Tiểu luận góp phần làm rõ một cách có hệ thống các lý luận về tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong phân phối thu nhập đồng thời đem lại cái nhìn tổng quan về các lý thuyết quan điể
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa, xã hội ngày càng phát triển với tốc độ nhanh, mức sống của con người cũng được nâng cao hơn Sự tăng trưởng và phát triển kinh tế thị trường đi kèm với bất bình đẳng trên nhiều góc độ: vùng miền, giáo dục, thu nhập, giới tính,… và đang trở thành một thách thức trong quá trình phát triển toàn diện và bền vững của mỗi quốc gia
Việt Nam là một nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng và tiến bộ xã hội Trong quá trình thực hiện đổi mới cơ chế kinh tế, thành tựu tăng trưởng kinh tế của Việt Nam là đáng ghi nhận Tuy nhiên một thực trạng đáng lo ngại là khoảng cách thu nhập giữa dân cư ngày càng lớn, phân hóa giàu nghèo ngày càng gay gắt Do đó, việc nghiên cứu lí luận tăng trưởng kinh tế, phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam là hết sức cần thiết, cấp bách và có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn Nhận thức
được tầm quan trọng của vấn đề này, nhóm quyết định chọn đề tài: “Tác động bất bình đẳng trong phân phối thu nhập đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam”
2 Đóng góp mới của đề tài
Tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập là những chủ đề được quan tâm ở Việt Nam hiện nay Nhìn chung, các công trình nghiên cứu chủ yếu mới chỉ bàn riêng hoặc
về tăng trưởng kinh tế hoặc về bất bình đẳng trong phân phối thu nhập Gần đây đã có nghiên cứu về mối quan hệ giữa chúng Tuy nhiên các nghiên chủ yếu là nghiên cứu định tính và các nghiên cứu định lượng chủ yếu tập trung phân tích tác động của tăng trưởng kinh tế tới phân phối thu nhập Việc nghiên cứu về tác động của phân phối thu nhập tới tăng trưởng kinh tế còn ít
Tiểu luận góp phần làm rõ một cách có hệ thống các lý luận về tăng trưởng kinh tế
và bất bình đẳng trong phân phối thu nhập đồng thời đem lại cái nhìn tổng quan về các
lý thuyết quan điểm khoa học thể hiện mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế
Đây là nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng vận dụng các mô hình và phân tích số liệu cụ thể nhằm phản ánh và nhận định chính xác thực trạng, nguyên nhân, và
Trang 2tác động của bất bình đẳng trong phân phối thu nhập với mục tiêu phát triển trong điều kiện thực tế của Việt Nam hiện nay
Bước đầu tiểu luận đề xuất một số giải pháp nhằn hạn chế bất bình đẳng trong thu nhập ở Việt Nam, góp phần thực hiện mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”
3 Cấu trúc bài tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo tiểu luận được kết cấu gồm 4 chương cơ bản sau:
Chương I: Cơ sở lý thuyết
Chương II: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương III: Ước lượng tác động của bất bình đẳng trong thu nhập đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Chương IV: Giải pháp tận dụng tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của bất bình đẳng trong thu nhập đến tăng trường kinh tế Việt Nam
Trang 3CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1 Bất bình đẳng trong thu nhập
1.1 Khái niệm
Khái niệm bất bình đẳng về thu nhập được tiếp cận xuất phát từ khái niệm về bình đẳng trong phân phối thu nhập Bình đẳng trong phân phối thu nhập là việc mọi cá nhân nhận được các khoản thu nhập bằng nhau trong tổng thu nhập xã hội Các nhà kinh tế học gọi trường hợp các cá nhân nhận được các khoản thu nhập bằng nhau trong tổng thu nhập xã hội là “bình đẳng tuyệt đối” Theo đó, bao nhiêu phần trăm trong tổng dân cư sẽ nhận được bấy nhiêu phần trăm trong tổng thu nhập xã hội Như vậy, bất bình đẳng trong phân phối thu nhập là việc các cá nhân nhận được lượng thu nhập khác nhau từ tổng thu nhập xã hội
1.2 Đo lường bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
a) Hệ số giãn cách thu nhập:
Đối với việc phân phối thu nhập theo cá nhân (hộ gia đình), chúng ta chỉ quan tâm đến tổng thu nhập mà cá nhân (hộ gia đình) nhận được, chứ không quan tâm đến việc bằng cách nào mà cá nhân (hộ gia đình) có được thu nhập đó Trong trường hợp này, hai cá nhân A và B có thu nhập như nhau sẽ được xếp trong cùng một nhóm dù họ đảm nhận những công việc hoàn toàn khác nhau
Từ góc độ phân phối thu nhập theo cá nhân, để tính hệ số giãn cách thu nhập, các nhà kinh tế học sử dụng phương pháp ngũ phân vị hoặc thập phân vị Theo phương pháp này, dân cư được sắp xếp thành 5 nhóm hoặc 10 nhóm mà mỗi nhóm nhận được trong tổng thu nhập xã hội hoặc so sánh tỉ trọng thu nhập của nhóm nghèo so với nhóm giàu Cách tính này đơn giản, dễ tính và dễ sử dụng, chỉ tính thu nhập của hai nhóm giàu nhất và nghèo nhất mà không phản ánh được toàn bộ bức tranh về phân phối thu nhập của tất cả dân cư
b) Đường Lorenz:
Một cách phổ biến khác để phân tích số liệu thống kê về thu nhập cá nhân là xây dựng đường Lorenz mang tên nhà kinh tế học người Mỹ Coral Lorenz (1905)
Trang 4Căn cứ vào thu nhập cộng dồn của các nhóm dân cư, ta có thể xây dựng đường Lorenz Đường Lorenz được vẽ trong một hình vuông mà trục hoành biểu thị phần trăm dân số cộng dồn, trục tung biểu diễn phần trăm thu nhập cộng dồn
Đường Lorenz là một công cụ tiện lợi, giúp xem xét mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập thông qua quan sát hình dạng của đường cong Tuy nhiên, công cụ mang tính trực quan này còn quá đơn giản, chưa lượng hóa được mức độ bất bình đẳng
và do đó khó có thể đưa ra các kết luận chính xác trong những trường hợp phức tạp
c) Hệ số GINI:
Hệ số Gini, mang tên nhà thống kê người Ý (Corado Gini), được tính trên cơ sở đường Lorenz
Trong đó: G là hệ số Gini G nằm trong khoảng từ 0 đến 1 G có giá trị càng lớn, mức độ bất bình đẳng càng cao và ngược lại
Diện tích A là diện tích được giới hạn bởi đường Lorenz và đường 45o Diện tích B là phần diện tích còn lại của nửa hình vuông
Hệ số Gini khắc phục được nhược điểm của đường Lorenz là nó lượng hóa được mức độ bất bình đẳng thu nhập và do đó dễ dàng so sánh mức độ bất bình đẳng thu nhập theo thời gian cũng như giữa các khu vực, vùng và quốc gia Tuy nhiên, thước đo này cũng có hạn chế bởi vì Gini có thể giống nhau khi diện tích A như nhau nhưng sự phân bố các nhóm dân cư có thu nhập khác nhau (đường Lorenz có hình dáng khác nhau)
d) Chênh lệch thu nhập theo chức năng:
Phân phối thu nhập theo chức năng là phương thức phân phối thu nhập dựa trên sự đóng góp của các yếu tố sản xuất cơ bản bao gồm: lao động, đất đai và vốn Thu nhập
xã hội được phân bổ tương ứng cho lao động, đất đai và vốn được sử dụng trong quá trình sản xuất dưới dạng tiền lương, địa tô (tiền cho thuê) và lợi nhuận Trong trường hợp này, chúng ta không quan tâm xem mỗi cá nhân có nguồn thu từ những yếu tố sản xuất nào, mà xem xét một cách tổng thể mỗi yếu tố sản xuất nhận được phần thu nhập
Trang 5như thế nào trong tổng thu nhập xã hội Lý thuyết về quy luật cung cầu cho phép xác định đơn giá các yếu tố sản xuất Đơn giá này nhân với tổng lượng yếu tố sản xuất được huy động cho quá trình sản xuất cho chúng ta biết tổng thu nhập xã hội mà yếu tố sản xuất đó nhận được
2 Tăng trưởng kinh tế
2.1 Khái niệm
Tăng trưởng được hiểu thống nhất là sự gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh
tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là 1 năm) Đó có thể hiểu là sự gia tăng tổng quy mô sản lượng hoặc sự gia tăng sản lượng bình quân đầu người Về bản chất, tăng trưởng phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế
2.2 Các chỉ tiêu phản ánh kinh tế
Khi nói tới tăng trưởng kinh tế là nói tới sự thay đổi của thu nhập quốc dân hoặc thu nhập quốc dân trên đầu người Thu nhập quốc dân thường được đo bằng tổng sản phẩm trong nước (GDP) hoặc tổng thu nhập quốc gia (GNI) Tổng sản phẩm trong nước (GDP) là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh giá trị mới của hàng hóa và dịch vụ được tạo ra của toàn bộ nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định Theo Tổng cục Thống kê của Việt Nam, GDP phản ánh toàn bộ kết quả cuối cùng của các hoạt động sản xuất của tất cả các đơn vị thường trú trong nền kinh tế của một nước Tổng thu nhập quốc gia (GNI) là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ kết quả thu nhập lần đầu được tạo ra
từ các yếu tố sở hữu của một quốc gia tham gia vào hoạt động sản xuất trên lãnh thổ quốc gia đó hay ở nước ngoài trong một thời kì nhất định, thường là 1 năm Thu nhập bình quân trên đầu người được tính bằng GDP hoặc GNI chia cho tổng số dân của một quốc gia Sự thay đổi về giá trị tuyệt đối và tốc độ tăng trưởng của các chi tiêu tổng thu nhập quốc dân hoặc thu nhập quốc dân bình quân trên đầu người là những chỉ tiêu thường được sử dụng để phản ánh tăng trưởng và tốc độ tăng trưởng
Gần đây, khi khái niệm tăng trưởng xanh trở nên quan trọng thì chỉ chỉ tiêu để đo lường tăng trưởng xanh cũng bắt đầu được đề xuất sử dụng, trong đó có GDP xanh Ngoài ra còn có một số chỉ tiêu khác như các chỉ số tăng trưởng xanh của
OECD, các chỉ số phát triển bền vững của Eurostat…
Trang 6CHƯƠNG II: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1 Các nghiên cứu liên quan đến tác động của bất bình đẳng trong thu nhập đến tăng trưởng kinh tế trên thế giới
Trên thế giới, các nhà kinh tế đã từ lâu tranh luận về mối liên kết giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, phải đến giữa thập niên 1990, với sự trỗi dậy của kinh tế học tăng trưởng và nguồn số liệu phong phú về các đặc điểm kinh tế, chính trị và xã hội của các quốc gia, nhiều nghiên cứu thực nghiệm về mối liên kết giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế mới được thực hiện một cách có hệ thống Một số các nghiên cứu ban đầu sử dụng số liệu chéo giữa các quốc gia cho thấy các quốc gia có bất bình đẳng thu nhập thấp hơn có tăng trưởng kinh tế cao hơn
1.1 Các nghiên cứu sử dụng số liệu quốc tế chéo và chuỗi thời gian
Những nghiên cứu theo hướng này đã sử dụng số liệu về GDP thực tế bình quân đầu người, các thước đo bất bình đẳng thu nhập, và các biến điều kiện khác để khảo sát mối liên kết giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế
GDP bình quân đầu người ban đầu của các quốc gia cũng được đưa vào với tư cách là biến điều kiện, bởi vì các nước có GDP bình quân đầu người thấp hơn thường tăng trưởng nhanh hơn so với các nước có thu nhập cao Ngoài ra, các biến điều kiện khác như trình độ học vấn, đầu tư vốn vật chất, những thay đổi tỷ giá thương mại, và các biến chính trị – xã hội (chẳng hạn chỉ số tham nhũng hay dân chủ) cũng được coi có tương quan với tăng trưởng kinh tế trong nhiều nghiên cứu khác
a) Các nghiên cứu chỉ ra rằng các quốc gia có mức bất bình đẳng thấp hơn có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn:
*Nghiên cứu của Persson và Tabellini (1994):
Phương pháp nghiên cứu: Họ ước tính các phương trình hồi quy trên hai bộ số liệu – chuỗi số liệu lịch sử từ năm 1830 đến năm 1985 cho 9 quốc gia và chuỗi số liệu sau chiến tranh của 56 quốc gia từ 1960 đến 1985
Kết quả của nghiên cứu: Với các chuỗi lịch sử, hệ số cho tỷ lệ thu nhập của nhóm
20 phần trăm giàu nhất mang giá trị âm và có ý nghĩa thống kê Theo họ, kết quả này hàm ý bất bình đẳng thu nhập làm giảm tốc độ tăng trưởng do làm tăng áp lực phải
Trang 7phân phối lại Tuy nhiên, một trong những biến then chốt trong mô hình kinh tế chính trị của họ là tỷ lệ dân số có quyền bỏ phiếu lại không có tác động đáng kể đến tăng trưởng như mô hình của họ dự đoán Với bộ số liệu sau chiến tranh, hệ số ước lượng cho tỷ lệ thu nhập của nhóm trung lưu (nhóm phần năm thứ ba) mang giá trị dương và
ý nghĩa thống kê trong các nền dân chủ, nhưng không có ý nghĩa thống kê trong quốc gia phi dân chủ Họ giải thích điều này như một bằng chứng bổ sung ủng hộ mô hình của họ, bởi vì một phần thu nhập lớn hơn cho tầng lớp trung lưu có nghĩa làm giảm áp lực tái phân phối trong một nền dân chủ, nhưng có thể ít ảnh hưởng lên chính sách trong chế độ độc tài Nhìn chung, Persson và Tabellini kết luận rằng, “Bất bình đẳng có ảnh hưởng đến tăng trưởng thông qua kênh đầu tư, và hiệu ứng này chỉ hiện diện trong các nền dân chủ”
*Nghiên cứu của Alesina và Rodrik (1994):
Alesina và Rodrik bác bỏ giả thuyết cho rằng mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng là khác nhau giữa các nền dân chủ và phi dân chủ Họ cho rằng mô hình kinh tế chính trị không dự đoán được sự khác biệt mang tính hệ thống giữa các nền dân chủ và phi dân chủ, bởi vì chế độ phi dân chủ cũng chịu những áp lực tương tự như các chính phủ dân chủ nhằm đáp ứng nhu cầu của tầng lớp trung lưu Họ cho rằng sự khác biệt giữa kết quả của họ và kết quả của Persson và Tabellini là do khác biệt trong cách
đo lường bất bình đẳng và định nghĩa được sử dụng để xác định các nước dân chủ
*Nghiên cứu của Perotti (1996):
Phương pháp nghiên cứu: Ông đã xem xét chi tiết mối liên kết giữa bất bình đẳng
và tăng trưởng phụ thuộc ra sao vào chính sách tài khóa, bất ổn xã hội và chính trị, và tính không hoàn hảo của thị trường vốn thông qua ảnh hưởng đến đầu tư cho vốn nhân lực, giáo dục và tỷ lệ sinh
Kết quả nghiên cứu: Kết luận tổng quát của ông là có mối liên kết mạnh giữa bất bình đẳng, bất ổn xã hội và chính trị, và tăng trưởng kinh tế và xã hội công bằng hơn
có tỷ lệ sinh thấp và tỷ lệ đầu tư cao cho giáo dục Cả hai đều được phản ánh trong tỷ
lệ tăng trưởng cao hơn Perotti cũng kết luận rằng dân chủ không ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa tăng trưởng và bất bình đẳng Ông cho rằng ảnh hưởng khác biệt mà Persson và Tabellini phát hiện xuất hầu hết các nền dân chủ là các nước có thu nhập cao và phi dân chủ là nước thu nhập thấp
Trang 8b) Các nghiên cứu có kết quả khác:
*Nghiên cứu của Li và Zhou (1998):
Phương pháp nghiên cứu: Li và Zhou sử dụng số liệu mảng từ 46 quốc gia; đồng thời uớc tính phương trình hồi quy số liệu chéo dựa trên tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm từ năm 1960 đến năm 1990 giữa 34 đến 42 quốc gia
Kết quả nghiên cứu: hai nhà nghiên cứu kết luận rằng bất bình đẳng thu nhập có mối tương quan dương, và thường có ý nghĩa thống kê với tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, khi họ ước tính phương trình hồi quy số liệu chéo dựa trên tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm từ năm 1960 đến năm 1990 giữa 34 đến 42 quốc gia, hệ số của chỉ số Gini mang giá trị âm và có ý nghĩa thống kê như trong các nghiên cứu khác sử dụng số liệu chéo, giống như kết quả của Alesina và Rodrik Vì vậy, họ cho rằng mối tương quan dương giữa bất bình đẳng và tăng trưởng trong các nghiên cứu trước đó là
do sử dụng số liệu chéo có kết quả trái ngược với sử dụng số liệu mảng
*Nghiên cứu của Barro (1999):
Phương pháp nghiên cứu: sử dụng mô hình lượng, Barro đã sử dụng bộ số liệu của khoảng 100 quốc gia để ước tính một mô hình tăng trưởng cho các quốc gia đó cho 3 giai đoạn 10 năm
Kết quả nghiên cứu: Ông phát hiện mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và bất bình đẳng, được đo bằng hệ số Gini, là phi tuyến Đặc biệt, ông nhận thấy bất bình đẳng hơn đi cùng với tăng trưởng thấp hơn ở các nước thu nhập thấp và tăng trưởng cao hơn ở các nước thu nhập cao hoặc các nước phát triển Ông cũng phát hiện thấy hệ
số của Gini mang giá trị âm và có ý nghĩa thống kê trong toàn bộ mẫu bao gồm tất cả các quốc gia khi bỏ quan biến tỷ lệ sinh Như vậy, các quốc gia có tỷ lệ sinh cao hơn (thường là các nước chậm phát triển) cũng có bất bình đẳng cao hơn và việc bỏ sót biến tỷ lệ sinh trong các nghiên cứu trước đó có thể đã tạo ra sai lệch âm trong các ước lượng của họ về tác động của bất bình đẳng đối với tăng trưởng
*Nghiên cứu của Forbes (2000):
Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu số liệu mảng cho 45 quốc gia với với bộ số liệu về phân phối thu nhập có chất lượng tốt, và sử dụng phương pháp ước lượng tiên tiến có tính đến sự khác biệt không quan sát được giữa các quốc gia
Trang 9(điều này không được phản ánh trong các bộ số liệu thông thường về các biến điều kiện)
Kết quả nghiên cứu: bà phát hiện rằng “tăng 10 điểm hệ số Gini của một quốc gia
có tương quan với 1,3 phần trăm tăng trưởng trung bình hàng năm cao hơn cho 5 năm tới.” Bà coi điều này biểu thị một “mối quan hệ ngắn hạn giữa bất bình đẳng và tăng trưởng trong một quốc gia”, và rằng nó không “trực tiếp mâu thuẫn với kết luận trước
đó về mối quan hệ ngược chiều giữa các quốc gia trong dài hạn”
1.2 Các nghiên cứu sử dụng số liệu mảng trong một quốc gia
Các nghiên cứu sử dụng số liệu quốc tế bao gồm nhiều quốc gia có các đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội rất khác nhau có thể không thật sự hữu ích cho phân tích thực nghiệm dựa trên số liệu mảng giữa các vùng về tác động của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam Một số nghiên cứu gần đây đã khảo sát mối liên kết giữa bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế giữa các bang hoặc giữa các tỉnh trong cùng một quốc gia Nhiều nhà nghiện cứu cho rằng số liệu chéo giữa các bang tỏ ra ưu việt hơn so với số liệu chéo giữa các quốc gia vì đồng nhất hơn Các quốc gia có sự khác nhau về cấu trúc nên số liệu rất khó so sánh
*Nghiên cứu của Partridge (1997):
Xem xét mối liên kết giữa bất bình đẳng và tốc độ tăng trưởng giữa các bang của Hoa Kỳ trong ba thập kỷ từ năm 1960 đến năm 1990
Phương pháp nghiên cứu: sử dụng hai thước đo bất bình đẳng vào đầu của mỗi giai đoạn 10 năm – hệ số GINI tính theo thu nhập của các hộ gia đình trước thuế dựa trên
số liệu điều tra dân số và tỷ trọng thu nhập của các nhóm phần năm thứ ba (tầng lớp trung lưu)
Kết quả nghiên cứu: Kết quả kinh tế lượng của ông chỉ ra rằng cả hai thước đo bất bình đẳng có hệ số ảnh hưởng mang giá trị dương và có ý nghĩa thống kê đến tốc độ tăng trưởng, mặc dù hai thước đo bất bình đẳng có tương quan âm trong mẫu nghiên cứu của ông (tỷ trọng thu nhập cao hơn cho tầng lớp trung lưu thường ngụ ý một hệ số GINI thấp hơn) Vì vậy, bang có bất bình đẳng cao hơn (được đo bằng hệ số GINI) đi cùng với tốc độ tăng trưởng cũng cao hơn, nhưng kết quả này chỉ được thỏa mãn khi tỷ trọng thu nhập của nhóm trung lưu được giữ không thay đổi, và do đó phản ánh những
Trang 10tác động của sự gia tăng tỷ trọng thu nhập của các nhóm thu nhập cao nhất trên cơ sở giảm tỷ trọng thu nhập của các nhóm thu nhập thấp nhất
*Nghiên cứu của Frank (2009):
Xem xét bất bình đẳng cấp bang ở Mỹ trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 2004 Kết quả nghiên cứu: Kết quả từ mô hình thực nghiệm cho thấy về bản chất bất bình đẳng và tăng trưởng có mối quan hệ dương trong dài hạn và nguyên nhân chủ yếu là do thu nhập được tập trung nhiều hơn vào tay những người giàu khi xã hội càng phát triển
*Nghiên cứu của Dahlby and Ferede (2013):
Xem xét mối liên kết giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế dựa trên
bộ dữ liệu mảng giữa các tỉnh của Canada
Phương pháp nghiên cứu: Các tác giả đã tiến hành phân tích kinh tế lượng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế theo tỉnh ở Canada và ba thước đo khác nhau về bất bình đẳng thu nhập
Kết quả nghiên cứu: Họ phát hiện mối quan hệ giữa chúng không có ý nghĩa thống
kê
1.3 Kết luận
Như vậy, các nghiên cứu trên thế giới đã đưa ra những kết quả không thống nhất và thậm chí trái ngược nhau
Forbes (2000) phát hiện năm yếu tố có vai trò quan trọng giải thích cho những kết quả mâu thuẫn này: (i) sử dụng các biến khác nhau, (ii) các mẫu nghiên cứu khác nhau, (iii) chất lượng dữ liệu khác nhau, (iv) khoảng thời gian khác nhau và (v) sai lệch vì bỏ biến trong các nghiên cứu sử dụng số liệu chéo Bà kết luận rằng các lý do quan nhất dẫn đến sự khác biệt là tính đặc thù quốc gia, sự khác biệt về thời gian nghiên cứu, sai lệch vì bỏ biến và độ dài của thời kỳ được xem xét
Mặt khác, Banerjee và Duflo (2003) cho rằng ảnh hưởng của bất bình đẳng đến tăng trưởng có dạng hình chữ U ngược theo nghĩa khi bất bình đẳng thu nhập còn ở mức thấp các nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh hơn bằng cách chấp nhận bất bình đẳng