1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận tài chính công ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế việt nam

34 119 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 518,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chi tiêu của Chính phủ có một phần quan trọng là chithường xuyên, nó bao gồm chủ yếu là lương cho công nhân viên chức và nhữngngười làm việc trong khu vực công khác, Chính phủ giảm chi t

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ 3

DANH MỤC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT 4

LỜI MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 6

1 Các khái niệm cơ bản 6

Nợ công 6

Tăng trưởng kinh tế 8

Tác động của nợ công đến tăng trưởng kinh tế 10

2 Các lý thuyết nghiên cứu 10

a Quan điểm nợ công làm giảm tăng trưởng kinh tế 11

b Quan điểm của trường phái kinh tế học Keynes 11

c Quan điểm của trường phái Ricardo – Mô hình liên thế hệ 12

d Lý thuyết về ngưỡng nợ công (debt overhang) và đường cong Laffer 14

d Các nghiên cứu có liên quan 14

3 Khoảng trống nghiên cứu 18

4 Khung phân tích 19

CHƯƠNG II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 20

Nợ công lớn làm giảm tích lũy vốn tư nhân (private savings) 21

Nợ công làm giảm tiết kiệm quốc gia (national savings) 23

Nợ công tạo áp lực gây ra lạm phát 24

Nợ công làm méo mó các hoạt động kinh tế, gây tổn thất phúc lợi xã hội 26

Những tác động khác 28

CHƯƠNG III KẾT LUẬN 32

Trang 2

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 34

DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ Danh mục biểu đồ Biểu đồ 1 Tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 1985-2016 9

Biểu đồ 2 Tỉ lệ tiết kiệm/GDP Việt Nam giai đoạn 2007-2016 20

Biểu đồ 3 Tác động của nợ công đến lãi suất 22

Biểu đồ 4 Lãi suất trái phiếu Chính phủ Hy Lạp kỳ hạn 2 năm 23

Biểu đồ 5 Cơ cấu nợ công Việt Nam 26

Biểu đồ 6 Lãi suất thực ở Việt Nam giai đoạn 2007-2016 30

Danh mục bảng Bảng 1 Đánh giá mức độ nợ theo chuẩn của World Bank 8

Bảng 2 Mô phỏng chi tiêu của các nhóm người trong giai đoạn 2004 – 2024 theo mô hình liên thế hệ 12

Bảng 3 Thâm hụt ngân sách của Việt Nam giai đoạn 2006 - 2011 26

Bảng 4 Nợ công và tình hình kinh tế các nước Châu Âu 2010 27

Trang 3

DANH MỤC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT

ký hiệu

IMF International moneytary fund Quỹ tiền tệ quốc tế

ODA Official Development Assistance Hỗ trợ phát triển chính thức

OECD Organization for EconomicCooperation and Development Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

M2 Khối tiền mở rộng (M1 + tiền gửi cókỳ hạn tại các ngân hàng)TPCP Trái phiếu Chính phủ

ICOR Incremental Capital - Output Ratio Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư

Trang 4

Điển hình là ở khu vực đồng tiền chung châu Âu Eurozone, một số quốc gianhư Hy Lạp, Cộng hòa Síp, Ireland, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha đã phải cầu viện đếncác tổ chức như EU, ECB, IMF để thoát khỏi nguy cơ vỡ nợ sau nhiều năm liên tiếpkhông thể kiểm soát mức tăng của nợ công, đẩy tỉ lệ nợ công/GDP của EU từ 74.6%năm 2009 lên mức 86.8% vào năm 2013 Thâm hụt ngân sách châu Âu thời điểm đó

đã gấp hơn 2 lần quy định của Hiệp ước tăng trưởng và ổn định là 3%

Không chỉ xảy ra ở hiện tại, trong quá khứ, thực tế đã chứng minh tỉ lệ nợcông quá cao ảnh hưởng theo chiều hướng tiêu cực lên sự tăng trưởng của kinh tế Cụthể là vào những năm 80 của thế kỉ 20, các quốc gia Mỹ La tinh sau thời kỳ phát triểnmạnh mẽ đã phải đối mặt với khủng hoảng trầm trọng do thời gian trước Chính phủmạnh tay vay nợ để tăng cường đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng Đa số các khoản vaynày bị quản lý lỏng lẻo, sử dụng kém hiệu quả kèm theo tệ nạn tham nhũng khiến cácquốc gia trên nhanh chóng rơi vào tình trạng khủng hoảng nợ công khi lần lượtMexico, Brazil và một loạt các quốc gia Mỹ La tinh khác mất khả năng thanh toán vàphải cầu viện đến các tổ chức tài chính quốc tế để cứu vãn nền kinh tế

Tuy nhiên, việc một Chính phủ đi vay nợ không phải lúc nào cũng là xấu Đểtài trợ cho các dự án công, xây dựng cơ sở hạ tầng và tạo động lực phát triển kinh tế,việc bội chi ngân sách là hoàn toàn dễ hiểu Chính phủ không thể chỉ dựa vào nguồnthu từ thuế, phí và lệ phí để phục vụ tất cả các mục đích của mình từ chi thườngxuyên đến chi sản xuất hàng hóa công cộng, chi đầu tư phát triển,v.v Vì vậy, để tăngthêm ngân sách, Chính phủ có thể đi vay trong nước hoặc nước ngoài dưới nhiềuhình thức, trong đó phổ biến nhất là phát hành trái phiếu Chính phủ

Có thể hiểu việc vay nợ của Chính phủ là “con dao hai lưỡi”, nó vừa giúpChính phủ điều hành nền kinh tế vận hành trơn tru, vừa tạo ra gánh nặng chi trả vềdài hạn Vậy nên, câu hỏi đặt ra là phải xác định được mức độ tác động của nợ cônglên tăng trưởng kinh tế và ngưỡng nợ tối ưu, giúp nền kinh tế tăng trưởng bền vững

và tránh cho quốc gia mất khả năng thanh toán nợ

Chính vì những lí do trên mà nhóm quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu tácđộng của nợ công lên tăng trưởng kinh tế Việt Nam” để tiến hành thực hiện, từ đóxác định thực trạng mức độ ảnh hưởng của nợ công Việt Nam hiện tại lên sự tăngtrưởng kinh tế, từ đó đưa ra những kết quả và khuyến nghị

Trang 5

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1 Các khái niệm cơ bản

Nợ công

a Khái niệm

Theo quan điểm của IMF và World Bank: Nợ công (public debt) là toàn bộ

nghĩa vụ trả nợ của khu vực công, bao gồm nợ và nghĩa vụ trả nợ của khu vực chínhphủ và khu vực của các tổ chức công

Khu vực chính phủ bao gồm chính quyền trung ương, chính quyền liên bang

và chính quyền địa phương Các tổ chức công là các tổ chức công phi tài chính, các

tổ chức tài chính công, ngân hàng trung ương, các tổ chức Nhà nước nhận tiền gửi(trừ NHTW) và các tổ chức tài chính công khác Theo đó, nợ công sẽ bao gồm nợ củachính phủ, các khoản nợ do Chính phủ bảo lãnh, nợ của chính quyền địa phương, nợcủa các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước

Theo Luật quản lý nợ công Việt Nam hiện hành (năm 2009): Nợ công bao

gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương

Trong đó, nợ chính phủ là các khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước,nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc cáckhoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, ủy quyền phát hành Nợ chính phủkhông bao gồm các khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thựchiện chính sách tiền tệ, nợ của các doanh nghiệp nhà nước là nợ tự vay tự trả

b Nguyên nhân dẫn đến việc Chính phủ vay nợ

Nguyên nhân quan trọng nhất khiến Chính phủ một nước phải đi vay nợ là dobội chi ngân sách hay nói cách khác là các nguồn thu trong nước không đủ để Chínhphủ chi tiêu cho các hoạt động của mình

Thông thường, nguồn thu ngân sách đến từ thuế, phí và lệ phí của một quốcgia sẽ không đáp ứng đủ nhu cầu chi tiêu của Chính phủ Để bù đắp sự thiếu hụt này,Chính phủ có 3 lựa chọn: tăng thuế, cắt giảm chi tiêu hoặc vay nợ

Tuy nhiên tăng thuế nhìn chung không phải sự lựa chọn tốt vì việc tăng thuế

sẽ tác động tiêu cực đến nguồn tài chính khu vực tư, làm giảm thu nhập thực tế củangười dân, hành động này của Chính phủ còn dễ gây ra làn sóng phản đối trong dânchúng khi họ cảm thấy bản thân nghèo đi

Trang 6

Cắt giảm chi tiêu làm giảm áp lực bội chi nhưng lại tác động xấu đến tổng cầumức chi tiêu khu vực tư Chi tiêu của Chính phủ có một phần quan trọng là chithường xuyên, nó bao gồm chủ yếu là lương cho công nhân viên chức và nhữngngười làm việc trong khu vực công khác, Chính phủ giảm chi tiêu cũng đồng nghĩavới việc với cắt giảm lương cho bộ phận lao động này, thu nhập giảm, người dân sẽtiêu dùng ít hơn, làm giảm tổng cầu và ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng kinh tế.

Do đó, Chính phủ các nước thường chọn vay nợ để tài trợ cho chi tiêu công.Nói như vậy không có nghĩa là việc vay nợ của Chính phủ không có hạn chế Nợ củamột quốc gia đến từ 2 nguồn là trong nước và ngoài nước Nếu Chính phủ vay nợtrong nước thông qua việc phát hành trái phiếu Chính phủ thì thị trường tài chínhtrong nước sẽ được cung cấp thêm một lượng hàng hóa lớn, chất lượng tốt và rủi rothấp (trong ngắn hạn, rủi ro gần như bằng 0) nhưng việc này cũng đồng nghĩa với sựtăng lên của lãi suất trong nước khiến cho các chủ thể khác của nền kinh tế đi vaykhó khăn hơn, gây ra hiện tượng chèn lấn đầu tư tư nhân Việc vay nợ nước ngoàicũng có nhiều bất lợi, Chính phủ nhận được các khoản vay từ nước ngoài thông quanguồn vốn ODA và việc phát hành trái phiếu Chính phủ trên thị trường tài chínhquốc tế khiến cho tỉ giá ngoại tệ/nội tệ giảm, gây ra khó khăn cho việc xuất khẩu khigiá hàng hóa xuất khẩu trong nước tăng lên tương đối so với nước ngoài, làm xấu đitình trạng của cán cân thanh toán quốc tế và dễ gây khủng hoảng nợ

Ngoài ra, việc nợ công liên tục gia tăng còn do nhiều nguyên nhân khác nhưviệc quản lý nợ lỏng lẻo, tệ nạn tham nhũng hoặc đến từ những nguyên nhân kháchquan như việc già hóa dân số khiến chi phúc lợi tăng, khủng hoảng kinh tế khiếnChính phủ các nước phải tăng chi tiêu để kích cầu, tỉ lệ tiết kiệm trong dân cư thấp…

c Phân loại nợ

- Theo nguồn hình thành

• Nợ nước ngoài

• Nợ trong nước

- Theo phương thức huy động các khoản nợ

• Các khoản nợ huy động bằng phát hành trái phiếu Chính phủ

• Nợ do Chính phủ bảo lãnh

• Nợ ODA

- Theo tính chất ưu đãi của các khoản nợ

• Các khoản nợ thương mại

• Các khoản nợ ưu đãi

d Các chỉ tiêu đánh giá mức độ nợ của một quốc gia

Để đánh giá mức độ nợ của một quốc gia, người ta đưa ra một số chỉ tiêu sau

Trang 7

- Số dư nợ so với tổng thu nhập quốc nội (GDP)

Bảng 1 Đánh giá mức độ nợ theo chuẩn của World

Bank Tăng trưởng kinh tế

a Khái niệm

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

hoặc tổng sản phẩm quốc gia (GNP) hoặc thông qua chỉ số giá tiêu dùng (CPI)trong một thời gian nhất định

Sự tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào 2 quá trình: sự tích lũy tài sản(như vốn, lao động và đất đai) và đầu tư những tài sản này có năng suất hơn.Tiết kiệm và đầu tư là trọng tâm, nhưng đầu tư phải hiệu quả thì mới đẩymạnh tăng trưởng Chính sách chính phủ, thể chế, sự ổn định chính trị và kinh

tế, đặc điểm địa lý, nguồn tài nguyên thiên nhiên, và trình độ y tế và giáo dục,tất cả đều đóng vai trò nhất định ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

Trang 8

Biểu đồ 1 Tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 1985-2016 (Nguồn: World

Bank)

b Đo lường

Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệtđối, tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng nămtrong một giai đoạn Mức tăng trưởng tuyệt đối là mức chênh lệch quy môkinh tế giữa hai kỳ cần so sánh

Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy

mô kinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế

kỳ trước Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %

Biểu diễn bằng toán học, sẽ có công thức:

g = dY/Y × 100(%),Trong đó:

• Y là quy mô của nền kinh tế

• g là tốc độ tăng trưởng

Trang 9

Nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) danh nghĩa, thì sẽ có tốc

độ tăng trưởng GDP (hoặc GNP) danh nghĩa Còn nếu quy mô kinh tế được đo bằngGDP (hay GNP) thực tế, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hay GNP) thực tế Thôngthường, tăng trưởng kinh tế dùng chỉ tiêu thực tế hơn là các chỉ tiêu danh nghĩa

Tác động của nợ công đến tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế của một quốc gia được đo lường bằng sự thay đổi quy mô nền kinh tế hay nói cách khác là sự thay đổi GDP của quốc gia đó qua các năm Mà

GDP=C+I+G+NXTrong đó:

C: tiêu dùngI: đầu tư khu vực tư nhân

G: Chi tiêu của Chính phủ NX: Giá trị xuất khẩu ròng

Vậy, rõ ràng việc chi tiêu của Chính phủ có ảnh hưởng đến GDP và sự tăngtrưởng kinh tế mà trong các khoản chi tiêu ấy có một phần là từ vay nợ và chi tiêucông cũng bao gồm trả lãi và gốc vay của Chính phủ Từ đây, có thể khẳng định,

nợ công có tác động lên tăng trưởng kinh tế

2 Các lý thuyết nghiên cứu

Lý thuyết về mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế là một đề tàithu hút được nhiều tranh luận của các học giả thuộc các trường phái kinh tế khácnhau, cả tân cổ điển và Keynes Tuy nhiên, các nghiên cứu của các học giả nàykhông đưa ra một câu trả lời đồng nhất mà tồn tại 3 luồng quan điểm:

- Thứ nhất, quan điểm tăng trưởng nợ công tỷ lệ nghịch với tăng trưởng kinh tế quốc gia với đại diện là Friedman (1988)

- Thứ hai, quan điểm nợ công ở mức hợp lý có tác động tích cực đến tăng trưởngkinh tế do tác động đến tổng cầu thuộc về các nhà kinh tế học theo trường pháiKeynes

- Thứ ba, quan điểm nợ công có tác động rất nhỏ tới tăng trưởng kinh tế thuộc về các nhà kinh tế theo trường phái Ricardo với đại diện tiêu biểu là Barro

Các lý thuyết về mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế liên quan tới 3 quan điểm sẽ lần lượt được thảo luận ở phần tiếp theo

Trang 10

a Quan điểm nợ công làm giảm tăng trưởng kinh tế

Trường phái kinh tế cổ điển cho rằng khi Chính phủ dùng nợ để trang trải cáckhoản thâm hụt ngân sách thì sẽ làm giảm tăng trưởng kinh tế do gánh nặng nợcho thế hệ tương lai cũng như do việc giảm đầu tư tư nhân từ áp lực tăng lãi suất

Modigliani (1961) lập luận rằng khi Chính phủ vay tiền thì Chính phủ sẽ phảităng thuế để bù đắp lại các khoản lãi phải trả cho các khoản vay đó Việc tăngthuế trong tương lai làm giảm thu nhập của dân chúng nên thực chất tổng nguồnvốn đầu tư trong nền kinh tế không đổi, chỉ chuyển từ “túi người này sang túingười kia” Thêm nữa, thu nhập kỳ vọng giảm do việc tăng thuế cũng không kíchthích đầu tư để tăng trưởng kinh tế Ông phát biểu rằng: “nếu chính phủ đánhthuế, thì nguời dân còn ít tiền trong túi hơn, cho nên mỗi dồng chính phủ chi tiêu

sẽ được cân đối bằng một đồng không được chi ở chỗ khác”

Friedman (1988) lại cho rằng sự gia tăng của nợ công do thâm hụt ngân sách

sẽ gây áp lực làm tăng lãi suất Lãi suất tăng đương nhiên sẽ làm giảm đầu tư tưnhân Nói một cách khác, Friedman (1988) cho rằng tăng nợ công giống như việc

“chi tiêu công chèn ép đầu tư tư nhân” (crowd out effect) Một khi đầu tư tư nhângiảm thì tăng trưởng kinh tế cũng giảm

b Quan điểm của trường phái kinh tế học Keynes

Quan điểm của trường phái Keynes được đưa ra dựa trên hai giả thuyết

cơ bản là tổng cung chịu ảnh hưởng của tổng cầu và giả thiết nền kinh tế khôngtrong trạng thái toàn dụng Keynes đề xuất khi nền kinh tế suy thoái, thất nghiệptăng thì Chính phủ có thể đưa ra các gói kích cầu để tác động vào nền kinh tế Cácgói kích cầu này có thể thực hiện bằng cách Chính phủ đi vay để tăng chi tiêucông Việc tăng tổng cầu sẽ có tác động thúc đẩy tổng cung và từ đó thúc đẩytăng trưởng kinh tế

Robert Eisner (1984) cho rằng nếu nợ công ở mức hợp lý sẽ có tác động làmgia tăng việc tổng cầu, tăng tỷ suất lợi nhuận đầu tư từ đó thúc đẩy đầu tư cho dùlãi suất có tăng lên Chính vì thế, ông đã áp dụng lý thuyết này trong các phân tíchthực chứng và chỉ ra rằng thâm hụt ngân sách (hay nợ công) có quan hệ tỷ lệthuận với tốc độ tăng trưởng của thu nhập Những phát hiện của Eisner tuy nhiênlại không nhận được nhiều sự đồng tình chẳng hạn, Gramlich (1989) cho rằngviệc sử dụng nợ công để tài trợ cho thâm hụt ngân sách không quan trọng trongviệc quyết định tính hiệu quả của chính sách tài khóa Quan điểm của phái Keynescũng vấp phải sự phản đối của những người theo trường phái kinh tế Ricardo khi

họ cho rằng rằng chi tiêu tăng thêm của chính phủ sẽ không có tác động lên mứcthu nhập vì người dân sẽ lập tức tiết kiệm nhiều hơn để trả thuế tăng lên trongtương lai hoặc bù lại lạm phát cao hơn do chính phủ tăng chi tiêu trong hiện tại.Tác động ròng lên tổng cầu sẽ là bằng không

Trang 11

c Quan điểm của trường phái Ricardo – Mô hình liên thế hệ genarational model)

(Inter-Quan điểm của trường phái Ricardo trong đó Robert Barro (1989) là một đại diệntiêu biểu Quan điểm này cho rằng, thâm hụt ngân sách (nợ công) có tác động rất nhỏtới nền kinh tế vì nợ công không có tác động gì đến tổng cầu Việc gia tăng chi tiêucông ngày hôm nay sẽ làm tăng thuế cả ở hiện tại và tương lai trong khi người tiêudùng sẽ định hướng hành vi tiêu dùng của họ dựa trên giá trị hiện tại của thu nhậpcủa họ trong tương lai Dù cho việc gia tăng thuế diễn ra ở hiện tại hay tương lai thìviệc tiêu dùng cũng sẽ giảm tương ứng với việc chi tiêu của chính phủ

Người trẻ Trung niên Người già

(mới) (người trẻ cũ) (trung niên cũ)

Nguồn: Jonathan Gruber (2005)

Bảng 2 Mô phỏng chi tiêu của các nhóm người trong giai đoạn 2004 – 2024 theo mô

hình liên thế hệ

Trong mô hình bảng 2, thế hệ người già của năm 2004 chi tiêu nhiều hơnnhóm người khác là 4000 USD Ở góc độ tiêu dùng, nhóm người trẻ và nhómngười trung niên của năm 2004 sang đến 2024 (tương ứng nhóm người trung niên

và nhóm người già) không được lợi cũng không thiệt hơn Nhóm người trẻ củanăm 2024 (mới xuất hiện) có mức chi tiêu 4000 USD thấp hơn so với không cóchính sách nợ kèm chính sách tài khóa Như vậy các khoản vay hôm nay đều tạo

ra gánh nặng cho tương lai

Robert Barro (1989) cho rằng khi chính phủ vay nợ thì nhóm người già nhận thấyrằng con cháu họ sẽ bị thiệt hại hơn (giả sử là người già quan tâm tới phúc lợi củacon cháu họ, do đó họ không muốn mức tiêu dùng của con cháu họ giảm sút) Vậy thìnhóm người già phản ứng như thế nào? Đơn giản là họ gia tăng thu nhập dưới dạng

di sản để lại cho con cháu với mức bằng khoản tiền đủ để trả phần thuế tăng thêm màthế hệ tương lai phải chịu Bằng cách làm này, kết quả không có gì thay đổi thực sự.Các thế hệ sẽ có cùng mức tiêu dùng chính xác một số tiền giống

Trang 12

nhau như trước khi chính phủ vay nợ Mỗi thế hệ tiêu dùng chính xác một số tiềngiống nhau như trước khi chính phủ vay nợ.

Quan điểm của trường phái Ricardo đã bị phê phán cả về mặt lý luận và thựctiễn Bernheim (1989) cho rằng quan điểm của trường phái này dựa quá nhiều vàocác giả thuyết, trong đó có giả thiết rằng các hộ gia đình là các thực thể độc lập và

và không có mối liên hệ với nhau Giả thiết này chỉ có ở các thị trường hoàn hảotrong đó người tiêu dùng có các quyết định của mình chỉ dựa vào lý trí (duy lý)

mà thôi

Giả thuyết kỳ vọng duy lý được dựa trên ý tuởng cho rằng mọi người - nguờitiêu dùng, doanh nghiệp, chủ lao động và nguời lao động - sử dụng hiệu quảthông tin mà họ có đuợc về quá khứ, hiện tại và tương lai Họ nhìn vào những sựkiện trong quá khứ để tiên đoán điều gì sẽ xảy ra trong tương lai, nhưng không cónghĩa là ai cũng đoán đúng về tương lai, mà thật ra những sai lầm của chúng takhông tương quan với nhau Chúng ta điều chỉnh những kỳ vọng về tương lai mộtcách liên tục và theo sát những thay đổi trong điều kiện kinh tế Hàm ý chính sáchquan trọng của lý thuyết kỳ vọng duy lý là sự can thiệp của chính phủ sẽ lợi bấtcập hại Giả sử chính phủ tăng chi tiêu trong giai đoạn thất nghiệp cao TheoKeynes thì điều này sẽ làm tăng cầu hiệu dụng và thuyết phục được doanh nghiệp

và hộ gia đình rằng điều kiện là an toàn cho đầu tư và tiêu dùng Nguợc lại, phe

kỳ vọng duy lý cho rằng chi tiêu tăng thêm của chính phủ sẽ không có tác độnglên mức thu nhập vì nguời dân sẽ lập tức bắt đầu tiết kiệm nhiều hơn để trả thuếtăng lên trong tương lai hoặc bù lại lạm phát cao hơn do chính phủ tăng chi tiêutrong hiện tại Tác động ròng lên tổng cầu sẽ là bằng không

Barro cũng thừa nhận rằng các giả thiết này là quá mạnh tuy nhiên cũng chorằng dù cho lý thuyết của trường phái Ricardo không hoàn hảo thì vẫn có thể sửdụng được như là một tiêu chuẩn để đo lường tính hiệu quả của chính sách tàikhóa của một quốc gia

Vì vậy, để đưa ra nhận định quan điểm nào phù hợp với từng thời điểm củaquốc gia còn phải phụ thuộc vào nhân tố quan trọng đó là hành vi của người tiêudùng cũng như tính hiệu quả trong việc chi tiêu ngân sách nhà nước

Theo Lê Thị Minh Ngọc (2011), xét về mặt tích cực, Chính phủ các quốc gia

có thể sử dụng nợ công như là một công cụ để tài trợ vốn, đáp ứng nhu cầu đầu tucho các dự án, công trình trọng điểm quốc gia, khuyến khích phát triển sản xuất,kích thích tăng truởng kinh tế Giải pháp tăng nợ công để bù đắp thâm hụt ngânsách do cắt giảm thuế có thể sẽ góp phần kích thích tiêu dùng, tăng sản luợng,việc làm, tăng tổng sản phẩm quốc dân trong ngắn hạn

Về mặt tiêu cực, nợ công lớn có thể ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tếnhư sau:

Trang 13

- Thứ nhất, nợ công lớn làm giảm tích lũy vốn tư nhân (private savings), dẫn đến hiện tượng thoái lui đầu tư tư nhân.

- Thứ hai, nợ công làm giảm tiết kiệm quốc gia (national savings)

- Thứ ba, nợ công tạo áp lực gây ra lạm phát

- Thứ tư, nợ công làm méo mó các hoạt động kinh tế, gây tổn thất phúc lợi xãhội

d Lý thuyết về ngưỡng nợ công (debt overhang) và đường cong Laffer

Các lý thuyết trên đây cho thấy nợ công có thể có tác động tích cực và tiêu cực

và cho rằng mức nợ công mức nợ công ở mức hợp lý có thể kích thích tăngtrưởng kinh tế Vậy mức nợ công hợp lý là bao nhiêu hay và tại sao vượt qua mức

đó thì nợ công sẽ có tác động xấu đến tăng trưởng kinh tế? Câu trả lời nằm trong

lý thuyết về ngưỡng nợ của Krugman (1988)

Krugman (1988) định nghĩa một tình trạng vượt ngưỡng nợ là tình trạng trong

đó số tiền dự kiến chi trả nợ sẽ giảm dần khi dung luợng nợ tăng lên Lý thuyếtnày cho rằng nếu nhu nợ trong tương lai vuợt quá khả năng trả nợ của một nuớcthì các chi phí dự tính chi trả cho các khoản nợ sẽ kìm hãm đầu tư trong nước từ

đó ảnh huởng xấu đến tăng trưởng Lập luận của lý thuyết “ngưỡng nợ” có thểđuợc xem xét qua đuờng cong Laffer Ðuờng cong Laffer cho thấy rằng tổng nợcàng lớn sẽ đi kèm với khả năng trả nợ càng giảm Trên phần dốc lên của đườngcong, giá trị hiện tại của nợ càng tăng sẽ đi cùng với khả năng trả nợ cũng tănglên Trên phần dốc xuống của đuờng cong, giá trị hiện tại của nợ càng tăng lại đikèm với khả năng trả nợ càng giảm

Ðỉnh đuờng cong Laffer đã gợi ý điểm mà tại đó sự tăng lên trong tổng nợ bắtđầu tạo ra gánh nặng cho đầu tư, cải tổ kinh tế và các hoạt động khác Ðây là điểm

mà tại đó nợ bắt đầu ảnh huởng ngược chiều đến tăng trưởng Vì vậy đỉnh củađuờng cong Laffer là mức độ nợ tối ưu mà một quốc gia có thể duy trì mà khôngphải lo ngại đến ảnh hưởng tiêu cực của nợ đến tăng trưởng kinh tế

d Các nghiên cứu có liên quan

Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế

Teles và Mussolini (2013) trong nghiên cứu có tên “Nợ công và những giới hạn trongchính sách tài khóa để tăng trưởng kinh tế” đã phát triển những lý thuyết về mối quan

hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế được đưa ra bởi các nhà kinh tế Tân cổ điểnnhư Barro (1989) bằng cách đề xuất một mô hình có liên quan đến các thế hệ và tăngtrưởng nội sinh Dù cho mô hình của Teles và Mussolini (2013) xuất phát từ mô hìnhcủa Barro (1989) trong đó nói rằng nợ công có thể có tác động tích cực nhờ việc chitiêu công một cách hiệu quả bên cạnh những tác động tiêu cực

Trang 14

như tăng thuế và giảm đầu tư, thì mô hình được đề xuất trong nghiên cứu của họlại có hai đóng góp quan trọng, đó là việc giả định mỗi thế hệ sẽ tồn tại trong haithời kỳ (0,1) và xác định tầm quan trọng của tỷ lệ nợ công/GDP trong việc phântích tác động của nợ công tới tăng trưởng kinh tế Sử dụng các dữ liệu của 74nước trong khoảng thời gian 1972 - 2004, Teles và Mussolini (2013) đã đưa ramột phát hiện quan trọng là quy mô của nợ công là một nhân tố có ảnh hưởngquan trọng tới mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế Chẳng hạn, vớinhững nước có tỷ lệ nợ công/GPD cao thì việc tăng đầu tư công sẽ làm tăng lãisuất và càng sụt giảm đầu tư tư nhân Nói một cách khác, các nước có tỷ lệ nợcông càng cao thì hiện tượng “chèn ép đầu tư tư nhân” càng tăng Như vậy,nghiên cứu của Teles và Mussolini (2013) đã cho thấy tỷ lệ nợ công là một biến

số quan trọng trong phân tích Tuy nhiên, tỷ lệ nợ công thế nào gọi là cao haythấp và bao nhiêu là tốt nhất thì lại chưa được bàn tới trong nghiên cứu này

Vanlaramsanga (2012) tiến hành một nghiên cứu thực nghiệm nhằm kiểm địnhmối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế tại Bang Mizoram, Ấn Độ Môhình của Vanlaramsanga được thiết lập với biến phụ thuộc là tốc độ tăng trưởngkinh tế đo lường bằng chỉ số tổng sản lượng của bang (GSDP) và biến độc lập là

tỷ lệ nợ công Dữ liệu được thu thập là số liệu về tăng trưởng kinh tế và nợ côngtrong khoảng thời gian 1987-2010 với 23 quan sát Nghiên cứu này trước hết ápdụng phân tích hồi quy để kiểm tra mối liên hệ phụ thuộc giữa các biến của môhình Để kiểm tra độ phân bố chuẩn và ổn định của dữ liệu chuỗi thời gian,Augmented Dickey-Fuller (ADF) được áp dụng Sau đó, tác giả sử dụng Pair-wiseGranger Causality để tìm ra mối quan hệ nhân quả giữa nợ công và tăng trưởngkinh tế Kết quả phân tích cho thấy nợ công có quan hệ tỷ lệ nghịch với tăngtrưởng kinh tế, nghĩa là, nợ công càng lớn thì tăng trưởng kinh tế càng giảm Tuynhiên, kết quả phân tích sử dụng Pair-wise Granger Causality lại cho thấy khikinh tế tăng trưởng chậm thì nợ công sẽ tăng trong khi nợ công cao lại không phải

là nguyên nhân dẫn đến kinh tế suy giảm Nghiên cứu của Vanlaramsanga cóđóng góp là áp dụng Pair-wise Granger Causality để trả lời câu hỏi nợ công cao

có phải là nguyên nhân làm cho tăng trưởng kinh tế chậm lại hay không Tuynhiên, việc giới hạn dữ liệu trong vòng 23 năm tại một bang ở Ấn Độ làm giảmkhả năng áp dụng của kết quả nghiên cứu ở các bối cảnh khác

Egert (2013) đã tiến hành một nghiên cứu thực nghiệm nhằm xác định mộtmức trần nợ công mà trên mức đó thì nợ công sẽ có quan hệ tỷ lệ nghịch với tăngtrưởng nghĩa là càng tăng nợ công thì tăng trưởng càng giảm Tác giả sử dụng bộ

dữ liệu Reinhart-Rogoff công bố bởi Herndon et al (2013) trong đó có dữ liệu về

nợ công và tăng trưởng của các nước OECD trong thời gian 200 năm từ 1790 đến

2009 Các mức trần nợ công 30%, 60%, 90% đã được sử dụng sử dụng phươngpháp thống kê mô tả để phân tích mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng trongcác giai đoạn khác nhau Các kết quả nghiên cứu cho thấy khi tỷ lệ nợ công vượtquá 30% thì nền kinh tế sẽ trở nên chậm phát triển, còn khi tỷ lệ nợ công lơn hơn60% và 90% thì nợ công có quan hệ tỷ lệ nghịch với tăng trưởng kinh tế

Trang 15

Nghiên cứu về tỷ lệ nợ công tối ưu trong mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế

Smyth David J., Yu Hsing (1995) trong nghiên cứu có tên “Tìm kiếm một tỷ lệ

nợ công tối ưu cho tăng trưởng kinh tế” đã có những đóng góp rất giá trị cả về lýthuyết và thực tiễn liên quan đến việc phát triển các nghiên cứu liên quan đến mốiquan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu này đã phát triển lýthuyết được đề xuất bởi Barro (1979), Eisner (1992) và Joines (1991) để trả lờicâu hỏi nghiên cứu là có hay không một tỷ lệ nợ công tối ưu để tăng trưởng kinh

tế, trong đó tỷ lệ nợ công tối ưu được định nghĩa là tỷ lệ nợ công trên GDP mà cóthể tối đa hóa tốc độ tăng trưởng kinh tế với giả định các yếu tố khác không thayđổi Mô hình nghiên cứu được xác định bao gồm các biến số như sau: tốc độ tăngtrưởng thực (là một biến số phụ thuộc vào tỷ lệ nợ công/GDP), tốc độ gia tăngviệc làm, tốc độ gia tăng vốn đầu tư, tốc độ tăng cung tiền, và biến xu hướng

Để tính toán tỷ lệ nợ công làm tối đa hóa tốc độ tăng trưởng kinh tế, hàm đượcđạo hàm bậc nhất theo biến nợ công: Smyth David J., Yu Hsing (1995) sử dụng

dữ liệu của Mỹ trong khoảng thời gian từ 1960 đến 1991 với 32 quan sát Kết quảphân tích cho thấy, nếu sử dụng khối tiền tệ M2 cho biến mức cung tiền thì tỷ lệ

nợ công tối ưu là 48,9% trong khi tỷ lệ này là 47,4% nếu sử dụng khối tiền tệ M1.Nghiên cứu này cung cấp một cách tiếp cận khá đơn giản và hiệu quả để tính toán

tỷ lệ nợ công tối ưu Tuy nhiên, tác giả lại không đưa đủ những lý giải về sự tồntại của các biến trong mô hình và việc kiểm định độ tin cậy của mô hình cũngchưa được làm rõ

Nếu như Smyth David J., Yu Hsing (1995) đề xuất mô hình xác định tỷ lệ nợcông tối ưu là tỷ lệ mà có thể tối đa hóa tốc độ tăng trưởng kinh tế thì Weh-Sol(2010) lại là tỷ lệ nợ công mà có thể tối đa hóa phúc lợi xã hội cho quốc gia đó.Khái niệm về tỷ lệ nợ công tối ưu này dựa trên nghiên cứu của Aiyagari vàMcGrattan (1997) có tên là “Tỷ lệ nợ công tối ưu” Aiyagari và McGrattan (1997)xác định phúc lợi do nợ công mang lại là sự chênh lệch giữa lợi ích mà người dânnhận được và những chi phí mà họ phải trả Aiyagari và McGrattan (1997) dùngthuật ngữ giảm sự kìm hãm thanh khoản (liquidity constraints) khi nói đến lợi íchcủa nợ công bởi vì khi chính phủ tăng nợ công bằng cách phát hành trái phiếuchính phủ thì người dân có thêm kênh để đầu tư (sử dụng tiền vốn của họ) Thêmnữa nếu Chính phủ lại sử dụng số tiền đi vay để cấp thêm vốn cho nền kinh tế thìdân chúng lại có thể đi vay dễ dàng hơn Bên cạnh đó, nợ công cũng kéo theo một

số tác động tiêu cực như tăng thuế hay chèn ép đầu tư tư nhân

Tuy nhiên, khác với Smyth và Yu khi phân tích các dữ liệu quá khứ của Mỹ,Wel-Sol lại cố gắng tìm kiếm một tỷ lệ nợ công tối ưu cho tương lai (2010 - 2050).Trong mô hình nghiên cứu, có ba biến số ảnh hưởng tỷ lệ nợ công tối ưu là là hệ sốtín nhiệm quốc gia, tốc độ tăng trưởng và các yếu tố kìm hãm thanh khoản của thịtrường hay nói cách khác tỷ lệ nợ công tối ưu là một hàm phụ thuộc của hệ số tínnhiệm, tốc độ tăng trưởng kỳ vọng và các yếu tố kìm hãm thanh khoản Hệ số tínnhiệm của quốc gia càng cao thì tỷ lệ nợ công tối ưu càng cao, tốc độ tăng trưởng

Trang 16

kinh tế kỳ vọng thì tỷ lệ nợ công tối ưu càng cao, và các yếu tố kìm hãm thanh khoảncàng giảm thì tỷ lệ nợ công càng cao Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ nợ công tối

ưu là 50% từ 2010 đến 2050 trong khi mức nợ công dự báo cho giai đoạn này đềucao hơn 50% Nghiên cứu của Weh-Sol (2010) có nhiều bước tiến so với nghiên cứutrước đó của Aiyagari và McGrattan (1997) khi việc đo lường các biến trong mô hìnhchưa được mô tả rõ dẫn đến kết quả nghiên cứu thiếu sức thuyết phục Hơn nữa, việc

dự báo các chỉ số trong tương lai cũng cần phải cân nhắc thêm nhiều yếu tố tác độngnhư lạm phát, lãi suất và các rủi ro có thể gặp phải

Tại Việt Nam, nghiên cứu về tỷ lệ nợ công tối ưu cũng đã được thực hiện vớiđiển hình là nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Tuấn (2012) có tên “Mối quan hệgiữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế” Nghiên cứu của tác giả Nguyễn HữuTuấn dựa trên trên lý thuyết ngưỡng nợ công “debt overhang” là lý thuyết mô tả mốiquan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Theo Krugman (1988),một quốc gia có số nợ vượt quá ngưỡng nợ thì số tiền dự kiến chi trả nợ nuớc ngoài

sẽ giảm dần khi dung luợng nợ tăng lên Lý thuyết này hàm ý khi nợ công của mộtquốc gia tăng lên đến một mức nào đó thì sẽ ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng Lýthuyết ngưỡng nợ công “debt overhang” cũng được mô tả thông qua đường congLaffer trong đó ở phần đi lên của đường cong thì nợ công càng tăng thì khả năng trả

nợ cũng tăng lên, phần đi xuống của đường cong lại mô tả khi nợ càng tăng thì khảnăng trả nợ càng giảm do những tác động tiêu cực của công trong đó có tác độngchèn ép đầu tư tư nhân Đỉnh của đường cong “là tỷ lệ tỷ lệ nợ tối ưu mà Việt Namnên duy trì mà không phải lo ngại vấn đề “debt overhang” hay nói cách khác đóchính là ngưỡng nợ hoặc giá trị tới hạn của nợ nuớc ngoài”

Nguyễn Hữu Tuấn (2012) trước hết sử dụng số liệu nợ nước ngoài và GDPthực tế của Việt Nam trong giai đoạn 1986-2009 để mô tả đường cong Laffer vàtìm ra ngưỡng nợ là 65% Tiếp đó, tác giả kiểm định mối quan hệ giữa nợ và tăngtrưởng của Việt Nam

Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Hữu Tuấn (2012) được xây dựng dựa trên

mô hình thực nghiệm của Tokunbo và cộng sự (2007) trong nghiên cứu vớitrường hợp nợ công của Nigeria và được xác định như sau:

Trang 17

3 Khoảng trống nghiên cứu

Việc nghiên cứu mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế đểxác định mức nợ công tối ưu đã được thực hiện cả ở trong và ngoài nước vớinhững kết quả khác nhau Tuy nhiên, ngay cả việc xác định khái niệm về tỷ lệ

nợ công tối ưu cũng còn nhiều tranh cãi Nợ công tối ưu trên GDP có lúc đượchiểu là tỷ lệ nợ công làm tối đa hóa tốc độ tăng trưởng kinh tế (Smyth và Yu,1995) thì trong một nghiên cứu khác tỷ lệ nợ công tối ưu lại là tỷ lệ nợ cônglàm tối đa hóa phúc lợi xã hội của một quốc gia (Weh-Sol, 2010)

Ngoài ra, ngưỡng nợ công (debt threshold) hay trần nợ công có phải là

tỷ lệ nợ công tối ưu không, nếu không thì cơ sở xác định những giá trị đó nhưthế nào cũng cần phải được bàn luận thêm Các biến số trong mô hình xácđịnh mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế để xác định tỷ lệ nợcông tối ưu cũng đã được đưa ra nhưng chưa được kiểm định rộng rãi và ápdụng trong mọi trường hợp

Một số nghiên cứu như nghiên cứu của Nguyễn Hữu Tuấn thì mô hình đưa ra

ở mức quá đơn giản khi tác giả chỉ đề cập đến nhân tố độ mở của nền kinh tế

có tác động tới mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và Việt Nam

Khi phân tích mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế cần phảiđược xem xét với hoạt động sử dụng nguồn vốn vay cho phát triển kinh tế.Chính phủ có thể huy động nợ công để đầu tư hoặc để tài trợ cho các khoảnchi tiêu dùng của Nhà nước Câu hỏi đặt ra là nếu chính phủ dùng nợ công đểtăng đầu tư hay để tăng tiêu dùng thì ảnh hưởng như thế nào tới tăng trưởngkinh tế Nói cách khác việc thay đổi trong cơ cấu chi tiêu cũng là một nhân tố

có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ nợ công, tăng trưởng kinh tế Ngoài ra, việc

sử dụng nhân tố GDP thực tế hay danh nghĩa trong phân tích cũng chưa đượcthống nhất trong các nghiên cứu

Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tếđược dựa trên các dữ liệu trong quá khứ để xác định một tỷ lệ nợ tối ưu Câuhỏi đặt ra là tỷ lệ này liệu có thể áp dụng làm căn cứ cho hoạt động quản lý nợcông trong tương lai hay không Vì thế, một mô hình dự báo có thể áp dụngcho 10 năm hoặc 20 năm sẽ mang lại ý nghĩa thực tiễn lớn hơn

Nghiên cứu về chủ đề này đã được thực hiện rất nhiều tại các nước pháttriển, nhất là sau khi khủng hoảng nợ công ở EU diễn ra nhưng lại chưa đượcthực hiện nhiều với bối cảnh là tình hình kinh tế xã hội ở các nước đang pháttriển như Việt Nam Ở Việt Nam, ngoại trừ nghiên cứu của Nguyễn Hữu Tuấn(2012) giới hạn về tỷ lệ nợ nước ngoài tối ưu thì các nghiên cứu khác mới chỉdừng lại ở việc lượng hóa mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tếthông qua một vài biến số kinh tế đơn giản mà thôi

Từ các phân tích trên đây, có thể thấy các nghiên cứu đã được thực hiệnliên quan đến việc nghiên cứu mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh

tế vẫn còn những khoảng trống đòi hỏi cần phải được bổ sung và phát triển

Ngày đăng: 28/08/2020, 09:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Đánh giá mức độ nợ theo chuẩn của WorldBank - tiểu luận tài chính công  ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế việt nam
Bảng 1. Đánh giá mức độ nợ theo chuẩn của WorldBank (Trang 7)
c. Quan điểm của trường phái Ricardo – Mô hình liên thế hệ (Inter- (Inter-genarational model) - tiểu luận tài chính công  ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế việt nam
c. Quan điểm của trường phái Ricardo – Mô hình liên thế hệ (Inter- (Inter-genarational model) (Trang 11)
Bảng 1. Tổng nợ công của Việt Nam tính đến thời điểm tháng 9/2011 - tiểu luận tài chính công  ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế việt nam
Bảng 1. Tổng nợ công của Việt Nam tính đến thời điểm tháng 9/2011 (Trang 24)
Bảng 3. Thâm hụt ngân sách của Việt Nam giai đoạn 200 6- 2011 - tiểu luận tài chính công  ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế việt nam
Bảng 3. Thâm hụt ngân sách của Việt Nam giai đoạn 200 6- 2011 (Trang 25)
Mô hình tăng tưởng hiện tại của Việt Nam dựa vào nguồn vốn là chủ yếu mà nguồn vốn lại được sử dụng không hiệu quả dẫn tới lãng phí triền miên. - tiểu luận tài chính công  ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế việt nam
h ình tăng tưởng hiện tại của Việt Nam dựa vào nguồn vốn là chủ yếu mà nguồn vốn lại được sử dụng không hiệu quả dẫn tới lãng phí triền miên (Trang 25)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w