1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mối quan hệ phi tuyến giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế ở các nước mới nổi và các nước đang phát triển

68 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 373,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

và do đó một phần hoặc hoàn toàn bỏ qua các tác động tích cực của kích thích tài chính.Hầu hết các nhà hoạch định chính sách dường như nghĩ rằng nợ công cao sẽ làm giảmtăng trưởng kinh t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

Thành phố Hồ Chí Minh năm 2017

Trang 3

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

VÕ THỊ THÚY KIỀU

MỐI QUAN HỆ PHI TUYẾN GIỮA NỢ CÔNG

VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở CÁC NƯỚC MỚI NỔI VÀ CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS LÊ QUANG CƯỜNG

Tp Hồ Chí Minh năm 2017

Trang 4

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sựhướng dẫn của Ts Lê Quang Cường Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tàinày là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây

Những số liệu phục vụ cho việc phân tích, định lượng và nhận xét đượcchính tôi thu thập từ những nguồn khác nhau và có trích dẫn cụ thể

Luận văn cũng có sử dụng một số đánh giá, nhận xét của các tác giả khác đều

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục hình

Danh mục bảng

Danh mục phụ lục

Danh mục từ viết tắt tiếng Việt

Danh mục từ viết tắt tiếng Anh

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1.1 Lý do chọn đề tài: 1

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu: 1

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Đóng góp của đề tài nghiên cứu 2

1.5 Phương pháp nghiên cứu: 2

1.6 Kết cấu đề tài 3

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NỢ CÔNG VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 4

2.1 Các thuật ngữ liên quan đến mô hình nghiên cứu: 4

2.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế: 4

2.1.2 Khái niệm nợ công và các phương pháp đo lường nợ công: 5

2.2 Thực trạng nợ công một số nước có nền kinh tế mới nổi và các nước đang phát triển: 6

2.3 Tổng quan lý thuyết về sự tác động của nợ công đến nền kinh tế: 13

2.3.1 Tác động kích cầu của nợ công theo học thuyết Keynes 13

2.3.2 Hiệu ứng phi Keynes (Non-Keynesian Effects) 13

2.3.3 Hiệu ứng lấn át (Crowding-out) 14

Trang 6

2.3.4 Lý thuyết cân bằng theo học thuyết của David Ricardo

2.3.5 Lý thuyết về tác hại của tích lũy nợ công dài hạn

2.4 Tổng quan các nghiên cứu trước:

CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

3.1 Giới thiệu về phương pháp ước lượng GMM trong mô hình dữ liệu bảng động

3.1.1 Mô hình dữ liệu bảng động:

3.1.2 3.1.3 3.2 Mô hình nghiên cứu dạng thực nghiệm:

3.3 Dữ liệu và biến nghiên cứu:

3.3.1 Dữ liệu nghiên cứu:

3.3.2 Các biến nghiên cứu trong mô hình:

3.4 Thống kê mô tả các biến số trong mô hình

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Mức độ tương quan các biến số trong mô hình:

4.2 Kết quả nghiên cứu mô hình dạng tuyến tính của nợ công

4.3 Kết quả nghiên cứu với mô hình phi tuyến tính:

CHƯƠNG 5 HÀM Ý CHÍNH SÁCH

5.1 Gợi ý chính sách:

5.2 Hạn chế của dữ liệu và mô hình phân tích

KẾT LUẬN

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 7

Danh mục hình

Hình 2.1Tỷ lệ nợ công trên GDP của thế giới đến 30/11/2016 6

Hình 2.2 Tỷ lệ nợ công/GDP tại Mỹ Latinh năm 2010-2015 7

Hình 2.3 Tốc độ tăng trưởng GDP Mỹ Latinh năm 2010-2016 8

Hình 2.4Tỷ lệ nợ công/GDP tại Châu Á năm 2010-2015 9

Hình 2.5 Tốc độ tăng trưởng GDP Châu Á năm 2010-2016 9

Hình 2.6Tỷ lệ nợ công/GDP tại Châu Phi năm 2010-2015 10

Hình 2.7 Tốc độ tăng trưởng GDP Châu Phi năm 2010-2016 11

Hình 2.8Tỷ lệ nợ công/GDP tại Châu Âu năm 2010-2015 12

Hình 2.9 Tốc độ tăng trưởng GDP Châu Âu năm 2010-2016 12

Trang 8

Danh mục bảng

Bảng 2.1Tổng hợp các nghiên cứutrước đây về ảnh hưởng phi tuyến tính giữa nợ công

và tăng trưởng kinh tế 25

Bảng 3.1 Tổng hợp các biên nghiên cứu 40

Bảng 3.2Thống kê mô tả các biến được sử dụng 41

Bảng 4.1Mô tả tương quan giữa các biến trong mô hình 42

Bảng 4.2 Kết quả hồi quy mô hình dạng tuyến tính 44

Bảng 4.3 Kết quả hồi quy với mô hình phi tuyến tính 47

Trang 9

Danh mục phụ lục

Phụ lục 1 Các quốc gia được thu thập và sử dụng trong mô hình

Trang 10

GTNN GTLN GTTB

Trang 11

WDI IMF WEO GMM MSCI

Trang 12

và do đó một phần (hoặc hoàn toàn) bỏ qua các tác động tích cực của kích thích tài chính.Hầu hết các nhà hoạch định chính sách dường như nghĩ rằng nợ công cao sẽ làm giảmtăng trưởng kinh tế dài hạn.

Alfredo Schclarek (2004), khi nghiên cứu nợ công và tăng trưởng kinh tế ở cácnước đang phát triển và các nước phát triển cho rằng nợ nước ngoài càng thấp thì tăngtrưởng kinh tế càng cao Tuy nhiên, tác giả chưa tìm thấy ảnh hưởng đáng kể của tổng nợcông đến tăng trưởng kinh tế ở các nước phát triển Bên cạnh đó, khi nghiên cứu nợ công

và tăng trưởng kinh tế ở các nước OECD, Ugo Panizza và F Presbitero (2013) cho thấyrằng các mô hình lý thuyết mang lại kết quả mơ hồ Dường như tồn tại sự phân nhánh ảnhhưởng của chiều hướng tác động nợ công lên tăng trưởng kinh tế

Nợ công ở các nước có nền kinh tế mới nổi và các nước phát triển tăng liên tụctrong một thập kỷ qua và đi kèm là động lực tăng trưởng kinh tế Cũng với nhiều bàinghiên cứu về mối quan hệ giữ nợ công và tăng trưởng kinh tế

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu:

Luận văn được thực hiện nhằm mục tiêu kiểm tra mối quan hệ phi tuyến giữa nợcông và tăng trưởng kinh tế tại ở nước có nền kinh tế mới nổi và đang phát triển, qua đócung cấp thêm những bằng chứng về mặt thống kê và có cái nhìn sâu sắc hơn về mối quan

hệ này Để làm rõ mục tiêu nghiên cứu, bài nghiên cứu hướng đến trả lời cho câu hỏinghiên cứu liệu có tồn tại mối quan hệ phi tuyến tính, hay nói cách khác là hiệu ứng chữ

Trang 13

U ngược giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế tại các nước có nền kinh tế mới nổi và cácnước đang phát triền?

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Tác động của quy mô chính phủ, tỷ lệ lạm phát hàng năm, độ mở của nền kinh tế, sốnăm đi học bình quân, tỷ lệ gia tăng dân số và nợ công đến tỷ lệ tăng trưởng kinh tế 42 ởnước có nền kinh tế mới nổi và đang phát triển Đặc biệt tập trung nghiên cứu mối quan

hệ phi tuyến tính giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế với các mối quan hệ khác trong môhình nghiên cứu đóng vai trò kiểm soát hiệu quả cho kết quả hồi quy thu được

1.4 Đóng góp của đề tài nghiên cứu

- Đóng góp chính của luận văn nhằm cung cấp thêm những bằng chứng thống kê về ảnh hưởng phi tuyến của nợ công lên tăng trưởng sản lượng ở những mô hình khác nhau

- Hơn nữa, luận văn cũng mở ra những hiểu biết về vai trò của các nhân tố kinh tế 42 quốc gia mới nổi và các nước đang phát triển đến tăng trưởng kinh tế của chúng

1.5 Phương pháp nghiên cứu:

Với phương pháp định lượng, luận văn ước lượng mối quan hệ tuyến tính và phituyến giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế bằng mô hình system - GMM, được Blundell

và Bond (1998) phát triển từ nghiên cứu của Arellano và Bover (1995), trong phân tíchcác chuỗi dữ liệu dạng bảng động (Dynamic Panel Data) Mô hình này được sử dụng phổbiến vì nó có thể giải quyết tốn vấn đề nội sinh trong mô hình và đưa vào được đặc tínhđộng của mô hình nghiên cứu mà biến phụ thuộc có độ trễ Các kiểm định kèm theo cũngđược thực hiện để đảm bảo tính vững của mô hình

Trang 14

1.6 Kết cấu đề tài

Luận văn được thực hiện gồm năm chương với nội dung các chương Chương 1,luận văn được thực hiện nhằm tổng quan về đề tài nghiên cứu; trong khi Chương 2 cốgắng mổ tả những thuật ngữ, khái niệm, thực trạng tình hình nợ công ở các quốc gia cũngnhư những lý thuyết nền được sử dụng và tổng quan những công trình nghiên cứu đangtồn tại Nội dung được trình bày trong Chương 3 nhằm mục đích mô hình hóa tác độngcủa nợ công đến tăng trưởng kinh tế Thông qua đó, Chương 4 trình bày những kết quảtrọng yếu mà mô hình nghiên cứu rút ra được, làm cơ sở để đưa ra những gợi ý chính sáchtrong Chương 5

Trang 15

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NỢ CÔNG VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH

NGHIÊN CỨU 2.1 Các thuật ngữ liên quan đến mô hình nghiên cứu:

2.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế:

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lượng quốc gia trong thời giannhất định (thường là 1 năm) Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốcnội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tínhbình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định

Các chỉ tiêu phản ánh giá trị tăng trưởng kinh tế theo hệ thống tài khoản quốc gia:tổng giá trị sản xuất (GO), tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc gia(GNP), tổng thu nhập quốc dân (GNI), thu nhập quốc dân (NI), tổng sản phẩm tính bìnhquân đầu người Trong đó, chỉ tiêu GDP thưởng à chỉ tiêu quan trọng và được sử dụngphổ biến nhất

Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối, tốc độtăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong một giai đoạn.Mứctăng trưởng tuyệt đối là mức chênh lệch quy mô kinh tế giữa hai kỳ cần so sánh

Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa tăng trưởngkinh tế kỳ hiện tại so với tăng trưởng kinh tế kỳ trước chia cho tăng trưởng kinh tế kỳtrước Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị % Công thức này được biểudiễn như sau:

y = dY/Y × 100(%),Trong đó Y là tăng trưởng của nền kinh tế, và y là tốc độ tăng trưởng Nếu quy môkinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) danh nghĩa, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hoặcGNP) danh nghĩa Còn nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) thực tế, thì sẽ

có tốc độ tăng trưởng GDP (hay GNP) thực tế Thông thường, tăng trưởng kinh tế dùngchỉ tiêu thực tế hơn là các chỉ tiêu danh nghĩa

Trang 16

5Theo nghiên cứu của Alfredo Schclarek (2005), ông đã sử dụng: tổng sản phẩmquốc nội (GDP), tỷ lệ tăng trưởng GDP thực trên đầu người (tăng trưởng) như đại diệncho tăng trưởng kinh tế Để thể hiện cho ý tưởng của mình, tác giá có giải thích tỷ lệ tăngtrưởng GDP thực trên đầu người (tăng trưởng) được đo lường là tốc độ tăng trưởng GDPhàng năm bình quân đầu người dựa trên đồng nội tệ.

2.1.2 Khái niệm nợ công và các phương pháp đo lường nợ công:

Nợ công là nghĩa vụ nợ của khu vực công, bao gồm các nghĩa vụ nợ của chính phủtrung ương, các cấp chính quyền địa phương, ngân hàng trung ương và các tổ chức độclập (nguồn vốn hoạt động do Ngân sách nhà nước quyết định hay trên 50% vốn thuộc sởhữu nhà nước và trong trường hợp vỡ nợ nhà nước phải trả nợ thay)

Kamalesh Sharma và các cộng sự (2013) đã ngụ ý rằng: Tổng nợ - thường được

gọi là "tổng nợ" hoặc "tổng nợ phải trả" - bao gồm tất cả các khoản nợ phải trả là cáccông cụ nợ Một công cụ nợ được định nghĩa là một yêu cầu về tài chính đòi hỏi người trả

nợ phải trả tiền lãi và / hoặc nợ gốc cho người cho vay vào ngày, hoặc ngày, trong tươnglai Các công cụ công cụ nợ phổ biến hiện nay bao gồm: Các quyền rút vốn đặc biệt; tiền

tệ và tiền gửi; chứng khoán nợ; vay; các chương trình bảo hiểm, hưu trí, và đảm bảo tiêuchuẩn; cuối cùng là các khoản phải trả khác

Từ danh sách trên cho thấy tất cả các khoản nợ phải trả trong bảng cân đối tàichính của GFSM (GFSM) được coi là nợ, ngoại trừ nợ phải trả dưới hình thức vốn cổphần, cổ phiếu quỹ đầu tư, các công cụ tài chính phái sinh và các lựa chọn cổ phần củanhân viên

Trong nghiên cứu của “Alfredo Schclarek (2004), ông có đề cập nợ bên ngoài của

chính phủ bao gồm: Nợ công đã được công bố và công khai bao gồm nghĩa vụ dài hạn từbên ngoài của các khách nợ công, bao gồm chính phủ quốc gia, các chi nhánh chính trị(hoặc cơ quan của một trong hai), và các cơ quan công quyền tự trị và các nghĩa vụ bênngoài của các khách hàng tư nhân được bảo đảm hoàn trả bởi một thực thể công.Nợ chínhphủ thường được phân thành: Nợ trong nước (các khoản vay từ người cho vay trongnước) và nợ nước ngoài (các khoản vay từ người cho vay ngoài nước) Việc đi vay củachính phủ có thể được thực hiện thông qua phát hành trái phiếu chính phủ để vay từ các tổ

Trang 17

6chức, cá nhân Ngoài ra, chính phủ có thể vay nợ từ các ngân hàng thương mại, các thểchế tài chính quốc tế như IMF, WDB,…

Mỗi tài liệu nghiên cứu có nhận định riêng về nợ công và xem xét theo nhiều hướngkhác nhau Với đề tài nghiên cứu nợ công và tăng trưởng kinh tế, bài nghiên cứu xem xét

nợ công theo hướng tỷ lệ nợ công trên GDP tức là tổng các khoản nợ trong và ngoài nướccủa chính phủ trên GDP

2.2 Thực trạng nợ công một số nước có nền kinh tế mới nổi và các nước

đang phát triển:

Thực trạng sơ bộ nợ công trên GDP thế giới

(Nguồn: Historical Public debt (HPDO)(30/11/2016))

Hình 2.1Tỷ lệ nợ công trên GDP của thế giới đến 30/11/2016

Trang 18

Tỷ lệ nợ công trên GDP ở các nước trên thế giới phân bổ đều từ nhỏ hơn 19.23 đếnlớn hơn 81.38 Chỉ có một vài nước có tỷ lệ này cao hơn 81.38 như Mỹ,…; còn đa sốcác nước có tỷ lệ thấp hơn 81.38

Thực trạng nợ công trên GDP một số nước có nền kinh tế mới nổi và các nước

đang phát triển điển hình:

(Nguồn: Tác giả tính toán dữ liệu thu thập từ IMF)

Hình 2.2 Tỷ lệ nợ công/GDP tại Mỹ Latinh năm 2010-2015

Trang 19

(Nguồn: Tác giả tính toán dữ liệu thu thập từ IMF)

Hình 2.3 Tốc độ tăng trưởng GDP Mỹ Latinh năm 2010-2016

Tỷ lệ nợ công trên GDP các nước tại Mỹ Latinh từ năm 2010-2015 biến động nhẹnhưng khác biệt nhau rất lớn biến động trong khoản từ 8.6 đến 73.7 Tỷ lệ này tại Chile ởmức dao động khoản 10 thấp hơn nhiều so với Brazil luôn trên mức 60% và đều có xuhướng tăng dần

Tương ứng từ năm 2010-2015, tốc độ tăng trưởng GDP các nước gần như giảm liêntục.Tại Argentina năm 2010 là cao nhất và thấp nhất là Brazil năm 2015 Nước Peru có tỷ

lệ nợ công trên GDP tương đối ổn định luôn dao động ở mức 20% thì tốc độ tăng trưởngkinh tế cũng khá ổn định giảm nhẹ năm 2014 nhưng tăng lại năm 2016

Tỷ lệ nợ công trên GDP tại Brazil ở các năm luôn cao nhất và cao nhất năm 2015 ởmức 73.7% nhưng tốc độ tăng trưởng GDP chỉ cao ở mức 7% năm 2010 sau đó giảmmạnh, giảm mạnh nhất cũng tại năm 2015 (-3.8)% và cao hơn một số nước trong hình 2.3.Theo như hình 2.2 và 2.3 có điều dễ dành nhận thấy là nợ công trên GDP tại Brazil tăngmạnh từ 2010 đến 2015 và có tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm mạnh năm 2015 Một điềuđáng quan tâm là năm 2013 nợ công giảm thấp nhất trong 5 năm thì có tốc độ tăng trưởngkinh tế tăng nhẹ trước khi giảm mạnh

Trang 20

Hình 2.5 Tốc độ tăng trưởng GDP Châu Á năm 2010-2016

Trang 21

- Tỷ lệ nợ công trên GDP tại các nước mới nổi Châu Á tương đối cao hầu hết đềutrên mức 40, ngoại trừ Indonesia Indonesia có tỷ lệ này thấp nhất luôn dưới mức 8.45 vàonăm 2010; còn India, Jordan là 3 nước có tỷ lệ nợ công trên GDP cao trên mức 60 và có

xu hướng tăng liên tục qua các năm từ 2010-2015 Tương ứng các năm 2010-2016 tốc độtăng trưởng kinh tế biến động liên tục Bên cạnh đó nước India có tốc độ tăng trưởng kinhtếkhá cao luôn trên mức 5% so với các nước mới nổi trong khu vực và đỉnh điểm là năm

2010 mức 10.2

- Điều đáng quan tâm là Jordan có tỷ lệ nợ công trên GDP cao nhất ở các nước mớinổi Châu Á và tăng liên tục từ mức 67 lên 93 trong 5 năm nhưng lại có tốc độ tăng trưởngGDP biến động liên tục và dạo động ở mức thấp là khoản 2%

(Nguồn: Tác giả tính toán dữ liệu thu thập từ IMF)

Hình 2.6Tỷ lệ nợ công/GDP tại Châu Phi năm 2010-2015

Trang 22

6 5 4 3 2 1 0

Hình 2.7 Tốc độ tăng trưởng GDP Châu Phi năm 2010-2016

- Luận văn nghiên cứu các nước mổi nổi tại Châu Phi có 2 nước là Egypt và SouthAfrica Nhìn vào hình 1.6 và hình 1.7 thấy được tỷ lệ nợ công trên GDP tại 2 nước này tăngliên tục từ 2010- 2015 nhưng tốc độ tăng trưởng GDP lại thay đổi liên tục cùng cao ở năm

2010 sau đó giảm dần vào năm 2012-2013 Các năm tiếp theo tốc độ tăng trưởng GDP củaEgyp tăng lại trong khi của South Africa thì giảm mạnh đến năm 2016 dưới 1%

Trang 23

90.00 80.00 70.00 60.00 50.00 40.00 30.00 20.00 10.00 0.00

(Nguồn: Tác giả tính toán dữ liệu thu thập từ IMF)

Hình 2.8Tỷ lệ nợ công/GDP tại Châu Âu năm 2010-2015

10 8 6 4 2

0

2010

-2 -4

(Nguồn: Tác giả tính toán dữ liệu thu thập từ IMF)

Hình 2.9 Tốc độ tăng trưởng GDP Châu Âu năm 2010-2016

Trang 24

Từ những đồ thị và đánh giá trên ta thấy mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh

tế không chỉ có một xu hướng rõ ràng là thuận chiều hay ngược chiều

2.3.

Tổng quan lý thuyết về sự tác động của nợ công đến nền kinh tế:

2.3.1 Tác động kích cầu của nợ công theo học thuyết Keynes.

Quan điểm truyền thống, đại diện là Keynes cho rằng: Khi chính phủ vay nợ để bùđắp cho thâm hụt ngân sách do cắt giảm các nguồn thu từ thuế trong khi mức chi tiêucông không thay đổi sẽ tác động đến hành vi tiêu dùng của người dân Cụ thể là làm mứctiêu dùng tăng, từ đó làm tăng tổng cầu về hàng hóa và dịch vụ, tăng sản lượng, việc làmtrong ngắn hạn Hay nói cách khác, nợ công sẽ không gây ra thiệt hại nào nếu chính phủvay mượng từ thị trường trong nước, khi ấy, các khoản thâm hụt ngân sách sẽ được phân

bổ lại cho nền kinh tế dưới nhiều kênh đầu tư khác nhau Tuy nhiên, về dài hạn lại làmcho tiết kiệm quốc gia (national saving) giảm và kèm theođó là những hệ lụy khác

2.3.2 Hiệu ứng phi Keynes (Non-Keynesian Effects)

Lý thuyết về những ảnh hưởng phi Keynes là một lý thuyết khác ủng hộ tác động

âm của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế Hiệu ứng phi Keynes liên quan đến hiệntượng nhu cầu tiêu dùng tăng lên do sự thắt chặt tài chính (nhu cầu tiêu dùng giảm do kếtquả của việc mở rộng tài chính) Về cơ chế tác động phi Keynes, Perotti (1999) diễn giải

lý thuyết tương đối dễ hiểu Ở một quốc gia có vị thế tài chính vững chắc, việc mở rộngtài chính không gây ảnh hưởng tiêu cực đến tiêu dùng, nhưng hiệu quả Keynes (ảnhhưởng của việc mở rộng tài chính đến nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng, thông qua các hệ

số nhân) chiếm ưu thế

Tuy nhiên, ở một quốc gia có vị thế tài chính kém, việc mở rộng tài chính dẫn đếnviệc người dân mong đợi tăng thuế Nếu giả định rằng tăng thuế trong tương lai sẽ bị bóp

Trang 25

14méo, người dân sẽ mong muốn mất đi sự giàu có (nhiều hơn họ sẽ mất vì ảnh hưởng củaviệc tăng thuế một mình) trong tương lai vì nền kinh tế sẽ trở nên kém hiệu quả hơn vàsản xuất sẽ giảm do gánh nặng thuế cao hơn Để chuẩn bị cho sự mất mát trong tương lai,người dân sẽ tiết kiệm được nhiều hơn Do đó, mức tiêu thụ hiện tại của họ giảm Nóicách khác, các tác động phi Keynes phát sinh: sự tăng trưởng về tài chính hiện tại (tăngtrưởng nợ công với sự gia tăng chi tiêu hoặc giảm thuế) dẫn đến các hộ gia đình và cáccông ty mong đợi sự suy giảm của các điều kiện kinh tế do tăng thuế trong tương lai, dẫnđến giảm nhu cầu tiêu dùnghiện tại.

Các tác động phi Keynes không quan sát được trong khi số nợ công là nhỏ, nhưngchúng được giả định phát sinh tăng lên khi số tiền tăng lên tích lũy Tuy nhiên, lý thuyết

về những ảnh hưởng phi Keynesian cho thấy việc mở rộng ngân sách làm giảm nhu cầutiêu dùng nhưng không nhất thiết là nguyên nhân của sự suy giảm tăng trưởng kinh tế.Thay vào đó, vì nó làm giảm tiêu dùng và tăng tiết kiệm, mở rộng tài chính được cho là sẽdẫn đến sự gia tăng vốn tích lũy và tăng tỷ lệ tăng trưởng kinh tế (trừ những vấn đề khácnhư giá cứng) theo lý thuyết các hiệu ứng phi Keynes Hơn nữa, lý thuyết về hiệu ứng phiKeynes giả định rằng sự gia tăng tài chính gây ra sự giảm sút về nhu cầu ngắn hạn nhưngkhông phải là sự suy giảm dài hạn của tăng trưởng kinh tế

2.3.3 Hiệu ứng lấn át (Crowding-out)

Hiệu ứng lấn át ủng hộ giả thuyết cho rằng sự gia tăng nợ công sẽ làm suy giảm tăngtrưởng kinh tế Khi chính phủ tăng cường vay nợ, nền kinh tế sẽ phải đối mặt với tìnhtrạng thiếu nguồn lực, lãi suất tăng cao xuất phát từ nhu cầu vốn của khu vực công, ngăncản đầu tư của khu vực tư nhân Nếu như hiệu ứng lấn át phản ứng mạnh mẽ, tích lũy vốn

tư nhân sẽ không đủ, dẫn đến tình trạng trì trệ kinh tế Do sự tăng lên của nợ công có thểđược xem như là một tham số của chính sách tài khóa nới lỏng, lập luận này có vẻ thuyếtphục (Keiichiro Kobayashi, 2015)

2.3.4 Lý thuyết cân bằng theo học thuyết của David Ricardo

Quan điểm của David Ricardo, một nhà kinh tế người Anh (1772-1832) lại cho rằngmức thuế cắt giảm được bù đắp bằng nợ chính phủ sẽ không có tác động đến tiêu dùngnhư quan điểm về nợ truyền thống, kế cả trong ngắn hạn Ngược lại, nó sẽ làm các khoản

Trang 26

15tiết kiệm tư nhân tăng lên bởi người dân đang chuẩn bị cho mức thuế cao sẽ đến trongtương lai để chi trả lãi và gốc cho các khoản nợ hiện tại Trong thực tế, hai quan điểmluôn tồn tại song hành.Vì vậy, để đưa ra nhận định quan điểm nào phù hợp với từng thờiđiểm của quốc gia còn phải phụ thuộc vào nhân tố quan trọng, đó là hành vi của ngườitiêu dùng.

Xét về mặt tích cực, Chính phủ các quốc gia có thể sử dụng nợ công như là mộtcông cụ để tài trợ vốn, đáp ứng nhu cầu đầu tư cho các dự án, công trình trọng điểm quốcgia, khuyến khích phát triển sản xuất, kích thích tăng trưởng kinh tế Giải pháp tăng nợcông để bù đắp thâm hụt ngân sách do cắt giảm thuế có thể sẽ góp phần kích thích tiêudùng, tăng sản lượng, việc làm, tăng tổng sản phẩm quốc dân trong ngắn hạn

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, trong dài hạn, một khoản nợ chính phủ lớn cũng lànguyên nhân khiến cho lãi suất tăng, đầu tư giảm, tiết kiệm giảm và khuyến khích luồngvốn từ nước ngoài chảy vào, từ đó làm cho sự tăng trưởng sản lượng tiềm năng quốc giachậm lại Nợ công tăng cao, vượt quá giới hạn an toàn sẽ khiến cho nền kinh tế dễ bị tổnthương và chịu nhiều sức ép từ bên trong lẫn bên ngoài quốc gia

Bản chất của cân bằng với Ricardian là "nợ công tối ưu" chỉ là một khái niệm có ýnghĩa khi khả năng tài chính của chính phủ bị hạn chế Tác động của các hạn chế về tàichính đối với vay mượn công tối ưu là đặc biệt quan trọng đối với các nước đang pháttriển, nơi có sự cá thể liên quan đến thu thuế lớn hơn các nước công nghiệp phát triển

2.3.5 Lý thuyết về tác hại của tích lũy nợ công dài hạn

Theo quan điểm của Elmendorf và Mankiw (1999),trong sản lượng ngắn hạn là doxác định nhu cầu và thâm hụt ngân sách (hoặc nợ công cao hơn) có ảnh hưởng tích cựcđến thu nhập sẵn có, tổng cầu và tổng sản lượng Hiệu ứng tích cực ngắn hạn này của cáckhoản thâm hụt ngân sách (và nợ cao hơn) có thể sẽ lớn khi sản lượng tiềm năng TheoElmendorf và Mankiw (1999), mọi thứ khác nhau nên xét về dài hạn Sự tích lũy nợ côngtrong dài hạn sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng và lãi suất dài hạn

Nếu cân bằng Ricardian không được duy trì, sự giảm tiết kiệm công do thâm hụtngân sách cao hơn sẽ không đủ bù đắp hoàn toàn bằng việc tăng tiết kiệm cá nhân Kết

Trang 27

16quả là, tiết kiệm quốc gia sẽ giảm, dẫn đến giảm tổng đầu tư, cả trong và ngoài nước Đầu

tư thấp sẽ có tác động tiêu cực đến GDP, vì nó sẽ dẫn đến cổ phần vốn nhỏ hơn, lãi suấtcao hơn, năng suất lao động và tiền lương thấp hơn Tuy nhiên, đầu tư nước ngoài thấphơn (hoặc dòng vốn đầu tư nước ngoài cao hơn) sẽ có tác động tiêu cực đến thu nhập từvốn nước ngoài và do đó sẽ làm giảm GNP trong tương lai của đất nước Tác động tiêucực của việc tăng nợ công đối với GDP trong tương lai (hay GNP) trong tương lai có thểđược khuếch đại bởi sự có mặt của thuế bóp méo

Theo tính toán của Elmendorf và Mankiw (1999), mỗi đô la thêm nợ của chính phủlàm giảm tổng sản lượng của nhà nước ổn định khoảng 10 cent (9 cent do phần vốn thấphơn và một xu để biến dạng thuế trong tương lai)

Nếu chúng ta giả định tăng trưởng GDP thực tế hàng năm là 3% và tốc độ hội tụ là2%, chúng tôi thấy rằng sự thay đổi sản lượng trạng thái ổn định này có một hiệu quả tăngtrưởng khá nhỏ Cụ thể, các tính toán của tác giả cho thấy tăng 100% GDP của GDP sẽlàm giảm tăng trưởng GDP hàng năm khoảng 20 điểm cơ bản trong hai mươi năm đầu

Tác động tiêu cực của nợ công có thể lớn hơn nhiều, nếu nợ công cao làm tăng tínhkhông ổn định hoặc dẫn tới những kỳ vọng về việc tịch thu trong tương lai, có thể thôngqua lạm phát và hạn chế tài chính Trong trường hợp này nợ cao hơn có thể có tác độngtiêu cực kể cả trong ngắn hạn

Sự thảo thuận thông thường giữa những ảnh hưởng ngắn hạn và dài hạn của nợkhông tính đến thực tế là những cuộc suy thoái kéo dài có thể làm giảm sản lượng tiềmnăng trong tương lai (vì họ làm tăng số lượng công nhân phản đối, bị mất kỹ năng và cóảnh hưởng tiêu cực đến vốn và đầu tư của tổ chức vào các hoạt động mới)

Tại thời điểm hiện nay, khi nền kinh tế toàn cầu đang dần thoát khỏi khủng hoảng,bắt đầu có dấu hiệu phục hồi do kết quả của các gói kíchthích kinh tế mà chính phủ cácnước đã chi ra trong những năm trước đây, thì việc cắt giảm chi tiêu,tăng thuế sẽ làmgiảm đầu tư, kìm hãm sự phục hồi của nền kinh tế, làm chậm tốc độ tăng trưởng, thậm chí

có thể đẩy nền kinh tế vào "khủng hoảng kép" Nghiêm trọng hơn, việc đưa ra các góikích thích kinh tế chính là một trong những nguyên nhân làm tăng nợ công của các chínhphủ Điều đặt ra cho các chính phủ là phải giải quyết được vấn đề thâm hụt ngân sách

Trang 28

17nhưng không làm nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng 1 lần nữa, trong khi các biệnpháp để giải quyết hai vấn đề này lại có tác động không thuận chiều.

2.4 Tổng quan các nghiên cứu trước:

Các kết quả nghiên cứu của nhiều bài nghiên cứu trước có nhiều quan điểm tráichiều Bài luận văn tổng hợp có ba quan điểm lớn về mối quan hệ giữa nợ công và tăngtrưởng kinh tế

Quan điểm đầu tiên, nhiều nghiên cứu trước đây ủng hộ mối quan hệ tuyến tính giữa

nợ công và tăng trưởng kinh tế

Một nghiên cứu về kinh tế lượng do Abbas và Christensen (2005) tiến hành nhằmkiểm định mức nợ trong nước tối ưu ở các quốc gia có thu nhập thấp (bao gồm 40 quốcgia vùng Sahara châu Phi) và các thị trường mới nổi giữa năm 1975 và năm 2004 và pháthiện ra rằng mức nợ tương đối của nợ trong nước như một tỷ lệ phần trăm của GDP cónhững tác động tích cực đáng kể lên tăng trưởng kinh tế

Đồng kết quả với Abbas và Christensen (2005), Muhdi và Sasaki (2009) đã kiểm tracác tác động kinh tế vĩ mô của nợ nước ngoài và nợ trong nước bằng cách sử dụngphương pháp OLS đo lường tác động tuyến tính trong khoảng thời gian từ 1991 đến 2006.Nghiên cứu cho thấy tác động tích cực của xu hướng gia tăng nợ nước ngoài đối với đầu

tư và tăng trưởng kinh tế

Một số tác giả cho rằng có một số kênh thông qua đó nợ cao có thể ảnh hưởng bấtlợi đến tăng trưởng dài và trung hạn được quan tâm trong các tài liệu: nợ công cao có thểảnh hưởng xấu đến sự tích tụ vốn và tăng trưởng nhờ lãi suất dài hạn cao hơn (Gale vàOrzag, 2003; Baldacci và Kumar, 2010), thuế biến dạng trong tương lai cao hơn (Barro,1979; Dotsey, 1994), lạm phát (Sargent và Wallace 1981; Barro 1995;Cochrane 2010), và

sự không chắc chắn về triển vọng và chính sách Trong trường hợp đỉnh điểm của khủnghoảng nợ, bằng cách gây ra một cuộc khủng hoảng ngân hàng hoặc tiền tệ, những ảnhhưởng này có thể được phóng đại (Burnside và cộng sự, 2001; Hemmingvà cộng sự,2003) Nợ cao cũng có thể hạn chế phạm vi cho các chính sách tài khoá nghịch chu kỳ, có

Trang 29

18thể dẫn đến sự biến động cao hơn và tăng trưởng thấp hơn nữa (xem Aghion và Kharroubi(2007) về tác động của chính sách tài khoá nghịch chu kỳ đối với tăng trưởng.

Nợ công có ảnh hưởng quan trọng đối với nền kinh tế cả trong ngắn và dài hạn.Quan điểm thông thường là nợ (phản ánh thâm hụt tài khóa) có thể kích thích tổng cầu vàsản lượng trong ngắn hạn (giả định không có tác động của Keynes), nhưng sẽ làm giảmvốn và giảm sản lượng trong thời gian dài (xem Elmendorf và Mankiw, 1999 khảo sát tàiliệu về nợ công) Một lập luận được đề cập bởi Modigliani (1961), cải tiến các khoảnđóng góp của Buchanan (1958) vàMeade (1958), lập luận rằng nợ quốc gia là gánh nặngcho các thế hệ tiếp theo, dưới hình thức giảm lưu lượng thu nhập từ nguồn vốn tư nhânthấp hơn Ngoài hiệu ứng lấn át trực tiếp, ông cũng chỉ ra tác động đối với lãi suất dàihạn, có thể không ở dạng tuyến tính "nếu hoạt động vay nợ của chính phủ có tỷ lệ lớn, nó

có thể làm tăng đáng kể lãi suất [dài hạn] gây áp lực lên đầu tư tư nhân- thành phần làmtăng sản phẩm quốc gia Modigliani cho rằng tình hình gánh nặng nợ nần của quốc gia cóthể được bù lại một phần hay toàn bộ là khi nợ tiết kiệm chi tiêu của chính phủ có thểđóng góp vào thu nhập thực của các thế hệ tương lai

Để đánh giá tác động của nợ chính phủ về tăng trưởng kinh tế cho 9 quốc gia châu

Mỹ Latinh trong khoảng thời gian 12 năm (1974-1986), Geiger (1990) đã sử dụng các môhình phân phối trễ và tìm thấy một mối quan hệ ngược chiều đáng kể giữa gánh nặng nợnần và tăng trưởng kinh tế

Một trong những nghiên cứu được ảnh hưởng lớn đến bài luận văn là của tác giảSchclarek (2004) Ông đã tiến hành nghiên cứu dựa trên 59 nước đang phát triển và 24nền kinh tế công nghiệp với số liệu trung bình trong 7 giai đoạn 5 năm từ năm 1970 đếnnăm 2002 để xác định ảnh hưởng của nợ đối với tăng trưởng kinh tế; đặc biệt tác giảnghiên cứu với việc thay nhiều biến phụ thuộc với mức ngưỡng nợ tương ứng khác nhautrong mô hình phi tuyến tính Về phương pháp luận, bài báo sử dụng ước tính GMM đượcphát triển bởi Arellano và Bover (1995) và Blundell và Bond (1998) Hơn nữa, tác giả sửdụng các ước lượng vững một giai đoạn của sai số chuẩn, phù hợp với sự có mặt của bất

kỳ mô hình có phương sai thay đổi và tự tương quan Đối với các nước đang phát triển,tác giả thấy rằng tổng mức nợ nước ngoài thấp hơn gắn liền với tốc độ tăng trưởng cao

Trang 30

19hơn, và mối quan hệ tiêu cực này là do tỷ lệ nợ nước ngoài của chính phủ, chứ không phải

do nợ nước ngoài của tư nhân Về các kênh thông qua đó làm tăng nợ ảnh hưởng đến tăngtrưởng, chúng tôi thấy rằng điều này chủ yếu là do sự tăng trưởng tích lũy vốn Chỉ cómột số bằng chứng hạn chế về mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và tăng năng suất tổngthể Ngoài ra, đối với tỷ lệ tiết kiệm cá nhân có kết quả hỗn hợp Chúng tôi không tìmthấy bất kỳ sự hỗ trợ nào cho mối quan hệ dạng chữ U ngược giữa nợ nước ngoài và tăngtrưởng Đối với các nước công nghiệp, chúng ta không thấy có mối quan hệ nào đáng kểgiữa tổng nợ chính phủ và tăng trưởng kinh tế Khi tác giả nghiên cứu về mối quan hệ phituyến tính giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế, kết quả cho ra có sự tương quan tuyếntính

Một trong những nghiên cứu cùng đề tài và cho ra kết quả tương quan âm giữa nợcông và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam là tiến sĩ Nguyễn Văn Phúc (2015), ông sử dụnghàm hồi quy tăng trưởng để ước lượng tác động nợ công lên tăng trưởng kinh tế ở cácnước đang phát triển Tác giả tiến hành nghiên cứu sau khi nhận thấy rằng cuộc khủnghoảng nợ công của một số nước Châu Âu, bắt đầu từ Hy Lạp gây ảnh hưởng lớn đến sự

ổn định kinh tế ở các nước Châu Âu cũng như toàn thế giới Sau khi tác giả bỏ qua cácảnh hưởng của các yếu tố như: thu nhập bình quân đầu người ban đầu, tỷ lệ đầu tư, lạmphát, dân số,…bài nghiên cứu chứng minh rằng khi có sự gia tăng nợ công sẽ gây ra tácđộng ngược chiều lên tăng trưởng kinh tế

Nghiên cứu vào năm 2012, Hassan và Akhter đã phân tích tác động của gánh nặng

nợ công đối với tăng trưởng kinh tế tại Bangladesh.Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từnăm 1980 đến năm 2011 và các tác giả cũng đã sử dụng các kỹ thuật kinh tế lượng khácnhau như kiểm định ADF (Augmented Dickey-Fuller), kết hợp kiểm định Johansen, môhình ECM và mô hình VECM (Vector Error Correction Model) Kết quả thực nghiệm chothấy không có mối quan hệ tiêu cực đáng kể giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế.Nhưng tác giả cũng nhận thấy nợ trong nước có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế

Cùng nghiên cứu tại Bangladesh về tăng trưởng kinh tế và nợ công nhưng Md.Saifuddin (2016) đi theo một hướng khác và cho ra kết quả đáng quan tâm Với mục đích

Trang 31

20xem xét mức độ nợ công ở Bangladesh có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, tác giả

sử dụng hai mô hình mô hình đầu tư và mô hình tăng trưởng nghiên cứu với dữ liệu từnăm 1974 đến năm 2014 và các biến như: tổng đầu tư, tổng nợ công, GDP, độ mở kinh tế,lãi suất thực, cung tiền, dòng kiều hối, tổng nợ dịch vụ Một là mô hình đầu tư để kiểm tratác động gián tiếp tiềm ẩn của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế thông qua tác động của

nó đối với đầu tư Hai mô hình tăng trưởng mối quan hệ trực tiếp giữa nợ công và tăngtrưởng kinh tế đã được xem xét Một hồi quy TSLS được chạy để ước tính các mô hình đó

và cho ra được kết quả là nợ công có liên quan đến cả đầu tư và tăng trưởng kinh tế Cáckết quả thực nghiệm cũng cho thấy nợ công có ảnh hưởng gián tiếp đến tăng trưởng thôngqua ảnh hưởng tích cực đến đầu tư

Một trong những đánh giá cụ thể và thực tế hơn về ảnh hưởng của nợ công đếntăng trưởng kinh tế của GS.TS Ngô Thế Chi (2014) cho thấy: Khi nợ công quá lớn, Chínhphủ bắt đầu thắt chặt việc chi tiêu, thực hiện chính sách "thắt lưng buộc bụng" để giảmthâm hụt ngân sách Nếu chính phủ thực hiện chính sách này có 2 mặt tích cực và tiêucực Về mặt tích cực, đây là điều kiện phải đáp ứng để được nhận sự hỗ trợ cần thiết từcác tổ chức tín dụng quốc tế Tuy nhiên chính sách này cũng gây ra những hậu quả trựctiếp đến công chúng là chính sách cắt giảm phúc lợi, cắt giảm chi tiêu của chính phủ Ví

dụ điển hình, để được nhận gói cứu trợ nhằm giải quyết khủng hoảng nợ, Chính phủ HyLạp đã phải quyết định tăng nhiều loại thuế, từ thuế giá trị gia tăng đến thuế thu nhập,thuế bất động sản; và đánh thuế vào nhiều sản phẩm như rượu, thuốc lá , đồng thời chấpnhận áp dụng các biện pháp cắt giảm chi tiêu mạnh tay gây ra nhiều hậu quả đến đời sốngnhân dân Vì vậy, các cuộc tổng đình công đã diễn ra, hàng chục ngàn người đã tham giabiểu tình trên khắp đất nước Hy Lạp, nhất là tại thủ đô A-ten Một trường hợp khác năm

2001, Argentina đã phải đối mặt với tình trạng rối loạn nghiêm trọng do các làn sóng biểutình khắp nơi phản ứng các chính sách này của nhà nước Ông Féc-nan-đô đơ- tổng thốngcủa Argentina la Rua đã phải từ chức, và 4 ngày sau đó, người kế nhiệm là A-đôn-phơ Rô-ri-get Saa phải tuyên bố tình trạng vỡ nợ quốc gia, với khoản nợ 90 tỉ USD- mức nợ lớnnhất trong lịch sử đất nước này Đồng thời, khi nợ công liên tục tăng cao, nền kinh tế bị hạbậc tín nhiệm theo báo cáo của các tổ chức chuyên đi đánh giá tín nhiệm các công

Trang 32

ty và quốc gia khác, niềm tin của người dân và giới đầu tư bị lung lay, khi đó nền kinh tế

dễ trở thành mục tiêu tấn công của các thế lực đầu cơ quốc tế Thí dụ, đối với Hy Lạp, khi

tổ chức xếp hạng tín dụng Stard & Poor's hạ bậc tín nhiệm đối với trái phiếu chính phủcủa A-ten, các quỹ đầu tư lớn lập tức bán ra loại trái phiếu này, đồng thời từ chối mua vàotrong các đợt phát hành tiếp theo Nếu chính phủ muốn huy động tiền từ thị trường tàichính sẽ phải chấp nhận chi phí vốn cao hơn và sau đó, rơi vào vòng xoáy: tiếp tục bị tụtbậc tín nhiệm Việc đưa ra xếp hạng tín nhiệm trong thời điểm nhạy cảm, dễ tổn thươngcủa nền kinh tế có nguy cơ làm cho cuộc khủng hoảng thêm trầm trọng, đẩy nền kinh tếlún sâu thêm vào khó khăn, bế tắc

Quan điểm thứ hai, tồn tại mối quan hệ phi tuyến tính giữa nợ công và tăng trưởng

kinh tế

Công trình nghiên cứu của Manmohan S Kumar và Jaejoon Woo (2010) cho ra kếtquả theo quan điểm thứ hai, tác giả nghiên cứu tác động của nợ công cao đối với tăngtrưởng kinh tế dài hạn thông qua dữ liệu bảng của các nước có nền kinh tế phát triển vàcác nước kinh tế mới nổi lên trong gần bốn thập kỉ, có tính đến một loạt các yếu tố quyếtđịnh sự tăng trưởng cũng như các vấn đề ước lượng khác nhau bao gồm tính nhân quả haichiều và tính nội sinh.Dữ liệu cho các biến chính như GDP, dân số, đầu tư, và kích thướccủa chính phủ chủ yếu lấy từ Bảng Penn World Table (PWT) phiên bản 6.3 của Heston et

al (2009); dữ liệu tài chính bao gồm nợ chính phủ chủ yếu từ cơ sở dữ liệu kinh tế thếgiới của IMF và các biến giải thích khác là từ Chỉ số Phát triển Thế giới của Ngân hàngThế giới (2009) Sự sẵn có của dữ liệu về nợ công và các biến số khác bao gồm trong hồiquy đã đưa ra quy mô mẫu: phân tích chính dựa trên một bảng gồm 38 nền kinh tế tiêntiến và nền kinh tế mới nổi với dân số trên 5 triệu người trong giai đoạn 1970-2007 Tácgiả sử dụng nhiều mô hình nghiên cứu như pooled OLS, BE, FE, vàS-GMM và so sánh

để đưa ra kết luận phù hợp nhất với bài về ảnh hưởng phi tuyến tính giữa nợ côngvà tăngtrưởng kinh tế; sự khác biệt giữa các nền kinh tế thị trường tiên tiến và nền kinh tế thịtrường mới nổi được kiểm tra Kết quả thực nghiệm gợi ý mối quan hệ nghịch giữa nợban đầu và tăng trưởng tiếp theo, kiểm soát các yếu tố quyết định tăng trưởng khác: trungbình, tỷ lệ nợ / GDP ban đầu tăng 10 điểm phần trăm liên quan đến sự suy giảm tốc độ

Trang 33

22tăng GDP thực tế bình quân hàng năm khoảng 0,2 điểm phần trăm mỗi năm, với tác độngnhỏ hơn ở các nền kinh tế tiên tiến Có một số bằng chứng về sự phi tuyến với mức nợban đầu cao hơn có ảnh hưởng tiêu cực lớn hơn đáng kể đối với tăng trưởng tiếp theo.Phân tích các thành phần của sự tăng trưởng cho thấy tác động tiêu cực phản ánh phần lớn

sự suy giảm trong tăng năng suất lao động chủ yếu do đầu tư giảm và sự tăng trưởngchậm của vốn cổ phần

Năm 2011, Fabrizio Balassone, Maura Francese và Angelo Pace đi sâu phân tíchmối quan hệ giữa tỷ lệ nợ giữa các chính phủ với GDP và mức tăng trưởng thu nhập bìnhquân đầu người ở Ý trong giai đoạn 1861-2009 với mô hình phân tích hồi quy về chứcnăng sản xuất tiêu chuẩn Kết quả của tác giả ủng hộ giả thuyết về mối liên hệ tiêu cựcgiữa nợ công và tăng trưởng và tác động mạnh mẽ hơn của nợ nước ngoài so với nợ trongnước trước Thế chiến I Ảnh hưởng của nợ công đối với tăng trưởng dường như làm việcchủ yếu thông qua việc giảm đầu tư Những kết quả này giúp giải thích phản ứng khácnhau về tăng trưởng GDP bình quân đầu người đối với tỷ lệ nợ trong giai đoạn 1880-1914(khi mối tương quan âm giữa hai biến cực kỳ mạnh) và 1985-2007 (khi tương quan có vẻ

vỡ dần khi nợ bắt đầu giảm) Phân tích mô tả chính sách tài khóa trong hai giai đoạn nàycho thấy sự khác biệt về thời gian hợp nhất tài khóa cũng như về quy mô và thành phầncủa ngân sách là các yếu tố giải thích được thêm vào

Vào năm 2012, Cristina Checherita-Westphal và Philipp Rother có nghiên cứu vềảnh hưởng của nợ công cao đến tăng trưởng kinh tế ở 12 nước Châu Âu: namely, Austria,Belgium, Finl và, France, Germany, Greece, Irel và, Italy, Luxembourg, Netherl vàs,Portugal, và Spain Với dữ liệu cơ bản được lấy từ cơ sở dữ liệu AMECO của Uỷ banChâu Âu (2009) chủ yếu là giai đoạn 1970-2008 và sử dụng dữ liệu chéo cũng giúp giảmthiểu vấn đề không đồng nhất, có thể gây ra vấn đề trong các hồi quy tăng trưởng tiêuchuẩn Bài nghiên cứu chỉ ra rằng có tác động phi tuyến tính của nợ lên tăng trưởng vớimột bước ngoặt - vượt quá tỷ lệ nợ của chính phủ so với GDP có ảnh hưởng tiêu cực đếntăng trưởng dài hạn - khoảng 90-100% GDP Khoảng tin cậy cho điểm chuyển đổi nợ chothấy hiệu quả tăng trưởng âm của nợ cao có thể bắt đầu từ mức khoảng 70-80% GDP Các

Trang 34

23kênh thông qua đó nợ chính phủ được tìm thấy có một tác động phi tuyến tính đến tốc độtăng trưởng kinh tế là tiết kiệm cá nhân, đầu tư công và năng suất tổng số các yếu tố.Năm 2013, Thomas Herndon, Michael Ash và Robert Pollin nghiên cứu tương tựnhư cách làm của Reinhart và Rogoff (2010A và 2010B) thấy rằng việc loại trừ có chọnlọc các dữ liệu có sẵn và không cân đối các số liệu thống kê đã dẫn đến tính sai lệchnghiêm trọng kết quả là thể hiện không chính xác mối quan hệ giữa nợ công và tăngtrưởng GDP giữa 20 nền kinh tế tiên tiến Tác giả nghiên cứu trong năm 1946-2009, cácquốc gia có tỷ số nợ công / GDP trên 90% trung bình tăng trưởng GDP 2,2% thực tế hàngnăm, không phải -0,1% như được xuất bản Các kết quả đưa ra cho thấy:thứ nhất tốc độtăng trưởng GDP trung bình cho giai đoạn 1946-2009;thứ hai số liệu tăng trưởng trungbình và trung vị của GDP trong giai đoạn 1790-2009 đều bị bóp méo bởi các sai sót vềphương pháp tương tự, mặc dù độ lớn của sự méo mó này là khá nhỏ so với các con sốtrung bình cho năm 1946-2009 Ngược lại với các kết luận của Reinhart và Rogoff, tăngtrưởng GDP trung bình và trung bình khi mức nợ công vượt quá 90% GDP không khácbiệt đáng kể so với tỷ lệ nợ công / GDP của các nước này ở mức thấp hơn Thách thứcgiữa nợ công và tăng trưởng GDP khác nhau đáng kể theo từng giai đoạn và từng quốcgia Đồng thời bằng chứng của các tác giả cũng bác bỏ tuyên bố của RR rằng tỷ lệ nợcông / GDP trên 90% liên tục làm giảm tăng trưởng GDP của một quốc gia.

Một trong những nghiên cứu mới nhất tại Châu Âu của Klaus Masuch, EdmundMoshammer, Beatrice vào năm 2016 về thể chế, nợ công và tăng trưởng ở châu Âu Bàinghiên cứu này chỉ ra rằng sự khác biệt về thể chế giữa các nước ban đầu có thể giải thíchmột mức độ đáng kể hiệu suất GDP tương đối của các nước châu Âu kể từ năm 1995, sau khikiểm soát mức GDP bình quân đầu người ban đầu và nợ chính phủ Nó cho thấy việc nângcao chất lượng các thể chế có thể dẫn đến GDP bình quân đầu người cao hơn đáng kể Nócũng cho thấy rằng mức nợ của chính phủ ban đầu vượt quá ngưỡng (ví dụ 60-70%) cùng vớichất lượng thể chế dưới mức trung bình của EU có xu hướng liên quan đến việc thực hiệntăng trưởng thực sự kém hiệu quả trong giai đoạn này Điều thú vị là hiệu quả bất lợi của mức

nợ cao dường như bị giảm sút bởi sự có mặt của các tổ chức rất vững chắc Điều này có thể là

do các tổ chức tốt giúp giảm bớt vấn đề nợ bằng nhiều cách khác

Ngày đăng: 24/09/2020, 16:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w