Chính vì thế, việc giải quyết những tồn tại yếu kém về kinh tế- xã hội của địa phương sẽ được đảng bộ và nhân dân Càng long cùng các ban ngành đoàn thể nhanh chóng tìm cách vượt qua trên
Trang 1Chương 2 THỰC TRẠNG HỌC SINH BỎ HỌC VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CỦA HIỆU TRƯỞNG Ở CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN CÀNG LONG
2.1 KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
2.1.1.Tình hình tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh
Càng Long là một trong 8 huyện thị của tỉnh Trà Vinh, vị trí nằm ở phía Bắc-Tây Bắc của tỉnh, ở tả ngạn sông Cổ Chiên, một nhánh đỗ ra biển của sông Cửu Long ( Mê Kông)
Phía Tây Bắc của Huyện Càng Long giáp huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long; Đông Bắc giáp huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre; Đông Nam giáp thị xã Trà vinh; Nam giáp huyện Tiểu Cần; Tây Nam giáp huyện Cầu Kè thuộc tỉnh Trà Vinh
Huyện lỵ Càng Long nằm trên Quốc lộ 53 ( trước là liên tỉnh lộ 7) giữa 2 thị xã Vĩnh Long (ở Tây Bắc) và thị xã Trà Vinh ( ở Đông Nam), cách thị xã Trà vinh 21 km
Quốc lộ 53 chia huyện thành 2 vùng đất khác nhau: Cánh A ở phía Nam
- Tây Nam là vùng giồng cát gò cao, giao thông đi lại thuận tiện; cánh B ở phía Bắc - Đông Bắc, đất thấp dần về phía sông Cổ Chiên, sông rạch chằn chịt, giao thông đi lại khó khăn
Các kênh, rạch quan trọng hầu hết thuộc hệ thống đổ ra sông Cổ Chiên: Kênh Mây Tức, kênh Càng Long, rạch Cái Hóp, rạch Dừa Đỏ, kênh Suối Cạn, kênh Trà Ếch, kênh 19 tháng 5, rạch Bàng Tăng, rạch Láng Thé, rạch Ba Si Các kênh rạch của Càng Long lại nối liền với các kênh rạch: Ngã Hậu, Tổng Tồn, Trà Ốp, Cần Chông thuộc hệ thống đổ ra sông Hậu nên mạng lưới giao thông thủy khá thuận lợi, nhưng lại gây khó khăn cho giao thông đường bộ
Trang 2Mạng lưới giao thông đường bộ có: Quốc lộ 53 chạy xuyên giữa từ Tây sang Đông, đoạn trên địa bàn huyện dài 16 km qua nhiều cây cầu: Mây Tức,
Mỹ Huê, Cây cách, Láng Thé, Ba si Quốc lộ 60 (trước là liên tỉnh lộ 6) từ Bến Tre qua Trà Vinh, Sóc Trăng đi qua huyện từ bến phà Đức Mỹ- Đại Phước qua Nhị Long- Bình Phú- Huyền Hội Tỉnh lộ 911 từ Bình Phú qua Huyền Hội, Tân An, lộ số 2 chạy từ Càng Long qua An Trường, Tân Bình, Tân An, hương lộ 4 và hương lộ 7…
Dân số càng Long là 165509 người với 34115 hộ, có 85% hộ sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp Dân số Khmer có 8500 người chiếm tỷ lệ 5,14% dân số toàn huyện, sống tập trung ở 8 ấp thuộc 3 xã: Bình Phú, Phương Thạnh
và Huyền Hội
Trải qua các cuộc chiến tranh, toàn huyện có 4773 liệt sĩ, 2892 thương binh, 239 bà mẹ Việt Nam Anh hùng, 10 đơn vị được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân nhân và 2 Anh hùng lao động
Huyện Càng Long có 13 xã, 1 thị trấn gồm 135 ấp, khóm Các xã cánh A nằm ở phía Nam quốc lộ 53: Mỹ Cẩm, An Trường, An Trường A, Tân Bình, Tân An, Huyền Hội Các xã cánh B ở phía Bắc quốc lộ 53: Đức Mỹ, Nhị Long, Nhị long Phú, Đại Phước, Đại Phúc Hai xã Phương Thạnh, Bình Phú
có ba năm cuối của kháng chiến chống Pháp, với sự sát nhập của hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh thành tỉnh Vĩnh Trà(6/1951-7/1954), địa giới của huyện Càng Long có sự điều chỉnh.Bốn xã cánh B có Bình Phú được cắt ra nhập vào huyện Châu Thành Càng Long lúc ấy gồm 5 xã cánh A có Phương
Trang 3Thạnh, 3 xã của Châu Thành cũ, 6 xã huyện Tiểu Cần và 3 xã huyện Trà Cú Chiều dài huyện Càng Long chạy từ quốc lộ 53 (liên lộ tỉnh 7) đến bờ Bắc sông Hậu.
Vùng đất Càng Long vào thời Vua Minh Mạng (1832) là tổng Bình Khánh thuộc phủ Lạc Hoá tỉnh Vĩnh Long trong Nam Kỳ Lục tỉnh (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) Đến thời Vua Tự Đức (1859) Tổng Bình Khánh được chia làm hai tổng: Bình khánh và Bình Khánh Thượng, cho đến khi Pháp đánh chiếm Nam Kỳ Lục tỉnh Đến 20/10/1898 với việc phân chia Nam kỳ Lục tỉnh làm 20 tỉnh và thành lập tỉnh Trà Vinh, thực dân Pháp lập quận Càng Long là một trong năm quận của tỉnh Trà Vinh Dân số quận càng Long lúc ấy mới có 17105 người
Trải qua biến thiên của lịch sử, qua cách mạng và qua giải phóng, xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, Càng long hiện nay là một huyện của tỉnh Trà Vinh Chi bộ Đảng huyện Càng Long thành lập đầu năm 1930 sớm nhất trên toàn tỉnh Trà Vinh
Huyện Càng Long có tổng diện tích tự nhiên là 28895 ha, có 23117 ha đất nông nghiệp, trong đó có 16495 ha đất trồng lúa 70,4 ha đất trồng màu,
6551 ha trồng cây lâu năm và cây ăn trái Mặt bằng đất đai tương đối thuận lợi, địa hình có nhiều sông ngòi, kênh rạch chảy qua, có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển nông nghiệp, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
Về kinh tế, tổng giá trị sản xuất các ngành trên địa bàn huyện cuối năm
2008 đạt 1106 tỷ đồng; chia ra:
• Giá trị sản lượng nông nghiệp: 576 tỷ đồng
• Giá trị sản lượng thủy sản: 101 tỷ đồng
• Giá trị sản lượng công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp: 68 tỷ đồng
• Giá trị xây dựng: 180 tỷ đồng
• Giá trị dịch vụ: 181 tỷ đồng
Trang 4Thu nhập bình quân đầu người (GDP) tương đương 8,3 triệu đồng/người/năm Dưới sự lãnh đạo của huyện Đảng bộ, Càng Long đang từng bước phát triển về mọi mặt: nâng cao dân trí, chuyển dịch cơ cấu, tăng nhịp
độ để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương
Bên cạnh những thành tựu về kinh tế- xã hội đạt được, báo cáo chính trị tại đại hội sơ kết tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2009 đã nêu những tồn tại như sau:
Chất lượng, hiệu quả kinh doanh còn thấp, nhịp độ tăng trưởng kinh
tế chậm
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, tốc độ phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ chưa đáp ứng được yêu cầu Việc ứng dụng công nghệ thông tin, khoa học kỹ thuật, công tác đào tạo, thu hút vốn đầu tư, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển Tỷ lệ hộ nghèo còn cao (27,3%) Còn nhiều vấn đề xã hội bức xúc cần tiếp tục quan tâm giải quyết, đặc biệt là đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, phòng chống tệ nạn xã hội và các loại tội phạm
Với truyền thống quê hương anh hùng, trong kháng chiến nhân dân Càng Long đã không tiếc máu xương, của cải vật chất để cùng với cả nước hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước và đưa cả nước lên quá độ xã hội chủ nghĩa Chính vì thế, việc giải quyết những tồn tại yếu kém về kinh tế- xã hội của địa phương sẽ được đảng bộ và nhân dân Càng long cùng các ban ngành đoàn thể nhanh chóng tìm cách vượt qua trên cơ sở phát huy những truyền thống tốt đẹp sẵn có, trong đó đặc biệt chú trọng đến vai trò đặc biệt quan trọng của giáo dục Có như vậy mới góp phần tích cực thực hiện mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta là làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đưa địa phương từng bước hoà nhập vào hành trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước
Trang 52.1.2 Tình hình giáo dục ở huyện Càng Long, đặc điểm của 07 trường THCS được nghiên cứu.
* Tình hình giáo dục và đào tạo của huyện Càng Long:
“Sự nghiệp GD & ĐT không ngừng phát triển Toàn huyện có 09 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia, tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi đến trường đạt 98% Xét duyệt tốt nghiệp bậc THCS đạt 97,68%, tăng 1,88% so với cùng
kỳ Bổ túc THCS đỗ tốt nghiệp đạt 98,66%, tăng 5,56% so với cùng kỳ, tốt nghiệp THPT đạt 88,18%, tốt nghiệp bổ túc THPT đạt 46% Công tác phổ cập giáo dục: toàn huyện có 14/14 xã, thị trấn duy trì đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập THCS
Xây dựng CSVC: trong năm được đầu tư xây dựng mới 129 phòng học Các trường tiểu học được trang bị đầy đủ thiết bị đồng bộ của các khối, việc
tổ chức sử dụng và quản lý trang thiết bị đồ dùng dạy học có hiệu quả”
(Trích từ nội dung bản báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế văn hoá - xã hội , an ninh quốc phòng năm 2008 của UBND huyện Càng Long).
* Đặc điểm của 07 trường THCS được nghiên cứu:
Đó là các trường THCS: Thị trấn Càng Long, Bình Phú, Phương Thạnh,
An Trường A, An Trường C, Tân An, Huyền Hội
Các trường THCS trên có những đặc điểm như sau:
- Về trường lớp:
Qua khảo sát 07 trường THCS trên chúng tôi nhận thấy CSVC trường học được đầu tư khá tốt, không còn phòng tạm bợ bằng tre lá Các phòng học được xây dựng cơ bản, bán cơ bản Có 03 trường đang được đầu tư xây dựng thêm phòng học, nhà vệ sinh, sân chơi, phòng học bộ môn, phòng thiết bị…
Đó là trường THCS: Bình Phú, Phương Thạnh, An Trường A
Tuy nhiên các trường THCS này còn rất nhiều hạn chế, có 05 trong số 07
Trang 6cư nên rất phức tạp Có 01 trường với 80% tổng số phòng học có “tuổi thọ” trên 30 năm, rất nguy hiểm và không phù hợp với yêu cầu của xã hội Chỉ có
02 trường có phòng học bộ môn, nhưng trang thiết bị trong phòng chỉ có tính chất tạm bợ Có 02 trường có phòng thí nghiệm nhưng hệ thống nước không
sử dụng được Còn các trường còn lại thì không có phòng thí nghiệm, mà thậm chí phòng chứa thiết bị và phòng thư viện phải nhập chung Nhìn chung thư viện của các trường, thì chỉ có 02 trường là tương đối phong phú về đầu sách, còn lại thì còn thiếu rất nhiều, đặc biệt là sách tham khảo cho giáo viên
và học sinh Phần lớn các trường chưa xây dựng được môi trường sư phạm khang trang, đẹp đẽ để thu hút học sinh
Chính vì CSVC chưa đạt, hầu hết các trường chưa có sân chơi, bãi tập thoả mãn yêu cầu, cho nên chưa có trường THCS nào ở huyện Càng Long được công nhận đạt chuẩn quốc gia
Hiện nay, các trường THCS trong huyện Càng Long đang cố gắng phấn đấu đạt được từng tiêu chuẩn một theo quy định trường đạt chuẩn quốc gia
- Về phát triển số lượng, chất lượng giáo dục học sinh.
Bảng 1: Học sinh năm học 2006 - 2007
STT Trường THCS Tổng số
HS
Khối 6
Khối 7
Khối 8
Khối 9
TN THCS
Trang 7Khối 8
Khối 9
TN THCS
Trang 8Tuy nhiên, số học sinh lớp 8 năm học 2006 - 2007 tăng không phải do số học sinh đầu vào tăng đột biến, mà do năm học 2004 - 2005, các trường THCS phải nhận một số lượng lớn học sinh được phổ cập đúng độ tuổi từ các trường tiểu học, có thể nói học sinh tăng là do đột biến phổ cập đúng độ tuổi
Trang 9trong toàn tỉnh, các em học hết lớp 4 chỉ cần học thêm 4 tháng nữa là có thể vào học lớp 6.
Đồ thị 2: Học sinh khối 6, 7, 8, 9 từ năm học 2006 - 2007
đến năm 2008 - 2009
+ Số học sinh hao hụt do bỏ học, lưu ban, chuyển đi nơi khác sau mỗi năm học là một con số không nhỏ; nhưng trong đó số học sinh chuyển đến, chuyển đi xem như không đáng kể Điều này ảnh hưởng rất lớn đến kế hoạch phát triển giáo dục của địa phương, ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực của địa phương, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội và xa hơn là ảnh hưởng đến chính sách lớn của Nhà nước trong thực hiện mục tiêu: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Điều đó thể hiện qua sơ đồ sau:
Trang 10Sơ đồ: Học sinh hao hụt sau mỗi năm học.
2006 - 2007
2007 - 2008
2008 - 2009
Chú ý: Mũi tên chỉ số lượng HS được lên lớp
Mũi tên chỉ số lượng HS TN THCSMũi tên chỉ số HS lưu ban theo học lớp năm sauMũi tên chỉ số HS hao hụt (gồm bỏ học và lưu ban)Chúng ta sẽ thấy rõ hơn số học sinh hao hụt qua bảng sau:
Bảng 4: Tổng số học sinh hao hụt ở các khối lớp.
151615401521
198413621439
172416721268
154115731184
Trang 11Đồ thị 3: Tổng số HS hao hụt qua hai năm học 2006 - 2007
Ở lứa tuổi của học sinh lớp 8, các em đã có thể lao động góp phần giải quyết những khó khăn về kinh tế, hoặc gia tăng thu nhập cho gia đình Chính
vì thế, khi gia đình gặp khó khăn về kinh tế thì sẽ bắt các em bỏ học để giúp gia đình Trường hợp gia đình không cho các em nghỉ học thì các em tự nghỉ học, bởi vì, ở tuổi này các em thường có tâm lý phóng đại khả năng của mình, đánh giá mình cao hơn thực tế, muốn khẳng định mình và đặc biệt là muốn mọi người xem trọng mình, cộng với tình đua đòi, theo bạn bè nhưng không
có đủ tiền đã đẩy học sinh lớp 8 đến con đường bỏ học để kiếm tiền giúp gia đình và đáp ứng những nhu cầu của bản thân
Khối 6 Khối 7 Khối 8 Khối 9 Khối l
Trang 12Mặt khác ở tuổi của học sinh lớp 8, các em có nhu cầu được giao tiếp với bạn bè cùng lứa Sự bất hoà trong quan hệ với bạn bè cùng lứa tuổi, sự thiếu bạn hoặc tình bạn bị phá vỡ đều dễ gây ra những xúc cảm nặng nề, được đánh giá như một bi kịch cá nhân Điều đó có thể các em sẽ bị phê phán bởi xã hội, gia đình, nhà trường và bạn bè, làm cho các em cảm thấy cô đơn và không được cảm thông, chia sẻ Tất cả những tình huống đó có thể đẩy các em đi tìm những người bạn ngoài lớp học, ngoài nhà trường và một số em bị lôi kéo vào những “băng đảng”, những tệ nạn xã hội… và cuối cùng là đến con đường
bỏ học
Lứa tuổi của học sinh lớp 8 chính là lứa tuổi khó khăn điển hình của học sinh THCS, nhiều nhà tâm lý đã dùng những thuật ngữ như: “tuổi khủng hoảng”, “tuổi bất trị”, “tuổi không thể giáo dục”… để chỉ lứa tuổi này ở lứa tuổi này, các em thường không nghe lời cha mẹ, thầy cô, các em thường gây
gổ, đánh nhau, bỏ học… để chứng tỏ mình là quan trọng Tuy nhiên giai đoạn khó khăn này sẽ sớm trở lại vị trí cân bằng, nếu gia đình và nhà trường có thể giải quyết được bằng con đường giáo dục đúng đắn Nghĩa là, một mặt người lớn phải hiểu được những thay đổi cơ bản của lứa tuổi này, thông cảm với những biểu hiện khác lạ của các em và có biện pháp giáo dục phù hợp
Học sinh ở khối lớp 6 và 7 ít hao hụt hơn, vì ở tuổi này các em còn quá nhỏ để phụ giúp việc nhà, còn quá nhỏ để ra ngoài xã hội, để bị tác động bởi những tiêu cực từ người lớn và bạn bè xấu Hơn nữa, các em còn quá nhỏ để
tỏ ra bất mãn với môi trường xung quanh và đặc biệt đối với nhà trường, quan trọng hơn hết là các em chưa bước sâu vào ngưỡng cửa “dậy thì” Cho nên, những học sinh hao hụt ở lứa tuổi này có thể do lưu ban vì sự chuyển đổi môi trường học tập gây “sốc” cho các em, có thể vì giao thông không thuận tiện khi các em chuyển sang trường học mới, cộng thêm quan niệm học chỉ để biết chữ đã đẩy các em đến con đường bỏ học ở tuổi quá nhỏ
Trang 13Học sinh lớp 9, mặc dù chưa qua tuổi “nổi loạn”, mặc dù vẫn là đối tượng có thể giúp gia đình làm kinh tế, nhưng khi đã lên được lớp 9 thì trong
tư tưởng của gia đình và bản thân học sinh đều có ý nghĩa là cố gắng học hết cấp THCS, cố gắng cầm được tấm bằng tốt nghiệp để có thể xin được việc làm, đã tạo động lực giữ chân các em ở lại trường
- Về đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý:
Trang 14Bảng 6: Về đội ngũ giáo viên (GV) năm học 2008- 2009
Trình độ chuyên môn Trên
Cao đẳng
Trung cấp
Qua tổng hợp số liệu giáo viên của 7 trường THCS; chúng tôi nhận thấy
có 61,17% là giáo viên nữ, 74,62% giáo viên có tuổi nghề dưới 10 năm
Trình độ chuyên môn: có 40,13% đạt trình độ ĐH; 54,44% trình độ cao đẳng, 4,42% trình độ trung cấp; số giáo viên có trình độ trung cấp là những giáo viên dạy thể dục, hoặc giáo viên có trình độ cao đẳng nhưng chưa hoàn chỉnh (học cao đẳng 2 năm) Những giáo viên này đang theo học các lớp hoàn chỉnh trình độ chuyên môn
Phần lớn giáo viên đều là dân địa phương, nếu không phải là dân địa phương thì cũng là dân trong huyện Càng Long; nên tình hình đội ngũ tương đối ổn định
Trên cơ sở bảng 10, chúng ta thấy có vấn đề cần chú ý sau: Có đến 61,17% giáo viên nữ và 74,62% có tuổi nghề dưới 10 năm, tức là dưới 32 tuổi; đối với giáo viên, đây là độ tuổi đầy nhiệt huyết, yêu nghề, mến trẻ, tích cực trong mọi phong trào; mặc dù kinh nghiệm giảng dạy và giáo dục đạo đức cho học sinh chưa nhiều Nhưng đối với giáo viên nữ, đây là độ tuổi sinh con, nuôi con, chăm sóc gia đình và phải đầu tư cho công việc giảng dạy, giáo dục
ở trường, đây có thể nói là giai đoạn mà tâm lý người phụ nữ giáo viên có nhiều biến đổi nhất; nếu gia đình có hoàn cảnh kinh tế ổn định thì sẽ giảm phần nào áp lực cho người giáo viên nữ trong vai trò người con, người vợ,
Trang 15người mẹ, người chăm sóc gia đình, người tham gia hoạt động sản xuất và hoạt động xã hội; nhưng nếu gia đình của người giáo viên nữ có hoàn cảnh kinh tế khó khăn thì áp lực của người giáo viên nữ càng nặng nề Tâm lý ảnh hưởng đến sinh lý; điều này làm cho giáo viên nữ ở độ tuổi này gặp nhiều khó khăn trong việc hoàn thành nhiệm vụ trong nhà trường, gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc giảng dạy và giáo dục học sinh; đặc biệt là đối với học sinh ở giai đoạn "quá độ" từ trẻ con sang người lớn.
45
Trung cấp Sơ cấp
Trên
Trung cấp
Về thâm niên trong ngành: số cán bộ quản lý có thâm niên làm quản lý trên 3 năm chiếm tỷ lệ 83,3%; chứng tỏ, phần lớn CBQL là người có kinh nghiệm quản lý tập thể
Phần lớn CBQL ở trường THCS có trình độ ĐH, và hầu hết đã qua các lớp LLCT; hơn phân nửa trong số này dưới 45 tuổi Với trình độ chuyên môn, chính trị, với tuổi đời dưới 45, đây sẽ là đội ngũ CBQL năng động, nhiệt tình, nhanh chóng thích nghi với sự đổi mới
Trang 16Qua số liệu thống kê cho thấy số CBQL là nữ, chiếm tỷ lệ chỉ 27,77%; trong khi đó số nữ giáo viên THCS lại chiếm tỉ lệ 61,17% Điều đó có nghĩa
là lợi ích của nữ giáo viên sẽ ít được đề cập đến trong các bảng kế hoạch năm học, đặc biệt là trong các kế hoạch chiến lược Nếu coi nhẹ lợi ích của cấp dưới sẽ khó phát huy được tính tích cực của họ Như vậy sẽ khó tạo được sự đồng thuận trong tập thể, ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục của nhà trường; quan trọng hơn nữa là chính sự bất thuận trong tập thể sẽ gây ra nhiều phản ứng tiêu cực, mỗi thầy, cô giáo sẽ không thể là tấm gương sáng về đạo đức, tự học và sáng tạo cho học sinh noi theo Đó cũng là một trong những nguyên nhân gây bất mãn khiến học sinh bỏ học
Về phổ cập giáo dục THCS theo chuẩn quốc gia:
Thực hiện PC GD THCS giai đoạn 2006 - 2010 của tỉnh Trà Vinh và của huyện Càng Long, hiện nay huyện có 14/14 xã, thị trấn duy trì đạt chuẩn phổ cập THCS Tuy nhiên, là vùng kinh tế - xã hội còn khó khăn cho nên công tác
PC GD THCS vẫn là một thách thức, đòi hỏi các xã, thị trấn hàng năm phải tiến hành điều tra, vận động các đối tượng phổ cập đến lớp, thực hiện nghiêm túc công tác thống kê xử lý tài liệu, số liệu, lưu trữ hồ sơ Nhưng thực tế cho thấy công tác PC GD THCS chỉ là công tác xử lý số liệu, bởi vì số học sinh THCS bỏ học trong 5 năm qua ở huyện Càng Long lên đến 50 lớp, trong khi các lớp phổ cập mở ra và hoàn tất sau 4 tháng chỉ là một con số khiêm tốn: 01 lớp 7 ( 17 học sinh), 05 lớp 8 ( 78 học sinh), 21 lớp 9 (469 học sinh) Tổng cộng là 564 học sinh, mất gần 1500 học sinh
Đó phải chăng là kết quả của việc chạy theo thành tích và không có sự kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường?
2.2 THỰC TRẠNG HỌC SINH BỎ HỌC Ở CÁC TRƯỜNG THCS TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CÀNG LONG
2.2.1.Đặc điểm chung của học sinh các trường THCS huyện Càng Long Bảng 8: Chất lượng giáo dục 2 mặt ở năm học 2008 - 2009
Trang 17(Tổng số HS) Giỏi Khá TB Yếu Kém Tốt Khá TB Yếu
18.4 32,0 40,1 9,5 00 65,8 31,4 2,0 0,8Bình Phú 220 356 288 35 01 668 226 06 00
Học sinh xếp loại học lực khá, giỏi là 61,6%; nếu tính từ trung bình trở lên thì đạt 95,5%, còn lại 4,5% học sinh xếp loại yếu kém
Như vậy, phần lớn học sinh THCS trên địa bàn huyện Càng Long là những học sinh biết kính trọng người trên, biết giúp đỡ mọi người, tích cực rèn luyện đạo đức, có lối sống lành mạnh, hoàn thành nhiệm vụ học tập; tuân thủ nội quy nhà trường; tham gia nhiệt tình các hoạt động do nhà trường tổ chức…
2.2.2 Tình hình học sinh bỏ học
Song song với việc nâng cao chất lượng học tập đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội, thì việc nghiên cứu vấn đề học sinh bỏ học và đề ra biện pháp quản lý nhằm khắc phục tình trạng này là rất cần thiết
Trang 18Trước khi đưa ra những nhận xét sơ bộ về tình hình học sinh bỏ học, chúng ta tìm hiểu qua số liệu điều tra mà các trường đã cung cấp về học sinh
bỏ học qua ba năm học gần đây
Trang 19An Trường C và Phương Thạnh thì tỷ lệ học sinh bỏ học chỉ tăng lên, không thấy giảm Qua đó cho thấy tình trạng học sinh bỏ học vẫn đang biến động.
Số HS
bỏ Trong đó
Tỷ lệ học NGUYÊN NHÂN BỎ HỌC
Trang 20Nữ DT ít
DT ít người
Gia đình nghèo
Học lực yếu kém
Giao thông bất tiện
Thiên tai dịch bệnh
Nguyên nhân khác
lệ 1.69 %; riêng ở trường THCS Huyền Hội số học sinh bỏ học chiếm 3.40 %
Tỷ lệ học sinh nữ là 47.6 %; tỷ lệ học sinh nữ bỏ học chiếm 37.25% trong tổng số học sinh nghỉ học như vậy học sinh bỏ học chiếm tỷ lệ cao nhất
là học sinh nam
Tỷ lệ học sinh dân tộc ít người bỏ học chiếm 20.58% trong tổng số học sinh bỏ học Mặc dù tỷ lệ bỏ học của học sinh dân tộc ít người chỉ chiếm 20.58% trong tổng số học sinh bỏ học nhưng so với tổng số học sinh dân tộc
ít người, thì tỷ lệ bỏ học chiếm 5.81% dân tộc ít người ở Trà Vinh luôn được
sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và cả cộng đồng, nhưng nhìn chung dân tộc
ít người vẫn còn nhiều khó khăn và nhận thức về việc học hành của con em chưa cao, chính vì thế, học sinh dân tộc ít người vẫn tiếp tục bỏ học
Mặc dù tỷ lệ bỏ học chiếm 5.81% của học sinh dân tộc ít người là tương đối cao, nhưng nếu so với tỷ lệ học sinh bỏ học 5.44% của trường THCS Thị Trấn Càng Long (bảng 9), nơi không có học sinh dân tộc ít người thì tỷ lệ này không phải là cao; nếu so với tỷ lệ học sinh bỏ học 6.91% của trường THCS Bình Phú (bảng 9) thì vẫn còn thấp hơn 1.1%