TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠKHOA KINH TẾ TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN Nhóm … TÓM LƯỢC LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ NỢ CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ LIÊN HỆ Ở VIỆT NAM Cần Thơ, tháng 12/2019
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ
TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN
Nhóm …
TÓM LƯỢC LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ
NỢ CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
(LIÊN HỆ Ở VIỆT NAM)
Cần Thơ, tháng 12/2019
Trang 2MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 2
PHẦN NỘI DUNG 3
1 TÓM LƯỢC LÝ THUYẾT VỀ NỢ CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 3
1.1 KHÁI QUÁT VỀ NỢ CÔNG VÀ NGUYÊN NHÂN GÂY RA NỢ CÔNG 3
1.1.1 Khái quát về nợ công 3
1.1.2 Nguyên nhân gây ra nợ công 4
1.2 KHÁI NIỆM VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 5
1.2.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế 5
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế 5
2 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ MỐI QUAN HỆ NỢ CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 6
2.1 NỢ CÔNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 6
2.2 NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH Tế 8
2.2.1 Quy mô nợ công 8
2.2.2 Cơ cấu nợ công 11
Nợ Chính phủ 12
Nợ Chính phủ bảo lãnh 14
Nợ Chính quyền địa phương 14
2.3 HIỆU QUẢ CỦA VIỆC SỬ DỤNG NỢ CÔNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 14
2.3.1 Về tính trung lập của nợ chính phủ 14
2.3.2 Về hiệu suất của tác động từ nợ chính phủ tới tăng trưởng kinh tế 15
2.3.3 Một khoản nợ chính phủ lớn làm cho sự tăng trưởng của sản lượng tiềm năng chậm lại 17
2.3.4 Sự gia tăng nhanh nợ công dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế toàn cầu 18
2.3.5 Quản lý nợ công 19
NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN CHUNG 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Việc đi vay nợ để thúc đẩy phát triển đối với một quốc gia cũng giống nhưmột doanh nghiệp, đó chính là cách để huy động vốn cho sự phát triển quenthuộc trên thế giới Trong kinh doanh, không ở đâu có thể phát triển mà không
đi vay mượn Thực tế cho thấy những nền kinh tế lớn nhất trên thế giới như Mỹ,Nhật Bản, Trung Quốc, cũng chính là những con nợ kếch xù Nợ công, dùng đểphục vụ cho các nhu cầu chi tiêu và sử dụng của Chính phủ nhằm các mục đíchkhác nhau, chiếm một phần trong những khoản vay đó Tuy nhiên, thực tế cácnước cho thấy, việc vay nợ và chi tiêu lãng phí, sử dụng kém hiệu quả đồng nợcủa Chính phủ đã khiến cho nhiều nước rơi vào tình trạng khủng hoảng nợ công
mà các nước Châu Âu, điển hình là Hy Lạp là ví dụ Đây cũng là vấn đề đượccác nước đặc biệt quan tâm, trong đó có Việt Nam
Nhiều nhà kinh tế học nghiên cứu về ngưỡng nợ mà tại đó tăng trưởngkinh tế đạt tốc độ tối đa và khi vượt qua ngưỡng này thì tăng trưởng kinh tếgiảm sút rồi từ đó đưa ra những kiến nghị cho quốc gia đó về vấn đề quản lý nợcông Tuy nhiên, mỗi nước khác nhau có ngưỡng nợ công khác nhau
Từ những vấn đề nêu trên, nhóm chọn đề tài: “Mối quan hệ giữa nợ công
và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của nhóm.
Trang 41.1.1 Khái quát về nợ công
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới phát triển mạnh mẽ và có nhiềuchuyển biến khó lường, điển hình là khủng hoảng kinh tế toàn cầu xảy ra từ cuốinăm 2008, đầu năm 2009, khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp đang lan sang một sốnước châu Âu, nợ công và quản lý nợ công trở thành vấn đề nóng được các nhàlãnh đạo các quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm Trong quá khứ, khủnghoảng nợ công cũng đã được biết đến vào đầu thập niên 80 của Thế kỷ XX.Năm 1982, Mê-hi-cô là quốc gia đầu tiên tuyên bố không trả được nợ vay QuỹTiền tệ quốc tế (IMF) Đến tháng 10-1983, 27 quốc gia với tổng số nợ lên tới
240 tỉ USD đã tuyên bố hoặc chuẩn bị tuyên bố hoãn trả nợ (1) Tuy nhiên, đếnnay xung quanh khái niệm và nội hàm của nợ công vẫn còn nhiều quan điểmchưa thống nhất
Theo Ngân hàng Thế giới (WB) và IMF, nợ công, theo nghĩa rộng, lànghĩa vụ nợ của khu vực công, bao gồm các nghĩa vụ nợ của chính phủ trungương, các cấp chính quyền địa phương, ngân hàng trung ương và các tổ chứcđộc lập (nguồn vốn hoạt động do ngân sách nhà nước (NSNN) quyết định haytrên 50% vốn thuộc sở hữu nhà nước và trong trường hợp vỡ nợ nhà nước phảitrả nợ thay) Còn theo nghĩa hẹp, nợ công bao gồm nghĩa vụ nợ của chính phủtrung ương, các cấp chính quyền địa phương và nợ của các tổ chức độc lập đượcchính phủ bảo lãnh thanh toán
Ở Việt Nam, Luật Quản lý nợ công năm 2009 quy định, nợ công bao gồm:
nợ chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương Theo
đó, nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nướcngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặccác khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, ủy quyền phát hành theoquy định của pháp luật Nợ chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàngNhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời
kỳ Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tàichính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh Nợ chínhquyền địa phương là khoản nợ do ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộctrung ương ký kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành
Nợ công xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của chính phủ; khi chi tiêu củachính phủ lớn hơn số thuế, phí, lệ phí thu được, nhà nước phải đi vay (tronghoặc ngoài nước) để trang trải thâm hụt ngân sách Các khoản vay này sẽ phảihoàn trả gốc và lãi khi đến hạn, nhà nước sẽ phải thu thuế tăng lên để bù đắp Vìvậy, suy cho cùng, nợ công chỉ là sự lựa chọn thời gian đánh thuế: hôm nay hay
Trang 5ngày mai, thế hệ này hay thế hệ khác Vay nợ thực chất là cách đánh thuế dầndần, được hầu hết chính phủ các nước sử dụng để tài trợ cho các hoạt động chingân sách Hay nói cách khác, việc nhà nước đi vay nợ chẳng qua là một hìnhthức thu thuế trước Nợ chính phủ thể hiện sự chuyển giao của cải từ thế hệ sau(thế hệ phải trả thuế cao) cho thế hệ hiện tại (thế hệ được giảm thuế).
1.1.2 Nguyên nhân gây ra nợ công
Việc vay nợ của chính phủ nếu xét từ góc độ vay để đầu tư phát triển thìnếu đầu tư có hiệu quả thì sẽ tạo được khoản thu thuế trong tương lai, tạo điềukiện cho việc trả hết nợ Nhưng nếu việc tiếp cận với nguồn vốn đầu tư nướcngoài quá dễ dãi mà việc sử dụng nguồn vốn đầu tư không hiệu quả sẽ dẫn đếnchính phủ vay nợ để đầu tư quá nhiều lĩnh vực cùng một lúc nhưng chậm và khóthu hồi vốn để trả nợ vay Để giải quyết vấn đề này, chính phủ lại phải tiếp tụcvay nợ mới để trả nợ cũ Tình trạng này dẫn đến nợ công kéo dài Và nếu nhưtốc độ tăng trưởng kinh tế tụt giảm, chính phủ sẽ không thể tăng thu thuế để bùđắp Đều này sẽ dẫn đến gia tăng nợ công
Một ví dụ điển hình cho nguyên nhân gây ra nợ công từ việc đầu tư côngkhông hiệu quả nói trên là tình trạng ở Việt Nam trong thời gian qua Ở nước tahiện có 194 khu công nghiệp với tổng diện tích gần 46.600 ha, cùng với 1.643cụm công nghiệp với gần 73.000 ha do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt quyhoạch đến năm 2020 Chính phủ cũng đã phê duyệt 15 dự án khu kinh tế venbiển với tổng diện tích 662 nghìn ha (2% diện tích tự nhiên của Việt Nam), ướctính cần 2.000 tỷ đôla (bằng toàn bộ đầu tư cả nước trong 50 năm nữa) để đầu
tư Năm 2011, cả nước thực hiện xiết chặt đầu tư công theo tinh thần Nghị quyết11/CP, nhưng vẫn có đến 333 dự án mới sai đối tượng, không thuộc danh mục
sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ mà vẫn được khởi công Nhìn tổng quát, tốc
độ tăng đầu tư công trong mười năm qua cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP Khuvực DNNN (doanh nghiệp nhà nước) được hưởng nhiều nguồn lợi nhất vàchiếm tỷ trọng đầu tư xã hội cao nhất lại có hiệu quả đầu tư thấp nhất
Đầu tư công cao và kém hiệu quả trong bối cảnh tiết kiệm của Việt Namgiảm là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát tăng, lãi suất thịtrường tăng cao và nhất là làm nợ công tăng nhanh
Nguyên nhân thứ hai có thể kể đến là việc vay nợ để chi thường xuyêndẫn đến thâm hụt ngân sách mà không được bù đắp Nguyên nhân này xuất phát
từ nhiều vấn đề khác nhau như: tình trạng tham nhũng làm tăng chi tiêu chínhphủ, nhắm tới duy trì mức lương cao cho công chức, vấn đề trốn thuế và hoạtđộng kinh tế ngầm làm giảm nguồn thu ngân sách, việc tiết kiệm trong nướcthấp dẫn tới phải vay nợ nước ngoài cho chi tiêu công
Đối với cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu trong thời gian qua, cónhiều nguyên nhân được các chuyên gia chỉ rõ Với từng quốc gia, đó là khảnăng quản trị công yếu kém, chi tiêu thiếu hợp lý, hoặc mất kiểm soát các hoạtđộng cho vay của hệ thống ngân hàng Với cả khu vực, đó là thói quen "chinhiều hơn thu" kéo dài và hệ thống phúc lợi xã hội ngày càng phình to Để đốiphó cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008, châu Âu dễ dàng vay mượn
Trang 6quá mức, không tương thích tốc độ tăng trưởng kinh tế và vì thế đẩy tình trạngthâm hụt ngân sách và mức nợ công tăng chóng mặt, vượt khả năng kiểm soát.
1.2 KHÁI NIỆM VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ 1.2.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế
Có nhiều quan điểm về tăng trưởng kinh tế (TTKT), nhưng về cơ bản đềuthống nhất khi cho rằng, TTKT được hiểu là sự tăng lên về số lượng, chất lượng,tốc độ và quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định
Có thể khẳng định rằng: Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về sản lượnghàng hóa, sự mở rộng về quy mô sản xuất, sự tăng lên của thu nhập quốc dân(GDP) và sự tăng lên của thu nhập quốc dân đầu người nhưng không làm tổn hạiđến tương lai
Để phản ánh mức độ TTKT, các nhà kinh tế thường dùng nhóm chỉ sốdưới đây: Tổng giá trị sản xuất (GO); Tổng sản phẩm quốc nội (GDP); Tổng thunhập quốc gia (GNI); Tổng sản phẩm quốc gia (GNP); Tổng sản phẩm quốc dânròng (NNP); Thu nhập quốc dân sử dụng (NDI); Thu nhập quốc gia trên đầungười
GNP, GNI, GDP, NNP, NDI, GO và thu nhập quốc dân trên đầu người làcác thước đo trạng thái tăng trưởng kinh tế Mỗi chỉ tiêu đều có ý nghĩa nhấtđịnh và được sử dụng tùy theo mục đích nghiên cứu Nó là những số đo mangtính chất tương đối các trạng thái và tốc độ biến đổi của TTKT Trong các chỉtiêu nói trên thì tổng sản phẩm quốc nội GDP là phương thức tốt nhất để đolường hoạt động kinh tế của một quốc gia
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
Từ lý thuyết và thực nghiệm của các trường phái kinh tế khác nhau vềTTKT, có thể thấy ở các nền kinh tế khác nhau, các yếu tố chính quyết định đếnTTKT đều bao gồm: vốn, lao động, khoa học và công nghệ, tài nguyên, Dựavào tính chất và nội dung, các nhân tố này có thể được phân chia thành cácnhóm khác nhau
Các nhân tố tác động trực tiếp đến tổng cung: Những nhân tố tổng cungảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế gồm: Vốn (K); Lao động (L); Khoa học vàcông nghệ (T); Tài nguyên thiên nhiên (R)
Các nhân tố tác động đến tổng cầu: Kinh tế học vĩ mô đã cho thấy có 4
nhân tố ảnh hưởng đến tổng cầu, bao gồm: Chi cho tiêu dùng cá nhân (C); Chitiêu của Chính phủ (G); Chi cho đầu tư (I); Chi qua hoạt động xuất nhập khẩu(NX = X – M)
Trang 72 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ MỐI QUAN HỆ NỢ CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
2.1 NỢ CÔNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Chúng ta có thể thấy mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng rõ nét nhấtkhi nghiên cứu về cuộc khủng hoảng nợ công ở các nước phát triển, đển hình làLiên minh châu Âu và Mỹ
Khủng hoảng nợ công gia tăng ở Liên minh châu Âu (EU) cùng sự sụtgiảm nhanh chóng của đồng USD kéo nền kinh tế thế giới đi xuống Chính vì lẽ
đó, các Bộ trưởng Tài chính toàn cầu trong cuộc họp thuộc khuôn khổ Hội nghịthường niên IMF và WB sáng 13/10/2012 tại thủ đô Tokyo (Nhật Bản) đã hốithúc các quốc gia thành viên sớm hoàn tất chính sách quản lý tài chính mới,giảm triệt để nợ công để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước và thế giới
Trong một thông cáo được đưa ra ngày 13/10/2012, Ủy ban tài chính vàtiền tệ quốc tế (IMFC) thuộc Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã kêu gọi các nướcphải nhanh chóng hành động và hành động một cách có hiệu quả nhằm bảo toàn
sự phát triển của nền kinh tế hiện tại, xây dựng lại lòng tin và cuối cùng là thúcđẩy kinh tế phát triển hơn Điều này hoàn toàn phù hợp với tuyên bố trước đócủa Tổng Giám đốc IMF Christine Lagarde rằng, nợ công của các nước pháttriển đã lên đến mức 110% GDP năm 2012 và lên đến 113% GDP trong năm2013
Hai năm qua, sự tiến triển chậm chạp trong việc giải quyết vấn đề nợ công
ở châu Âu đã gây tổn thất 2.800 tỷ euro tài sản Và nếu các nhà hoạch địnhchính sách châu Âu không thực hiện cam kết về thiết lập một cơ quan giám sátngân hàng và các nước ngoại vi không triển khai các chương trình điều chỉnh,con số thậm chí có thể lớn hơn, với 4.500 tỷ euro tài sản bị mất và kèm theo lànhững ảnh hưởng đối với thị trường việc làm và đầu tư Ông Lael Brainard –Thứ trưởng Bộ Tài chính Mỹ đã nói trong một bài trả lời phỏng vấn hôm12/10/2011 rằng cuộc khủng hoảng nợ của khu vực đồng tiền chung châu Âu “làhiện thân cho những sự rủi ro nghiêm trọng đối với sự phục hồi của toàn cầuhiện nay”
Theo nhận định của các nhà phân tích cuộc khủng hoảng nợ công ở cácnước eurozone cùng với các kế hoạch cắt giảm chi tiêu, cứu trợ kinh tế tiếp tục
là mối đe dọa nghiêm trọng đến tăng trưởng kinh tế của eurozone Việc cứu trợ
Hy Lạp có thể sẽ phải kéo dài, thậm chí có thể phải cơ cấu lại nợ Kế hoạch cứutrợ kinh tế của các nước tiếp theo như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha… sẽ tác độngxấu đến tăng trưởng kinh tế của khu vực Euro
Trang 8Vì thế, Châu Âu đã rơi vào cuộc suy thoái kinh tế vào năm 2011 và tìnhtrạng trì trệ vào những năm tiếp theo Do đó, tăng trưởng kinh tế của khu vựcnày chậm hơn các nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ, Trung Quốc và các nền kinh tếphát triển khác.
Điều đáng lo ngại, như Tổng Giám đốc IMF từng cảnh báo, là những vấn
đề của khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) có thể lan tới các thịtrường mới nổi, nơi tăng trưởng kinh tế đang chậm lại Trong khi đó, các nước ởTrung và Đông Âu trong tình trạng dễ bị tổn thương nhất trước các cú sốc tàichính, do gắn nhiều với Eurozone và các món nợ nước ngoài
Vào thời điểm đó, kinh tế Mỹ vẫn trầy trật trên con đường phục hồi, vớimức tăng trưởng chỉ đạt 1,3% trong quý 2/2012 Dù tại Hội nghị Bộ trưởng Tàichính G7 ngày 11/10/2012, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Timothy Geithner đã camkết rằng chính phủ nước này sẽ dốc sức giúp Quốc hội đạt được một thỏa thuậnnhằm tránh để khả năng xấu nhất xảy ra Theo báo cáo sơ bộ của Phòng Ngânsách Quốc hội Mỹ (CBO) ngày 5/10/2012 cho biết, thâm hụt ngân sách liênbang Mỹ trong tài khóa 2012 đã giảm trong năm thứ tư liên tiếp, mặc dù vẫn ởcao hơn mức 1.000 tỷ USD
Ngày 12/10/2012, Tổng Giám đốc IMF Christine Lagarde một lần nữanhắc lại lời kêu gọi Mỹ hợp tác để thực hiện ngay gói cải cách quản lý quỹ này
Bà Christine Lagarde cho rằng kế hoạch cải cách 2010 cho thấy “sự thay đổiquản lý lớn nhất” trong lịch sử IMF, với 6% quyền bỏ phiếu được chuyển sangcác nền kinh tế mới nổi và các nước đang phát triển Đây là điều hoàn toàn phùhợp bởi trong thời gian vừa qua, các nền kinh tế mới nổi và các nước đang phát
Trang 9triển đã thể hiện được sức mạnh và sự ưu việt của mình trong cách đối phó vớikhủng hoảng nợ công và suy thoái kinh tế thế giới.
2.2 NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH Tế
Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa kinh tế và đạt được những bướcphát triển vượt bậc Chỉ trong vòng 10 năm, GDP của Việt Nam đã tăng lên gấp
3 lần, từ 32,7 tỷ USD năm 2001 lên 102 tỷ USD nam 2010 Trong giai đoạn này,Việt Nam vẫn thuộc nhóm các nước đang phát triển, quy mô nền kinh tế củaViệt Nam vẫn là nhỏ so với mặt bằng chung của thế giới; nền kinh tế phụ thuộcnhiều vào xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp thô và công nghiệp nhẹ là chủ yếu
Do đó, việc tăng vay nợ chính phủ nói riêng và nợ công nói chung là một nhucầu tất yếu vì Việt Nam cần sự hỗ trợ về mặt tài chính (tức là vay nợ và viện trợphát triển chính thức) từ các tổ chức đơn phương, đa phương trên thế giới đểphát triển nền kinh tế
2.2.1 Quy mô nợ công
Theo The Economist Intelligence Unit, nợ công của Việt Nam năm
2001 mới là 11,5 tỷ USD, tương đương 36% GDP, bình quân mỗi người gánh
số nợ công xấp xỉ 144 USD Nhưng tính đến hết năm 2010, nợ công đã tăng lên55,2 tỷ USD, tương đương 54,3% GDP và hiện tại, Việt Nam được xếp vàonhóm nước có mức nợ công trên trung bình Như vậy, trong vòng 10 năm từ
2001 đến năm 2010, quy mô nợ công đã tăng gấp gần 5 lần với tốc độ tăngtrưởng nợ trên 15% mỗi năm (Biểu đồ 1)
Trang 10Theo số liệu chính thức của Bộ Tài chính Việt Nam, tỷ lệ nợ công ở ViệtNam đã ở mức trên 50% GDP kể từ năm 2010 (bảng 1), mặc dù đã giảm tronggiai đoạn 2011-2012 ở mức 50,8% Tuy nhiên, nó đã bắt đầu tăng từ 54,5% năm
2013 lên 58,0% năm 2014 và 62,2% năm 2015; hiện chiếm 65% và có dấu hiệutiếp tục vượt quá 65% ngưỡng GDP theo quy định của Quốc hội Việt Nam
Cần lưu ý rằng, vì cách tính nợ công của Việt Nam không được đồng bộhóa với các tiêu chuẩn thế giới, nên có sự khác biệt đáng kể giữa các số liệu doChính phủ công bố và cách tính của các tổ chức độc lập Theo báo cáo củaChính phủ, nguyên nhân của nợ công tăng trong những năm gần đây là do thungân sách khó khăn trong khi nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng; để đảm bảo cânđối ngân sách nhà nước, thì phải duy trì thâm hụt ngân sách ở mức cao, cụ thể:2011: 4,4% GDP; 2012: 5,4% GDP; 2013: 6,6% GDP; 2014: 5,3% GDP; 2015:5% GDP Tuy nhiên, từ năm 2011 đến 2015 nợ công đã tăng khoảng 7% GDP
do yêu cầu tăng vay để đầu tư vào cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội
Bảng 1: Các chỉ tiêu về nợ công và nợ nước ngoài của Việt Nam
2010 2011 2012 2013 2014
Tỷ lệ nợ công trên tổng sản phẩm
quốc nội (GDP) (%)
56,3 54,9 50,8 54,5 58,0
Trang 11Tỷ lệ nợ nước ngoài trên GDP của
quốc gia (%)
42,2 41,5 37,4 37,3 38,3
Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài quốc
gia trong trung và dài hạn trên tổng
kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và
Số dư của chính phủ đối với các
khoản thu của ngân sách nhà nước
(%)
157,9 162,0 172,0 184,4 211,5
Nghĩa vụ nợ của chính phủ đối với
các khoản thu của ngân sách nhà
Giới hạn cho vay ngoại thương và
bảo lãnh cho các khoản vay nước
ngoài của Chính phủ (triệu USD)
2.000 3.500 3.500 1.800 2.800
Nguồn: Bộ tài chính Việt Nam
Theo dự báo của IMF, Việt Nam là quốc gia duy nhất có nợ công/GDPtiếp tục tăng gần 68% vào năm 2020 và cao hơn nhiều so với các quốc gia kháctrong khu vực ASEAN Đáng chú ý, tỷ lệ này có xu hướng giảm hoặc khá ổnđịnh ở các nước khác từ năm 2006, trong khi ở Việt Nam nó đã tăng mạnh, đặcbiệt là trong giai đoạn từ năm 2009 đến nay Mặc dù tỷ lệ nợ công của Việt Namvẫn dưới ngưỡng 90% theo tính toán của Reinhart C.M et al (2012), ngưỡngnày được tính cho các quốc gia có thị trường tài chính phát triển cao; Đối vớicác nước đang phát triển như Việt Nam, tỷ lệ tối ưu có thể ở mức thấp hơnnhiều
Bảng 2 Các chỉ tiêu về nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn
Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài trung, dài
hạn của quốc gia so với tổng kim
4,1 4,0 3,9 6,1
Trang 12ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ
Hạn mức vay thương mại nước ngoài
và bảo lãnh vay nước ngoài của Chính
phủ (triệu USD)
2.800 2.500 1.500 700
Nguồn: Bản tin Nợ công - Bộ Tài chính
Trong thời gian qua, Việt Nam tiếp tục tái cơ cấu nợ công theo hướng bềnvững, hiệu quả theo hướng tích cực về cơ cấu, kỳ hạn, lãi suất, đảm bảo khảnăng trả nợ Tốc độ tăng trưởng nợ công so với GDP là 12,2%/năm cho giaiđoạn từ 2014 - 2015 Đây là một vấn đề đáng lo ngại vì Việt Nam nằm trongnhững quốc gia có tỷ lệ nợ trên GDP tăng nhanh nhất (tăng trên 10%/năm) cho
dù có thành tích tăng trưởng kinh tế ấn tượng Đến cuối năm 2015, tổng nợ côngcủa Việt Nam là 125 tỷ USD, tương đương 61% GDP, bình quân mỗi người dângánh số nợ công là 1.384 USD, tương đương 30 triệu, ngang với Trung Quốc,Philippines và Malaysia Tuy nhiên, trong giai đoạn 2016 - 2018, tốc độ tăng của
nợ công của Việt Nam đã giảm xuống bình quân còn 8,6%/năm, riêng năm 2018chỉ còn ở mức 6%
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, nếu như trong giai đoạn 2014 - 2015, tốc
độ tăng của nợ công của Việt Nam ở mức bình quân là 18,1%/năm thì giai đoạn
2016 - 2018 đã kéo xuống bình quân còn 8,6%/năm, riêng năm 2018 chỉ còn ởmức 6% Trong khi đó, về trần nợ công, tỷ lệ nợ công giảm từ mức cuối năm
2016 là 63,7% GDP xuống còn 61,4% GDP cuối năm 2017 Đến cuối 2018, dư
nợ công của năm 2018 ở mức dưới 61% GDP
2.2.2 Cơ cấu nợ công
Theo Luật quản lý nợ công thì nợ công bao gồm nợ của Chính phủ, nợđược Chính phủ bảo lãnh và vay nợ của chính quyền địa phương Trong cơ cấu
nợ công thì nợ Chính phủ chiếm tỷ trọng lớn nhất, tiếp đến là nợ được Chínhphủ bảo lãnh (Hình 3) Quy mô nợ của chính quyền địa phương nhìn chungchiếm tỷ trọng còn khá thấp (1% GDP)