Vì thế nên việc nghiên cứu về tác động của biến đổi cơ cấu dân số là điều hếtsức cần thiết trong việc cung cấp những bằng chứng khoa học cho việc xây dựngchính sách nhằm khai thác tiềm n
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, một trong những vấn đề đã
và đang được quan tâm từ trước đến nay của tất cả các nước trên thế giới đó là Tăng trưởng kinh tế Sự tác động của các yếu tố tới tăng trưởng kinh tế của các quốc gia
thì lại một ngày càng đa dạng và phức tạp Thế nhưng, cả lý thuyết và thực tếnghiên cứu đều cho thấy dân số là một trong số những yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽđến tăng trưởng kinh tế và đóng vai trò quan trọng trong chính trị-xã hội của mỗinước
Thật vậy, nhìn lại từ giai đoạn 2011 đến nay thì Việt Nam được nhận định dân
số đang trong giai đoạn “Dân số vàng” với lực lượng lao động luôn chiếm >50%cùng với điều kiện đầu tư phát triển thuận lợi đã tạo nên sự bứt phá mạnh mẽ trongtăng trưởng kinh tế
Vì thế nên việc nghiên cứu về tác động của biến đổi cơ cấu dân số là điều hếtsức cần thiết trong việc cung cấp những bằng chứng khoa học cho việc xây dựngchính sách nhằm khai thác tiềm năng “Dân số vàng” cho tăng trưởng kinh tế cũngnhư chuẩn bị cho giai đoạn dân số già Chính vì vậy nên nhóm em đã chọn đề tài:
“Ảnh hưởng của biến đổi cơ cấu dân số tuổi tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011 đến nay”.
Bài tiểu luận gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận
Chương II: Thực trạng biến đổi cơ cấu tuổi dân số và tăng trưởng kinh tế ởViệt Nam giai đoạn 2011- nay
Chương III: Định hướng chính sách cho Việt Nam
2 Tổng quan nghiên cứu
Nghiên cứu của Kelley và Schmidt (2005) trong Journal of PopulationEconomics về tác động của biến đổi cơ cấu tuổi dân số đến tăng trưởng kinh tế ởcác quốc gia trên thế giới bằng cách sử dụng mô hình ước lượng với các biến nhânkhẩu học với 344 quan sát của 86 quốc gia giai đoạn 1960-1995 Kết quả chỉ ra tăng
Trang 2trưởng kinh tế sẽ cao hơn nếu tốc độ tăng dân số trong tuổi lao động vượt tốc độtăng của tổng dân số Tuy nhiên hạn chế của nghiên cứu là nhiều người lao độngtham gia hoạt động kinh tế nhưng lại chi tiêu nhiều hơn những gì họ sản xuất hoặc
là trong số những người ở ngoài độ tuổi lao động nhưng họ vẫn tích cực tham gialàm việc tạo thu nhập thì sẽ tính như nào
Ở Việt Nam thì cũng đã có nhiều bài nghiên cứu về tác động của biến đổi cơcấu dân số đến tăng trưởng kinh tế điển hình là nghiên cứu của Bùi Thị Minh Tiệp(2013) đã sử dụng phương pháp tiếp cận Tài khoản chuyển giao quốc dân (NationalTransfer Accounts - NTA) để xác định nhóm dân số hoạt động kinh tế và có thunhập lớn hơn tiêu dùng ở Việt Nam Nghiên cứu này đã giải quyết được một trongnhưng hạn chế của các nghiên cứu đi trước Tác giả đưa ra lý giải: trên thực tế cónhiều người trong độ tuổi lao động không tham gia hoạt động kinh tế hoặc có hoạtđộng kinh tế nhưng không có tích lũy (tức là họ vẫn phải phụ thuộc về kinh tế ngay
cả khi họ đang trong độ tuổi lao động), đồng thời, có nhiều người ngoài độ tuổi laođộng vẫn tích cực hoạt động kinh tế (tức là họ ở nhóm dân số phụ thuộc nhưng họlại không phải phụ thuộc) Các nghiên cứu và tranh luận trước cũng chưa có sựthống nhất quy ước về độ tuổi lao động và công thức tính tỷ số phụ thuộc dân số
Do vậy, thay vì sử dụng nhóm dân số trong độ tuổi lao động, nên phân biệt và sửdụng nhóm dân số hoạt động kinh tế với nhóm dân số không hoạt động kinh tế Mặtkhác, nhiều người lao động tham gia hoạt động kinh tế nhưng lại chi tiêu nhiều hơnnhững gì họ sản xuất và ngược lại Vì thế, khi sử dụng phương pháp tiếp cận NTA
sẽ xác định được dân số ở nhóm tuổi nào thực sự tạo được thu nhập lớn hơn tiêudùng để các tính toán được sát thực hơn với đối tượng nghiên cứu, từ đó phản ánhchi tiết hơn tác động của các biến dân số đến tăng trưởng kinh tế
Bài tiểu luận của nhóm sẽ tiếp tục kế thừa những lí luận và phương phápnghiên cứu của những công trình khoa học trước đây nhưng sẽ làm rõ hơn nhữnghạn chế đồng thời đi sâu vào phân tích chi tiết hơn về thực trạng và tác động củabiến đổi cơ cấu dân số ở Việt Nam giai đoạn 2011 đến nay
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích tình hình dân số Việt Nam giai đoạn 2011 đến nay đặc biệt chú trọngđến những biến đổi cơ cấu tuổi dân số và tác động của nó tới tăng trưởng kinh tế
Trang 3- Hệ thống các lý thuyết và nghiên cứu về sự biến đổi cơ cấu dân số tới tăng trưởngViệt Nam từ đó rút ta bài học cho nước ta.
- Định hướng đưa ra các chính sách phù hợp nhất để tận dụng tốt cơ hội dân số vàchuẩn bị cho thời kì dân số già
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Dân số Việt Nam:quy mô, cơ cấu, chất lượng
Chính sách dân số Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu:
Dân số Việt Nam giai đoạn 2011 đến nay và số liệu dự báo cho những nămtới
Khuyến nghị các chính sách
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đáp ứng đúng mục đích nghiên cứu của bài tiểu luận, nhóm chúng em đã
sử dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê: tổng hợp các số liệu về biến đổi cơ cấu dân số cũng như làcác số liệu chỉ báo về dân số… Các số liệu này được thu thập từ tổng cục thống kêViệt Nam và từ các cuộc tổng điều tra Dân số Việt Nam
- Phương pháp nghiên cứu kế thừa: Dựa trên những công trình nghiên cứu khoa học
đi trước chúng em đã tiếp cận, mô tả và phân tích từ những quan điểm của các nhànghiên cứu
- Phương pháp xử lí thông tin: Định tính
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN1.1 Cơ cấu dân số
Trang 4nhân khẩu học, các đặc trưng về dân tộc, tôn giáo, tình trạng hôn nhân, trình độ họcvấn phản ánh về mặt kinh tế Ngoài ra các đặc trưng khác về giai cấp, thành phần xãhội nhằm phân loại tập hợp người theo các khía cạnh của đời sống xã hội.
1.1.2 Phân loại cơ cấu dân số
a) Cơ cấu sinh học
Cơ cấu dân số theo giới (đơn vị%)
Khái niệm: biểu thị tương quan giữa giới nam so với giới nữ hoặc so với tổng sốdân
Được biểu thị bằng hai công thức sau:
Cơ cấu dân số theo độ tuổi (đơn vị %)
Khái niệm: Là tập hợp những nhóm người sắp xếp theo những nhóm tuổi nhất định
- Có ba nhóm tuổi trên thế giới:
Nhóm dưới tuổi lao động: 0 - 14 tuổi
Nhóm tuổi lao động:15 -59 (đến 64 tuổi)
Nhóm trên tuổi lao động:Trên 60 (hoặc 65) tuổi
- Ở Việt Nam: tuổi lao động nam từ 15 đến hết 59 tuổi, nữ từ 15 đến hết hết 54 tuổi
- Dân số trẻ: Độ tuổi 0 - 14 trên 35% Tuổi 60 trở lên dưới 10%
- Dân số già: Độ tuổi 0 - 14 dưới 25% Tuổi 60 trở lên trên 15%
- Tháp dân số (tháp tuổi)
Biểu đồ thể hiện cơ cấu dân số theo độ tuổi, giới tính
Có 3 kiểu tháp (mở rộng, thu hẹp, ổn định)
b) Cơ cấu xã hội
Cơ cấu dân số theo lao động
Cho biết nguồn lao động và dân số hoạt động theo khu vực kinh tế
- Nguồn lao động: Dân số trong tuổi lao động có khả năng tham gia lao động
Nhóm dân số hoạt động kinh tế
Trang 5 Nhóm dân số không hoạt động kinh tế.
- Dân số hoạt động theo khu vực kinh tế
Khu vực I: Nông-lâm- ngư nghiệp
Khu vực II: Công nghiệp-xây dựng
Khu vực III: Dịch vụ
c) Cơ cấu dân số theo trình độ văn hóa
- Hai tiêu chí đánh giá gồm:
Tỉ lệ người biết chữ 15 tuổi trở lên
Số năm đi học của người 25 tuổi trở lên Các nước phát triển có trình độ vănhoá cao hơn các nước đang phát triển và kém phát triển
1.2 Tăng trưởng kinh tế
1.2.1 Định nghĩa
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặctổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trênđầu người (PCI) trong một thời gian nhất định Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thayđổi về lượng của nền kinh tế
1.2.2 Các lý thuyết về mô hình tăng trưởng kinh tế
Để giải thích nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế các nhà kinh tế học dùng các
mô hình kinh tế
Mô hình David Ricardo (1772-1823) với luận điểm cơ bản là đất đai sản xuất
nông nghiệp (R, Resources) là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế Nhưng đất sảnxuất lại có giới hạn do đó người sản xuất phải mở rộng diện tích trên đất xấu hơn đểsản xuất, lợi nhuận của chủ đất thu được ngày càng giảm dẫn đến chi phí sản xuấtlương thực, thực phẩm cao, giá bán hàng hóa nông phẩm tăng, tiền lương danhnghĩa tăng và lợi nhuận của nhà tư bản công nghiệp giảm Như vậy, do giới hạn đấtnông nghiệp dẫn đến xu hướng giảm lợi nhuận của cả người sản xuất nông nghiệp
và công nghiệp và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Nhưng thực tế mức tăngtrưởng ngày càng tăng cho thấy mô hình này không giải thích được nguồn gốc củatăng trưởng
Trang 6Mô hình hai khu vực, tăng trưởng kinh tế dựa vào sự tăng trưởng hai khu vực
nông nghiệp và công nghiệp trong đó chú trọng yếu tố chính là lao động (L labor),yếu tố tăng năng suất do đầu tư và khoa học kỹ thuật tác động lên hai khu vực kinh
tế Tiêu biểu cho mô hình hai khu vực là mô hình Lewis1, Tân cổ điển và Harry T.Oshima hay mô hình do John Fei và Gustac Ranis xây dựng năm 19642
Mô hình Harrod-Domar nguồn gốc tăng trưởng kinh tế là do lượng vốn (yếu
tố K, capital) đưa vào sản xuất tăng lên Mô hình này dựa trên hai giả thiết căn bản:(1) giá cả cứng nhắc, và (2) nền kinh tế không nhất thiết ở tình trạng toàn dụng laođộng Nguồn gốc tăng trưởng kinh tế là do lượng vốn (yếu tố K, capital) đưa vàosản xuất tăng lên Từ đó, họ suy luận ra được rằng một khi nền kinh tế đang ở trạngthái tăng trưởng cân bằng mà chuyển sang trạng thái tăng trưởng không cân bằng thì
sẽ càng ngày càng không cân bằng (mất ổn định kinh tế)
Trong khi đó, lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển xây dựng mô hình của mìnhdựa trên hệ giả thiết mà hai giả thiết căn bản là: (1) giá cả linh hoạt, và (2) nền kinh
tế ở trạng thái toàn dụng lao động Mô hình tăng trưởng kinh tế của họ cho thấy, khinền kinh tế đang ở trạng thái tăng trưởng cân bằng mà chuyển sang trạng thái tăngtrưởng không cân bằng thì đó chỉ là nhất thời, và nó sẽ mau chóng trở về trạng tháicân bằng
Mô hình Robert Solow (1956) cải thiện một số nhược điểm của mô hình
Harrod Domar Với luận điểm cơ bản là việc tăng vốn sản xuất chỉ ảnh hưởng đếntăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn mà không ảnh hưởng trong dài hạn, tăng trưởng
sẽ đạt trạng thái dừng Một nền kinh tế có mức tiết kiệm cao hơn sẽ có mức sảnlượng cao hơn không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn (tăng trưởngkinh tế bằng không 0) Mô hình Solow có một vài ý nghĩa quan trọng, bao gồm (1)các nước nghèo có tiềm năng tăng trưởng tương đối nhanh; (2) tỉ lệ tăng trưởng có
xu hướng chậm đi khi thu nhập tăng; (3) giữa những nước có chung các đặc điểmquan trọng, thu nhập của những nước nghèo có tiềm năng hội tụ với thu nhập củanhững nước giàu; và (4) tiếp thu công nghệ mới là trọng tâm để tăng tốc và duy trìtăng trưởng kinh tế
1 W Arthur Lewis, The Theory of Economic Growth (Homewood, IL: Irwin, 1955)
2 John C H Fei và Gustav, Development of the Labor Surplus Economy (Homewood, IL: Irwin, 1964)
Trang 7Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng Tân cổ điển chưa giải thích được đầy đủnhững thực tế của tăng trưởng kinh tế, đặc biệt với những nước đang phát triển.Trong mô hình này, yếu tố duy nhất quyết định thu nhập bình quân đầu nười là tínhhiệu quả lao động (A) lại được coi là biến ngoại sinh Từ đó đã dẫn đến sự phát
triển của các mô hình Tăng trưởng nội sinh, khẳng định vai trò quan trọng của vốn
(K) và lao động (L) cùng với nhận định chính sách của chính phủ có thể tác độngtới tốc độ tăng trưởng kinh tế dài hạn
Như vậy các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế đã chỉ rõ các yếu tố của tăngtrưởng kinh tế đó là nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, tư bản và công nghệ Bốnnhân tố này khác nhau ở mỗi quốc gia và cách kết hợp cũng khác nhau tạo nên hiệuquả tương ứng với mỗi nước
Tuy nhiên việc dẫn các học thuyết trong bài luận này nhằm nhấn mạnh tầmquan trọng của các nhân tố cơ bản đối với tăng trưởng, phân tích tác động của biếnđổi cơ cấu tuổi dân số đến tăng trưởng kinh tế Có thể nói nhóm yếu tố liên quanđến con người (nguồn nhân lực ) có vai trò quyết định Nguồn lực này thể hiện quakhả năng cung lao động , quy mô và chất lượng lao động hay cách thức phân bổ laođộng Các yếu tố như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu hay công nghệ sản xuất chỉ
có thể phát huy được tối đa hiệu quả khi có đội ngũ lao động có trình độ văn hóa, cósức khỏe và kỷ luật lao động tốt
1.2.3 Đo lường tăng trưởng kinh tế
Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối, tốc độtăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong một giaiđoạn
Mức tăng trưởng tuyệt đối là mức chênh lệch quy mô kinh tế giữa hai kỳ cần sosánh
Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy môkinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế kỳ trước.Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %
Biểu diễn bằng toán học, sẽ có công thức:
y = dY/Y × 100(%),
Trang 8Trong đó Y là qui mô của nền kinh tế, và y là tốc độ tăng trưởng Nếu quy môkinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) danh nghĩa, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP(hoặc GNP) danh nghĩa Còn nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP)thực tế, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hay GNP) thực tế Thông thường, tăngtrưởng kinh tế dùng chỉ tiêu thực tế hơn là các chỉ tiêu danh nghĩa.
1.3 Mối quan hệ giữa dân số và tăng trưởng kinh tế
1.3.1 Mối quan hệ giữa quy mô dân số và tăng trưởng kinh tế
a) Lý thuyết dân số “bi quan”:
Người khởi xướng lý thuyết này là Thomas Malthus thông qua cuốn sáchThực chứng về quy luật dân số của ông viết năm 1789 Ông cho rằng, trong bốicảnh nguồn lực bị giới hạn, nhu cầu lương thực ngày càng tăng và tiến bộ côngnghệ chậm chạp sẽ làm trầm trọng hơn sức ép từ việc tăng dân số Vì thế, nhu cầulương thực sẽ luôn thấp hơn mức cần thiết và điều này sẽ chỉ dừng lại khi mức tăngdân số bị chậm lại do tỷ lệ chết cao hơn Đặc biệt từ cuối thập niên 1940 cho đếnnhững năm 1970, hàng loạt nghiên cứu với luận điểm “bi quan” cho rằng dân số ảnhhưởng hết sức tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế vì dân số tăng nhanh sẽ đe dọa đếnnguồn cung lương thực và tài nguyên tự nhiên Họ cho rằng tốc độ tăng dân sốchậm sẽ cải thiện tăng trưởng kinh tế vì nguồn lực sẽ được tiết kiệm và sử dụng chomục đích thúc đẩy tăng trưởng thay vì được sử dụng cho mục đích sinh sản, cũngnhư góp phần giảm tải cho cơ sở hạ tầng và môi trường
b) Lý thuyết dân số học “lạc quan”
Vào đầu những năm 1980, hàng loạt nghiên cứu thực chứng đã chỉ ra nhữnglập luận không thuyết phục của lý thuyết dân số học “bi quan”, trong đó quan trọngnhất là lý thuyết này không tính đến tầm quan trọng của công nghệ và mức tích tụnhân lực trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế Các nghiên cứu này –thuộc nhóm lý thuyết dân số học “lạc quan” – cho rằng tăng dân số có thể tạo ra mộtnguồn lực kinh tế quan trọng Họ lập luận rằng dân số tăng lên cũng có thể làm tăngmức tích tụ nhân lực và quốc gia có dân số lớn có thể tận dụng tính quy mô để hấpthụ các tri thức, công nghệ cần thiết cho tăng trưởng Một ví dụ là “Cách mạngxanh” từ những năm 1950 đã làm tăng sản lượng nông nghiệp thế giới lên gần bốn
Trang 9lần dù sử dụng thêm 1% đất đai, và nó đã giải quyết được nhu cầu cho một lượnglớn dân số
c) Lý thuyết dân số học “trung tính”
Vào đầu những năm 1990, một nhóm các nhà dân số học khác lại đánh giá tácđộng của tăng dân số đến tăng trưởng kinh tế ở một góc độ rộng hơn và thận trọnghơn Họ đại diện cho những người theo lý thuyết dân số học “trung tính” với quanđiểm cho rằng tăng dân số tác động đến tăng trưởng kinh tế qua nhiều kênh khácnhau mà những kênh này có thể lại tác động tích cực hoặc tiêu cực đến tăng trưởngkinh tế Ví dụ, Srinivan (1988) cho rằng tăng trưởng kinh tế là sản phẩm của hàngloạt các chính sách và thể chế phù hợp chứ không chỉ đơn thuần là do nhân tố dân
số Ba lĩnh vực quan trọng được tập trung nghiên cứu trong dòng lý thuyết nàynhằm đánh giá tác động của tăng dân số đến tăng trưởng kinh tế là tài nguyên tựnhiên, tiết kiệm, và phương thức đa dạng hóa nguồn lực
1.3.2 Mối quan hệ giữa biến đổi cơ cấu dân số đến tăng trưởng kinh tế
a) Lý thuyết “quá độ dân số”
Quan điểm “quá độ dân số” được đưa ra đầu tiên bởi nhà dân số học ngườiPháp Adolphe Ladry (1874-1956) cùng với việc sử dụng thuật ngữ “Cách mạng dânsố” ra đời vào những năm 1909-1934 Tư tưởng này được Frank W Notestein(1902-1983), một nhà nhân khẩu học người Mỹ, kế tục và trình bày cụ thể hơn vàonăm 1945 Thuyết “quá độ dân số” nghiên cứu sự biến đổi dân số qua các thời kỳvới việc dựa vào những đặc trưng cơ bản của động lực dân số và tập trung vào việcnghiên cứu và lý giải vấn đề phát triển dân số thông qua việc xem xét mức sinh,mức tử để hình thành một quy luật với ba giai đoạn cơ bản
Hình 1.1: Mô hình quá độ dân số
Trang 10Nguồn: Population Reference Bureau 2006
Giai đoạn 1: Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình biến đổi dân số với tỷ suấtsinh và tỷ suất chết đều khá cao, mức sinh cao hơn một chút so với mức chết nêngia tăng dân số tự nhiên chậm, dân số tương đối ổn định Từ năm đầu công nguyêndân số thế giới chỉ khoảng 200 triệu người và phải mất đến 840 năm sau mới đạtmức 1 tỷ người
Giai đoạn 2: Khi dân số đang ở giai đoạn 2 của thời kỳ quá độ, đặc trưng cơbản là có tỷ lệ chết giảm rõ rệt, tuổi thọ trung bình tăng nhanh, trong khi đó tỷ lệsinh lại không giảm tương ứng Kết quả là dân số tăng nhanh, tạo ra giai đoạn “bùng
b) Mối quan hệ giữa cơ cấu tuổi dân số và tăng trưởng kinh tế
Nhìn chung, các lý thuyết được nêu ở trên đều phân tích sự ảnh hưởng của dân
số đến tăng trưởng kinh tế thông qua tốc độ tăng dân số và quy mô dân số mà bỏquên một cấu thành vô cùng quan trọng của dân số - cơ cấu tuổi dân số Cơ cấu tuổithể hiện sự phân bố tổng dân số theo các độ tuổi hay nhóm tuổi khác nhau Tuynhiên, các nghiên cứu thực nghiệm về quan hệ dân số - kinh tế trong thời gian gầnđây cho thấy tầm ảnh hưởng quan trọng của cơ cấu tuổi dân số tới tăng trưởng kinh
tế
Ở mỗi độ tuổi khác nhau con người có những hành vi kinh tế khác nhau chonên biến đổi cơ cấu tuổi dân số sẽ có tác động lớn đến quá trình phân bố nguồn lực,mức độ tăng trưởng, và sự ổn định chính trị - xã hội Một quốc gia có dân số trẻ với
tỷ lệ trẻ em cao thì đất nước sẽ cần nhiều nguồn lực hơn để chi tiêu cho giáo dục, y
tế và nuôi dưỡng Trong khi đó, một quốc gia có tỷ lệ dân số trong tuổi làm việc lớn