Cơ cấu dân số theo giới có sự ảnh hưởng đến phân bố sản xuất, tổ chức đời sống xã hội, hoạch định chính sách phát triển kinh tế- xã hội của các quốc gia...- Cơ cấu dân số theo độ tuổi đơ
Trang 1CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN1.1 Cơ cấu dân số
1.1.1 Định nghĩa
Cơ cấu dân số là tổng số dân được phân loại theo giới tính, độ tuổi, dân tộc, trình
độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác
Theo cách xác định trên, cơ cấu dân số nhằm phản ánh các đặc trưng của mỗingười dân và của toàn bộ dân số Các đặc trưng về giới tính, độ tuổi phản ánh vềnhân khẩu học, các đặc trưng về dân tộc, tôn giáo, tình trạng hôn nhân, trình độ họcvấn phản ánh về mặt kinh tế Ngoài ra các đặc trưng khác về giai cấp, thành phần xãhội nhằm phân loại tập hợp người theo các khía cạnh của đời sống xã hội
1.1.2 Phân loại cơ cấu dân số
a Cơ cấu sinh học
• Cơ cấu dân số theo giới (đơn vị%)
Khái niệm: biểu thị tương quan giữa giới nam so với giới nữ hoặc so với tổng số dân.Được biểu thị bằng hai công thức sau:
Trong đó: TNN: Tỉ số giới tính
Dnam: Dân số nam
Dnữ: Dân số nữ
Hoặc:
Trong đó: Tnam: Tỉ lệ nam giới
Dnam: Dân số nam
Trang 2Cơ cấu dân số theo giới có sự ảnh hưởng đến phân bố sản xuất, tổ chức đời sống xã hội, hoạch định chính sách phát triển kinh tế- xã hội của các quốc gia
- Cơ cấu dân số theo độ tuổi (đơn vị %)
Khái niệm: Là tập hợp những nhóm người sắp xếp theo những nhóm tuổi nhất định
Ý nghĩa: Quan trọng vì thể hiện tình hình sinh, tử, tuổi thọ, khả năng phát triển của dân
số và nguồn lao động của một nước
- Có ba nhóm tuổi trên thế giới:
+ Nhóm dưới tuổi lao động: 0 - 14 tuổi
+ Nhóm tuổi lao động:15 -59 (đến 64 tuổi)
+ Nhóm trên tuổi lao động:Trên 60 (hoặc 65) tuổi
- Ở Việt Nam: tuổi lao động nam từ 15 đến hết 59 tuổi, nữ từ 15 đến hết hết 54 tuổi
- Dân số trẻ: Độ tuổi 0 - 14 trên 35% Tuổi 60 trở lên dưới 10%
+ Thuận lợi: Lao động dồi dào
+ Khó khăn: Sức ép dân số lớn
- Dân số già: Độ tuổi 0 - 14 dưới 25% Tuổi 60 trở lên trên 15%
+ Thuận lợi: Có nhiều kinh nghiệm, chất lượng cuộc sống cao
+ Khó khăn: Thiếu nhân lực, phúc lợi lớn dành cho người già
- Tháp dân số (tháp tuổi)
+ Biểu đồ thể hiện cơ cấu dân số theo độ tuổi, giới tính
+ Có 3 kiểu tháp (mở rộng, thu hẹp, ổn định)
Qua tháp dân số biết được tình hình sinh, tử, gia tăng dân số, tuổi thọ trung bình
b Cơ cấu xã hội
- Cho biết nguồn lao động và dân số hoạt động theo khu vực kinh tế
Nguồn lao động
- Dân số trong tuổi lao động có khả năng tham gia lao động
+ Nhóm dân số hoạt động kinh tế
+ Nhóm dân số không hoạt động kinh tế
- Khu vực I: Nông-lâm- ngư nghiệp
- Khu vực II: Công nghiệp-xây dựng
- Khu vực III: Dịch vụ
Trang 3Xu hướng tăng ở khu vực II và III.
c Cơ cấu dân số theo trình độ văn hóa
- Phản ánh trình độ dân trí và học vấn của dân cư, một tiêu chí để đánh giá chất lượng cuộc sống của một quốc gia
- Dựa vào:
+ Tỉ lệ người biết chữ 15 tuổi trở lên
+ Số năm đi học của người 25 tuổi trở lên Các nước phát triển có trình độ văn hoá cao hơn các nước đang phát triển và kém phát triển
1.2 Tăng trưởng kinh tế
1.2.1 Định nghĩa
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổngsản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầungười (PCI) trong một thời gian nhất định Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thay đổi
về lượng của nền kinh tế
1.2.2 Các lý thuyết về mô hình tăng trưởng kinh tế
Để giải thích nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế các nhà kinh tế học dùng các môhình kinh tế
- Mô hình David Ricardo (1772-1823) với luận điểm cơ bản là đất đai sản xuấtnông nghiệp (R, Resources) là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế Nhưng đất sảnxuất lại có giới hạn do đó người sản xuất phải mở rộng diện tích trên đất xấu hơn đểsản xuất, lợi nhuận của chủ đất thu được ngày càng giảm dẫn đến chi phí sản xuấtlương thực, thực phẩm cao, giá bán hàng hóa nông phẩm tăng, tiền lương danhnghĩa tăng và lợi nhuận của nhà tư bản công nghiệp giảm Mà lợi nhuận là nguồntích lũy để mở rộng đầu tư dẫn đến tăng trưởng Như vậy, do giới hạn đất nôngnghiệp dẫn đến xu hướng giảm lợi nhuận của cả người sản xuất nông nghiệp vàcông nghiệp và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Nhưng thực tế mức tăng trưởngngày càng tăng cho thấy mô hình này không giải thích được nguồn gốc của tăngtrưởng
- Mô hình hai khu vực tăng trưởng kinh tế dựa vào sự tăng trưởng hai khu vựcnông nghiệp và công nghiệp trong đó chú trọng yếu tố chính là lao động (L labor),yếu tố tăng năng suất do đầu tư và khoa học kỹ thuật tác động lên hai khu vực kinh
Trang 4tế Tiêu biểu cho mô hình hai khu vực là mô hình Lewis, Tân cổ điển và Harry T.Oshima.
- Mô hình Harrod-Domar nguồn gốc tăng trưởng kinh tế là do lượng vốn (yếu tố K, capital) đưa vào sản xuất tăng lên
Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của kinh tế học vĩ mô Keynes tiêu biểu là mô hình Harrod-Domar Mô hình này dựa trên hai giả thiết căn bản: (1) giá cả cứng nhắc, và(2) nền kinh tế không nhất thiết ở tình trạng toàn dụng lao động Nguồn gốc tăngtrưởng kinh tế là do lượng vốn (yếu tố K, capital) đưa vào sản xuất tăng lên Từ đó, họsuy luận ra được rằng một khi nền kinh tế đang ở trạng thái tăng trưởng cân bằng màchuyển sang trạng thái tăng trưởng không cân bằng thì sẽ càng ngày càng không cânbằng (mất ổn định kinh tế)
Trong khi đó, lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển xây dựng mô hình của mình dựa trên
hệ giả thiết mà hai giả thiết căn bản là: (1) giá cả linh hoạt, và (2) nền kinh tế ở trạngthái toàn dụng lao động Mô hình tăng trưởng kinh tế của họ cho thấy, khi nền kinh tếđang ở trạng thái tăng trưởng cân bằng mà chuyển sang trạng thái tăng trưởng khôngcân bằng thì đó chỉ là nhất thời, và nó sẽ mau chóng trở về trạng thái cân bằng
- Mô hình Robert Solow (1956) với luận điểm cơ bản là việc tăng vốn sản xuất chỉảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn mà không ảnh hưởng trong dài hạn,tăng trưởng sẽ đạt trạng thái dừng Một nền kinh tế có mức tiết kiệm cao hơn sẽ cómức sản lượng cao hơn không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn (tăngtrưởng kinh tế bằng không 0) Mô hình Solow nhấn mạnh vai trò của nhân tố khoa họccông nghệ, tăng trưởng chỉ có thể đạt được thông qua tiến bộ công nghệ
- Mô hình Kaldor tăng trưởng kinh tế phụ thuộc phát triển kỹ thuật hoặc trình độcông nghệ
Trước Keynes, kinh tế học cổ điển và tân cổ điển không phân biệt rành mạch tăngtrưởng kinh tế với phát triển kinh tế Hơn nữa, ngoại trừ Schumpeter, các trường pháitrên đều không coi trọng vai trò của tiến bộ kỹ thuật đối với tăng trưởng kinh tế
1.2.3 Các nhân tố của tăng trưởng kinh tế
Sau khi nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển lẫn các nướcđang phát triển, những nhà kinh tế học đã phát hiện ra rằng động lực của phát triểnkinh tế phải được đi cùng trên bốn bánh xe, hay bốn nhân tố của tăng trưởng kinh tế là
Trang 5nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, tư bản và công nghệ Bốn nhân tố này khác nhau
ở mỗi quốc gia và cách phối hợp giữa chúng cũng khác nhau đưa đến kết quả tương ứng
a Nguồn nhân lực
Chất lượng đầu vào của lao động tức là kỹ năng, kiến thức và kỷ luật của đội ngũlao động là yếu tố quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế Hầu hết các yếu tố khácnhư tư bản, nguyên vật liệu, công nghệ đều có thể mua hoặc vay mượn được nhưngnguồn nhân lực thì khó có thể làm điều tương tự Các yếu tố như máy móc thiết bị,nguyên vật liệu hay công nghệ sản xuất chỉ có thể phát huy được tối đa hiệu quả bởiđội ngũ lao động có trình độ văn hóa, có sức khỏe và kỷ luật lao động tốt Thực tếnghiên cứu các nền kinh tế bị tàn phá sau Chiến tranh thế giới lần thứ II cho thấymặc dù hầu hết tư bản bị phá hủy nhưng những nước có nguồn nhân lực chất lượngcao vẫn có thể phục hồi và phát triển kinh tế một cách ngoạn mục Một ví dụ lànước Đức, "một lượng lớn tư bản của nước Đức bị tàn phá trong Đại chiến thế giớilần thứ hai, tuy nhiên vốn nhân lực của lực lượng lao động nước Đức vẫn tồn tại.Với những kỹ năng này, nước Đức đã phục hồi nhanh chóng sau năm 1945 Nếukhông có số vốn nhân lực này thì sẽ không bao giờ có sự thần kỳ của nước Đức thờihậu chiến."
Ngoài ra, biến đổi cơ cấu tuổi dân số cũng là một trong những vấn đề lớn ảnhhưởng đến phát triển kinh tế, đang giành được nhiều quan tâm Việt Nam đang trảiqua quá trình biến đổi cơ cấu tuổi dân số với tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động (15-
64 tuổi) tăng nhanh, tỷ lệ dân số trẻ em (0-14 tuổi) giảm và tỷ lệ dân số cao tuổi(dân số từ 65 tuổi trở lên) ngày càng tăng nhanh Quá trình biến đổi cơ cấu tuổi dân
số theo giới tính (nam và nữ) và khu vực (thành thị và nông thôn) cũng diễn ra theohướng tăng tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động Giai đoạn 1999-2014, tỷ lệ dân
số nam trong độ tuổi lao động tăng từ 58,6% lên 66,6%, tỷ lệ dân số nữ tăng từ 59%lên 66,2%4 ; dân số trong độ tuổi lao động ở thành thị tăng từ 65,6% lên 69,1%trong khi ở nông thôn tăng từ 57,3% lên 66,1% Theo dự báo dân số mới nhất củaTổng cục Thống kê, xu hướng biến động này sẽ vẫn tiếp tục diễn ra một cách mạnh
mẽ trong thời gian tới và thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” của Việt Nam dự báo sẽ kéodài đến năm 2040 Đây sẽ là cơ hội để Việt Nam có thể khai thác, tận dụng cho pháttriển kinh tế, nhưng cũng sẽ đặt ra nhiều thách thức, đòi hỏi có những chính sách, 6
Trang 6giải pháp phù hợp, kịp thời (như tạo việc làm; nâng cao thu nhập; giảm bất bình đẳng
về giới, nâng cao mức sống của dân cư nông thôn để giảm bớt khoảng cách giữa thànhthị và nông thôn; bảo đảm an sinh, phúc lợi xã hội; giải quyết vấn đề môi trường…)
b Nguồn tài nguyên thiên nhiên:
Đây là một trong những yếu tố sản xuất cổ điển, những tài nguyên quan trọng nhất
là đất đai, khoáng sản, đặc biệt là dầu mỏ, rừng và nguồn nước Tài nguyên thiên nhiên
có vai trò quan trọng để phát triển kinh tế, có những nước được thiên nhiên ưu đãi mộttrữ lượng dầu mỏ lớn có thể đạt được mức thu nhập cao gần như hoàn toàn dựa vào đónhư Ả rập Xê út Tuy nhiên, các nước sản xuất dầu mỏ là ngoại lệ chứ không phải quyluật, việc sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú không quyết định một quốcgia có thu nhập cao Nhật Bản là một nước gần như không có tài nguyên thiên nhiênnhưng nhờ tập trung sản xuất các sản phẩm có hàm lượng lao động, tư bản, công nghệcao nên vẫn có nền kinh tế đứng thứ hai trên thế giới về quy mô
c Tư bản:
Đây là một trong những nhân tố sản xuất, tùy theo mức độ tư bản mà người laođộng được sử dụng những máy móc, thiết bị nhiều hay ít (tỷ lệ tư bản trên mỗi laođộng) và tạo ra sản lượng cao hay thấp Để có được tư bản, phải thực hiện đầu tư nghĩa
là hy sinh tiêu dùng cho tương lai Điều này đặc biệt quan trọng trong sự phát triển dàihạn, những quốc gia có tỷ lệ đầu tư tính trên GDP cao thường có được sự tăng trưởngcao và bền vững Tuy nhiên, tư bản không chỉ là máy móc, thiết bị do tư nhân dầu tưcho sản xuất nó còn là tư bản cố định xã hội, những thứ tạo tiền đề cho sản xuất vàthương mại phát triển Tư bản cố định xã hội thường là những dự án quy mô lớn, gầnnhư không thể chia nhỏ được và nhiều khi có lợi suất tăng dần theo quy mô nên phải
do chính phủ thực hiện Ví dụ: hạ tầng của sản xuất (đường giao thông, mạng lưới điệnquốc gia ), sức khỏe cộng đồng, thủy lợi
d Công nghệ:
Trong suốt lịch sử loài người, tăng trưởng kinh tế rõ ràng không phải là sự sao chépgiản đơn, là việc đơn thuần chỉ tăng thêm lao động và tư bản, ngược lại, nó là quá trìnhkhông ngừng thay đổi công nghệ sản xuất Công nghệ sản xuất cho phép cùng mộtlượng lao động và tư bản có thể tạo ra sản lượng cao hơn, nghĩa là quá trình sản xuất
có hiệu quả hơn Công nghệ phát triển ngày càng nhanh chóng và ngày nay công nghệ
Trang 7thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới có những bước tiến như vũbão góp phần gia tăng hiệu quả của sản xuất Tuy nhiên, thay đổi công nghệ khôngchỉ thuần túy là việc tìm tòi, nghiên cứu; công nghệ có phát triển và ứng dụng mộtcách nhanh chóng được là nhờ "phần thưởng cho sự đổi mới" - sự duy trì cơ chế chophép những sáng chế, phát minh được bảo vệ và được trả tiền một cách xứng đáng.
1.2.4 Đo lường tăng trưởng kinh tế
Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối, tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong một giai đoạn.Mức tăng trưởng tuyệt đối là mức chênh lệch quy mô kinh tế giữa hai kỳ cần sosánh
Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy mô kinh
tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế kỳ trước Tốc
độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %
Biểu diễn bằng toán học, sẽ có công thức:
y = dY/Y × 100(%),Trong đó Y là qui mô của nền kinh tế, và y là tốc độ tăng trưởng Nếu quy mô kinh
tế được đo bằng GDP (hay GNP) danh nghĩa, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hoặcGNP) danh nghĩa Còn nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) thực tế, thì
sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hay GNP) thực tế Thông thường, tăng trưởng kinh tế dùng chỉ tiêu thực tế hơn là các chỉ tiêu danh nghĩa
1.3 Mối quan hệ giữa dân số và tăng trưởng kinh tế
Dân số vừa là lực lượng sản xuất, vừa là lực lượng tiêu dùng Bởi vậy, quy mô, cơ cấu dân số có ảnh hưởng lớn đến quy mô, cơ cấu sản xuất, tiêu dùng và tích luỹ của xãhội Ngược lại, kinh tế cũng tác động mạnh mẽ đến các quá trình sinh, chết và di cư
1.3.1 Mối quan hệ giữa quy mô dân số và tăng trưởng kinh tế
a Lý thuyết dân số “bi quan”:
Người khởi xướng lý thuyết này là Thomas Malthus thông qua cuốn sách Thựcchứng về quy luật dân số của ông viết năm 1789 Ông cho rằng, trong bối cảnh nguồnlực bị giới hạn, nhu cầu lương thực ngày càng tăng và tiến bộ công nghệ chậm chạp sẽlàm trầm trọng hơn sức ép từ việc tăng dân số Vì thế, nhu cầu lương thực sẽ luôn thấphơn mức cần thiết và điều này sẽ chỉ dừng lại khi mức tăng dân số bị chậm lại do tỷ lệ
Trang 8chết cao hơn Đặc biệt từ cuối thập niên 1940 cho đến những năm 1970, hàng loạtnghiên cứu với luận điểm “bi quan” cho rằng dân số ảnh hưởng hết sức tiêu cực đếntăng trưởng kinh tế vì dân số tăng nhanh sẽ đe dọa đến nguồn cung lương thực và tàinguyên tự nhiên Các nhà hoạch định chính sách ủng hộ luận điểm này đã tiến hànhthực hiện hàng loạt chính sách dân số nghiêm ngặt nhằm giảm tỷ lệ sinh Họ cho rằngtốc độ tăng dân số chậm sẽ cải thiện tăng trưởng kinh tế vì nguồn lực sẽ được tiết kiệm
và sử dụng cho mục đích thúc đẩy tăng trưởng thay vì được sử dụng cho mục đích sinhsản, cũng như góp phần giảm tải cho cơ sở hạ tầng và môi trường Một ví dụ được đưa
ra là những cải tiến trong nông nghiệp ở Trung Quốc đã góp phần cải thiện đời sống,nhưng vì tăng trưởng dân số quá nhanh nên mức cải thiện đó hầu như không đáng kể
b Lý thuyết dân số học “lạc quan”
Vào đầu những năm 1980, hàng loạt nghiên cứu thực chứng đã chỉ ra những lập luậnkhông thuyết phục của lý thuyết dân số học “bi quan”, trong đó quan trọng nhất là lýthuyết này không tính đến tầm quan trọng của công nghệ và mức tích tụ nhân lực trongquá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế Các nghiên cứu này – thuộc nhóm lý thuyếtdân số học “lạc quan” – cho rằng tăng dân số có thể tạo ra một nguồn lực kinh tế quantrọng Họ lập luận rằng dân số tăng lên cũng có thể làm tăng mức tích tụ nhân lực vàquốc gia có dân số lớn có thể tận dụng tính quy mô để hấp thụ các tri thức, công nghệcần thiết cho tăng trưởng Nghiên cứu của Simon (1981) [theo trích dẫn của Bloom vàcộng sự, 2003] chỉ ra rằng tăng dân số nhanh có thể có những tác động tích cực đếnphát triển kinh tế vì dân số tăng có thể tạo sức ép phải cải tiến công nghệ sản xuất –một nhân tố quan trọng của tăng trưởng dài hạn Một ví dụ khác là “Cách mạng xanh”
từ những năm 1950 đã làm tăng sản lượng nông nghiệp thế giới lên gần bốn lần dù chỉ
sử dụng thêm 1% đất đai, và nó đã giải quyết được nhu cầu cho một lượng lớn dân số
c Lý thuyết dân số học “trung tính”
Vào đầu những năm 1990, một nhóm các nhà dân số học khác lại đánh giá tác độngcủa tăng dân số đến tăng trưởng kinh tế ở một góc độ rộng hơn và thận trọng hơn Họđại diện cho những người theo lý thuyết dân số học “trung tính” với quan điểm chorằng tăng dân số tác động đến tăng trưởng kinh tế qua nhiều kênh khác nhau mà nhữngkênh này có thể lại tác động tích cực hoặc tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Ví dụ,Srinivan (1988) cho rằng tăng trưởng kinh tế là sản phẩm của hàng loạt các chính sách
Trang 9và thể chế phù hợp chứ không chỉ đơn thuần là do nhân tố dân số Ba lĩnh vực quantrọng được tập trung nghiên cứu trong dòng lý thuyết này nhằm đánh giá tác động củatăng dân số đến tăng trưởng kinh tế là tài nguyên tự nhiên, tiết kiệm, và phương thức
đa dạng hóa nguồn lực
1.3.2 Mối quan hệ giữa biến đổi cơ cấu dân số tuổi đến tăng trưởng kinh tế
a Lý thuyết “quá độ dân số”
Quan điểm “quá độ dân số” được đưa ra đầu tiên bởi nhà dân số học người PhápAdolphe Ladry (1874-1956) cùng với việc sử dụng thuật ngữ “Cách mạng dân số” rađời vào những năm 1909-1934 Tư tưởng này được Frank W Notestein (1902-1983),một nhà nhân khẩu học người Mỹ, kế tục và trình bày cụ thể hơn vào năm 1945
Thuyết “quá độ dân số” nghiên cứu sự biến đổi dân số qua các thời kỳ với việc dựavào hững đặc trưng cơ bản của động lực dân số Thuyết này tập trung vào việc nghiêncứu và lý giải vấn đề phát triển dân số thông qua việc xem xét mức sinh, mức tử đểhình thành một quy luật với ba giai đoạn cơ bản (Hình 1.1)
Giai đoạn 1: Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình biến đổi dân số với tỷ suất sinh và
tỷ suất chết đều khá cao, mức sinh cao hơn một chút so với mức chết nên gia tăng dân
số tự nhiên chậm, dân số tương đối ổn định Từ năm đầu công nguyên dân số thế giớichỉ khoảng 200 triệu người và phải mất đến 840 năm sau mới đạt mức 1 tỷ người.Giai đoạn 2: Cùng với những tiến bộ trong sản xuất công nghiệp, đời sống vật chất,tinh thần, chăm sóc sức khỏe ban đầu và phát triển y tế cộng đồng đã được nâng cao.Khi dân số đang ở giai đoạn 2 của thời kỳ quá độ, đặc trưng cơ bản là có tỷ lệ chếtgiảm rõ rệt, tuổi thọ trung bình tăng nhanh, trong khi đó tỷ lệ sinh lại không giảmtương ứng Kết quả là dân số tăng nhanh, tạo ra giai đoạn “bùng nổ dân số”
Trang 10Hình 1.1: Mô hình "Quá độ dân số"
(Nguồn: Tổng cục dân số - Kế hoạch hóa gia đình Bộ y tế)
Giai đoạn 3: Sự phát triển sâu sắc về kinh tế - xã hội đã dẫn đến làm thay đổi các chínhsách nhà nước và nhận thức của xã hội về dân số và gia đình, chuyển từ số lượng sangchất lượng Cùng với tuổi thọ trung bình ngày càng tăng lên thì tỷ lệ sinh cũng đồngthời giảm dần Đến cuối giai đoạn này, tỷ lệ chết đều thấp và cân bằng mức gia tăng tựnhiên dân số khoảng 1%, dân số ổn định Như vậy, dân số các nước phát triển đã đi từtrạng thái cân bằng lãng phí (sinh nhiều, chết nhiều) sang trạng thái cân bằng tiết kiệm(sinh ít, chết ít) Giữa hai trạng thái này ở Châu Âu là một thời kỳ kéo dài khoảng 150năm
b Mối quan hệ giữa cơ cấu tuổi dân số và tăng trưởng kinh tế
Nhìn chung, các lý thuyết được nêu ở trên đều phân tích sự ảnh hưởng của dân sốđến tăng trưởng kinh tế thông qua tốc độ tăng dân số và quy mô dân số mà bỏ quênmột cấu thành vô cùng quan trọng của dân số - cơ cấu tuổi dân số Cơ cấu tuổi thể hiện
sự phân bố tổng dân số theo các độ tuổi hay nhóm tuổi khác nhau Về lý thuyết, hiệnnay vẫn chưa có một học thuyết nào thể hiện nội dung chuyên biệt về sự biến đổi cơcấu tuổi dân số tới tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm vềquan hệ dân số - kinh tế trong thời gian gần đây cho thấy tầm ảnh hưởng quan trọngcủa cơ cấu tuổi dân số tới tăng trưởng kinh tế
Dân số là chủ thể của mọi quá trình phát triển kinh tế - xã hội, và ở mỗi độ tuổi khácnhau con người có những hành vi kinh tế khác nhau cho nên biến đổi cơ cấu tuổi dân
số sẽ có tác động lớn đến quá trình phân bố nguồn lực, mức độ tăng trưởng, và sự ổn
Trang 11định chính trị - xã hội Vì thế, khi có sự thay đổi về tỷ trọng dân số ở từng độ tuổitrong tổng dân số sẽ có những thay đổi về sản xuất, tiêu dùng, và do đó tác động tớităng trưởng kinh tế Một quốc gia có dân số trẻ với tỷ lệ trẻ em cao thì đất nước sẽ cầnnhiều nguồn lực hơn để chi tiêu cho giáo dục, y tế và nuôi dưỡng Trong khi đó, mộtquốc gia có tỷ lệ dân số trong tuổi làm việc lớn thì đất nước có được cơ hội thúc đẩytăng trưởng kinh tế nhờ nguồn nhân lực dồi dào, tiết kiệm và đầu tư cao và hệ thống tàichính vững vàng hơn, còn nếu một quốc gia có tỷ lệ người cao tuổi nhiều hơn thì đấtnước phải chi tiêu nhiều hơn cho chăm sóc y tế, tiêu dùng tăng và các vấn đề về ansinh xã hội cần được giải quyết thỏa đáng.
Nghiên cứu và phân tích các lý thuyết về dân số trước đây cho thấy, thuyết “quá độdân số” đã phân tích quá trình biến đổi dân số gồm ba giai đoạn với đặc trưng cơ bản
là sự thay đổi về mức sinh và mức tử Dựa vào sự thay đổi về mức sinh, mức tử có thểphân tích sự thay đổi về cơ cấu tuổi dân số ở mỗi giai đoạn Chẳng hạn, ở giai đoạnthứ hai của “quá độ dân số”, tỷ suất sinh giảm không đáng kể trong khi tỷ suất chếtgiảm mạnh, dân số bùng nổ và do đó cơ cấu tuổi dân số đã biến động theo hướng tỷtrọng trẻ em tăng lên và tỷ trọng người lớn tuổi giảm Nhưng bước sang giai đoạn ba,
cả tỷ suất sinh và tỷ suất chết đều giảm mạnh, dân số trẻ em sẽ giảm mạnh và cùng với
đó là số trẻ em lớn dần lên và bổ sung vào lực lượng lao động trong sinh số trẻ em sinh
ra lại ít hơn làm cho bộ phận dân số trong tuổi lao động sẽ tăng lên mạnh mẽ cùng với
sự tăng dần của số người cao tuổi Như vậy, chính sự thay đổi căn bản trong mức sinh
và mức chết sẽ tạo nên sự biến đổi rõ rệt về cơ cấu tuổi dân số ở mỗi giai đoạn Vì thế,
có thể nói lý thuyết “quá độ dân số” chính là cơ sở đầu tiên của khung lý luận về biến đổi cơ cấu tuổi dân số và mối tương quan giữa biến đổi cơ cấu dân số theo tuổi với
tăng trưởng và phát triển Chỉ có điều các nhà dân số học và kinh tế học lúc đó chưanhận ra hoặc coi trọng vấn đề này
Cho đến những năm gần đây, khi biến đổi cơ cấu tuổi dân số đã thực sự tác động mạnh
mẽ đến tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước trên thế giới, nhiều công trình nghiên cứu vềbiến đổi cơ cấu dân số theo tuổi đã được công bố rộng rãi Các nghiên cứu đã chỉ rarằng biến đổi cơ cấu tuổi dân số đem đến nhiều cơ hội cho thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, đặc biệt ở giai đoạn mà cơ cấu dân số có tỷ lệ người lao động chiếm phần lớn trongtổng dân số
Trang 12Một chỉ tiêu cơ bản được sử dụng để thể hiện cơ cấu tuổi dân số, đó là chỉ tiêu về tỷ
số phụ thuộc dân số - tỷ số phản ánh mối quan hệ giữa nhóm dân số trong độ tuổi laođộng và các nhóm không nằm trong độ tuổi lao động (trẻ em và người cao tuổi –thường được coi là nhóm dân số phụ thuộc)
Dân số phụ thuộc là bộ phận dân số phụ thuộc về kinh tế (quy ước là số người dưới
tuổi lao động và số người trên tuổi lao động) so với bộ phận sản xuất (quy ước là dân
số trong độ tuổi lao động) Tỷ số phụ thuộc dân số biểu thị số người ngoài tuổi laođộng (trẻ em và người cao tuổi) so với 100 người trong tuổi lao động Tuy nhiên, hiệnnay các nước có những quy định khác nhau về dân số trong độ tuổi lao động TheoUNFPA Việt Nam thì dân số phụ thuộc là dân số dưới 15 và trên 60 tuổi, trong khi đóhầu hết các nhà kinh tế học và nhân khẩu học trên thế giới và một số nhà nghiên cứu
về dân số - kinh tế ở Việt Nam lại lập luận dân số phụ thuộc là nhóm dân số dưới 15tuổi và trên 65 tuổi Chính vì vậy các nghiên cứu chưa có sự thống nhất về công thứctính tỷ số phụ thuộc dân số
Biến đổi cơ cấu tuổi dân số làm thay đổi tỷ trọng của các nhóm dân số Khi tỷ sốphụ thuộc dân số nhỏ hơn 50, nghĩa là cứ hơn 2 người trong tuổi lao động mới phải
“gánh” một người phụ thuộc, dân số đi vào thời kỳ “cơ cấu vàng” Đây là thời kỳ màbiến đổi cơ cấu tuổi dân số đem đến nhiều cơ hội lớn cho thúc đẩy tăng trưởng kinh tếbởi lực lượng lao động gia tăng trong tổng dân số Tuy nhiên, cơ hội đó cần được hiệnthực hóa bằng môi trường chính sách phù hợp Mặt khác, ngoài cơ hội, biến đổi cơ cấutuổi dân số cũng đem đến nhiều thách thức cho tăng trưởng và phát triển như vấn đềthất nghiệp, tệ nạn xã hội hay gánh nặng tài chính hưu trí khi dân số già chiếm tỷ lệlớn trong tổng dân số
Mặt khác, nhiều nghiên cứu còn tách riêng tỷ số phụ thuộc dân số trẻ em và tỷ số phụ thuộc dân số già, để có những đánh giá thích hợp, làm cơ sở cho việc đề xuất các chính
sách dân số Tỷ số phụ thuộc trẻ em được tính bằng tỷ số giữa nhóm dân số trẻ em trên
100 người trong tuổi lao động, còn tỷ số phụ thuộc già được tính là số người cao tuổitrên 100 người trong tuổi lao động
Nghiên cứu về biến đổi dân số có sự chú trọng đến sự biến đổi cơ cấu dân số theotuổi, Lee (2003), An và Jeon (2006) khẳng định theo Lý thuyết “quá độ dân số” trongthời kỳ đầu ở giai đoạn thứ hai của quá trình chuyển đổi nhân khẩu học, việc cung cấplao động và tỷ lệ tiết kiệm liên tục tăng, do đó dân số tác động tích cực tới tăng trưởng
Trang 13kinh tế và được gọi là “lợi tức nhân khẩu học” (Demographic Dividend) Tuy nhiên,trong giai đoạn thứ ba, dân số trở lên già hóa, cung ứng lao động và tiết kiệm cùnggiảm, thời kỳ này tác động của dân số đến tăng trưởng kinh tế có thể là tiêu cực.
Thuật ngữ “lợi tức dân số” hay “lợi tức nhân khẩu học” ra đời để phản ánh hiệntượng trong đó quá trình biến đổi cơ cấu tuổi dân số tạo ra cơ hội thúc đẩy tăng trưởngkinh tế do tăng tỷ lệ số người trong tuổi lao động Lợi tức dân số chỉ có thể trở thànhhiện thực trong những điều kiện nhất định, đó là trình độ nguồn nhân lực, chính sách
và thể chế hợp lý
Nghiên cứu về quan hệ dân số - lao động và việc làm, Nguyễn Đình Cử (2011) lập
luận rằng tình trạng dân số ảnh hưởng tới cung – cầu lao động thông qua dân số trong tuổi lao động và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động Khi biến đổi cơ cấu tuổi dân số dẫn
đến tăng tỷ lệ dân số trong tuổi lao động hay dân số tham hoạt động kinh tế, “cơ cấudân số vàng” sẽ đem đến cơ hội cho tăng trưởng kinh tế do tăng tiết kiệm Tuy nhiênđiều này cũng gây ra thách thức về nâng cao chất lượng lao động và tạo việc làm.Cùng với phương pháp định lượng mới - phương pháp NTA để nghiên cứu và đolường tác động của biến đổi cơ cấu tuổi dân số đến tăng trưởng kinh tế dựa trên việcxem xét tới các dòng chảy kinh tế giữa các nhóm tuổi, giữa lực lượng sản xuất và lựclượng tiêu dùng để tìm ra phần “thặng dư” – phần đóng góp cho tăng trưởng kinh tếtrong các nghiên cứu của mình các nhà nhân khẩu học đưa ra quan điểm về lợi tứcnhân khẩu học thứ nhất và lợi tức nhân khẩu học thứ hai (Faruqee và Mühleisen(2001), Andrew Mason và Ronald Lee (2004), Prskawetz và Lindh (2007)) Lợi tứcnhân khẩu học thứ nhất xuất hiện khi tốc độ tăng dân số sản xuất lớn hơn so với dân sốtiêu dùng (tỷ số phụ thuộc dân số nhỏ hơn 50), từ đó làm tăng thu nhập bình quân đầungười, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Còn lợi tức nhân khẩu học thứ hai là những lợi ích
có thể có được do những dự báo về dân số già hóa làm gia tăng động lực tiết kiệm vàtích lũy vốn trong nền kinh tế, từ đó làm gia tăng số lượng và tỷ lệ những người có thunhập cao thúc đẩy việc tiêu dùng các sản phẩm đầu ra của quá trình sản xuất cũng nhưlàm tăng nguồn lực vốn cho sản xuất Nếu một quốc gia đối phó với dự báo dân số giàhóa bằng những chính sách hợp lý thì sự gia tăng tiết kiệm (từ khi những người laođộng còn trẻ hay từ những khoản thu nhập chuyển giao ) và sự chuẩn bị vững vàngcho hệ thống tài chính hưu trí có thể dẫn đến một dân số già khỏe mạnh, giàu có vàhơn thế nữa là một xã hội phồn thịnh
Trang 14CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI CƠ CẤU TUỔI DÂN SỐ VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011- NAY2.1 Thực trạng biến đổi cơ cấu dân số tại Việt Nam 2011 đến nay:
2.1.1 Tình hình quy mô dân số tại Việt Nam:
a Số liệu chung:
- Tỉ lệ tăng trưởng dân số:
Hình 2.1: Biểu đồ tăng trưởng dân số Việt Nam năm 2011 – 2018
(Nguồn:World Bank)
- Dân số Việt Nam các năm:
Hình 2.2: Biểu đồ dân số Việt Nam năm 2011- 2018
(Nguồn:World Bank)
- Tổng quát:
Trang 15+ Tính đến hết 31/12/2018, Dân số Việt Nam là 96.961.884 người 34.7% dân số Việt Nam sống ở thành thị.
+ Dân số Việt Nam hiện chiếm 1/27% dân số thế giới Việt Nam đứng thứ 14 trên thế giới trong bảng xếp hạng dân số các nước và vùng lãnh thổ
+ Trang thông tin danso.org cũng có một dự báo từ đầu năm 2018:
● Dân số Việt Nam đến đầu 2019 sẽ tăng 950.346 người so với cùng kỳ năm ngoái,đạt 96.963.958 người Gia tăng dân số tự nhiên được dự báo dương vì số trẻ emsinh ra nhiều hơn số người mất đi
● Số người từ nơi khác đến Việt Nam định cư ít hơn so với số người rời khỏi Việt Nam đi tìm vùng đất khác để sinh sống
Theo ước tính của trang này, năm 2018, Việt Nam trung bình mỗi ngày:
● 4270 trẻ em được sinh ra;
● 1537 người chết;
● 130 người di cư
Về chênh lệch giới tính, hiện tại tỉ lệ này đang là 0.979 (979 nam/1000 nữ); cao hơn tỉ
lệ giới tính toàn cầu (1.017 nam/1000 nữ)
b Đánh giá:
* Điểm mạnh:
Cùng với công cuộc đổi mới đất nước, kinh tế xã hội phát triển, công tác dân số
-kế hoạch hóa gia đình được triển khai có bài bản, có hiệu quả, Việt Nam đã đạt và duytrì được mức sinh thay thế một cách vững chắc Chỉ tiêu 2,1 con/phụ nữ liên tục đượcgiữ vững từ năm 2006 đến nay và luôn bảo đảm “mức sinh thay thế” Mô hình gia đìnhhai con đang trở nên phổ biến
Chúng ta cũng đang có quy mô dân số lớn và mật độ dân số cao, nhưng vẫn duy trìđược tốc độ tăng chậm (giai đoạn 2009 - 2019, bình quân hằng năm tăng khoảng 1%).Năm 2018, nước ta có khoảng trên 93 triệu dân và tiếp tục tăng chậm lên đến khoảng
110 triệu vào giữa thế kỷ Dân số đông là một thị trường lớn, hấp dẫn đầu tư nhưngcũng là thách thức lớn về an ninh lương thực; giáo dục và đào tạo; nâng cao chất lượngnguồn nhân lực; môi trường…
Hiện nay, Việt Nam đang trong thời kỳ “Cơ cấu dân số vàng” do cơ cấu dân số theotuổi biến đổi nhanh Năm 2006, Việt Nam đã bắt đầu bước vào thời kỳ cơ cấu “dân sốvàng” khi có trên 66% dân số trong độ tuổi có khả năng lao động (từ 15 đến 64 tuổi)
Trang 16Theo dự báo của Tổng cục Thống kê (năm 2016), thời kỳ cơ cấu “dân số vàng” củaViệt Nam kéo dài đến khoảng năm 2041 Đây là giai đoạn mang lại nhiều cơ hội nhờlực lượng dân số trong độ tuổi lao động dồi dào Tuy nhiên, cũng là thách thức trongquá trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo việc làm và việc làm có năng suất,chất lượng, thu nhập cao.
ở nông thôn, nghèo khó nên sức khỏe yếu, đi kèm đó là phần lớn không có bảo hiểm
xã hội… Đây là những những thách liên quan đến vấn đề an sinh xã hội của nhómngười này nói riêng và là thách thức liên quan đến vấn đề phát triển bền vững của đấtnước nói chung
Bên cạnh đó, tình trạng biết trước giới tính thai nhi ngày càng phổ biến, do tư tưởngtrọng nam khinh nữ dẫn đến tình trạng mất cân đối giới tính khi sinh diễn ra nghiêmtrọng; tình trạng di cư đô thị hóa, tích tụ dân số đang diễn ra khá mạnh, không đượckiểm soát tốt là những đặc điểm tác động tiêu cực vào quá trình phát triển bền vững vềmặt dân số, xã hội
Trên thực tế, chất lượng dân số Việt Nam được đánh giá là tăng lên nhưng tăngchưa cao Nếu coi chất lượng dân số là sự phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ vàtinh thần của toàn bộ dân số, thì các kết quả đạt được của nước ta hiện nay còn thấp sovới nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Vì vậy, nâng cao chất lượng dân số cầnđược tiếp cận theo hướng vòng đời để nâng cao khả năng, sự bình đẳng giới trong quátrình tiếp cận và tham gia của toàn bộ dân số ở tất cả các nhóm tuổi tới các cơ hội pháttriển và dịch vụ bao gồm sức khỏe, giáo dục, việc làm, phúc lợi, tôn giáo, tài chính vàmôi trường…, hướng tới nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân
2.1.2 Biến đổi cơ cấu tuổi dân số Việt Nam:
a Tổng quan:
Việt Nam đang – và sẽ bỏ lỡ thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” – cơ hội “có một khônghai” trong lịch sử để tăng trưởng và phát triển kinh tế – xã hội
Trang 17Hình 2.3: Tháp dân số Việt Nam 2015
(Nguồn: trithuc.net)
Tháp dân số Việt Nam 2015 cho thấy độ tuổi và giới tính cấu trúc dân số của mộtquốc gia và có thể cung cấp những hiểu biết về sự ổn định chính trị và xã hội, cũngnhư phát triển kinh tế Dân số phân bổ dọc theo trục ngang, với nam giới thể hiện ởbên trái và nữ ở bên phải Dân số nam và nữ được chia thành các nhóm 5 độ tuổi đạidiện như thanh ngang dọc theo trục thẳng đứng, với các nhóm tuổi trẻ nhất ở phía dưới
và lâu đời nhất ở đầu trang Hình dạng của tháp dân số dần dần tiến hóa theo thời giandựa trên khả năng sinh sản, tử vong, và xu hướng di cư quốc tế
0-14 tuổi: 24.1% (11,948,130 nam / 10,786,381 nữ)
15-24 tuổi: 17.22% ( 8,411,108 nam/ 7,833,327 nữ)
25-54 tuổi: 45.05% ( 21,358,647 nam/21,145,416 nữ)
55-64 tuổi: 7.81% (3,376,706 nam/3,995,035 nữ)
Trang 1865 trở lên: 5.82% (2,115,057 nam/3,379,028 nữ)
Tuy nhiên, các con số của Tổng cục Dân số và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO)cho thấy giai đoạn “dân số vàng” của Việt Nam ngắn hơn nhiều so với các nước khác,chỉ vào khoảng 17 năm (tới khoảng năm 2025) do Việt Nam có thời kỳ “dân số vàng”
và già hoá dân số diễn ra cùng một lúc Việt Nam là một trong những nước có tốc độgià hoá nhanh nhất thế giới
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), người cao tuổi là những người
từ 65 tuổi trở lên Khi tỷ lệ người cao tuổi chiếm 7% tổng dân số thì dân số được coi là
“bắt đầu già” và khi tỷ lệ này đạt 14% thì dân số được coi là “già” Theo định nghĩanày, từ năm 2011, dân số Việt Nam đã bắt đầu già khi tỷ lệ người trên 65 tuổi chiếm7% tổng dân số Theo dự báo của Liên Hợp Quốc, đến năm 2030, tỷ lệ dân số trên 65tuổi của Việt Nam sẽ vào khoảng 12,9% và năm 2050 là 23%
Điều đáng nói là hiện nay chỉ có khoảng 10% số người cao tuổi có tiền tích luỹ và70% không có lương hưu
Theo World Bank:“Tốc độ già hoá tại Việt Nam hiện nằm trong nhóm nhanh nhấtthế giới, nhưng nó lại diễn ra trong bối cảnh mức thu nhập thấp hơn nhiều các nướccũng già hoá khác.”
Mặc dù có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh từ thập niên 90, nhưng thu nhập bìnhquân của người Việt năm 2017 ở mức gần 2.400 USD/năm (mức thu nhập trung bìnhthấp) Điều này dẫn tới gánh nặng “chưa giàu đã già”, trong khi nợ công tiếp tục tăng
và đầy nguy hiểm, Việt Nam còn chịu mối lo gánh nhiều nợ nần
Tất cả những điều này đặt ra hàng loạt thách thức cho Việt Nam trong việc tận dụngkhai thác nguồn lực dân số, lao động cho phát triển kinh tế – xã hội
Phần lớn các quốc gia đều tận dụng thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” để phát triển đấtnước nhằm ứng phó với tình trạng dân số già sau đó
Tận dụng “cơ cấu dân số vàng” là một trong những vấn đề quan trọng và ưu tiênchiến lược của chính phủ các quốc gia trong việc tăng trưởng và phát triển kinh tế gắnvới dân số, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển
Thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” sẽ không tất yếu mang lại các tác động tích cực đốivới tăng trưởng kinh tế và phát triển con người Theo kinh nghiệm thế giới, cơ hội dân
số chỉ tạo ra điều kiện, còn môi trường chính sách mới là yếu tố quyết định, cho phéptận dụng được cơ hội “dân số vàng” mang lại
Trang 19Thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” được tận dụng khai thác như thế nào đòi hỏi sự vậnhành của thể chế, sự điều hành của nền kinh tế vĩ mô, các chính sách đầu tư, đặc biệt làchính sách về giáo dục – đào tạo; chính sách lao động, việc làm; chính sách y tế nhằmnâng cao chất lượng nguồn nhân lực và các chính sách về an sinh xã hội để chuẩn bịcho giai đoạn tiếp sau.
Tính từ nhiều năm trước năm 2011 cho đến hiện tại, các điều kiện và môi trườngchính sách tại Việt Nam không cho thấy việc tận dụng cơ hội “có một không hai” nàytrong lịch sử nhân khẩu học của đất nước với rất nhiều những hạn chế về thể chế, điềuhành nền kinh tế – tài chính quốc gia; tình trạng tham nhũng; thất bại trong cải cáchgiáo dục, giáo dục đại học, đào tạo nguồn nhân lực có kỹ năng, chất lượng cao…; cácvấn đề về y tế và môi trường…
b Đánh giá cơ cấu tuổi dân số Việt Nam theo nghiên cứu mới nhất:
Số liệu dân số theo độ tuổi (ước lượng):
+ 23.942.527 thanh thiếu niên dưới 15 tuổi (12.536.210 nam / 11.406.317 nữ)
+ 65.823.656 người từ 15 đến 64 tuổi (32.850.534 nam / 32.974.072 nữ)
+ 5.262.699 người trên 64 tuổi (2.016.513 nam / 3.245.236 nữ)
Dân số nước ta đã bước qua thời kì “ dân số trẻ” với hơn 40% dân số là trẻ em vàbắt đầu bước vào thời kì “ dân số vàng” ( cứ hai người trong độ tuổi lao động mới cómột người trong độ tuổi phụ thuộc) vào năm 2006 với lực lượng trong độ tuổi lao độngchiếm tới 69% dân số
Cơ cấu dân số vàng mang lại rất nhiều thuận lợi:
- Tạo cơ hội cho tích lũy nguồn lực để tăng đầu tư cho an sinh xã hội, y tế, giáo dục,việc làm trong tương lai
- Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục thông qua việc giảm tỷ số giữa học sinh
và giáo viên
Trang 20- Nâng cao chất lượng chăm sóc y tế cho trẻ em, cải thiện chất lượng sức khỏe dân
số tương lai
- Cơ hội dịch chuyển lao động thông qua di cư, tạo động lực phát triển kinh tế xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo nhanh và bền vững
Bên cạnh những thuận lợi thì cũng có những thách thức:
- Biểu hiện dễ thấy và rõ nhất là ở Việt Nam của chúng ta do không tận dụng được
cơ hội dân số vàng nên Việc Nam đã và đang gặp nhièu thách thức và gần như chuyểnsang cơ cấu dân số già
- Thực trạng ở Việt Nam cho thấy, số người lực lượng lao động đông về số lượngnhưng chất lượng chưa cao do thiếu lao động có tay nghề cao, sức bền còn hạn chế, kỹnăng quản lý còn nhiều bất cập Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê năm
2009, chỉ có 13,4% dân số 15 tuổi trở lên được đào tạo chuyên môn kỹ thuật (con sốnày ở thành thị là 25,4% và nông thôn là 8%) Trong nhóm dân số từ 25 tuổi trở lên thìchỉ 18,9% đạt được trình độ học vấn bậc trung và chưa đầy 5,5% dân số trong độ tuổitrên đạt trình độ học vấn bậc cao
Bên cạnh đó, chất lượng giáo dục, đào tạo nghề chưa cao, chưa đáp ứng được yêucầu thị trường lao động Tỷ lệ lao động nông nghiệp cao trong khi diện tích đất nôngnghiệp ngày càng thu hẹp do quá trình đô thị hóa và chuyển đổi mục đích sử dụng Từ
đó, dẫn đến tình trạng thiếu việc làm của thanh niên gia tăng trong điều kiện thị tườnglao động ngày càng cạnh tranh Mặt khác, lao động di cư thanh niên tăng nhanh songcác chính sách lao động, việc làm và các dịch vụ xã hội liên quan còn nhiều bất cập.Việt Nam có tốc độ già hóa dân số nhanh: Chưa đầy 5 năm, từ 2006 đến 2011, ViệtNam đã chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số khi tỉ trọng nhóm dân số 65 tuổitrở lên chiếm 7% Các phương tiện thông tin đại chúng thời gian qua đã cho rằng: “Việt Nam chưa giàu đã già’ Tốc độ già hóa dân số của Việt Nam đang nằm trong 5quốc gia nhanh nhất thế giới Các chuyên gia dự báo, đến năm 2050, Việt Nam sẽbước vào giai đoạn siêu già với dân số già chiếm tới 20% dân số
Trang 212.2 Tăng trưởng kinh tế Việt Nam
2.2.1 Tổng quan tình hình kinh tế thế giới và trong nước
a Tổng quan tình hình kinh tế thế giới
Trong nhận định đưa ra ngày 8/1/2019 tại Washington, Ngân hàng Thế giới dự báotăng trưởng kinh tế thế giới năm 2019 giảm nhẹ xuống mức 2,9% sau khi đã điềuchỉnh giảm tăng trưởng năm 2018 xuống 3% trong bối cảnh nhiều rủi ro ảnh hưởng tớiviễn cảnh kinh tế Thương mại quốc tế và các hoạt động sản xuất đang sụt giảm, trongkhi căng thẳng thương mại ngày càng leo thang, đồng thời một số nền kinh tế mới nổiđang chịu sức ép lớn từ thị trường tài chính
Tăng trưởng của các nền kinh tế phát triển được dự báo giảm xuống mức 2% trongnăm nay, là nhận định của Báo cáo Triển vọng Kinh tế Toàn cầu ấn bản tháng 1 năm2019
Trong khi đó, thị trường xuất khẩu giảm dần, chi phí vốn vay tăng lên và chính sáchthiếu ổn định sẽ là gánh nặng đối với viễn cảnh của các quốc gia đang phát triển và cácquốc gia mới nổi Tăng trưởng cho nhóm này được kỳ vọng giữ vững mức 4,2% trongnăm nay, thấp hơn so với dự báo trước đó
Xu hướng tăng xuất khẩu hàng hóa đang chững lại, trong khi các hoạt động nhậpkhẩu có dấu hiệu giảm dần Tăng trưởng bình quân đầu người của 35% các quốc giađang phát triển và quốc gia mới nổi không đủ để thu hẹp khoảng cách thu nhập với cácquốc gia phát triển trong năm 2019 Tỉ lệ này đối với các quốc gia dễ bị tổn thương,xung đột và bạo lực lên đến 60%
Việc thực hiện nhiều hoạt động phát triển cùng lúc có thể làm chậm tốc độ pháttriển Chi phí vốn vay thắt chặt ảnh hưởng tiêu cực đến dòng vốn chảy vào và tốc độtăng trưởng ở nhiều quốc gia đang phát triển và quốc gia mới nổi Nợ công và nợ tưnhân leo thang trong thời gian qua có thể làm tăng mức độ dễ bị tổn thương của nhữngthay đổi trong điều kiện tài chính và tâm lý thị trường Căng thẳng thương mại gia tăng
có thể tác động xấu đối với tăng trưởng kinh tế thế giới và làm gián đoạn chuỗi giá trịliên kết toàn cầu
Khu vực kinh tế phi chính thức đang chiếm khoảng 70% lực lượng lao động và 30%GDP ở các quốc gia đang phát triển và quốc gia mới nổi Khu vực này gắn liền vớinăng suất lao động, doanh thu thuế thấp và tỉ lệ nghèo đói, bất bình đẳng cao, đây làdấu hiệu cho thấy các cơ hội đang bị đánh mất Các biện pháp để cân bằng khu vực 22
Trang 22kinh tế chính thức và kinh tế phi chính thức có thể bao gồm giảm gánh nặng về thuế vàchính sách, tăng khả năng tiếp cận tài chính, nâng cao chất lượng giáo dục và dịch vụcông và củng cố hệ thống thu chi ngân sách.
Rủi ro nợ ở các quốc gia có thu nhập thấp đang tăng lên Mặc dù vốn vay có vai tròhiệu quả trong việc hỗ trợ nhiều quốc gia đối phó với các nhu cầu phát triển quantrọng, tuy nhiên tỉ lệ nợ so với GDP ở các quốc gia này đang leo thang, và tỉ trọng nợđang nghiêng dần về các nguồn vốn thị trường có chi phí cao Điều các nền kinh tế nàycần làm là đẩy mạnh huy động các nguồn lực trong nước, tăng hiệu quả quản lý nợ vàđầu tư, đồng thời xây dựng các khung chính sách vĩ mô – tài khóa có khả năng kháng
cự tốt hơn
Việc duy trì tỉ lệ lạm phát ở mức thấp và ổn định như thời gian trước sẽ không còn
dễ dàng đối với các quốc gia đang phát triển và quốc gia mới nổi Các áp lực theo chu
kỳ có vai trò quan trọng trong việc kìm hãm lạm phát suốt một thập kỷ qua đang dầnbiến mất Trong khi đó, các nhân tố dài hạn hỗ trợ việc giảm lạm phát trong năm thập
kỷ qua như thương mại toàn cầu, hội nhập tài chính hay các chính sách tiền tệ mạnh
mẽ cũng đã mất đà hoặc đảo chiều Duy trì tỉ lệ lạm phát toàn cầu ở mức thấp trở thànhthách thức khó khăn không kém việc đạt tỉ lệ này trước đây
Các chính sách nhằm mục đích kìm hãm biến động giá lương thực có thể mang lạinhững hậu quả không mong muốn nếu các quốc gia không có sự phối hợp thực hiện.Các biện pháp can thiệp của chính phủ có thể giúp giải quyết trong ngắn hạn nhưngnếu thực hiện trên diện rộng có thể làm trầm trọng thêm tình trạng đẩy giá lương thực,
mà người nghèo là đối tượng chịu tác động mạnh mẽ nhất Ví dụ, các chính sáchthương mại được đưa ra trong giai đoạn giá lương thực leo thang thời kỳ 2010 – 2011
có thể là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc tăng giá lúa mì và ngô lên 25%.Khủng hoảng giá lương thực 2010 – 2011 đã đẩy 8,3 triệu người (gần 1% dân sốnghèo thế giới) vào tình trạng nghèo đói
(Nguồn: The World Bank, 2019)
b Tổng quan tình hình kinh tế trong nước
Theo nhận định của Trường Đại học Kinh tế quốc dân, tăng trưởng kinh tế năm
2019 dự báo có thể sẽ không đạt được tốc độ tăng trưởng tốt như năm 2018 trong khilạm phát sẽ có xu hướng gia tăng, mặc dù có thể vẫn kiểm soát được ở dưới mức 5%
Trang 23Tổng cục Thống kê công bố GDP trong 3 tháng đầu năm nay ước tính tăng 6,79%
so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2018
Theo ông Nguyễn Bích Lâm (2019) - Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, việcGDP sụt giảm so với năm trước do một số yếu tố tạo nên sự đột biến trong quý I/2018
đã không còn Sau giai đoạn phục hồi năm 2016 và 2017, quý I năm 2018 kinh tế ViệtNam bất ngờ gặp thuận lợi trên mọi lĩnh vực nên tăng trưởng kinh tế đạt mức cao kỷlục Tuy nhiên, sang năm 2019, bối cảnh nền kinh tế đã không còn thuận lợi như trước
Về vấn đề này, chuyên gia kinh tế Đinh Tuấn Minh ( 2019) - Giám đốc nghiên cứuCông ty Viet Analytics cũng cho rằng, tăng trưởng chậm lại trong quý I/2019 là điềuhợp lý, bởi nền kinh tế không có những cú huých mạnh như trong giai đoạn 2017 –
2018, khi các tập đoàn lớn Samsung và Formosa “bung” công suất “Với mức tăngtrưởng tiềm năng khoảng 6,4 - 6,5% hiện nay thì tăng trưởng kinh tế năm nay quanh ởmức này là vừa sức và hợp lý”, chuyên gia này nhận định
Ở trong nước, nền kinh tế được tạo đà ban đầu từ chất lượng tăng trưởng có cảithiện từ năm 2018 Động lực tăng trưởng kinh tế năm 2019, xét từ khu vực kinh tế, sẽvẫn đến chủ yếu từ khu vực FDI, đi kèm là cán cân thương mại cải thiện Điểm thuậnlợi cho Việt Nam với tình hình chính trị ổn định, chính sách thu hút FDI có tính cạnhtranh cao, cộng thêm những tác động tích cực từ thế giới kể trên, Việt Nam sẽ tăngtrưởng tiếp tục chủ yếu dựa vào đầu tư và thương mại quốc tế
(Nguồn: H.Y, 2019)
Trang 242.2.2 Tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011 đến nay.
2
1
0
2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018
Hình 2.4: Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm giai đoạn 2011-2018
(Nguồn: Tổng hợp theo số liệu The World Bank)
Giai đoạn 2011-2015 nền kinh tế đang dịch chuyển từ giai đoạn phục hồi sau khủnghoảng kinh tế đến giai đoạn tăng trưởng chậm nhưng vẫn chắc chắn Vào 2012, mứctăng trưởng GDP có xu hướng giảm mạnh so với năm trước (khoảng gần 1%) Saunăm 2012,nền kinh tế có sự chuyển biến- mức tăng trưởng không đều nhưng tương đốichắc chắn và mức tăng cao nhất đạt gần 6,68% năm 2015
Giai đoạn 2016-2018; năm 2016 mức tăng trưởng giảm nhẹ so với năm 2015, tỷ lệtăng trưởng đạt khoảng 6,21% Ngay sau đó, mức tăng trưởng tăng trở lại và tăngnhiều hơn so với thời điểm 2015 Sang đến năm 2018 GDP tăng 7,08%, là mức tăngcao nhất kể từ năm 2011 trở về đây Mức tăng trưởng năm này vượt mục tiêu 6,7% đặt
ra là kết quả sự điều hành quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và nỗ lựccủa các cấp, các ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước.Trong mức tăng trưởng của toàn nền kinh tế năm 2018, khu vực nông, lâm nghiệp vàthủy sản tăng 3,76%, đóng góp 8,7% vào mức tăng trưởng chung; khu vực côngnghiệp và xây dựng tăng 8,85%, đóng góp 48,6%; khu vực dịch vụ tăng 7,03%, đónggóp 42,7% Xét về góc độ sử dụng GDP năm 2018, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,17% sovới năm 2017; tích lũy tài sản tăng 8,22%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng14,27%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 12,81%