng một cách linh hoạt tạo nên chính sách thuế đa dạng, tùy thuộc vào mục tiêu và quan điểm về phát triển thương mại trong nước cũng như việc quản lý, bảo hộ hay ủng hộ tự do cạnh tranh của các quốc gia trong điều kiện tự do hóa thương mại, mờ cửa trong nước và hội nhập quốc tế Trong hệ thống chính sách thương mại, chính sách thuế quan có
ưu điểm là rõ ràng, ôn định, có khả năng dự đoán cao Tuy nhiên, chính sách này không tạo được rào cản nhanh chóng trong các trường hợp khẩn cấp như
số lượng hàng nhập khẩu tăng đột biến gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước hoặc nguy cơ đe dọa tới ngành sản xuất trong nước
Trang 14/ 1.2.2 Chính sách phi thuế quan:
Chính sách phi thuế quan là các công cụ ngoài thuế quan, có vai trò quan trọng trong hệ thống chính sách thương mại của một quốc gia Công cụ phi thuế quan thường bao gồm các biện pháp hạn chế định lượng (như các quy định về cấm xuất nhập khẩu, hạn ngạch, giấy phép nhập khẩu hàng hóa); các biện pháp mang tính kỹ thuật (như các quy định tiêu chuẩn kỷ thuật, kiếm dịch động thớc vật, các yêu cầu về nhãn mác hàng hóa, về môi trường ); những biện pháp về vệ sinh, an toàn thớc phẩm đối với hàng nhập khâu Các chính sách phi thuế quan còn biểu hiện dưới hình thức là các biện pháp liên quan đến đầu tư nước ngoài như: yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa, tỷ lệ xuất khẩu bắt buộc, yêu cầu phải sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước Quy định về tỷ lệ nội địa hóa thường được sử dụng nhiều ờ các nước đang phát triển với mục tiêu phát triển sản xuất trong nước và chuyển hướng từ gia công hàng hóa cho nước ngoài sang sản xuất trong nước
Các biện pháp quản lý về giá, bao gồm các quy định về giá tính thuế hải quan, giá tính thuế tối đa, giá tính thuế tối thiểu, phụ thu hay các biện pháp về hình thức hoặc quyền kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm các quy định về doanh nghiệp thương mại nhà nước, quyền kinh doanh nhập khấu cũng là các công cụ phi thuê quan
Chính sách phi thuế quan là những biện pháp hữu hiệu áp dụng để bảo
hộ sản xuất trong nước Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp này thường gây ảnh huờng tiêu cớc đối với hàng hóa nhập khâu Vì vậy, các nước sẽ sử dụng các biện pháp này như thế nào tùy vào chính sách mở cửa hay đóng cửa của nước đó trong mối quan hệ thương mại quốc tế
Trang 15Hỗ trợ trong nước: là một hình thức hỗ trợ bằng tài chính hoặc phi tài chính của Chính phũ hoặc một cơ quan công quyền (chính quyền địa phương) một cách trực tiếp hoặc gián tiếp để phát triển kinh tế Hỗ trợ bằng tài chính
có thê ờ dạng cấp vốn trực tiếp (tài trợ, vay và cổ phễn sờ hữu ), dạng cáp vốn và tài sản trực tiếp không thường xuyên (bảo lãnh vốn), miễn các khoản thu của Chính phủ (miễn, giảm thuế), cung cấp hàng hóa và dịch vụ ngoài cơ
sờ hạ tễng chung, mua sắm hàng hóa hoặc Chính phủ giao cho một tổ chức tư nhân thực hiện hoạt động nói trên Hỗ trợ phi tài chính có thể dưới các hình thức cung cấp thông tin về thị trường, kết nối người mua với người bán, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển trên thị trường
Trợ cấp xuất khẩu: là những ưu đãi về mặt tài chính mà Nhà nước dành cho nhà xuất khẩu khi họ xuất được hàng hóa ra thị trường nước ngoài Trợ cáp xuât khâu nhăm làm tăng thu nhập của nhà xuất khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài Trợ cấp xuất khẩu
có thể thực hiện bằng hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp Tuy nhiên, trợ cấp xuất khẩu đối với mặt hàng nào, mức độ cao hay thấp là tùy thuộc vào chính sách của Nhà nước đối với từng mặt hàng và trong từng giai đoạn cụ thể Ngoài ra, chính sách thương mại với ý nghĩa là công cụ được tạo lập để điều tiết hoạt động thương mại, còn bao gồm các chính sách tiền tệ và tỷ giá, chính sách về giá, các quy định về thủ tục hải quan Tuy nhiên, dù áp dụng chính sách nào đi chăng nữa thì phải hướng tới phát huy vai trò của nó trong việc phát triên kinh tế
1.1.3 Vai trò của chính sách thương mại:
Chính sách thương mại là một bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của một nước N ó góp phễn thúc đẩy việc thực hiện đường lối, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn, từng thời kỳ cụ thể Đe xây dựng một chính sách thương mại đúng đắn
và phù hợp cễn phải căn cứ vào tình hình thực tiễn của nền thương mại trong
Trang 16nước cũng như thay đổi của nền thương m ạ i thế giới Nhất là trong b ố i cảnh hiện nay các nước tham g i a vào t ự do hóa thương mại và h ộ i nhập k i n h tế quốc tế thì chính sách thương mại là một công cụ quan trọng góp phân xác lập, củng cố vị thế nước đó trong m ố i quan hệ quốc tế nói chung, trong tiên trình h ộ i nhập k i n h tế quốc tế và thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng
/ 1.3 ì Chính sách thương mại tác động đến việc thu hút các nguôn vón quan trọng cho nên kinh tế quốc dân:
Đ ê xây dựng và phát triển cơ sở vật chất kữ thuật cho nền k i n h tế, có hai nguồn vòn có thê huy động là nguồn v ố n trong nước và nguồn v ố n nước ngoài Cả nguồn v ố n trong nước và nguồn v ố n nước ngoài đều đóng góp rất lớn vào xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển khoa học kữ thuật tạo nền tảng phát triên vững chác nên kinh tế Việc thu hút nguồn v ố n nước ngoài có ưu điếm là
t h u hút công nghệ, kinh nghiệm quản lý và làm việc của các nước, bên cạnh
đó còn góp phần tạo ra công ăn việc làm và khai thác hiệu quả hơn tài nguyên thiên nhiên của một quôc gia Vì vậy, nguồn v ố n nước ngoài là m ộ t nguồn vốn m à các quốc gia trên thế giới đều mong muốn có được
Tuy nhiên, đế đạt được những mong m u ố n như trên cần có m ộ t hệ thống chính sách thương mại phù hợp M ộ t chính sách thương mại theo hướng minh bạch và thông thoáng, ban hành nhiều luật và các văn bản dưới luật để thực hiện các cam kết đa phương, m ở cửa thị trường hàng hóa, dịch v ụ cũng như các biện pháp cải cách đồng bộ trong nước nhằm tận dụng t ố t các
cơ hội và vượt qua thách thức trong quá trình hội nhập Đ ặ c biệt là các chính sách thương mại quốc tế thuận l ợ i sẽ thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa r a nước ngoài, mặt khác tạo điều kiện nhập khẩu trang thiết bị cần thiết cho các ngành sản xuất trong nước M ộ t k h i sản xuất trong nước phát triển cũng đồng nghĩa với một môi trường đầu tư hấp dẫn, cộng thêm v ớ i những chính sách ưu đãi đầu tư thì sẽ thu hút được các nguồn v ố n cả trong và ngoài nước
Trang 17/ 1.3.2 Chính sách thương mại ảnh hưởng đến việc tiếp nhận thành tựu khoa học kỹ thuật phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
Công nghiệp hóa là một quá trình chuyển đổi căn bản để biến một nền
kinh tế lạc hậu, kém phát triển thành một nền kinh tế phát triển; biến một
nước kém phát triển thành một nước phát triển dựa trên nền sản xuất tiên tiến
V à khi quá trình này thực hiện xong, quốc gia thực hiện công nghiệp hóa sẽ
trở thành một nước công nghiệp Hiện đại hóa cũng là một quá trình chuyển
biến từ tính chất truyền thống sang trình độ tiên tiến, hiện đại, chủ yếu nhờ
vào sự tiến bộ của khoa học, công nghệ "Quá trình công nghiệp hóa thường
gân liên với quá trình hiện đại hóa Hai quá trình này không phải là hai quả trình riêng rẽ, tách biệt, nôi tiếp nhau mà là một quá trình thong nhất, vừa cóng nghiệp hóa, vừa hiện đại hỏa, trong đó hiện đại hóa là mục tiêu còn công nghiệp hóa là phương tiện, biện pháp để tiến tới mục tiêu " [24]
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là mặc tiêu của bất kỳ một nước đang
phát triển nào cũng muốn đạt được Tuy nhiên, để đạt được mặc tiêu này các
nước phải ban hành các chính sách nói chung và các chính sách thương mại
nói riêng phù hợp, xuất phát từ đặc điểm kinh tế nội tại của quốc gia đó
Chính sách thương mại có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa của một quốc gia, tùy vào chiến lược phát triển kinh tế của
quốc gia đó mà chính phủ ban hành chính sách thương mại phù hợp
Trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới đang
diễn ra như vũ bão, hội nhập kinh tế quốc tế là một cơ hội thuận lợi để các
nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng rút ngắn khoảng cách
với các nước trong khu vực và trên thế giới Vì thế, một hệ thống chính sách
thương mại đúng hướng sẽ giúp chúng ta tiếp thu và dần dần làm chủ công
nghệ tiên tiến, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân Mặt khác, chúng ta phải
lun ý đến các chính sách thương mại liên quan đến quản lý nhập khẩu tránh
Trang 18tình trạng nhập khẩu m á y m ó c thiết bị đã qua sử dụng, chất lượng không đảm
bảo một cách tràn lan, biến nước ta thành m ộ t bãi rác thải công nghiệp của
các nước phát triển
1.1.3.3 Chính sách thương mại tạo điều kiện đẻ chuyền dịch cơ câu kinh tê tạo nền tảng cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
M ộ t đặc điểm n ổ i bật của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đó là
số chuyển dịch cơ cấu k i n h tế theo hướng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch
vụ trong tổng sản phẩm xã h ộ i ngày càng tăng Đây là m ộ t n h i ệ m v ụ nặng nề
đặt ra cho các nước đang phát triển, trong đó có V i ệ t Nam K i n h n g h i ệ m của
các quốc gia đi trước cho thấy, phải kết hợp m ộ t cách nhuần nhuyễn và hiệu
quả các chính sách quản lý v ớ i nhau Ở đây chúng ta đề cập đến vai trò của
chính sách thương mại trong quá trình chuyển dịch cơ cấu k i n h tế
M ộ t chính sách thương mại phù họp v ớ i các mục tiêu k i n h tế, xã h ộ i đề
ra sẽ giải quyết triệt để các vấn đề còn t ồ n tại trong nền k i n h tế hiện tại
Chuyển dịch cơ cấu k i n h tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước
ta chính là quá trình phát triển mạnh các ngành nghề p h i nông nghiệp, thông
qua đó làm giảm bớt lốc lượng lao động trong lĩnh vốc nông nghiệp, tăng khả
năng tích l ũ y cho dân cư Đây lại chính là điều kiện để tái đầu tư, áp dụng các
phương pháp sản xuất, công nghệ tiên tiến hiện đại vào sản xuất, trong đó có
cả sản xuất nông nghiệp Két quà là tất cả các ngành kinh tế đều phát triển,
nhưng ngành công nghiệp và dịch vụ cần phát triển nhanh hơn, biểu hiện là
tăng tỷ trọng của sản phàm công nghiệp và dịch v ụ trong tổng sản phẩm quốc
nội (GDP) Không chi dừng lại ờ chuyển dịch cơ cấu ngành k i n h tế m à chính
sách thương mại đúng đắn còn tác động đến hình thành các vùng k i n h tế dốa
trên tiềm năng, l ợ i thế của vùng, gắn v ớ i n h u cầu thị trường X ó a bỏ tình trạng
chia cắt thị trường giữa các vùng, xóa bỏ tình trạng t ố cung t ố cấp Điều này
đòi hỏi những chính sách linh hoạt và phù họp v ớ i những lợi thế riêng có của
mỗi địa phương áp dụng
Trang 19ỉ 1.3.4 Chính sách thương mại tạo môi trường cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp nhằm thúc đây sản xuất phát triển:
H ộ i nhập k i n h tế quốc tế là một x u hướng m à hiện nay tất cả các quốc
gia trên thế giới đều đang theo đuổi N ó đòi h ỏ i các nước phải chủ động rà
soát để đưa ra các chính sách thương mại phù hợp v ớ i những yêu cầu của các
định chế quốc te m à quốc gia đó tham gia M ờ c tiêu cao nhất của các chính
sách đó là tạo ra m ộ t cơ cấu k i n h tế t ố i ưu, có khả năng cạnh tranh cao, phát
huy được l ợ i thế quốc gia trong quá trình h ộ i nhập k i n h tế quốc tế nhằm phát
triển k i n h tế
M u ố n t ồ n tại và thành công trên thị trường, bản thân các doanh nghiệp
trong nước phải đảm bảo năng lực cạnh tranh cho sản phẩm của mình về giá
cả và chất lượng Đ e làm được thì buộc phải không ngừng hoàn thiện và đổi
m ớ i phuơng thức sản xuất, t ố i ưu hiệu qua sản xuất và hoạt động doanh
nghiệp Thông qua đó là động lực thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển
1.2 M ộ t số vấn đề cơ bản về chính sách công nghiệp:
1.2.1 Khái niệm về chính sách công nghiệp:
Diễn biến quá trình phát triển công nghiệp ờ m ỗ i quốc gia theo những
quy luật riêng và chịu tác động của một loạt các y ế u tố: chính trị, k i n h tế, xã
hội, văn hóa ở trong nước và bên ngoài Sự không phù hợp của đường l ố i
công nghiệp có thể dẫn đến trì trệ về kinh tế, thậm chí có thể dẫn đến khủng
hoảng và phải trả giá cao N g ư ợ c lại, đường l ố i công nghiệp đúng đắn sẽ dẫn
đến sự phát triển nhanh chóng N h ữ n g đường l ố i công nghiệp đó được t h ể
hiện qua chính sách công nghiệp Song cho đến hiện nay thì vẫn chưa có cách
hiểu nhất quán về chính sách công nghiệp Theo một số học giả k i n h tế, chính
sách công nghiệp là những chính sách được nhàm vào ngành công nghiệp
một số khác lại cho rằng chính sách công nghiệp là những chính sách liên
quan đến việc khuyến khích và tổ chức lại các ngành công nghiệp riêng biệt
nào đó
Trang 20Chính sách công nghiệp là công cụ của Chính phủ nhằm đạt được mục
tiêu phát triển cụ thể của ngành công nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế
Chính sách công nghiệp đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế là tập họp
hàng loạt các công cụ chính sách nhằm thúc đẩy tăng năng suất lao động, hiệu
quả hoạt động của ngành công nghiệp, của nền kinh tế và tạo ra nhiều việc
làm Chính sách công nghiệp có thể bao gứm chính sách cạnh tranh, chính
sách phát triển vùng kinh tế trọng điểm, định chế khuyến khích chuyển giao
khoa học và công nghệ, đầu tư và xúc tiến xuất khẩu, phát triên nguứn nhân
lực và các hình thức hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ Như vậy, chính sách
công nghiệp bao gứm mọi hoạt động nhằm thúc đẩy ngành công nghiệp phát
triển, với hai thành tố cơ bản: sự can thiệp chức năng và can thiệp có trọng
diêm Sự can thiệp chức năng nhằm khắc phục những nhược điểm của cơ chế
thị trường nhưng không tạo ra những ưu thế cho chủ thể kinh tế khác Sự can
thiệp có trọng điểm được thiết kế để tạo điều kiện thuận lợi cho những hoạt
động cụ thể nhằm khắc phục những khiếm khuyết trong phân bổ nguứn lực
của nền kinh tế
Theo Bộ công nghiệp và thương mại quốc tế Nhật Bản, "Chính sách công
nghiệp bao gôm những biện pháp mang tính bô sung được dựa trên nguyên tắc thị trường, nhăm giải quyết vấn để bất ôn của thị trường như ó nhiễm môi trường, xung đột vẻ mậu dịch, hoạt động nghiên cỷu và triên khai quy mô lớn, và những bát ôn định trong cung cáp năng lượng, đóng thời khuyến khích việc chuyên dịch công nghiệp và di chuyên lao động một cách thuận lợi mà không gáy mâu thuôn vê mặt xã hội" [Ì ]
Ở Việt Nam quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng đã và đang
diễn ra mạnh mẽ Tại đại hội Đảng toàn quốc lần thứ v u (năm 1991) đã xác
định mốc thời điểm mà Việt Nam bước vào quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa trên nền tảng, nguyên tắc của nền kinh tế thị trường, trong đó nêu rõ
"Trong thê kỷ XX, nước ta từ một nước thuộc địa từ một nền kinh tế nghèo
Trang 21nàn, lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa "
Để đạt được mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa như trong đại hội đã đề
ra thì cần phải có một loạt các cải cách tiến bộ đưa nước ta vào con đường phát triển Chính sách công nghiệp ra đời với hàng loạt các công cụ nhăm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ, tăng tỷ lệ lao động tham gia vào các ngành công nghiệp, tăng thu nhập bình quân trên đầu người, liên tục thay đổi về phương thữc sản xuất, năng suất lao động Vì thế các nhà kinh tế và hoạch định chính sách đã đưa
ra quan diêm như sau: "Chính sách công nghiệp là một hệ thống các chính
sách, nguyên tác và biện pháp thích hợp mà Nhà nước sử dụng như một công
cụ đê điêu chỉnh các hoạt động công nghiệp của một quốc gia trong một thời
kinh tê - xã hội của quác gia đó " [5]
Mỗi quốc gia trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội đều vạch ra những đường lối, chiến lược không đổi trong một thời gian dài, nhưng với từng giai đoạn cụ thê, nhiệm vụ của chính sách công nghiệp có thể thay đổi nhằm mục đích điều chỉnh các hoạt động công nghiệp theo hướng có hiệu quả hơn cho sự phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước.Vì vậy, chính sách công nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong việc khuyến khích công nghiệp phát triển và nó là động lực thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế trong từng thời kỳ nhất định
1.2.2 Phân loại chính sách công nghiệp:
Hiện nay, chưa có khái niệm chuẩn chung cho hệ thống chính sách công nghiệp nên ở mồi quốc gia có một các phân loại riêng, tùy theo mỗi tiêu chí lựa chọn có một cách phân loại riêng Vì thế chúng ta chỉ xét đến cách phân chia theo một số tiêu chí thông thường và phổ biến
Trang 22Nếu phân loại theo vai trò của Nhà nước trong sự phân còng giữa Nhà nước và các doanh nghiệp, chính sách công nghiệp hướng vào 3 mục đích cơ bản sau:
- Nhóm chính sách hỗ trợ phát triển ngành: chính sách tạo khả năng đối kháng với doanh nghiệp (chỉ đạo hay quy chế cho phép công nghiệp hợp tác,
bổ sung hoặc hỗ trợ đối với doanh nghiệp) Các chính sách này khác nhau ở chỗ là dựa vào pháp luất (quyền lực hay chỉ đạo, hướng dẫn )•
- Nhóm chính sách khống chế các giao dịch bất chính: bao gồm chính sách có mục đích duy trì trất tự (chỉ đạo, ngăn cấm, cho phép) hay các chính sách có tính phán quyết hình thức (đăng ký, thông báo )
- Nhóm chính sách dự thảo luất: gồm chính sách tạo lấp môi trường mới hay chính sách xuất phát từ thái độ thụ động tạo ra trất tự để đối phó với môi trường mới
Nếu dựa vào mục tiêu của chính sách thì có rất nhiều cách phân loại như cách phân loại của Ngân hàng thế giới (WB), của các nhà kinh tế Nhất Bản Theo Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra trong báo cáo của mình vào năm 1995 thì chính sách công nghiệp được phân làm 3 nhóm: chính sách hỗ trợ các ngành công nghiệp như chính sách hỗ trợ ngành công nghiệp ô tô, chính sách hỗ trợ ngành dệt may ; chính sách về điều chỉnh công nghiệp như cải cách cơ cấu ngành công nghiệp khai thác, đóng tàu ; các chính sách khác như chính sách thúc đẩy sự phát triển công nghiệp
Tuy nhiên, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa các nước thường sử dụng 3 nhóm chính sách nhàm hồ trợ và phát triển công nghiệp để thực hiện mục tiêu của mình Ba nhóm chính sách đó là:
- Nhóm các chính sách nhằm phát triển công nghiệp nói chung Đây là những chính sách nhằm ưu tiên các nguồn lực quốc gia cho việc phát triển toàn bộ các ngành còng nghiệp so với các ngành khác, như nông nghiệp, dịch vụ Các chính sách này có thể là các chính sách tấp trung vào phát triển cơ
Trang 23sở hạ tầng, giao thông, điện nước, ưu tiên mặt bằng cho công nghiệp nặng,
hay các chính sách ưu tiên cho phát triển các doanh nghiệp v ừ a và n h ỏ thuộc
các lĩnh vực sản xuất công nghiệp
- N h ó m các chính sách nhằm thay đổi quá trình phân bổ nguồn lực phát
triển g i ỉ a các ngành công nghiệp, cho phép tái cơ cấu lại m ộ t số ngành công
nghiệp Ví dụ, nhỉng u n đãi đặc biệt dành cho các doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực công nghệ cao, công nghiệp chế tạo
- N h ó m các chính sách cho phép điều chỉnh một ngành công nghiệp cụ
thể thông qua việc tái cấu trúc lại các doanh nghiệp trong ngành, hạn chế hay
m ở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tăng cường hay hạn chế đầu tư và
nghiên cứu phát triển N h ỉ n g chính sách này thường được đưa r a k h i có
nhỉng thay đổi đột biến về thị trường hay quan hệ cung cầu trên thị trường
khi nhỉng thay đổi này tạo ra nhỉng chênh lệch l ớ n gây ra bất l ợ i cho xã hội
1.2.3 Vai trò của chính sách công nghiệp:
1.2.3.1 Chính sách công nghiệp góp phần chuyên đôi cơ cấu kinh tế theo lợi thê của môi quác gia trong quá trình hội nhập quốc tế:
T r o n g điều kiện quốc tế hóa nhanh chóng về thương mại, vốn, lao động
và x u hướng toàn cầu hóa, việc lựa chọn kết cấu ngành nghề vừa phát huy l ợ i
thế so sánh vừa tận dụng t ố i đa nguồn lực bên ngoài có ý nghĩa quan trọng,
đảm bảo tốc độ tăng trường nhanh, rút ngắn thời gian công nghiệp hóa và rút
ngắn cách biệt v ớ i các nước phát triển Điều này đòi h ỏ i m ỗ i quốc g i a phải
nhận ra l ợ i the của mình so v ớ i các quốc gia khác, qua đấy xây dựng các
chính sách phù hợp để phát huy l ợ i thế của mình
Đ ố i v ớ i nước ta là một nước đang phát triển, N h à nước định hướng các
ngành công nghiệp tiềm năng, thông qua các chính sách công nghiệp để
k h u y ế n khích, h ỗ t r ợ ngành đó và t ừ đó dần chuyển dịch được cơ cấu nền
k i n h tế Điều đó có ý nghĩa rất quan trọng vì chính sách công nghiệp không
chỉ làm chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế m à còn chuyển dịch cơ cấu trong
Trang 24nội bộ ngành công nghiệp Xét về mặt k i n h tế, chính sách công nghiệp sẽ đua
t ớ i sự chuyên dịch nên k i n h tế theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp,
tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ v ề phương diện nội bộ lĩnh
vực ngành công nghiệp, chính sách nhằm phát triền những ngành công nghiệp
ưu tiên giúp cho quốc gia chuyển dịch cơ cấu ngành t ợ ngành có kỹ thuật khai
thác, sơ chế sang những ngành có kỹ thuật chế tác và công nghệ cao
1.2.3.2 Chính sách công nghiệp thúc đấy năng cao trình độ khoa học - công nghệ, đảm bào hiệu quả kinh tế - xã hội:
Két hợp một cách hợp lý nhiều trình độ khác nhau, tranh thủ công nghệ
tiên tiến và đi thang vào công nghệ hàng đầu thế g i ớ i là một thách thức không
nhỏ đối v ớ i các nước đang phát triên Đ e làm được điều này có sự đóng góp
không nhỏ của một hệ thống chính sách công nghiệp hỗ t r ợ ngành công
nghiệp đó phát triển, một kỹ thuật tiên tiến k h i đi vào sản xuất sẽ gặp khó
khăn và thất bại nếu không có các chính sách h ỗ trợ, nâng đỡ kịp thời T r o n g
điêu kiện hiện nay, công nghiệp hóa gan liền v ớ i cuộc cách mạng khoa học
-công nghệ, tạo nên sự chuyên biến về chất của lực lượng sản xuất N h i ề u
thành t ự u khoa học - công nghệ có thể được ứ n g dụng ngay tức khắc và
thương mại hóa rất nhanh là m ộ t phần n h ờ vào chính sách công nghiệp phù
họp v ớ i nền sản xuất đó N h i ề u ngành kinh tế có hàm lượng tri thức cao, có
tóc độ tăng trường cao và sức lan tỏa nhanh h ỗ trợ tất cả các ngành khác cùng
phát triển đã tạo động lục m ớ i cho phát triển kinh tế
Chính sách công nghiệp là m ộ t chính sách quan trọng trong quá trình
tiên hành công nghiệp hóa của m ỗ i quốc gia v ề mặt xã hội, nó góp phần cải
thiện một cách căn bản đời sống vật chất và tinh thần của người dân về ăn, ở,
đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể chất, nâng cao dân trí và
văn hóa tinh thần v ề mặt k i n h tế - kỹ thuật, nó thúc đẩy khai thác có hiệu quả
các l ợ i thế và các nguồn lực của đất nước gắn v ớ i t ố i đa tân dung nguồn lưc_
bên ngoài trong tiên trình hội nhập k i n h tê quôc tê và toàn câu hóa, phát triên
'.' :A! Ì ••: V i
Trang 25các ngành k i n h tế quốc dân v ớ i tốc độ nhanh nhưng ổ n định và v ừ n g chắc, đảm bảo sự phát triển cân đối nhưng không cào bằng giữa các ngành, các lĩnh vực
1.2.3.3 Chính sách cóng nghiệp là một công cụ quan trọng trong chủ động hội nhập kinh tê quác tê:
Xác định thị trường là điều kiện không thể thiếu trong phát triển các ngành công nghiệp, vì thị thường chính là đầu vào và cũng là đầu ra của các sản phạm công nghiệp Ngoài xác định nhu cầu thị trường trong nước thì phải dần tiến đến tiếp cận v ớ i thị trường tiềm năng nước ngoài Điều này đòi h ỏ i một chính sách công nghiệp m ờ và linh hoạt kết hợp v ớ i các chính sách khác
đê tạo điều kiện tót cho các sản phàm chất lượng đáp ứng được v ớ i nhu cầu thị trường
Thay thế thị trường nhò hẹp, t ự cung t ự cấp bàng thị trường hàng hóa, dịch v ụ đa dạng và vươn ra quốc tế Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần chính là tạo nguồn lực đa dạng cho công nghiệp phát triển, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa trong nước v ớ i hàng hóa nước ngoài H ộ i nhập k i n h tê quôc tê chính là quá trình nâng cao vai trò của m ỗ i quốc gia về
m ọ i mặt đối v ớ i the giới, trong đó phát triển kinh tế là m ộ t n ộ i dung quan trọng không thể thiếu Đ ố i v ớ i các nước đang phát triển như V i ệ t N a m thì phát triên công nghiệp là m ộ t hướng đi đúng đắn để thực hiện nhanh nhất việc công nghiệp hóa đất nước, đi k è m v ớ i nó là chính sách công nghiệp phù hợp với các chù trương đã đề ra
1.3 M ố i quan hệ giữa chính sách thương mại và chính sách công nghiệp trong hội nhập quốc tế:
1.3.1 Khải quát về hội nhập quắc tế:
1.3 ỉ ỉ Khái niệm vê hội nhập quốc tế:
H ộ i nhập quôc tê hay gọi một cách đầy đủ là h ộ i nhập k i n h tế quốc tế là một khái niệm luôn đi liền v ớ i toàn cầu hóa Toàn cầu hóa và h ộ i nhập kinh tế
Trang 26quốc tế đã trở thành xu thế khách quan chi phối sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và quan hệ quốc tế, bắt nguồn tù quy luật phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế Vì thế, khi tìm hiểu về hội nhập kinh tế quôc tê thì ta cũng phải nắm bắt được toàn cầu hóa
Toàn cẩu hóa là quá trình tăng lên mụnh mẽ những mối liên hệ, tác động lẫn nhau của tất cả các khu vục, các quốc gia, các dân tộc trên toàn thế giới về các mặt kinh tế, xã hội, chính trị, khoa học - kỳ thuật, công nghệ Toàn câu hóa bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế và cho đến nay nội dung chủ yếu của nó vẫn là toàn cầu hóa kinh tế Toàn cầu hóa là quá trình gia tăng mụnh mẽ sự lưu thông hàng hóa, dịch vụ, vốn và lao động giữa các quốc gia, các khu vực trên toàn thế giới, vượt qua mọi biên giới quốc gia, khu vực để vươn tới quy
m ô toàn cầu Tuy nhiên, toàn cầu hóa làm gia tăng sự phân hóa giữa nước giàu với nước nghèo, đặt các nước đang phát triển vào nhiều thách thức mà nếu vượt qua được thì lợi ích nhiều, còn nếu ứng phó thất bụi thì thiệt hụi không nhỏ Vì thế, đòi hòi sự nỗ lực của mỗi quốc gia khi tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế của một nước được hiểu "là quá trình chủ
động gân két nên kinh tê và thị trường của từng nước với kinh tế khu vực và thê giới qua các nô lực trong chính sách và hành động theo hướng tự do hóa
và mở cửa trên các cáp độ đơn phương, song phương, đa phương" [2] Đấy
là quá trình vừa họp tác vừa đấu tranh, cụnh tranh, vừa có nhiều cơ hội, vừa không ít thách thức
Quá trình toàn câu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế có tính hai mặt, vừa tụo ra cơ hội, vừa đặt ra những thách thức cho những nước đang phát triển như Việt Nam Những cơ hội m à toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế tụo ra là khách quan và tiềm tàng, song thách thức của nó cũng rất lớn Bứt phá để vươn lên hay châp nhận tụt hậu, điều đó tùy thuộc vào sự phấn đấu cùa mỗi quốc gia
Trang 271.3.1.2 Nội dung của hội nhập quác tê:
Hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình thể hiện sự nỗ lực trong chính sách và hành động cụ thể theo hướng tự do hóa, mờ cửa của các quốc gia trên các cấp độ: đơn phương, song phương và đa phương
Thứ nhất, xét trên góc độ đơn phương, các quốc gia đã và đang nỗ lực đẩy mạnh các cởi cách và chuyển đổi nền kinh tế theo kinh tế thị trường tự do hóa, cam kết mở cửa thị trường bằng cách chủ động điều chỉnh hệ thống môi trường pháp luật và thể chế, cởi cách cơ cấu kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia để huy động và phân bổ có hiệu quở các nguồn lực bên trong và bên ngoài vì mục tiêu phát triên của mình
Thứ hai, ở cấp độ song phương, hầu hết các nước đã và đang đàm phán,
ký kết với nhau các hiệp định song phương, đặc biệt là các hiệp định tự do thương mại song phương - một xu hướng nổi bật trong những năm gần đây, nhất là từ sau vòng đàm phán Doha gặp một số trở ngại nhất định Các thỏa thuận thương mại tự do dưới nhiều hình thức khác nhau liên tục được ký kết Đây là việc các quốc gia thực hiện loại bỏ thuế quan và các biện pháp hạn chế định lượng đối với hầu hết các lĩnh vực Mức cam kết song phương này thúc đẩy mở cửa thị trường sớm và cam kết tự do hóa toàn diện hơn
Thứ ba, ở cấp độ đa phương, một số hoặc nhiều nước cùng nhau đấy mạnh việc thành lập hoặc tham gia vào những định chế/ tô chức khu vực và toàn cầu Các định chế này có thê hình thành từ các nước trong cùng một khu vực địa lý (EƯ, NAFTA, APTA ); hoặc đó là định chế toàn cầu với hầu hết các nước trên thế giới (WTO) Xu hướng nổi trội của các định hướng này là
sự cởi tổ và cấu trúc lại các thể chế hiện có trên một số lĩnh vực Trong tất cở các thể chế này, sự hội nhập vào WTO là mục tiêu và là khuôn khổ phát triển chung của mỗi quốc gia nhằm thích ứng hiệu quở nhất với tiến trình tự do hóa thương mại Két nối vào WTO, về thực chất là kết nối vào thị trường toàn cầu
và nền kinh tế của mỗi quốc gia sẽ có điều kiện phát triển một cách bình
Trang 28thường và có hiệu quả nếu nền k i n h tế của quốc gia đó là m ộ t nên k i n h tê thị trường đích thực, vận hành và được điều tiết trên cơ sở tôn trọng các nguyên tấc của k i n h tế thị trường [12]
M ứ c độ hội nhập kinh tế quốc tế càng cao, thì những đòi hỏi vê sự đông nhát giữa các nưểc cũng càng cao H ộ i nhập k i n h tế quốc tê làm cho nên k i n h
tế của một nưểc ngày càng liên kết chặt chẽ v ể i các nền k i n h tế thành viên khác, từ đó làm cho nền kinh tế thế giểi phát triển theo hưểng tạo ra m ộ t thị trường chung thống nhất trong đó những cản trở đối v ể i giao lưu và hợp tác quốc tế được giảm dần, sự cạnh tranh giữa các quốc gia càng trở nên gay gắt Ngày nay, để không bị nằm ngoài quá trình phát triển k i n h tế thế giểi, các nưểc đều n ỗ lục hội nhập theo x u thế chung, chấp nhận cạnh tranh k i n h tế vì
sự tồn tại và phát triên của chính bản thân mình
1.3.1.3 Lợi ích của hội nhập quốc tế:
H ộ i nhập quốc tế là m ộ t đòi hỏi nội sinh, bức thiết của m ỗ i quốc gia
V i ệ t Nam cũng không nằm ngoài số đó, đây là nhu cầu của bản thân nền k i n h
tế nưểc ta, chứ không phải chúng ta bị bắt buộc K i n h tế V i ệ t N a m đã hội nhập kinh tế thế giểi t ừ lâu, nhung vẫn ở trình độ thấp, sơ khai T u y nhiên, chúng ta nhận thấy lợi ích m à hội nhập k i n h tế đem lại là không thể phủ nhận được Đ ộ n g lực cùa hội nhập kinh tế chính là lợi ích m à các lực lượng tham gia có thể thu được nhờ vào sự m ở rộng thương m ạ i hàng hóa, dịch vụ và đầu
tư D ư ể i đây là một số l ợ i ích nôi bật m à hội nhập quôc tê đem lại cho m ỗ i quốc gia nói chung và cho V i ệ t Nam nói riêng
Thứ nhất, chi có hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả thì chúng ta m ể i tạo ra được thế đứng m ể i trên thương trường quốc tế, m ể i hạn chế được những đối x ử không công bằng
Thứ hai, chỉ có hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta m ể i m ờ rộng được thị trường xuất nhập khẩu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm
M ờ cửa hội nhập, không chi là đê các doanh nghiệp của ta vươn ra, m à còn để
Trang 29các doanh nghiệp nước ngoài đi vào sản xuất và k i n h doanh ờ nước ta H ộ i nhập quốc tế và gia nhập các t ổ chức thương m ạ i thế giới sẽ tạo điều kiện m ờ rộng thị phần quốc tế cho các sản phẩm V i ệ t N a m và thúc đây thương m ạ i phát triển
T h ứ ba, V i ệ t N a m sẽ có l ợ i t ồ việc cải thiện hệ thống giải quyêt tranh chấp k h i có quan hệ v ớ i các cường quốc thương m ạ i chính V i ệ c tham g i a
W T O sẽ cho phép V i ệ t N a m cải thiện vị trí của mình trong các cuộc đ à m phán thương mại, có điều kiện tiếp cận các quy tắc công bàng và hiệu quả để giải quyết các tranh chấp thương mại
Thú tư, V i ệ t Nam sẽ có l ợ i gián tiếp t ồ yêu cầu m à tổ chức mình tham gia về việc cải cách hệ thống ngoại thương, bảo đảm tính thông nhát của các chính sách thương mại và các bộ luật của V i ệ t N a m cho phù hợp v ớ i hệ thống thương mại quốc tế
T h ứ năm, chi có h ộ i nhập kinh tế quốc tế, V i ệ t N a m m ớ i tranh t h ủ được nguồn vốn, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến để đáp ứ n g v ớ i yêu cầu công nghiệp hoa, hiện đại hoa đất nước
T h ứ sáu, nâng cao khả năng cạnh tranh và tính hiệu quả trong nền k i n h
tế, đồng thời tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp
V i ệ t Nam
1.3.2 Mối quan hệ giữa hội nhập quốc tế và chính sách thương mại, chính sách công nghiệp:
H ộ i nhập quốc tế ở các nước đang phát triển ờ các giai đoạn khác nhau
sẽ đặt ra các yêu cầu khác nhau Điều này đòi h ỏ i hệ thống chính sách ở m ỗ i nước cũng rất khác nhau tùy theo mức độ và n ộ i dung của tiến trình m ở cửa
T i ế n trình h ộ i nhập kinh tế quốc tế càng về sau yêu cầu các chính sách càng trờ nên khắt khe v ớ i mức độ m ở cửa cao hơn và linh hoạt hơn Yêu cầu của hội nhập kể t ồ những năm 1990 trở lại đây đã có nhiều thay đổi, nhiều thỏa thuận liên két k i n h tê toàn câu và k h u vực được ký kết, nhiều tổ chức họp tác
Trang 30k i n h tế đa phương được hình thành, số lượng các nước tham g i a ngày càng đông M ứ c độ liên kết kinh tế diễn ra sâu rộng v ớ i tốc độ nhanh hơn Vì thế, phải có m ộ t hệ thống chính sách đủ mạnh để đáp ứ n g các đòi h ỏ i khắt khe của
t i ế n trình h ộ i nhập k i n h tế quốc tế
Chính sách thương m ạ i v ớ i công cụ thuế quan có tác động mạnh tới quá trình h ộ i nhập ở các nước đang phát triển Điều này thê hiện ự chỗ, k h i m ộ t nước đang phát triên tham gia vào quá trình h ộ i nhập k i n h tế quốc tế, chính sách t h u ế quan chính là m ộ t công cụ để h ọ đ à m phán và thực hiện các cam kết quốc tế của mình Chính sách thuế quan có tác động tích cực thông qua việc cát giảm thuê suất đánh vào các hàng hóa nhập khẩu K h i đó, hàng hóa nhập khẩu có cơ h ộ i tham gia một cách bình đẳng v ớ i hàng tại thị trưựng n ộ i địa của nước nhập khẩu Khái niệm thị trưựng n ộ i địa và thị trưựng thế giới dần mất đi, hai thị trưựng thành m ộ t thể thống nhất sẽ giúp cho các doanh nghiệp phải sáng tạo đê nâng cao năng lực cạnh tranh nếu không m u ố n bị đào thải khỏi thị trưựng thống nhất này Điều này giúp các nước đang phát triển xây dựng được các doanh nghiệp đủ mạnh, đủ sức cạnh tranh trên thương trưựng quốc tế, góp phần quan trọng vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở các nước đang phát triển
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là m ộ t quá trình lâu dài, bền b i , trải qua
n h i ề u g i a i đoạn để chuyển đổi căn bản và toàn diện nền k i n h tế, nhằm biến nền k i n h tế t ừ lạc hậu thành m ộ t nền k i n h tế công nghiệp theo hướng hiện đại
Đ ê làm được điều này, hầu hết các nước đang phát triển đều coi phát triển công nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm của công nghiệp hóa, hiện đại hóa v ấ n đề đặt ra là phát triển ngành công nghiệp nào, cơ sự công nghiệp gì và phát triển bằng cách nào để tạo ra sức mạnh công nghiệp, sức mạnh kinh tế cho nền
k i n h tê quốc dân Việc này trước hết tùy thuộc vào năng lực cạnh tranh của
Trang 31hàng hóa, dịch vụ trong nước Vì vậy, phát triển công nghiệp trước tiên phải
ưu tiên cho những ngành công nghiệp, những sản phẩm và dịch v ụ có thê tạo
ra sức cạnh tranh dựa trên l ợ i thế so sánh của m ỗ i nước Điều này đòi h ỏ i các nhà hoạch định chính sách phải xây dựng m ễ t chính sách công nghiệp phù hợp tiêm năng và điều kiện của m ỗ i quốc gia
Q u á trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tiến trình hễi nhập k i n h tế quôc tê không chỉ có m ố i quan hệ mật thiết, h ữ u cơ, biện chúng m à còn có mối quan hệ nhân quả trong thực tiễn phát triển của nền kinh tế thế giới Thông thường, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra trước, sau đó mới diễn ra quá trình hễi nhập quốc tế T u y nhiên, trong bối cảnh hiện nay, đôi v ớ i các nước đang phát triển thì hai quá trình này cần phải thực hiện đồng thời V à để hai quá trình này đạt được thành công, việc linh hoạt và chủ đễng két họp các chính sách quản lý và điều tiết về mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hễi nhập kinh tế quốc tế là cần thiết Việc nâng cao sự gắn kết giữa chính sách thương m ạ i và chính sách công nghiệp là yêu cầu cấp bách Đ ể thấy rõ yêu cầu cấp thiết phải gắn kết hai chính sách v ớ i nhau để nhàm hài hòa mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa v ớ i yêu cầu của hễi nhập quốc tế, cần phải đặt toàn bễ vấn đề liên quan đến chính sách thương mại và chính sách công nghiệp trong m ố i quan hệ hữu cơ v ớ i công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hễi nhập quốc tế Đ ê thực hiện thành công mục tiêu và chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các nước phải căn cứ vào đặc điểm về công nghiệp
và thương mại trong từng giai đoạn để có sự thay đổi, cãi cách chính sách thương mại và công nghiệp mễt cách linh hoạt và mềm dẻo Vì công nghiệp hóa, hiện đại hóa là mục tiêu phát triển kinh tế lâu dài, được thực hiện qua
n h i ề u giai đoạn khác nhau, v i vậy, chính sách thương mại phải được điều chình sao c h o m ở cửa, chính sách công nghiệp cũng phải được xây dựng cho
Trang 32phù hợp N ế u hai chính sách này có tác dụng trái chiều nhau thì mục tiêu kích thích sự phát triên k i n h tê - xã h ộ i sẽ không còn nữa N g ư ợ c lại, nếu chính sách thương m ạ i và chính sách công nghiệp gắn kết v ớ i nhau cùng tác động tích cực đến các ngành, thành phần trong nền k i n h tế thì mục tiêu của h ộ i nhập quôc tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ sớm đạt được Vì vậy, việc gắn chính sách thương mại v ớ i chính sách công nghiệp là một yêu cầu trong quá trình h ộ i nhập quốc tế
Trang 33CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG GÁN KÉT CỦA CHÍNH SÁCH
THƯƠNG MẠI VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG NGHIỆP
TẠI VIỆT NAM
2.1 Tác động của chính sách thương mại đến nền kinh tế và sự gắn kết vói chính sách công nghiệp:
2.1.1 Nhóm các chính sách bảo hộ cho ngành công nghiệp trong nước: 2.1.1 ỉ Nhóm các chính sách thuế quan:
Thuế quan có vai trò hết sức quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế đát nước, bảo hộ và khuyến khích sản xuất trong nước phát triển, đóng góp thu nhập cho ngân sách Tuy nhiên, khi Việt Nam đã chính thức là thành viên của Tố chức Thương mại thế giới (WTO) và các tổ chức kinh tế khu vực cũng như thế giới, việc bảo hộ nền sản xuất trong nước bằng con đưầng thuế quan
có những thay đổi để phù họp v ấ n đề đặt ra là làm thế nào để thuế quan góp phần thúc đẩy kinh tế nhanh, chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Có rất nhiều chính sách nhằm tạo điều kiện để phát triển nền công nghiệp còn non yếu trong nước như: chính sách un tiên nhập khẩu máy móc, thiết bị kỹ thuật; chính sách thuế đối với các nguyên liệu đầu vào
mà trong nước chưa đáp ứng được Đ ố i với mồi chính sách, Nhà nước nghiên cứu và đề ra nhằm đạt được những hiệu quả nhất định cho nền kinh tế nói chung và cho sụ phát triển của công nghiệp nói riêng
Theo Nghị định 149/2005/NĐ-CP ngày 06/12/2005 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều cùa Luật Đầu tư, quy định các nhóm hàng được miễn thuế nhập khẩu bao gồm: hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định của
Trang 34các dự án khuyến khích đầu tư, dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triên chính thức (ODA) (bao gồm: thiết bị, máy móc; phương tiện vận tài chuyên dùng trong dây truyền công nghệ được Bộ Khoa học và Công nghệ xác nhận; phương tiện vận chuyển đưa đón công nhân gồm xe từ 24 chỗ ngồi trờ lên và phương tiện thụy; nguyên liệu, vật tư dùng để chế tạo thiết bị, máy móc nằm trong dây truyền công nghệ hoặc để chế tạo linh kiện, chi tiết, bộ phận rời, phụ tùng, gá lắp, khuôn mẫu, phụ kiện đi kèm để láp ráp đồng bộ; vật tư xây dựng trong nước chua sản xuất được); hàng hoa nhập khẩu để sử dụng trực tiêp vào hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (bao gồm: máy móc, thiêt bị, phụ tùng, vật tư, phương tiện vận tải trong nước chưa sản xuất được, công nghệ trong nước chưa tạo ra được; tài liệu, sách, báo, tạp chí khoa học và các nguôn tin điện tử về khoa học và công nghệ); nguyên liệu, vật tư, bán thành phàm trong nước chưa sản xuất được nhập khẩu để phục vụ sản xuất cụa dự án thuộc Danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư; bán thành phẩm trong nước chưa sản xuất được nhập khẩu để phục vụ sản xuất cụa dự
án thuộc Danh mục lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư quy định tại hoặc thuộc Danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được miễn thuế nhập khẩu trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày bất đầu sản xuất Như vậy, Nhà nước đã có những chính sách miễn thuế nhập khẩu nhằm thúc đẩy quá trình đưa khoa học, kỹ thuật cao vào trong các dây truyền sản xuất công nghiệp trong nước, thúc đẩy các ngành sản xuất công nghiệp phát triển Đây là một chính sách hữu hiệu nhằm thu hút các nhà đầu tư đưa dây truyền công nghệ sản xuất hiện đại vào nước ta, qua đó chúng ta học hỏi kinh nghiệm sản xuất và biến những bài học đó thành cụa mình, đưa trình độ sản xuất công nghiệp trong nước lên một tầm cao mới
Việc cắt giảm thuế quan trong quá trình hội nhập gây ra không ít trờ ngại đối với sự phát triển ngành công nghiệp Việt Nam trước sức ép cụa hàng nhập khẩu Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn duy trì mức thuế suất bào hộ theo một
Trang 35tỷ lệ tương đối hợp lý cho đa số danh mục hàng hóa sản xuất trong nước nhăm phục vụ sụ nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Bảng 2.1 Thuế nhập khẩu đối vói xe có động cơ và các bộ phận, phụ
tùng của chúng
87.02
Xe ô tô chờ 10 người trở lên, kê cả lái xe( trừ xe buýt
được thiết kế đễc biệt để sử dụng trong sân bay, loại
chở từ 30 người trờ lên)
8 3 %
87.03
Xe ô tô và các loại xe khác được thiêt kê chủ yêu đê
chở người (trừ các loại thuộc nhóm 87.02), kể cả các
xe chở người có khoang hành lý riêng và ô tô đua
8 3 % 87.03
Loại khác (xe tang lễ, xe chở tù, xe cứu thương 1 0 % 87.03
87.04 Xe có động cơ dùng đê vận tải hàng hóa 0 % ~ 8 0 %
87.05
Xe chuyên dùng có động cơ, trừ các loại được thiết kế
chủ yếu dùng để chở người hay hàng hóa (ví dụ: xe
cứu hộ, xe cân câu, xe cứu hỏa, xe trộn bê tong )
Xe vận chuyên, loại tự hành, không láp kèm thiêt bị
nâng hạ hoễc cễp giữ thuộc loại dùng trong nhà máy,
kho hàng, ben cảng hoễc sân bay để vận chuyển hàng
hóa trong phạm vi gần
3 %
Nguồn: Thông tư 216/2009/TT-BTC ngày 12/11/2009
Đê phát triên ngành công nghiệp ô tô đã có nhiều chính sách ưu đãi, khuyên khích phát triền như chính sách ưu đãi về đâu tư, chính sách ưu đãi về
Trang 36thuế nội địa, thuế nhập khẩu Có nhiều mức thuế suất khác nhau nhằm đáp ứng các mục tiêu phát triển khác nhau của thị trường xe ô tô trong nước Đối với các loại xe ô tô chở người và các loại xe chủ yếu đê chờ người có mức thuế suất cao là 83%, riêng xe 4 bánh (xe 2 cầu) có mức thuế suất cam kết là 77% Trong khi đó, mức thuế nhập khẩu đối với các ôtô này năm 2009 vản là 83% Như vậy, Việt Nam đã dần dần cắt giảm thuế đối với thị trường ô tô đế đảm bảo các cam kết về thuế với các nước ASEAN, WTO nhưng vản duy trì mức thuế cao so với một số ngành khác nhằm bảo hộ nền sản xuất trong nước Bên cạnh việc đánh thuế cao vào các mặt hàng mà trong nước có thê sản xuât được thì các loại xe như xe vận chuyển, loại tự hành, không lắp kèm thiết bị nâng hạ hoặc cặp giữ thuộc loại dùng trong nhà máy, kho hàng, bến cảng hoặc sân bay để vận chuyển hàng hóa trong phạm vi gần được áp mức thuế nhập khẩu thấp là 3%; các loại bộ phận, phụ tùng của xe cũng ở mức thuế từ
3 % đến 37% Đày là một mức thuế được coi là một biện pháp để hỗ trợ ngành công nghiệp ô tô trong nước, vì hiện nay ngành sản xuất ô tô nước ta mới chỉ
ở trình độ thấp, chủ yếu là ờ trình độ lắp ráp Vì thế, việc áp mức thuế suất thấp đối với phụ tùng, bộ phận xe là một giải pháp thúc đẩy công nghệ lắp ráp, từ đó tiến tới tự sản xuất trong nước
Đối với thị trường sắt thép, theo thông tư số 58/2009/TT-BTC ngày 25/03/2009 của Bộ Tài chính, mức thuế suất thuế nhập khẩu một số mặt hàng sắt, thép trong Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đã được điều chình Các mặt hàng này có mức thuế suất mới từ 0 % đến 15%, đặc biệt với mặt hàng phôi thép dạng dẹt được giảm xuống một mức chung là 2% Việc giảm thuế suất nhập khẩu thép là biện pháp được các doanh nghiệp đánh giá cao, bời như vậy họ
có thể mạnh dạn nhập phôi về dự trữ nhằm phục vụ cho việc sản xuất được ổn định Đây là một biện pháp hữu hiệu cho ngành sản xuất trong nước bởi trữ lượng quặng của các mỏ trong nước không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất của các nhà máy Việt Nam là nước đang phát triển, nhu cầu về thép rất cao Bên
Trang 37cạnh với các mức thuế suất thuế nhập khẩu ờ mức thấp, thuế xuất khâu các mặt hàng sắt, thép không hợp kim ở mức 0 % theo quyết định số 92/2008/QĐ-BTC, tạo điều kiện cho ngành công nghiệp sắt, thép phát triển
Ngành dệt may Việt Nam hiện nay đang được xem là ngành sản xuất mũi nhần và có tiềm lực phát triển khá mạnh Với những lợi thế riêng biệt như vốn đầu tư không lớn, thời gian thu hồi vốn nhanh, thu hút nhiều lao động và có nhiều điều kiện mở rộng thị trường trong và ngoài nước với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế khác nhau Đê khuyến khích ngành dệt may trong nuớc phát triển thì mức thuế suất nhập khẩu đối với các mặt hàng thuộc ngành này cũng có những phân biệt đáng kể
Bảng 2.2 Thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng thuộc ngành dệt may
Từ 60.01
Từ 61.01
đến 61.17
Quân áo và hàng may mặc phụ trợ, dệt kim hoặc
Từ 62.01
đến 62.17
Quân áo và hàng may mặc phụ trợ, không dệt kim
hoặc móc (trừ quần áo chống cháy là 5%) 2 0 % 63.09 Quân áo và các sản phàm dệt may đã qua sử dụng 100%
Nguồn: Thông tư 216/2009/TT-BTC ngày 12/11/2009
Đối với các sản phàm là nguyên liệu đâu vào của ngành thì áp mức thuế 12%, trong khi đó đoi với các sản phẩm đã hoàn thiện thì chịu mức thuế cao hơn là 20% Việc áp dụng mức thuế thấp đối với nguyên liệu giúp cho các doanh nghiệp trong ngành có thể nhập khẩu vải để gia công, sản xuất ra các sản phẩm dệt có giá trị gia tăng cao hơn Tuy nhiên, mức thuế này không hẳn
là thấp, điều này xuất phát từ nhu cầu tự sản xuất ra nguyên liệu đáp ứng một phần nhu cầu trong nước Nhu vậy, duy tri ở mức thuế suất này giúp cho các
Trang 38doanh nghiệp có thể nhập khẩu phần nguyên liệu thiếu hụt mà trong nước không đáp ứng được, còn mức thuế suất lớn hơn đối với các thành phẩm cũng góp phần hạn chế nhập khẩu, tạo ra ưu thế cho sản phẩm sản xuất trong nước Các mức thuế nhập khẩu này giúp cho ngành công nghiệp dệt may hoàn thành chỉ tiêu phát triển của mình
2.1.1.2 Nhóm các chính sách phi thuế quan:
2.1.1.2.1 Các biện pháp hạn chế định lượng:
- Cấm nhập khẩu:
Danh mục các mặt hàng bử cấm nhập khẩu vào Việt Nam hiện nay được quy đửnh cụ thể trong phụ lục số Ì ban hành kèm theo Nghử đửnh 12/2006/NĐ-
CP ngày 23/01/2006, Nghử đửnh quy đửnh chi tiết thi hành Luật Thương mại
về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài Theo đó danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu bao gồm 9 nhóm mặt hàng Trong đó đáng chú ý là hàng tiêu dùng
đã qua sử dụng, bao gồm các nhóm hàng: hàng dệt may, giày dép, quần áo; hàng điện tử; hàng điện lạnh; hàng điện gia dụng; thiết bử y tế; hàng trang trí nội thất; hàng gia dụng bằng gốm, sành sứ, thúy tinh, kim loại, nhựa, cao su, chất dẻo và chất liệu khác Các mặt hàng này được Bộ Thươn mại và Bộ Bưu chính, Viễn thông cụ thể hóa mặt hàng và ghi mã số HS đúng trong Biểu thuế xuất nhập khẩu Ngoài ra còn cấm nhập khấu vật tư, phương tiện đã qua sử dụng, gồm: máy, khung, săm, lốp, phụ tùng, động cơ của ô tô, máy kéo và xe hai bánh, ba bánh gắn máy; khung gầm của ô tô, máy kéo có gắn động cơ (kể cả khung gầm mới có gắn động cơ đã qua sử dụng và hoặc khung gầm đã qua sử dụng có gắn động cơ mới); xe đạp; xe hai bánh, ba bánh gân máy; ô tô cứu thương; ô tô các loại (đã thay đổi kết cấu chuyển đổi công năng so với thiết kế ban đầu, bử đục sửa số khung, số máy) Các mặt hàng này được Bộ Giao thông vận tải và Bộ Công nghiệp phụ trách cụ thể hóa và ghi mã số HS Việc đưa ra các quy đửnh cấm nhập khẩu các mặt hàng này có tác dụng tích cực trong việc
Trang 39bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ môi trường và còn nhằm bảo hộ cho các ngành sản xuất trong nước Việc cấm nhập khẩu hàng tiêu dùng đã qua sử dụng sẽ góp phần phát triển các ngành sản xuất hàng tiêu dùng trong nước Lượng hàng bị quản lý bằng cấm nhập khẩu sẽ được đáp úng bời khả năng sản xuất của các doanh nghiệp trong nước cấm nhập khẩu hàng dệt may, hàng điện
tử, thiết bị gia dụng đã qua sử dụng là một biện pháp giúp giảm nhạ sức ép cho các ngành công nghiệp này so với một khi các mặt hàng này được nhập khấu vào trong nước Vì vậy, biện pháp cấm nhập khẩu cũng được đánh giá là biện pháp bảo hộ ngành công nghiệp hiệu quả
4 Đường tinh luyện, đường thô
Nguồn: Phụ lục số 02 ban hành kèm theo Nghị định số 12/2006/NĐ-CP
So với số lượng mặt hàng được áp dụng hạn ngạch năm 2003 (7 mặt hàng áp dụng hạn ngạch thuế quan bao gồm: sữa nguyên liệu chưa cô đặc, sữa nguyên liệu cô đặc, trứng gia cầm, ngô hạt, thuôc lá nguyên liệu, muối và bông) thì đến nay số lượng mặt hàng áp dụng hạn ngạch đã giảm xuống Tuy chỉ còn 4 mặt hàng bị quản lý theo chế độ hạn ngạch nhưng đây cũng là một
nỗ lực của Nhà nước để quản lý thị trường hàng hóa trong nước
Các mặt hàng được áp dụng hạn ngạch như muối, trứng gia cầm, đường tinh luyện, đường thô là những sản phẩm thuộc nguyên liệu đầu vào cho ngành công nghiệp chế biến thực phẩm Việc áp dụng hạn ngạch đối với các mặt hàng này sẽ kiểm soát quá trình nhập khẩu của chúng vào trong nước, đồng thời, tạo điều kiện sử dụng tối đa nguồn nguyên liệu trong nước có thể
Trang 40đáp ứng được Hạn chế nhập nhẩu bằng hạn ngạch còn giúp cho giá cả các hàng hóa cùng chủng loại trên thị trường có giá ổn định, từ đó tạo ra đầu vào
ổn định cho các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm có liên quan, bảo hộ nền sản xuửt trong nước
- Giửy phép nhập khẩu:
Trong những năm vừa qua, khi mờ cửa nền kinh tế, hội nhập vào kinh
tế khu vực và thế giới, Việt Nam đã có những bước tiến lớn trong việc xóa bỏ quản lý nhập khẩu bằng giửy phép và trong việc đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đèn việc cửp giửy phép Tuy nhiên, Nhà nước vẫn duy trì hình thức quản lý nhập khẩu bằng giửy phép đối với một số mặt hàng cần quản lý
để theo đuổi các mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ
Theo phụ lục số 02 về Danh mục hàng hóa xuửt khâu, nhập khâu theo giửy phép của Bộ Thương mại, nay là Bộ Công thương (Ban hành kèm theo Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 của Chính phủ) có nêu ra 3 danh mục hàng hóa khi nhập khẩu phải có giửy phép nhập khẩu Trong đó có mặt hàng xe 2, 3 bánh gắn máy từ 175 cm3 trở lên Ngoài ra, theo phụ lục số
03 về Danh mục hàng hóa thuộc diện quản lý chuyên ngành có các mặt hàng được các Bộ quản lý M à phải kể đến là 8 nhóm hàng do Bộ Công nghiệp quản lý, phế liệu nhập khẩu do Bộ Tài nguyên và môi trường quàn lý Các hình thức quản lý này là bàng giửy phép hoặc quy định điều kiện tiêu chuẩn hoặc giửy phép nhập khẩu quy định rõ điều kiện và thù tục cửp giửy phép Đây là các biện pháp quản lý có tác dụng tích cực trong hoạt động hạn chế nhập khẩu, từ đó bảo vệ nền công nghiệp còn non trẻ trong nước và hỗ trợ ngành công nghiệp phát triển theo mục tiêu đã đề ra
Một biện pháp quản lý nhập khẩu nữa rửt hay được nhắc đến trong thời gian qua là giửy phép nhập khẩu tự động Đây là quy định đối với hàng hóa nhập khẩu, nhằm mục tiêu quản lý nhập khẩu chặt chẽ hơn dưới sức ép của nhập siêu cao bửt thường, v ề hình thức, đây là loại giửy phép nhập khẩu vô