Xuất phát từ những cơ sở trên, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu khả năng tích lũy sinh học các KLN ở một số loài Động vật hai mảnh vỏ tại khu vực cửa sông Kôn và đầm Thị Nại, tỉnh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ
Đề tài:
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SỬ DỤNG MỘT SỐ LOÀI HAI MẢNH VỎ LÀM CHỈ THỊ ĐỂ ĐÁNH GIÁ Ô NHIỄM KIM LOẠI NẶNG TRONG TRẦM TÍCH KHU VỰC CỬA SÔNG KÔN VÀ ĐẦM THỊ NẠI, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Cán bộ hướng dẫn: TS Võ Văn Minh Người thực hiện: Hoàng Thanh Hải Chuyên ngành: Sinh thái học Khoá học: 2010 - 2012
Đà Nẵng - Năm 2012
Trang 21 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Lý do chọn đề tài
Đô thị hoá – công nghiệp hóa là xu hướng tất yếu của một nền kinh tế phát triển Tuy nhiên, nó luôn đồng nghĩa với quá trình làm biến đổi môi trường
tự nhiên ở cả hai khuynh hướng tích cực và tiêu cực Theo tài liệu của IAEA thì hiện nay hàng năm độc tố gây bởi các KLN do hoạt động của con người tạo ra
đã vượt qua độc tố tổng cộng của tất cả các chất phóng xạ và thải hữu cơ Ô nhiễm KLN có khả năng tích tụ cao, khó loại bỏ do vậy khi xâm nhập vào cơ thể
có hàm lượng vượt quá tiêu chuẩn sẽ ảnh hưởng đến đời sống của các sinh vật, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người thông qua chuỗi thức ăn Các chất ô nhiễm theo các con sông ra biển và thường tới cửa sông ven biển thì kết tủa, tích
tụ lại trong trầm tích Do vậy, xác định hàm lượng KLN trong trầm tích tại cửa sông là rất cần thiết.(UNEP/FAO/WHO, 1996 trích trong Carles et al., 2000)
Sử dụng sinh vật chỉ thị cụ thế là động vật hai mảnh vỏ (sò, vẹm, trai,…) để đánh giá ô nhiễm KLN trong môi trường là một hướng nghiên cứu được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm (Merlin, 1965; Ferrington., 1983; Doherty, 1993; Oeatel, 1998, Revera, 2003, Phillip, 1994) Qua nghiên cứu cho thấy hàm lượng KLN trong mô tế bào của những sinh vật này cao hơn nhiều so với trong môi trường vì thế có thể thông qua đó để đánh giá được chất lượng môi trường tại khu vực chúng sinh sống (Al-Madfa, 1998; AbdAllah và Moustafa, 2002) Phương pháp này không đòi hỏi những thiết bị hiện đại hay phải thu mẫu định
kỳ, tần suất thu mẫu ít và chi phí nhỏ, đồng thời đánh giá được những tác động tổng hợp, lâu dài đối với sinh vật và hệ sinh thái
Ở nước ta đã có một số tác giả nghiên cứu về khả năng tích lũy KLN trong các loài hai mảnh vỏ như Đào Việt Hà (2002), Đặng Thúy Bình (2006), Lê Thị Mùi, Lê Thị Vinh (2005), Đoàn Thị Thắm
Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung gồm 05 tỉnh, Bình Định
là địa phương có quá trình công nghiệp và đô thị hóa phát triển mạnh của khu vực Sông Kôn là sông lớn nhất trong các sông của tỉnh, có tổng diện tích lưu vực (F) là 3.067 km2, với chiều dài sông chính là 178 km Lưu lượng tần suất (Q0,75%) khoảng 33 m3/s, lưu lượng kiệt (Qkiệt) là 3,8 m3/s, lưu lượng lũ (QLũ) là 5.200 m3/s Sông bắt nguồn từ vùng rừng núi của dãy Trường Sơn có độ cao
700 - 1.000 m, chảy theo hướng Tây Bắc- Đông Nam đến Thanh Quan- Vĩnh Phúc (Vĩnh Thạnh), chảy theo hướng Bắc Nam, về đến Bình Tường (Tây Sơn), chảy theo hướng Tây Đông và đến Bình Thạnh sông chia thành 2 nhánh chính:
Trang 3Nhánh Đập Đá chảy ra cửa An Lợi rồi đổ vào đầm Thị Nại; nhánh Tân An có nhánh sông Gò Chàm cách ngã ba về phía hạ lưu khoảng 2 km, sau khi chảy qua vùng đồng bằng rồi nhập với sông Tân An cùng đổ vào đầm Thị Nại tại cửa Tân Giảng (xã Phước Hoà, huyện Tuy Phước) Tất cả các nhánh sông Đập Đá và Tân
An sau khi đổ vào đầm Thị Nại được thông ra biển qua cửa Quy Nhơn Độ cao trung bình của lưu vực khoảng 567 m, độ dốc lưu vực 15,8% và mật độ lưới sông là 0,65 km/km2
Sông Kôn là con sông lớn có tầm quan trọng rất lớn tới kinh tế, xã hội, môi trường của Bình Định, có cửa sông với hệ sinh thái khá dồi dào Trong nhiều năm trở lại đây do tích tụ chất ô nhiễm có nguồn gốc từ các chất thải sinh hoạt và ảnh hưởng của các hoạt động phát triển kinh tế xã hội của khu vực… đã làm tăng nguy cơ ô nhiễm KLN
Trước những vấn đề trên, việc nghiên cứu sử dụng động vật 2 mảnh vỏ để quan trắc ô nhiễm KLN đồng thời thông qua đó đánh giá được khả năng ô nhiễm KLN tại khu vực cửa sông trở nên cấp thiết Xuất phát từ những cơ sở trên,
chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu khả năng tích lũy sinh học các KLN ở một số loài Động vật hai mảnh vỏ tại khu vực cửa sông Kôn và đầm Thị Nại, tỉnh Bình Định"
1.2 Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa lý luận
Đề tài góp phần nghiên cứu cơ sở khoa học để đề xuất phương pháp giám sát ô nhiễm KLN bằng các loài động vật hai mảnh vỏ cho các vùng cửa sông ven biển vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu góp phần đánh giá hiện trạng tích lũy KLN trong trầm tích và một số loài động vật hai mảnh vỏ, đồng thời đánh giá khả năng giám sát ô nhiễm KLN vùng cửa sông Kôn, tỉnh Bình Định
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ TÍNH MỚI CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Tình hình nghiên cứu
2.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Theo tài liệu hướng dẫn khu vực bị ô nhiễm của trung tâm nghiên cứu môi trường Ltd thì trong số các loài động vật, động vật không xương sống là các chỉ số hữu ích hơn so với các động vật khác, và động vật không xương sống dưới nước hữu ích hơn so với động vật không xương sống trên mặt đất khi sử dụng chúng làm sinh vật chỉ thị cho môi trường bị ô nhiễm
Trang 4Dữ liệu độc tính cấp tính trên động vật không xương sống nước ngọt và cá của Úc đã được tổng kết bởi Firth (1981), Hart (1982) và Skidmore và Firth (1983) Đối với cá tiến hành nghiên cứu KLN Cr và Zn Đối với động vật không xương sống nước ngọt, cadmium là kim loại được chú ý nhất tiếp theo sau là đồng, rồi tới kẽm Ô nhiễm kẽm đã làm giảm đáng kể sự phong phú và đa dạng của động vật không xương sống của con sông Molonglo (Weatherley và Dawson, 1973; Weatherley và cs, 1967, 1975, 1980, Sharley, 1982; Norris, 1983) Ô nhiễm kẽm có tác động tiêu cực ảnh hưởng đến sản xuất ban đầu, cấu trúc cộng đồng động vật phù du và cấu trúc cộng đồng sinh vật đáy trong hồ Burley Griffin (Hillman, 1974) Nghiên cứu bởi Nicholas và Thomas (1978), Sharley (1982) và Norris (1983) đã chỉ ra rằng đã không có dấu hiệu giảm ô nhiễm Crom kể từ cuộc khảo sát đầu tiên vào năm 1963 [17]
Trong việc sử dụng động vật không xương sống làm sinh vật chỉ thị ô nhiễm môi trường thì động vật hai mảnh vỏ là đối tượng đã được rất nhiều khoa học nghiên cứu, áp dụng để quan trắc ô nhiễm KLN Cynthia L.Brown, Samuel N.Luoma Mỹ đã thực hiện nghiên cứu sử dụng loài hai mảnh vỏ
Potamocorbula amurensis để đánh giá ô nhiễm kim loại tại vịnh San Frasico
vào năm 1995[14]
Các nghiên cứu khác cũng dùng động vật hai mảnh vỏ là loài Anodonta woodiana và Dreissena polymorpha sống tại kênh xả nhà máy Patnów và
Konin, tác giả Elzbieta Królak đã xác định nồng độ kim loại Mn, Fe, Cr, Zn, Pb,
Cd trong mô và vỏ của chúng, kết quả cho thấy chúng có khả năng tích lũy Cr,
Zn, Pb cao và với những con có tuổi thọ cao thì sự tích lũy cao hơn [15]
Người ta ước tính, tổng lượng cadmi đổ vào đại dương lên tới 8.000 tấn/năm; trong đó, một nửa có nguồn gốc từ hoạt động của con người Cadmi thường tích tụ với hàm lượng cao ở các loài thuỷ sản Trên động vật, thận và gan
là cơ quan chứa cadmi cao nhất Theo các chuyên gia Ba Lan, những tiêu chuẩn liên quan đến các KLN, nhất là cadmi và chì đã vượt gần 100 lần Ở Tây Ban Nha, vào mùa hè năm 1988, người ta đã tiến hành kiểm tra hàm lượng cadmi, thuỷ ngân và chì trong 31 loài cá, nhuyễn thể và giáp xác lấy mẫu từ 25 trạm ở dọc bờ biển Địa Trung Hải Qua kiểm tra, hàm lượng cadmi ở loài vẹm ăn được
Mytilus gallo provincialis đã tăng gấp 6 lần, ở các loài cá đối hàm lượng KLN
tăng lên 30 lần và có thể gây nhiễm độc cho người qua chuỗi thức ăn (kết quả được công bố năm 1994)[9]
Trang 5Sari Airas từ viện thủy sản và sinh vật biển đại học Bergen Nauy cũng đã
có đề tài phân tích đồng, kẽm, bạc, asen, thủy ngân, cadmium trong loài vẹm
xanh Mytilus edulis và nhận thấy rằng loài này có sự tích lũy KLN trong mô cơ
thể rất cao [22]
Loài ngao dầu Meretrix meretrix là đối tượng được áp dụng khá nhiều để
chỉ thị KLN tại một số khu vực trên thế giới Jon Böhlmark sử dụng nó như là chỉ số của sự tập trung KLN tại vịnh Maputo – Thụy Điển [18] Mohd.Harun Abdullah, Jovita Sidi và Ahmad Zaharin Aris cũng sử dụng loài này cùng với việc phân tích hàm lượng KLN trong trầm tích để so sánh Cd, Cu, Cr, Pb và Zn tại cửa sông ở khu vực nông thôn và đô thị của Malaysia [19]
Động vật hai mảnh vỏ thường được sử dụng để đánh giá ô nhiễm KLN vì chúng đă được định loại rő ràng, dễ nhận dạng, có kích thước vừa phải, số lượng nhiều, dễ tích tụ chất ô nhiễm, có thời gian sống dài và có đời sống tĩnh tại Những loài động vật hai mảnh vỏ đã được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới và mang lại hiệu quả cao
2.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, sử dụng động vật không xương sống cỡ lớn để đánh giá chất lượng môi trường nước đã được nghiên cứu từ năm 1995, quy trình lấy mẫu và phân tích số liệu đã được thiết lập Phương pháp này đã tiến hành ở nhiều sông ngòi, nó cho thấy đây là phương pháp phù hợp với nước ta
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về sự tích lũy KLN trong sinh vật Tuy vậy còn ít công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa hàm lượng KLN trong bùn và môi trường sống xung quanh, các dạng tồn tại của chúng với khả năng tích lũy lan truyền các KLN trong các loài nhuyễn thể Đặc tính của loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ là sống đáy và ăn lọc, sự hấp thụ và tích lũy KLN có thể
từ nhiều nguồn thức ăn của chúng Qua nghiên cứu của Phạm Kim Phương, Nguyễn Thi Dung tại cửa sông Cần Thạnh, huyện Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh
cho thấy trong cơ thể nghêu (Meretrix Lyrata) chứa các KLN As, Pb, Cd, Hg và
hàm lượng của nó tương ứng là 1, 65; 0,041 ; 0,65; 0,006 mg/kg Và hàm lượng trong nước thấp hơn trong trầm tích, có những kim loại mặc dù trong nước rất thấp như Cd (0,01mg/kg) nhưng trong cơ thế lại cao (0,065mg/kg) Số liệu cho thấy ngay cả khi nồng độ KLN trong môi trường ở nồng độ rất thấp (dạng vết) chúng cũng có thể tích lũy trong sinh vật sống [6]
Nghiên cứu hàm lượng KLN trong loài nghêu lụa ( Paphia undulata) ở
vùng biển ven bờ Bình Thuận, Lê Thị Vinh và cs thấy rằng hàm lượng Zn và Cr
Trang 6năm 2004 cao hơn 2002 ( Zn : 22,67 – 44, 46 mg/g khô), Cr ( 2,58 – 8,59 mg/g khô), hàm lượng Cr, As, Hg cao hơn vùng biển Thái Lan và Malaysia chúng tỏ nghêu lụa có dấu hiệu ô nhiễm KLN [12]
Cũng tiếp cận với phương pháp này Đặng Kim Chi và cs tiến hành nghiên
cứu tham dò khả năng tích tụ Cr, Cd trên trai ( Sinanodonta Modell ) và ốc (Anlugyagra – Sinotaita Hass) với các nồng độ nghiên cứu là 0,1; 0,2 mg/lvới
Cr; 0,02mg/l với Cd cho thấy cả trai và ốc đều có khả năng tích tụ Cr, Cd Khả năng tích tụ phụ thuộc và bản thân sinh vật, nồng độ KLN trong nước và thời gian tiếp xúc [2]
Theo nghiên cứu của Đào Việt Hà (2002), hàm lượng các KLN trong
Vẹm xanh (Perna viridis) tại Đầm Nha Phu (Khánh Hòa) là : từ 0,003 – 0,21 µg/
g (tính theo khối lượng tươi) đối với Cd; từ 0,14 – 1,114 µg/g đối với Pb; và từ 0,54 – 1,81 µg/g đối với Cr Nghiên cứu của Đặng Thúy Bình và cộng sự nghiên cứu tại đảo Điệp Sơn (Khánh Hòa) cho thấy rằng hàm lượng As tích lũy trong
Vẹm xanh (Perna viridis) là 1,76 µg/g [1].
Một nghiên cứu khác của Đoàn Thị Thắm nghiên cứu về sự tích lũy kẽm trong một số loài vẹm, nghêu, sò tại một số điểm ven biển Đà Nẵng cho thấy ở
loài Vẹm xanh (Perna viridis) có hàm lượng kẽm là 12,94 – 14,57 µg/g; ở loài Nghêu lụa (Paphia undulata) từ 5,99 – 10,54 µg/g, ở loài Sò lông (Anadara subcrenata) từ 6,38 – 10,96 µg/g, loài Nghêu trắng (Meretrix lyrata) từ 6,97 –
8,17 µg/g Theo nghiên cứu của Lê Thị Mùi (2007) về sự tích tụ chì và đồng của một số loài nhuyễn thể tại một số điểm ven biển Đà Nẵng cho thấy hàm lượng trung bình trong khoảng 1,13 2,12 µg/g khối lượng ướt đối với Pb và 7,15 -16,52 µg/g khối lượng ướt đối với Cr [10]
Nhìn chung sự tiếp cận phương pháp sử dụng động vật hai mảnh vỏ làm sinh vật chỉ thị cho môi trường ở nước ta còn khá mới mẻ Các công trình nghiên cứu đã thành công trong việc đánh giá được hàm lượng KLN trong các đối tượng nghiên cứu song còn hạn chế trong việc đánh giá tương quan giữa hàm lượng KLN trong trầm tích với hàm lượng trong mô tế bào Trong các lớp đáy của các dòng sông do các quá trình sinh học các KLN dễ tạo phức với các chất hữu cơ trong mùn, do đó mùn là yếu tố chính mang KLN trong nước Thông thường hàm lượng kim loại trong các mẫu bùn lắng cao hơn nhiều so với hàm lượng kim loại cùng nguyên tố trong nước lấy cùng địa điểm và thời gian [5] Dựa trên cơ sở những thành tựu của nghiên cứu trước, tiếp cận trên khía cạnh mới sẽ góp phần mở rộng hướng nghiên cứu này ở nước ta
Trang 72.2 Tính mới của đề tài
Đề tài là công trình đầu tiên áp dụng phương pháp chỉ thị sinh học để giám sát ô nhiễm KLN trong các loài động vật hai mảnh vỏ và trầm tích tại cửa sông Kôn và đầm Thị Nại, tỉnh Bình Định Nghiên cứu mang tính hệ thống và
có sự đánh giá toàn diện trên nhiều loài hai mảnh vỏ và nhiều đối tượng kim loại nặng
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Xác định mức độ ô nhiễm KLN trong trầm tích và trong mô của một số loài động vật hai mảnh vỏ vùng cửa sông Kôn và đầm Thị Nại, tỉnh Bình Định
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu với đối tượng là các KLN: Pb, Cr, Cd và Hg trong mô động vật hai mảnh vỏ và trầm tích tại khu vực nghiên cứu;
- Các loài động vật hai mảnh vỏ tại vùng cửa sông Kôn và đầm Thị Nại, tỉnh Bình Định
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp tổng hợp tài liệu
Thu thập, sử dụng các tài liệu có sẵn tại Chi cục môi trường khu vực miền Trung – Tây nguyên, Sở tài nguyên – môi trường tỉnh Bình Định (Báo cáo hiện trạng môi trường, Báo cáo đánh giá tác động môi trường, Báo cáo giám sát môi trường định kỳ, …); các tài liệu, các kết quả nghiên cứu khác tương tự hoặc có liên quan nhằm tổng quan lý luận của đề tài nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
Đề tài tiến hành thu mẫu vào 2 đợt: tháng 7 - 8/2012 và tháng 1 - 2/2012
- Thu mẫu động vật: Lấy mẫu tại 3 khu vực gồm: xã Phước Hòa , xã Phước
Sơn và xã Phước Thuận (hình 1) Mỗi khu vực chọn 3 điểm thu mẫu, mỗi điểm
1 - 2 loài động vật HMV có mặt đặc trưng tại khu vực nghiên cứu Dùng cào, gàu để lấy mẫu động vật, sau khi thu thập sẽ được bảo quản ở 4oC (theo Goksu)
và đưa về phân tích tại phòng thí nghiệm [20]
Trang 8- Thu mẫu trầm tích: Mẫu trầm tích thu đồng thời với mẫu động vật Dùng gàu Peterson lấy bùn ở độ sâu 0 – 10 cm Đựng trong túi nhựa polyethylene và được
kí hiệu theo quy định
Tất cả các quá trình thu mẫu, bảo quản mẫu và vận chuyển mẫu đều được tiến hành đúng theo các TCVN và QCVN hiện hành
Hình 1: Sơ đồ vị trí lấy mẫu
4.2.2 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm
- Xử lý mẫu động vật
+ Mẫu được định loại hình thái theo Thái Trần Bái, Đặng Ngọc Thanh, Phạm Văn Miên [8] Mẫu động vật được định loại hình thái động vật theo
tài liệu của F J Springsteen và F M Leobrena [F J Springsteen và F
M Leobrena (1986), Shells of the philippines Carfel seashell museum.]
và gửi giám định tại Viện Hải Dương Học Nha Trang
+ Mẫu động vật được tách lấy phần thịt, vô cơ hóa mẫu động vật bằng dung dịch HClO4 + HNO3 đặc hoặc H2O2 + KNO3 Chiết các nguyên tố vết tan trong nước cường thuỷ (TCVN 6649:2000)
- Xử lý mẫu trầm tích:
Trang 9Để khô tự nhiên mẫu trầm tích, nghiền, rây, cân 5 gam mẫu khô, vô cơ hóa bằng axit H2SO4 + HNO3 + H2O2 trong bình Kendan Chiết các nguyên tố vết tan trong nước cường thuỷ (TCVN 6649:2000)
4.2.3 Phương pháp phân tích
- Trong nghiên cứu này phương pháp phân tích được sử dụng phương pháp quang phổ hấp phụ nguyên tử AAS Xác định cadimi, crôm, chì, trong dịch chiết đất bằng cường thủy Các phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa và nhiệt điện (không ngọn lửa) (TCVN 6496:2009) Xác định thủy ngân trong dịch chiết đất cường thủy dùng phổ hấp thụ nguyên tử hơi - lạnh hoặc phổ hấp thụ nguyên tử huỳnh quang hơi - lạnh (TCVN 8882:2011)
- Kiểm soát chất lượng (QC)
Thực hiện phân tích mẫu thêm chuẩn (spiked sample), mẫu lặp (replicate analysis) và mẫu trắng
4.2.4 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê, sử dụng công cụ là các phần mềm Excel, Origin 6.0 Phân tích phương sai (Anova) và kiểm tra LSD với mức ý nghĩa α = 0,05 Các giá trị trong phân tích tương quan được chuyển dạng theo công thức x’ = lg10(x + 5) [7]
5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Điều tra, khảo sát để chọn đối tượng động vật hai mảnh vỏ có mặt tại khu vực
này (xác định loài ưu thế, tần suất xuất hiện cao, phân bố đều ), từ đó chọn ra một số loài phù hợp với yêu cầu, và hàm lượng KLN có mặt trong trầm tích tại khu vực nghiên cứu Trong số các KLN phân tích, lựa chọn các KLN có dấu hiệu ô nhiễm, từ đó đề xuất các phương án giám sát;
- Thu mẫu trầm tích và mẫu động vật hai mảnh vỏ;
- Phân tích hàm lượng KLN tích lũy trong trầm tích và mẫu động vật bằng máy phân tích quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS);
- Đánh giá khả năng giám sát ô nhiễm KLN qua phân tích mối tương quan giữa KLN trong trầm tích và trong mô của động vật hai mảnh vỏ;
- Đề xuất quy trình giám sát sinh học (dựa trên kết quả phân tích tương quan)
Trang 10Bố cục luận văn dự kiến:
Mở đầu
CHƯƠNG 1: Tổng quan nghiên cứu
1.1 Tình hình ô nhiễm KLN trong trầm tích khu vực cửa sông trên Thế giới và Việt Nam
1.2 Tình hình nghiên cứu sử dụng động vật hai mảnh vỏ giám sát ô nhiễm KLN 1.3 Hiện trạng môi trường khu vực cửa sông Kôn, tỉnh Bình Định
CHƯƠNG 2: Đối tượng, địa điểm, phương pháp và nội dung nghiên cứu
2.1 Đối tượng, địa điểm nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.3 Nội dung nghiên cứu
CHƯƠNG 3 : Kết quả và biện luận
3.1 Danh mục các loài động vật hai mảnh vỏ và KLN trong trầm tích có mặt tại cửa sông Kôn, tỉnh Bình Định
3.2 Kết quả phân tích hàm lượng KLN trong mô động vật hai mảnh vỏ và trong trầm tích
3.3 Phân tích tương quan giữa hàm lượng KLN trong mô động vật và trầm tích 3.4 Đề xuất chương trình giám sát sinh học
Kết luận và kiến nghị
6 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
6.1 Tài liệu tiếng Việt
1 Đặng Thúy Bình, Nguyễn Thanh Sơn và cs (2006) Nghiên cứu sự tích lũy KLN trong ốc Hương và một số đối tượng thủy sản (Vẹm Hải sâm, Rong sụn) tại đảo Điệp Sơn, vịnh Vân Phong, Khánh Hòa Tạp chí Khoa học - Công nghệ
thủy sản, số 03 – 04/2006
2 Đặng Kim Chi Thăm dò khả năng tích tụ Chromium (Cr), Cadium (Cd) trên trai và óc nhằm xây dựng chỉ thị sinh học đánh giá chất lượng nước thải công nghiệp Hôi nghị khoa học lần thứ 20 – ĐHBK Hà Nội